Trần Hoàng Blog

►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2012

Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn –

Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài

30-4-2012

Phạm Hồng Sơn thực hiện

Theo blog pro&contra

pro&contra: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau tự ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ đang đảm nhiệm kèm theo những tiềm năng rất lớn về quyền lực, quyền lợi: Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên (đối với ông Huỳnh Nhật Hải) và Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết (đối với ông Huỳnh Nhật Tấn). Điều gì đã khiến hai đảng viên cộng sản đầy tiềm năng của một gia đình có truyền thống cách mạng từ trước năm 1945 lại có quyết định chia tay cách mạng khi sự nghiệp “cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước”đã thành công hoàn toàn?
___________________

huynh-nhat-hai-phai-va-huynh-nhat-tan-trai-300x200.jpg

Huỳnh Nhật Hải (phải) và Huỳnh Nhật Tấn (trái)

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có thể cho biết con đường nào đã đưa các ông đến với ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Có thể nói hai anh em chúng tôi đã được “nhuộm đỏ” từ bé. Chúng tôi đã có thiện cảm, tinh thần ủng hộ, và làm những việc có lợi cho những tổ chức của cách mạng như Việt Minh hay Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt trận) ngay từ khi còn rất nhỏ tuổi. Vì ba má tôi là một gia đình tư sản ủng hộ Việt Minh tại Đà Lạt từ trước năm 1945. Ba tôi là hội viên Công hội Đỏ và tham gia cướp chính quyền tại Đà Lạt vào năm 1945 và sau đó trở thành đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên gọi lúc đó của ĐCSVN). Hai anh trai tôi là những người đi tập kết ra Bắc sau năm 1954.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói là ngay từ nhỏ, mở mắt ra là chúng tôi đã được nghe, được thấy, được sống trong tinh thần của cách mạng, tôi cứ tạm gọi là “cách mạng” đi. Đó là những năm thơ ấu của chúng tôi ở trong “vùng tự do” liên khu 5, khi gia đình chúng tôi phải tránh sự truy lùng của Pháp từ khoảng cuối 1945 đến năm 1954, và cả thời gian sau đó khi ba má tôi trở lại Đà Lạt (sau Hiệp định Genève) để tiếp tục nhiệm vụ ủng hộ bí mật cho ĐCSVN và Mặt trận dưới hình thức là một gia đình tư sản.

Phạm Hồng Sơn: Hai ông có nhớ đã có ảnh hưởng nào đến từ ngoài gia đình không?

Huỳnh Nhật Tấn: Có, những trí thức như giáo sư, nhà văn, nhạc sĩ có tên tuổi lúc đó mà đi với Việt Minh hay Mặt trận cũng gây cho chúng tôi sự lôi cuốn, cảm hứng âm thầm nhưng rất lớn. Đặc biệt là qua quan sát, tiếp xúc với những cán bộ hoạt động bí mật đã sống ở nhà tôi thì hai anh em tôi thấy đó là những con người rất đáng khâm phục, họ vừa có tinh thần kỷ luật, chịu đựng, hy sinh rất lớn vừa có những lý tưởng rất cao đẹp là quyết giành lại độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc.

Huỳnh Nhật Hải: Một yếu tố nữa cũng làm cho chúng tôi ủng hộ Mặt trận là sự xuất hiện của quân đội Mỹ tại miền Nam. Sự xuất hiện đó làm cho những người như chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm về chủ quyền dân tộc. Chúng tôi cảm thấy là miền Nam đang bị người Mỹ xâm lăng và cần phải chống lại họ và chính quyền thân Mỹ tại miền Nam.

Phạm Hồng Sơn: Thời gian từ khi Mặt trận được thành lập (năm 1960) cho tới năm 1975 các ông làm những việc gì để ủng hộ “cách mạng”?

Huỳnh Nhật Hải: Công việc của cả hai anh em chúng tôi đều cùng có hai giai đoạn khác nhau, trước và sau khi chúng tôi “nhẩy núi”, tức là phải bỏ gia đình để vào tận căn cứ trong rừng sâu để hoạt động. Tôi “nhảy núi” vào đúng mồng 3 Tết Mậu Thân 1968 còn em tôi, Huỳnh Nhật Tấn, “nhảy núi” trước đó vài tháng khi đã bị lộ.

Huỳnh Nhật Tấn: Trước khi “nhảy núi”, anh em chúng tôi làm công tác liên lạc, vận động trong giới thanh niên, học sinh, sinh viên tại Đà Lạt để thành lập các nhóm, tổ chức, đoàn thể hoặc in, tán phát truyền đơn hay khẩu hiệu đấu tranh cho Mặt trận.

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi “nhảy núi”, hai anh em chúng tôi, mỗi người một nơi, nhưng đều ở bộ phận công tác phong trào thanh niên học sinh, sinh viên. Anh em chúng tôi thường phải đi vào những “vùng lõm“ (vùng dân cư mà ban ngày do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát còn ban đêm thuộc về lực lượng của Mặt trận) để bắt liên lạc, tiếp nhận hay vận động ủng hộ về vật chất, tinh thần cho Mặt trận.

Phạm Hồng Sơn: Những công việc đó chắc phải rất mạo hiểm và hết sức khó khăn?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng thế, chúng tôi phải rất kiên trì, khôn khéo trong công tác vận động và không phải lần vận động nào cũng thành công. Cả hai anh em chúng tôi cũng đã bị phục kích hoặc chạm trán với lực lượng quân đội của Việt Nam Cộng hòa, nhưng rất may cả hai chỉ bị thương nhẹ trong một, hai lần.

Phạm Hồng Sơn: Sau 30/04/1975 các ông được giữ ngay chức Phó Chủ tịch UBND Thành phố hoặc Phó Giám đốc Trường Đảng?

Huỳnh Nhật Hải: Không phải như thế. Sau 30/04/1975 tôi tiếp tục công tác ở Thành đoàn, sau đó mới chuyển qua công tác chính quyền. Năm 1977 tôi được kết nạp Đảng. Năm 1979 làm Chủ tịch khu phố I Thành phố Đà Lạt, rồi sau khi đi học Trường Đảng ở Tây Nguyên trong một năm đến năm 1981 là tôi trở thành Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đà Lạt, là Thành ủy viên.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi thì được kết nạp Đảng từ năm 1972 sau khi “nhảy núi”. Ngay tháng 10/1975 tôi đã được chọn vào số cán bộ đầu tiên gửi ra Bắc học ở Trường Tuyên huấn Trung ương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội trong 3 năm rồi trở về giảng dạy môn kinh tế chính trị tại Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng. Và sau lần ra học tiếp ở Hà Nội tại Trường Tuyên Huấn Trung Ương trong 03 năm nữa, đến năm 1986 tôi được bổ nhiệm vào chức Phó Giám đốc trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đồng thời được cơ cấu vào cấp Tỉnh ủy, là Tỉnh ủy viên dự khuyết.

Phạm Hồng Sơn: Một cách ngắn gọn, lý do gì đã khiến hai ông gần như đồng thời quyết định từ bỏ Đảng kiêm các chức vụ đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi Đảng lúc đó tôi có viết một câu: “Tôi không tin ĐCSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như Đảng thường nói.”

Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: “Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của Đảng nữa.” Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin ĐCSVN nữa.

Phạm Hồng Sơn: Quá trình đi đến sự bất tín đó diễn ra như thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Đó là một quãng thời gian kéo dài khoảng 5-7 năm, thông qua những quan sát, tìm hiểu, trao đổi, bàn bạc và trằn trọc từ mỗi bản thân và gần như chỉ giữa hai anh em chúng tôi.

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói chúng tôi đi đến sự bất tín vào ĐCSVN là dựa vào những gì chúng tôi thấy, chúng tôi gặp trên thực tế hơn là từ vấn đề lý luận.

Phạm Hồng Sơn: Những “thực tế” nào quan trọng nhất khiến hai ông nhận thức lại ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Tấn: Đó chính là những chính sách về quản lý xã hội, điều hành kinh tế và việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của người dân của ĐCSVN. Về quản lý xã hội, ĐCSVN đã không quản lý bằng pháp luật mà bằng sự tùy tiện, áp đặt, gần như hoàn toàn chỉ dựa theo các chỉ thị, ý muốn từ lãnh đạo Đảng. Ví dụ việc tịch thu nhà cửa, tài sản hay đưa đi “học tập cải tạo”, thực chất là bỏ tù con người, đều không dựa trên pháp luật hay xét xử của tòa án. Điều hành kinh tế thì lúc đó chúng tôi thấy những chính sách rất kỳ cục và phản khoa học, ví dụ như có những chỉ thị là Đà Lạt phải sản xuất bao nhiêu rau hay các huyện khác phải sản xuất bao nhiều mì[i] mà không cần biết khả năng và lợi thế về thổ nhưỡng, thói quen canh tác của người dân hoặc việc giao quyền lãnh đạo kinh tế không dựa vào chuyên môn, kinh nghiệm mà lại dựa vào thành phần giai cấp và sự gắn bó với Đảng. Về các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền đọc cả cương lĩnh của Mặt trận nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân.

Phạm Hồng Sơn: Các ông đã quen biết những nhân vật như ông Hà Sĩ Phu hay ông Mai Thái Lĩnh,… những cư dân tại Đà Lạt lúc đó chưa?

Huỳnh Nhật Hải: Chúng tôi chưa biết ông Hà Sĩ Phu, còn ông Mai Thái Lĩnh thì chúng tôi đã biết nhau từ hồi cùng “nhảy núi” nhưng sau 30/04/1975 chúng tôi gần như chưa trao đổi hay bàn luận gì với nhau cả. Anh em chúng tôi trước khi quyết định bỏ về đã nói với nhau là “chúng ta đi làm cách mạng không phải để xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài như thế này.”

Phạm Hồng Sơn: Gia đình, những người thân và bạn bè đồng chí của các ông có phản ứng gì trước quyết định đó?

Huỳnh Nhật Hải: Lúc đó ba má tôi đều đã qua đời nhưng chúng tôi tin rằng nếu còn sống ba má tôi cũng ủng hộ việc từ giã ĐCSVN của chúng tôi. Hai bà xã của chúng tôi ủng hộ hoàn toàn quyết định về nhà tự làm ăn của chúng tôi.

Phạm Hồng Sơn: Thế còn hai anh trai, những người đã đi tập kết sau 1954, và những đồng chí thân quen của hai ông?

Huỳnh Nhật Tấn: Anh trai cả của chúng tôi thì gần như không có ý kiến gì, còn người anh trai thứ hai thì không đồng ý. Còn những đảng viên đồng sự khác và các cấp lãnh đạo lúc đó hoàn toàn ngạc nhiên, gần như tất cả mọi người đều khuyên chúng tôi xem xét lại. Có người lúc đó đã nói với tôi là nếu về thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng tôi xác định trong lòng là trước đây khó khăn nguy hiểm như thế mà còn chịu được thì lẽ nào bây giờ lại không.

Phạm Hồng Sơn: Khi “trằn trọc” để đi đến quyết định cuối cùng, hình ảnh hay tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh có vấn vương trong “trằn trọc” đó?

Huỳnh Nhật Tấn: Có. Chúng tôi lúc đó cũng thấy cần phải xem lại cả ông Hồ Chí Minh – lãnh tụ, người sáng lập ra ĐCSVN.

Phạm Hồng Sơn: Các ông thấy thế nào?

Huỳnh Nhật Hải: Sau khi cùng tìm hiểu, trao đổi, bàn luận chúng tôi nhận thấy tình trạng mất tự do, phi dân chủ hay có thể nói là cuộc sống kìm kẹp, đau thương của nhân dân, của giới trí thức sau chiến thắng 30/04/1975 ở miền Nam hoàn toàn là sự lặp lại y nguyên tình trạng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – thời kỳ mà ông Hồ Chí Minh vẫn hoàn toàn ở trên đỉnh cao quyền lực.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi đã từng tự hỏi là mục tiêu sâu xa của ông Hồ Chí Minh là gì? Với những gì lịch sử đã diễn ra khi ông Hồ Chí Minh còn sống thì tôi thấy mục tiêu của ông Hồ Chí Minh vì quyền lực là chính, còn mục tiêu độc lập cho đất nước hay tự do, dân chủ cho dân tộc, cho xã hội Việt Nam đã bị ông Hồ Chí Minh coi nhẹ. Hai mục tiêu tốt đẹp đó chỉ là những ngọn cờ để ĐCSVN lôi kéo, tập hợp quần chúng và giới trí thức cho mục đích giành quyền lực cho ĐCSVN. Thực tế chính quyền dưới thời ông Hồ Chí Minh đã biểu hiện đi ngược lại hoàn toàn hai mục tiêu tốt đẹp đó, độc lập cho dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân.

Phạm Hồng Sơn: Vâng, về vấn đề tự do, dân chủ cho nhân dân thì đã rõ, nhưng còn về độc lập dân tộc, xin ông nói rõ thêm?

Huỳnh Nhật Tấn: Có thể nói ông Hồ Chí Minh đã đưa đất nước thoát khỏi sự phụ thuộc, đô hộ của người Pháp nhưng lại để đất nước trở lại sự phụ thuộc, khống chế và thôn tính của Trung Quốc cộng sản. Nếu không có sự đồng ý, chủ kiến ngoại giao của ông Hồ Chí Minh thì không thể có tình hữu nghị Việt-Trung như “môi với răng” và cũng không thể có Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Một cách ngắn gọn, có thể nói ông Hồ Chí Minh đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm lăng, thôn tính của Trung Quốc cộng sản đối với Việt Nam như chúng ta đang chứng kiến.

Phạm Hồng Sơn: Liệu có công bằng không khi tình trạng mất độc lập, mất chủ quyền hiện nay qui hết cho Hồ Chí Minh?

Huỳnh Nhật Tấn: Đúng là tình trạng lâm nguy của đất nước hiện nay không thể qui hết cho ông Hồ Chí Minh. Nhưng bất kỳ một lãnh tụ, một nhà sáng lập của một đảng, một tổ chức chính trị nào cũng đều có ảnh hưởng rất căn bản tới tầm nhìn, hành động của các thế hệ kế tiếp, dù xấu hay tốt. Tôi nhớ ngay trong văn kiện, khẩu hiệu của ĐCSVN vẫn luôn khẳng định ông Hồ Chí Minh là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện “Đảng ta”, tức là ông Hồ Chí Minh đã là kiến trúc sư cho mọi chính sách, đường lối của ĐCSVN cũng như thể chế, cung cách quản lý xã hội của ĐCSVN.

Huỳnh Nhật Hải: Đúng như thế, theo tôi, mặc dù ông Hồ Chí Minh đã mất rồi nhưng tư tưởng, đường lối chính trị của ông ấy vẫn được tiếp tục kế thừa trong ĐCSVN. Không phải ngẫu nhiên mà ĐCSVN hiện nay vẫn hô hào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Phạm Hồng Sơn: Nhưng nhiều người cho rằng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là rất tốt đẹp, đáng học theo?

Huỳnh Nhật Hải: Đúng, rất tốt đẹp và đáng học nếu chỉ căn cứ vào lời nói và khẩu hiệu như ông Hồ Chí Minh đã đề ra. Và đúng là ĐSCVN hiện nay cũng đang thực hiện đúng như thế, các khẩu hiệu, lời nói, mục tiêu của họ hiện nay cũng rất hoặc khá tốt đẹp, nhưng hành động và thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại – cũng như ông Hồ Chí Minh.

Huỳnh Nhật Tấn: Nếu chỉ căn cứ vào truyền thống nhân ái của người Việt Nam thông thường thôi thì cũng thấy đáng lý ra, với cương vị là người có quyền hành cao nhất, ông Hồ Chí Minh phải ra lịnh không được giết hoặc hãm hại ân nhân của mình như vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm và nhiều người khác trong Cải cách Ruộng đất. Hoặc những vụ bắt bớ, thanh trừng các đồng sự, các ân nhân của ĐCSVN sau này mà không qua xét xử thì ông Hồ Chí Minh không thể không biết là trái đạo lý. Nếu ông Hồ Chí Minh thực sự là người vì nước vì dân thì sau khi lên nắm quyền, điều đầu tiên ông Hồ Chí Minh phải làm là phải để nhân dân và giới trí thức có nhiều tự do hơn thời thực dân Pháp chớ.

Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

Phạm Hồng Sơn: Ngày 30/04/1975 các ông đang ở đâu và cảm xúc như thế nào?

Huỳnh Nhật Tấn: Lúc đó tôi đang ở Đà Lạt. Tôi đã trở về Đà Lạt từ ngày 03/04/1975 với tư thế của người chiến thắng.

Huỳnh Nhật Hải: Tôi về Đà Lạt sau ông em tôi một ngày, ngày 04/04/1975. Cảm xúc của tôi là sung sướng vô cùng, nhất là khi gặp lại má tôi – má đã tưởng tôi hy sinh từ năm 1971 và đã đưa ảnh tôi lên bàn thờ.

Phạm Hồng Sơn: Dịp 30/04 hàng năm vẫn là một trong những ngày lễ lớn của cả đất nước, cảm xúc của các ông ra sao trong những ngày này?

Huỳnh Nhật Hải: Buồn. Nếu không có cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền trước 1975 thì dân tộc này không có cái bất hạnh, đau khổ như ngày hôm nay.

Huỳnh Nhật Tấn: Buồn. Một ngày quá buồn. Cái chiến thắng 30/04 chỉ đem lại một sự áp bức trên mọi phương diện cho nhân dân, đất nước và lại nặng nề hơn cả thời Pháp thuộc.

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.

Phạm Hồng Sơn: Xin trân trọng cảm ơn ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn.

______________________

Chú thích ảnh: Ông Huỳnh Nhật Hải (phải) và ông Huỳnh Nhật Tấn (trái)

© 2012 pro&contra

[i] “Mi” tức là “sắn” theo tiếng miền Bắc

Nguồn

danluan.org


 

 

____________

 

NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN

Nói Láo và Tham Nhũng là gốc của chủ nghĩa Cộng sản

Website: http://www.HerbalWorldCenter.com/phanrang

Sơn Tùng nói về những đảng viên của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam tham nhũng trong “Buổi nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo”:

– “Nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, Đảng ta sa sút xuống đến mức không tưởng tượng nổi so với trước đây, nhân cách nhiều người cộng sản không còn. Nhân cách không còn, vì tham nhũng đến mức không thể chấp nhận.”

—————————-

1. Tổng Thống Nga Vladimir Putin:

– “Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.”

2. Boris Yeltsin Tổng thống Liên bang Nga:

– “Cộng sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó.”

3. Nguyễn Khải, nhà văn, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS, đã viết trong “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất”:

– “Ngôn từ là mặt yếu nhất trong các lãnh vực thượng tầng cấu trúc tại các nước xã hội chủ nghĩa vì lãnh đạo các nước đó dùng ngôn từ để che đậy… Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”.

4. Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên:

– “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước… Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức. Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.

5. Thủ tướng Đức Angela Merkel:

– “Chủ nghĩa Cộng sản đã tạo nên những con người dối trá.”

6. Lenin:

– “A lie told often enough becomes the truth.”
(- “Nói láo nhiều lần, chuyện láo sẽ thành chuyện thật.”)

7. Russian writer Alexandre Soljenitsyne (Nhà văn Nga):

– “When a Communist lies to you, stand up and tell him that he is lying. If you don’t dare to say that he lies, walk away. If you don’t dare to walk away, do not recite the lie that you heard to anybody.”
– “Khi thằng Cộng Sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu không can đảm nói nó nói láo, ta phải bỏ đi. Nếu không can đảm bỏ đi, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.”

8. Soviet Secretary General Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết):

– “I have devoted half of my life for communism. Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives.”
(- “Tôi đã tận tâm nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”)

—————————-

9. Nguyễn Văn Trấn, con hùm xám Chợ Đệm Mỹ Tho, Phụ Tá Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ (1944), Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974) thì nói huỵch tẹt theo lối nói Miền Nam:

– “Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết”. (Viết Cho Mẹ và Quốc Hội trang 345, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1995)

10. Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói:

– “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”. “Ðảng (Cộng Sản) của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở dân chủ, tự do, cản trở sự phát triển của xã hội. Ðảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Ðảng trị… Ðảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động.”

11. Đức Dalai Lama:

– “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sanh sôi nảy nở trên rác rưởi của cuộc đời.”

12. Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan:

– “Chủ nghĩa Cộng sản là một quái thai của thế kỷ 20.”

13. Cố Tổng thống Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA Nguyễn Văn Thiệu:

– “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.”

14. Linh mục Nguyễn Văn Lý:

– “Ðừng sợ những gì Cộng sản làm, hãy làm những gì Cộng sản sợ.”

15. Bí thư đảng Cộng sản Nam Tư Milovan Djilas:

– “40 tuổi mà không từ bỏ Cộng sản là không có cái đầu.”

16. Nguyễn Hộ, người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống:

– “Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968, nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa.

Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục (nguồn: Wikipedia)”.

17. Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956:

– “Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược. Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 vẫn chưa xác định được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại.” (Nguyễn Minh Cần, Xin Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)

Tòa án Nhân dân là ĐẤU TRƯỜNG và PHÁP TRƯỜNG là MỘT.

CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ VÔ CÙNG QUÍ HÓA về TỘI ÁC VIỆT CỘNG:

CÁC HÌNH SAU ĐÂY DO MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI NGA CHỤP NĂM 1955

Nếu ĐEM SO RA thì TÀI SẢN của những NGƯỜI BỊ CHÚNG GIẾT chưa bằng MỘT PHẦN TRĂM của TÀI SẢN của bọn ÁC QUYỀN ngày nay.

Xin lưu ý: Toàn thể dân chúng lúc đó (1955) luôn luôn phải mặc đồ đen hay nâu đậm.

Chỉ cần một cử chỉ, một ý nghĩ có vẻ tiểu tư sản là bị đem ra đấu tố.

An ninh phường, hay bất cứ viên chức nào của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam đều có thể bất thần khám xét nhà, chúng thường vào nhà vào lúc gia đình dọn cơm lên ăn, chúng mở nắp nồi cơm để xem có độn khoai sắn hay toàn cơm trắng.

Ngay đến năm 1975, chúng vào Miền Nam còn chận bắt cô giáo và nữ sinh, ai mặc áo dài là chúng cắt cụt. Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Hình 1 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh1.jpg )

Hình 2 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh2.gif )
Hình 3 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh3.gif )

Hình 4 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh4.gif )

Hình 5 – Hình chụp năm 1955 – Cải Cách Ruộng Đất – Miền Bắc Việt Nam
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/CaiCachRuongDat-1955-Hinh5.gif )

Trong thời gian Đấu tố dã man của Hồ Chí Minh để diệt “trí phú địa hào” thì Việt Cộng xúi con tố cha. Không gì hữu hiệu bằng con tố các tội ác của cha ruột, vì người tố là nhân chứng số 1, kề cận nhất với can phạm của chế độ, nạn nhân không thể nào chối cãi gì được. (Trên thực tế các tội ác được hài ra chỉ là giả tạo.) Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Vì do chúng qui định túc số mỗi huyện phải giết theo đúng tỷ lệ năm phần trăm, thì nếu chỉ có một phần trăm là thuộc diện “trí phú địa hào” thì bắt buộc phải kiếm thêm trong các thành phần khác cho đủ số lượng thì đấu tố mới hiệu quả, thành tích cách mạng mới đáp ứng lời kêu gọi anh minh của “Cha già dân tộc” Hồ Chí Minh. Cho nên người không có tội vẫn phải kiếm cho ra tội! Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Cộng sản động viên con cái chống lại cha mẹ chúng, kết tội cha mẹ chúng, và tuyên án xử tử cha mẹ chúng. Ý đồ nầy dùng để xác minh 2 sự kiện:

– Tội trạng không thể tha vì quá nặng (!) mà con cái “phải” đứng ra tố cáo (thực ra chúng động viên con cái từ trước với tất cả sự hăm dọa, mà hể con cái không tố cha mẹ thì cũng có người khác làm, rồi con cái cũng bị giết theo).

– Chế độ cần đạp đổ nền móng gia đình cao quí của dân tộc Việt Nam thời đại lúc đó. Phải đạp đổ tất cả, chỉ còn Đảng Đoàn mà thôi. Như vậy mới đúng chỉ thị của Trung ương Đảng bộ.

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Trong khẩu hiệu tận diệt “trí phú địa hào” thì chữ TRÍ đứng đầu, phải diệt toàn thể thành phần trí thức trước tiên thì mới thi hành chính sách NGU DÂN được. Mà lấy lý do gì để buộc tội các người trí thức? Chúng mới phịa ra cha mẹ bóc lột dân nên mới có tiền ăn học và nuôi con. Bóc lột bằng cách nào? Chúng không nói. Chúng chỉ hô toán lên là bóc lột, rồi đám đông hô lên “đả đảo bóc lột”, ” đả đảo trí thức”, bản án định sẵn là tử hình, thế là xong tấn tuồng.

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện có bài thơ sau đây vô cùng súc tích:

Cụ đồ nho phải xưng “con” khi ông khúm núm thưa với con gái đang ngồi trên ghế chủ tọa tòa án nhân dân để xử bị cáo là ông ta, ông ta phải gọi con gái là “bà”.

Được nghe “bà” kể khổ
“Con” thấy đời “con” thật là đáng chết
“Con” đã đi bóc lột để nuôi “bà” !
“Con” bây giờ không dám nhận là cha
Dù “bà” là do “con” đẻ ra !
“Con” thành phần địa chủ thối tha !
Trước nhân dân, trước Đảng, trước “bà”,
xin thành khẩn cúi đầu chịu tội !
Đó là lời cụ đồ ở ngoại thành Hà Nội
trước đấu trường giăng giối với con !
Nguyễn Chí Thiện, 1972

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Tất cả cái xã hội hôi thối Việt Minh, Việt Cộng, Dân chủ Cộng hòa, Xã hội Chủ nghĩa, là ác mộng triền miên của dân tộc Việt Nam.

Theo lệnh Hồ Chí Minh
Chúng hăng say trong máu:

Trăm tay xỉa xuống mặt mày
Trăm tay xỉa xuống mặt đầy gian tham!

Hay là như nhà thơ Xuân Diệu còn nói:

Anh em ơi quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào đối lập ra tro
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!

Ối chu choa! Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Phải nhắc đến Tố Hữu, cầm đầu cơ quan “Văn hóa”:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít-Ta-Lin bất diệt!

Hình 6 – Thơ Tố Hữu
(Nếu không thấy hình, xin bấm vào đây:http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/images/ThoToHuu-1.bmp )

Làm cho đạo lý suy đồi, luân thường đảo ngược! Đó chính là “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” mà Việt Cộng rất tự hào.

Nhìn nhận sự thật phũ phàng về Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956, theo cách nói của Tôn Đức Thắng mới thật là đúng hơn:

– “Đ..M.., tao cũng sợ nó, mầy còn biểu tao dám nói cái gì?” (Viết cho Mẹ và Quốc hội, Nguyễn Văn Trấn, trang 267)

Cộng sản bao năm hát lắm tuồng! Người dân Việt Nam phải chịu biết bao là tai ương. Trong một đất nước mà chế độ Độc tài còn tồn tại thì không thể có tự do, dân chủ và nhân quyền.

Người dân Việt Nam ngày nay phải vùng lên và đòi QUYỀN của mình. Nếu người dân không biết mình có QUYỀN thì quả thật TỰ DO và DÂN CHỦ chỉ là một thứ xa xí phẩm! Chính sách “NGU DÂN” và “NGĂN SÔNG, CẤM CHỢ” cũng như “BƯNG BÍT THÔNG TIN” mà đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam đã áp đặt lên đầu lên cổ người dân Việt Nam đã có một ảnh hưởng vô cùng tai hại cho việc xây dựng một nền DÂN CHỦ với dân trí như ở Việt Nam. Toàn dân nghe chăng? Những người dân Việt Nam dũng cảm phải chiến đấu cho tương lai của chính mình và phải đánh cho chế độ Cộng sản hoàn toàn sụp đổ. Những người dân Việt Nam dũng cảm ấy là NHỮNG CON NGƯỜI TIỀN PHONG CỦA TƯƠNG LAI VIỆT NAM với sứ mệnh ĐEM LẠI TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN CHO MỌI NGƯỜI. Nếu nhân dân Libya đã loại bỏ Gadhafi năm 2011 được thì nhân dân Việt Nam cũng loại bỏ ác đảng Cộng sản Việt Nam được! Năm 1989, các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Romania… ở Đông Âu, đã nhờ vào lòng YÊU NƯỚC mà mạnh dạn lật đổ được chế độ Cộng sản, thoát khỏi vòng vây cương tỏa của chủ nghĩa Cộng sản.

18. Trung Tướng Trần Độ, Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết:

– “Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…” Và trong một lần nói chuyện, khi được hỏi về chế độ lao tù, ông nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục”. Cuối cùng, để biện minh cho những đóng góp của mình vào chế độ, ông Trần Độ làm bốn câu thơ:

Những mơ xoá ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xoá đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi.
(Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)

19. Hoàng Minh Chính gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng:

– “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc. Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu. Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do. Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân. Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được”. (nguồn: Wikipedia)

Cũng nên biết rằng năm 1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng đã giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Nội Các Chính Phủ Liên Hiệp và giữ chức Quyền Chủ Tịch Nước trong khi Hồ Chí Minh đi Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau. Như vậy không thể gán ghép cụ Huỳnh là Việt Gian hay nói cụ Huỳnh vì thỏa hiệp với Pháp nên đã được Pháp cho ra báo.

20. Trần Lâm sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: “Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân. Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn. Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm”.

Và còn rất nhiều, rất nhiều nữa những trăn trở phản tỉnh của: Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An, Lê Liêm Cục Nội Chính, Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng, Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng, Đại Tá Bùi Tín Phó Tổng Biên Tâp tờ Nhân Dân, Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội, Trung Tá Trần Anh Kim người anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979, Sứ Thần Dương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc, và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… Nhiều lắm, nhiều lắm, biết kể sao cho hết.

21. Lời của Vladimir Putin trong cuộc phỏng vấn của truyền hình Đức đầu tháng 5 năm 2005:

– “Những ai muốn phục hồi lại Liên bang Xô viết là những kẻ không có óc.”

Việt Cộng (Cộng sản Việt Nam) là bọn đầu người nhưng óc heo. Hơn 3,5 triệu đảng viên của đảng ăn cướp Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ con cáo già Hồ Chí Minh đến tên đảng viên mới gia nhập là hơn 3,5 triệu cái đầu người nhưng óc heo đang lúc nhúc trong quần… chúng Việt Nam! Cùng một lũ bịp bợm, lừa dối nhân dân! Đừng nhầm lẫn từ “nhân dân” trong Hiến pháp của Việt Cộng.

22. Năm 1974, Alexander Solzhenitsyn đã nhận định về tình trạng dối trá của Liên Xô thời ấy như sau:

“Nhưng sẽ chẳng bao giờ có chuyện gì xảy ra cả, chừng nào chúng ta còn tiếp tục thừa nhận, tiếp tục ca ngợi, tiếp tục đóng góp, chừng nào chúng ta còn chưa tự tách mình ra khỏi một thứ dễ nhận thấy nhất xung quanh chúng ta: đó là sự Dối Trá!
Khi bạo lực xâm nhập vào cuộc sống bình yên của con người, khuôn mặt của nó sáng ngời ánh tự tin, như thể nó đang giương cao ngọn cờ và hô lớn: “Ta là Thần Bạo Lực đây! Hãy chạy xa, hãy tránh đường, bằng không ta sẽ nghiền nát tất cả!” Song bạo lực sẽ nhanh chóng trở nên già cỗi, chỉ sau ít năm thôi nó đã mất hết đức tự tin, và để duy trì được bộ mặt khả kính, nó bèn lôi kéo một đồng minh đắc lực: đó là Dối Trá. Bởi lẽ: Bạo Lực không thể nào che giấu được móng vuốt của mình nếu không có Dối Trá, và Dối Trá chỉ có thể duy trì được sự tồn tại của mình nhờ Bạo Lực. Bạo lực không thể nào đặt bàn tay lông lá của nó vào mọi lúc và lên tất cả mọi người được, nó đòi hỏi chúng ta phục tùng sự dối trá, tham gia vào mọi hành động dối trá như một nhu cầu sinh hoạt hàng ngày — lòng trung thành tuyệt đối được đặt vào đó.”
[Trích bài “Không sống bằng dối trá” của Alexander Solzhenitsyn, bản dịch của Phạm Ngọc]
Gần 40 năm đã trôi qua, nhưng những nhận định của Alexander Solzhenitsyn về Liên Xô thời ấy vẫn hoàn toàn chính xác đối với thực trạng của đất nước Việt nam hôm nay.

23. Đứng trước sự phẫn nộ của người dân và một số người ý thức trong đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào cởi trói cho văn nghệ (có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú) và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”. Mà đổi mới là gì? Là cóp nhặt và làm theo những gì Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA đã làm từ mấy chục năm về trước. Cũng chính nhờ biết “đổi mới” nên người dân Việt Nam mới có gạo ăn, thay vì cho mãi đến những năm 1989-1990, suốt mấy chục năm trong thời bao cấp, ngoại trừ đảng viên cán bộ và công an là được ăn cơm, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải ăn bo bo là loại đồ ăn dành cho bò cho ngựa và mỗi chén cơm có tới hai phần là ngô khoai sắn độn.

Thế là sau cuộc cách mạng bắt chước Trung Cộng đấu tố người dân trong “Cải Cách Ruộng Đất” với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác “cách mạng chuyên chính vô sản”, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình của Miền Nam VIỆT NAM CỘNG HÒA trước đây.

Trong nước Việt Nam: Bạn muốn xem cái gì thì không có cái ấy. Cái bạn không muốn nghe thì người ta cứ nói cho mà nghe.

“Muốn biết chuyện xảy ra trong nước phải nghe báo đài nước ngoài, bấm vào http://www.herbalworldcenter.com/phanrang/nhan-cach-cua-nguoi-cong-san.htm .”

6 phản hồi to “►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài”

  1. […] ►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài […]

  2. […] ►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài […]

  3. […] Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Hải, Nguyễn Chí Đức, Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đắc […]

  4. […] Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài … […]

  5. […] Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài … (Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tân từ bỏ đảng) […]

  6. […] ►Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: