Trần Hoàng Blog

►Tăng-trưởng (GDP) bằng cách bán tài nguyên khoáng sản và nâng giá bất động sản là sai lầm

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2012

Thứ Tư,  21/3/2012

Lời tựa: Nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là:

-bán tài nguyên dầu hỏa, than đá, quặng titan, quặng đồng, quặng sắt, quạng bô xít, các loại đá quí… cho nước ngoài.  (Mời các bạn coi 4 bài báo dưới đây viết về vấn đề này.)

– nâng giá bất động sản (nhà cửa đất đai) lên thật cao.

Và dùng 2 nguồn này như là tín dụng để đi mượn tiền nước ngoài (Nhật, Đài Loan, Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan,  mượn Workbank, ADB, và các nước âu châu).  Đến nay, VN nợ các nước ngoài và các ngân hàng nước ngoài là 120 tỷ đô la. 

Chỉ tính riêng việc bán dầu hỏa, mỗi năm Tập Đoàn Dầu khí Petrovietnam cũng đã có tổng doanh thu 675 000 tỷ đồng (gần 34 tỷ đô la). So với toàn bộ nền kinh tế VN là 100 tỷ, thì số dầu thô do Petrovietnam khai thác và bán ra là chiếm khoảng 34% của GDP (tổng sản lượng và dịch vụ sản suất nội địa). (nguồn),

Ngay cả những nước có tài nguyên khoáng sản phong phú nhiều hơn Việt Nam cả chục lần, chính phủ của họ cũng không cho phép các công ty khai thác tài nguyên khoáng sản theo ý công ty mong muốn, và chỉ cho phép họ khai thác chừng 5% của GDP. Mục đích của các chính phủ các nước khác là muốn để dành tài nguyên khoáng sản để dành cho các thế hệ con cháu mai sau. (nguồn)  (key word để tìm tài liệu trên internet cho phần này là GDP by sector of the Canadian economy).

Ở VN, đảng soạn thảo kế hoạch để làm kinh tế hết kế hoạch 5 năm này đến kế hoạch 5 năm khác, nhưng tất cả các kế hoạch đều thất bại. Sau khi tiêu diệt giai cấp tư sản còn ở lại miền Bắc sau hiệp định Geneve 1954, thì từ năm 1954-1975, nền kinh tế ở miền Bắc là một con số 0 vĩ đại. Và kể từ đó cho đến hơn 2 thập niên tiếp theo, dân chúng miền Bắc sống rất khổ, thiếu đồ dùng, thiếu áo quần để mặc, thiếu gạo để ăn.

Vì không biết làm cách nào để tồn tại, không biết cách làm kinh tế, không biết cách làm công nghiệp nhẹ,  công nghiệp nặng, nông nghiệp, ngư nghiệp, và lâm nghiệp…nhưng cần phải có cái gì để ăn và để tiếp tục “lãnh đạo”, nên sau khi chiếm được miền Bắc năm 1954, đảng CSVN đã nghe lời Trung Cộng và Liên Xô và cả hai nước này đã đưa súng đạn ra lệnh chiếm cho được miền Nam. Cuộc chiến VN kéo dài từ 1954-1975, nhân mạng là 5 triệu bộ đội và dân công chết trên đường Trường Sơn và các tỉnh thành của miền Nam Việt Nam.

3. Cả nước hiện có hơn 8,8 triệu người có công với cách mạng , chiếm gần 10% dân  số. 

“Hiện nay, cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công (chiếm gần 10% dân số). Trong đó, có hơn1.146.250 liệt sĩ; trên 3.000 Bà mẹ VNAH còn sống; trên 780.000 thương binh và người được hưởng chính sách như thương binh; 1.253 Anh hùng LLVT, Anh hùng lao động trong kháng chiến; 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng; khoảng 187.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; 109.468 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày… Hiện còn trên 1,4 triệu đối tượng người có công đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

Cả nước có khoảng 7.000 công trình ghi công liệt sĩ, trong đó có khoảng 3.000 nghĩa trang liệt sĩ với tổng số trên 780.000 ngôi mộ; trong đó khoảng 303.000 ngôi mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt chưa phát hiện, tìm kiếm, quy tập được.”  Baomoi.com

Chiếm được miền Nam xong, đảng chia nhau chiến lợi phẩm chở về miền Bắc. Nhưng đảng cũng không biết làm gì để tồn tại nên đành gây thêm 1 cuộc chiến khác, mục đích  thực thi kế hoạch chiếm Kampuchea và Lào để thành lập Liên Bang Đông Dương, như cương lĩnh thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương 1930. 

Cuộc chiến Kampuchea kéo dài từ 1978-1990, là  sự thất bại và đã phá tan giấc mơ thành lập Liên bang Đông Dương của đảng CSVN,  Kết quả, có Thêm 70 000 bộ đội VN chết trên đất Kampuchea và hàng trăm ngàn bị thương tật. Cuộc chiến 1979 với Trung Quốc lại có thêm 70 ngàn bộ đội VN và thường dân đã chết, chưa kể số người bị thương vong.

Lịch sử của đảng là các cuộc chiến tranh kéo dài lấy máu xương của người dân VN để viết lịch sử đảng, kể lể thành tích lãnh đạo của các đồng chí bộ chính trị, và sự quang vinh của đảng. Không từng làm kinh tế nên đảng chỉ viết trong sách với các kế hoạch rất “kêu”, nhưng thật ra không có ai trong đảng có kinh nghiệm  thảo ra kế hoạch phát triển và điều hành nền kinh tế, tài chánh…Vì vậy, hơn 36 năm qua, đảng chỉ biết bán tài nguyên khoáng sản dầu hỏa để chi tiêu, và dùng nguồn tài nguyên ấy như một loại tín dụng hay mức lương thu nhập để đi vay các tổ chức tài chánh quốc tế, âu châu, á châu. Cùng lúc, đảng và nhà nước tịch thu, mua rẻ, cướp đất đai của nông dân, rồi đẩy giá nhà đất lên cao để làm  giàu và  GDP gia tăng. Rồi dùng  GDP để đi mượn thêm tiền của nước ngoài.

Kết quả là nợ của chính phủ và doanh nghiệp quốc doanh  nay đã lên trên 120 tỷ đô la,  hay trên 120% GDP (nguồn: mời bạn đọc bài: “Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước” được post ở cuối trang này).

Lấy mốc 1985 và năm 2010 và  so sánh giữa South Korea, Thái Lan và Việt Nam để thấy đảng chỉ đạo nền kinh tế giỏi đến đâu.

GDP của South Korea vào năm 1985 là 99 tỷ đô la.  15 năm sau, GDP của South Korea năm 2010 là 1015 tỷ đô la. (nguồn)

GDP của Thái Lan năm 1985 là gần 39 tỷ đô la. 15 năm sau, GDP của Thailand vào năm 2010 là 319 tỷ đô la. (Nguồn)

GDP của Việt Nam năm 1985 là 18 tỷ đô la.  15 năm sau, GDP của VN vào năm 2010 là 100 tỷ (Nguồn)

Bài 1

 Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

Thứ sáu, 20 Tháng 1, 2012

Trích:

    Thay mặt lãnh đạo PetroVietNnam, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

***************

Chiều 18/1, tại Viện Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012.

Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Quang Dương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương; đồng chí Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Phạm Mạnh Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương)…

Về phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có đồng chí Phùng Đình Thực, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn; đồng chí Đỗ Văn Hậu, Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tập đoàn; cùng các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ, Đảng ủy, Hội đồng Thành viên, Ban Tổng giám đốc, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Tập đoàn…

Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh 2011 và kế hoạch 2012.

Thay mặt lãnh đạo PVN, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

Gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35,3 triệu tấn thu hồi, bằng 101,0% kế hoạch năm (ở trong nước đạt 35 triệu tấn và ở nước ngoài đạt 0,3 triệu tấn). Ký 7 hợp đồng/thoả thuận dầu khí mới, trong đó ở trong nước 6 hợp đồng và ở nước ngoài 1 thoả thuận. PVN đã có 3 phát hiện dầu khí mới, đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác, trong đó ở trong nước 3 mỏ và ở nước ngoài 2 mỏ.

Tổng sản lượng khai thác quy (ra) dầu năm 2011 đạt 23,91 triệu tấn. Sản lượng khai thác dầu đạt 15,21 triệu tấn. Tập đoàn đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 280 triệu vào tháng 10/2011.

Sản lượng khai thác khí đạt 8,7 tỉ m3. Tập đoàn đạt mốc khai thác m3 khí thứ 70 tỉ vào tháng 9/2011. Sản xuất và cung cấp cho lưới điện quốc gia đạt 13,35 tỉ kWh. Tập đoàn đạt mốc sản xuất kWh điện thứ 35 tỉ vào tháng 10/2011.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất tấn phân đạm thứ 5 triệu vào tháng 8/2011.

Công tác bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Lọc dầu Dung Quất lần thứ nhất vượt tiến độ 2 ngày. Sản phẩm sản xuất từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt 5,43 triệu tấn. Hoạt động dịch vụ dầu khí tiếp tục được đẩy mạnh, doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2011 đạt trên 200 nghìn tỉ đồng.

Tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và các dự án trọng điểm của Tập đoàn được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo theo kế hoạch đề ra. PVN rà soát và đình hoãn 12 dự án, giãn tiến độ 44 dự án đầu tư với tổng giá trị trên 7,25 nghìn tỉ đồng. Giá trị thực hiện đầu tư năm 2011 đạt trên 90 nghìn tỉ đồng.

Trong năm 2011, toàn Tập đoàn đã khởi công mới 16 công trình, hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành 47 công trình, trong đó có các công trình trọng điểm như: đưa vào khai thác mỏ Visovoi (lô số 2) thuộc Dự án Thăm dò khai thác dầu khí 04 lô tại Khu tự trị Nhenhetxky – Liên Bang Nga (ngày 29/7), mỏ Đại Hùng pha 2 (ngày 12/8), mỏ Tê Giác Trắng (ngày 22/8); hạ thuỷ khối chân đế giàn Mộc Tinh 1 thuộc dự án Biển Đông 1 (ngày 27/8); hạ thủy giàn khoan 90 nước (ngày 10/9), đưa chu trình hỗn hợp Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 vào vận hành (ngày 16/10/2011), kho nổi Bạch Hổ FSO5 (ngày 15/01)…

Công tác đổi mới, tái cấu trúc doanh nghiệp được triển khai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo được triển khai tích cực, công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác an sinh xã hội được triển khai thực hiện cao hơn so với cam kết, tổng số tiền thực hiện công tác an sinh xã hội toàn Tập đoàn năm 2011 đạt trên 613 tỉ đồng so với kế hoạch cam kết từ đầu năm là 600 tỉ đồng.

Kế hoạch năm 2012, PVN vẫn bám sát 5 lĩnh vực chính, đó là: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Lọc hóa dầu; Công nghiệp Khí; công nghiệp Điện; dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao. Tiếp tục rà soát nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án; thu xếp đủ vốn và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các dự án trọng điểm.

Trong đó, khai thác Dầu khí 24,81 triệu tấn, doanh thu 660 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách đạt 134,8 nghìn tỉ đồng.

Chung sức cùng tháo gỡ khó khăn

Cũng tại hội nghị, lãnh đạo các đơn vị thành viên của PVN đã phát biểu tham luận.

Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) cho biết PVEP là đơn vị chủ lực của PVN, đã làm gia tăng trữ lượng dầu khí lên 37,8 triệu tấn dầu qui đổi. Sản lượng khai thác đạt 16,18 triệu tấn dầu qui đổi. Doanh thu của PVEP đạt hơn 50 nghìn tỉ đồng. PVEP đã đưa 4 mỏ mới vào khai thác gồm mỏ Đại Hùng giai đoạn 2, mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Chim Sáo, mỏ Dana. PVEP cũng đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác các mỏ Junin 2 ở Venezuela và mỏ Bir Seba – Lô 433a&416b (Algeria).

Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro cũng là đơn vị chủ lực khai thác dầu khí của PVN. Năm qua, Vietsovpetro đã khai thác 6,4 triệu tấn dầu. Doanh thu bán dầu đạt 5,6 tỉ USD, nộp ngân sách Nhà nước và lợi nhuận phía Việt Nam đạt 3,55 tỉ USD, lợi nhuận phía Nga là 580 triệu USD. Vietsovpetro đưa ra mục tiêu hàng năm phải đưa ít nhất 2 giàn khai thác mới vào khai thác để đảm bảo khai thác an toàn 6,14 triệu tấn trong năm 2012.

Thay mặt Công ty TNHH 1TV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang cho biết kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất năm qua đã đạt được những con số ấn tượng như tổng doanh thu đạt 116 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 14 nghìn tỉ đồng. Giữa năm 2011, NMLD Dung Quất tạm ngừng hoạt động, bảo dưỡng lần đầu tiên một cách thành công sau khi hoàn thành từ tháng 2/2009. Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang kỳ vọng các đơn vị thuộc PVN sẽ hỗ trợ NMLD Dung Quất hơn nữa để cùng nhà máy tháo gỡ khó khăn, hoạt động hiệu quả hơn.

Trong năm qua, một số đơn vị của PVN gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang nợ Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) khoảng 14 nghìn tỉ đồng. Do đó, PV Power rất khó khăn trong việc huy động vốn cho các dự án điện. Nhà máy Thủy điện Hủa Na sẽ hoàn thành trong quý IV/2012 và PV Power đang nỗ lực thu xếp vốn còn lại cho dự án này.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang nhiệt liệt biểu dương những thành tích mà PVN đã đạt được trong năm 2011. “Đây là thành tích đáng tự hào của PVN trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tin tưởng rằng các giải pháp của PVN sẽ thực hiện thành công để tăng tốc phát triển trong năm 2012 và các năm tiếp theo” – Thứ trưởng Lê Dương Quang nhấn mạnh.

Bộ Công Thương đề nghị PVN đẩy mạnh các giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển trong năm 2012. PVN hãy phát huy bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng bộ thực hiện 3 khâu đột phá là nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý. Đồng thời, PVN phải đi đầu trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ III (10/2011). PVN phát huy cao nội lực, ưu tiên dùng hàng trong nước cho các hoạt động kinh doanh.

Phát biểu tiếp thu ý kiến, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu cám ơn lãnh đạo Bộ Công Thương, các Cục, Vụ, Viện của Bộ Công Thương đã có những giúp đỡ để PVN hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh năm qua. Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu sẽ cùng tập thể người lao động Dầu khí phát huy truyền thống Anh hùng, lao động hết mình, sáng tạo, kiên quyết giữ vững vị thế là tập đoàn hàng đầu của nền kinh tế nước nhà.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu phát động thi đua năm 2012, trong đó tập trung hoàn thành tốt 5 nhiệm vụ: Thực hành tiết kiệm; Tái cấu trúc doanh nghiệp trên cơ sở bền vững, hiệu quả; Triển khai mạnh mẽ 3 giải phát đột phá: nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý; Triển khai sâu rộng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chính trị vững mạnh; Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Dầu khí.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba của Chủ tịch nước cho các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc giai đoạn 2006 – 2010; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho đồng chí Hoàng Xuân Hùng – Phó chủ tịch HĐTV, đồng chí Vũ Quang Nam – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Nguyễn Tiến Dũng – Phó tổng giám đốc Tập đoàn; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Tổng công ty Dung dịch và Hóa phẩm Dầu khí (DMC), đồng chí Nguyễn Xuân Sơn – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Đỗ Văn Đạo – Trưởng văn phòng đại diện khu vực châu Mỹ, đồng chí Bùi Ngọc Quang – Trưởng ban dự án khí Đông Nam Bộ, đồng chí Trương Văn Ba – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Vật tư Tổng hợp Phú Yên (Tổng công ty Dầu Việt Nam).

Ban Xây dựng Tập đoàn, Ban Luật và Quan hệ quốc tế Tập đoàn, Đội công nghệ cao số 1 Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (Liên doanh Việt – Nga), Văn phòng Tập đoàn nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng trao 22 Huân chương Lao động hạng Ba cho các cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chủ tịch HĐTV Phùng Đình Thực trao tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc cho 6 cá nhân.

Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu trao Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ cho 14 tập thể đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện các nhiệm vụ công tác năm 2011. 23 tập thể cũng nhận Cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương trao cờ cho 10 tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 9 cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; 4 tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ và 4 cơ sở Đảng hoàn thành nhiệm vụ.

Tại hội nghị, 31 đơn vị thuộc Tập đoàn được trao cờ thi đua và 20 cá nhân đạt danh hiệu doanh nhân, nhà quản lý tiêu biểu được trao cúp và chứng nhận của Tổng giám đốc Tập đoàn.

Tại Hội nghị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã công bố ra mắt Bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Nhằm gìn giữ những giá trị và kinh nghiệm quý báu mà các thế hệ ngành dầu khí đã dày công xây đắp, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ cũng như phát huy những thành tựu đã đạt được của ngành Dầu khí Việt Nam trong suốt 50 năm qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Bộ sách có 3 tập, trình bày thành 5 phần gồm 13 chương và phần phụ lục, bao quát toàn bộ các hoạt động liên quan tới hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm-thăm dò và khai thác dầu khí từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 tới hết năm 2010, ghi lại chi tiết toàn cảnh lịch sử của ngành Dầu khí Việt Nam, mô tả lại những khó khăn, gian khổ, đấu tranh, vật lộn, trăn trở, cùng những hoài bão, mong ước và cả những thăng trầm, đổi thay qua các thế hệ những người làm công tác dầu khí từ những ngày đặt nền móng đầu tiên cho tới năm 2010. Bộ sách không chỉ là một biên niên sự kiện, mà còn là một kho tàng kiến thức về địa chất, dầu khí và nhiều lĩnh vực chuyên môn khác liên quan tới Ngành, cho các bạn đọc muốn tìm hiểu và nghiên cứu về ngành Dầu khí Việt Nam.

(Theo Petrotimes)

Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

 

*Chiến dịch đánh tư sản, tịch thu các hãng xưởng, kho bãi, và nhà cửa đất đai, rồi 1976, chiến dịch đổi tiền 500 đồng miền Nam chỉ đổi lấy 1 đồng tiền “giải phóng” để cướp sạch tiền tiết kiệm của người miền Nam, cắt đứt và không chi trả gần 8 triệu “sổ hưu” của những công chức y tế, giáo dục, quân đội, công nhân, doanh nhân miền nam đã làm việc trong thời gian 1950-1975 và trước đó.

Kể từ ngày chính phủ HCM lên cầm quyền ở miền Bắc 1946,  có 2 lần đổi tiền, 1950 và 1958. Lần nhất theo tỷ giá 100: 1 và lần 2 theo tỷ giá 1000:1, Vậy là người miền Bắc nghèo đi hay mất tổng cộng là 10.000 lần số tài sản của họ vào tay bác và đảng.

Khi chiếm được miền Nam, chiến dịch đổi tiền năm 1976, làm người miền Nam nghèo đi 500 lần, tỷ giá đổi tiền 1 đồng giải phóng bằng 500 đồng Miền Nam 500:1.

Chiến dịch đổi tiền năm 1978, theo đó, 1 đồng mới giá bằng 1 đồng miền Bắc, nhưng chỉ bằng 0,8 đồng “giải phóng”.

Chiến dịch đổi tiền 1985, 1 đồng mới có giá trị 10 lần đồng 1978.Vậy là toàn dân nghèo đi 10 lần chỉ vì đảng và nhà nước bất tài, đưa kế hoạch kinh tế 5 năm ra đều gặp thất bại, thâm thủng ngân sách, nên lấy chính sách đổi tiền để tước đoạt giá trị tích lũy của những người biết làm ăn và để dành tiền tiết kiệm. http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dong

Như vậy, tính từ 1950 cho đến 1985, với 5 lần đổi tiền, giá trị  tiền bạc ở VN mất đi 100x1000x500x10 = 100.000.000 lần.  ( 1 đồng VN năm 1950, sau 5 lần đổi tiền, có tỷ giá so với tiền đồng năm 1985 là khoảng 100.000.000 đồng). 

Tỷ giá tiền tệ trong 50 năm qua, chắc chỉ có đảng CSVN là lãnh đạo đất nước tài tình và sáng suốt nhất; chỉ thua có nước Zymbabuez, nhưng đứng trên gần 200 quốc gia khác.  

Đổi tiền xảy ra vì chính phủ mới lên cần nắm tiền tệ để điều hành và trả lương, nhưng sau đó khi chính phủ quá yếu kém, gây thâm thủng ngân sách, thì thường tung tiền vào thị trường để tiếp tục nắm quyền, việc này gây lạm phát hay đồng tiền mất giá trị, vật giá tiếp tục gia tăng theo thời gian hơn 60 năm qua..càng chứng tỏ đảng và chính  phủ bất tài và kém cỏi.

Khi có máy in tiền trong tay ( thực tế là mua tiền mới để dành sẵn trong kho), giá in 1 đồng tiền mới polymer là 5 cents trả cho công ty Úc. Dùng 2 tờ 500.000 đồng polymer giá 10 cents tiền công in, là đổi được 50 đô la Mỹ, coi như đảng và nhà nước lời 49 đô la 90 cents. (Tương tự mua 1, bán lấy lời hơn 49 lần.)  

Chiến dịch đổi tiền và đánh tư sản để cướp nhà cửa, công ty, kho bãi, và chở hàng chiến lợi phẩm ra Bắc năm 1975-1979 chấm dứt, thì đảng lùa dân miền Bắc vào Nam. Có hơn 4 triệu người di cư từ Bắc vào Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng miền Nam trong khoảng thời gian này. Các kế hoạch nói trên nhằm cào cho dân miền Nam nghèo bằng dân miền Bắc, để dễ cai trị.

Kể từ 1986, đảng và nhà nước dù cố gắng hết sức, họp hành soạn thảo kế hoạch rất căng, thực thi các kế hoạch kinh tế theo đúng chính sách, nhưng cũng đã không cải thiện được đời sống dân chúng. Dân chúng cả nước đều nghèo, nạn đói đe dọa hàng năm từ 1975-1989 gọi là “đói giáp hạt”, nông dân bao vây và đánh trả các lực lượng công an và ủy ban các xã…đã làm đảng lo sợ các cuộc nổi dậy, nên phải quay trở về đi theo chủ nghĩa kinh tế tư bản, gọi là “đổi mới” cho đỡ mắc cở.

Lần này, đảng và nhà nước nắm độc quyền tất cả các ngành nghề có ăn nhất trong 1 nước, bằng cách thành lập 91 tập đoàn và tổng công ty, với số công ty con lên đến trên 12000 công ty. Ban giám đốc và trưởng phòng của các tập đoàn, tổng công ty, và 12000 công ty con, cùng là các cán bộ đảng viên cao cấp, hoặc con cái của họ nắm giữ chức vụ then chốt để tiếp tục đục khoét tiền bạc, ăn cắp tài nguyên khoáng sản bán chia nhau. Trong suốt 20 năm qua, năm nào thì báo cáo tổng kết của tất cả các công ty nhà nước đều là: hoàn thành vượt mức kế hoạch 120-150%, hoặc cao hơn năm trước 25%. Nhưng thực tế là tất cả các tập đoàn và tổng công ty, công ty con thua lỗ đến độ phá sản.

Tập đoàn PetroVietnam chỉ có việc hút dầu dưới Biển Đông, ngoài khơi Vũng Tàu, mỗi ngày hút lên 430.000 thùng dầu, chở qua Nhật, và Singapore bán lấy tiền mà cuối cùng cũng thua lỗ. Tập Đoàn Than và Khoáng Sản mỗi năm khai thác và bán hơn 46 triệu tấn than, nhưng cũng thua lỗ và mắc nợ. Tổng công ty Điện lực VN (EVN) cũng báo cáo thua lỗ…

——————

Bài 2: Nhập than

Tác giả Mạnh Quân

Nguồn: Báo SGGP

Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế.

Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ.

Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ đắp chiếu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu.

TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ, nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn.

“Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025.

Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, đã không biết tiết kiệm tài nguyên, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang).

Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được. Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT, nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Cho nên, TKV đã đưa ra đề án thành lập ban chỉ đạo nhập khẩu than cho riêng tổng sơ đồ phát triển điện VI (còn nhập than để luyện thép, thuỷ tinh, sản xuất hoá chất… thì chưa biết).

Thành phần ban chỉ đạo dự kiến đề xuất gồm một Phó thủ tướng làm trưởng ban, phó trưởng ban là bộ trưởng bộ Công thương, các thành viên khác là thứ trưởng hoặc cấp tương đương ở một số bộ, ngành liên quan. Ban này sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc nhập than; trực tiếp quyết định hoặc đề xuất với Thủ tướng về cơ chế, chính sách nhập khẩu than…

Chắc rằng, ban chỉ đạo về nhập khẩu than sẽ sớm được chính thức thành lập theo đề nghị của TKV. Nhưng với sự tham gia muộn màng vào đội ngũ các nước nhập khẩu, có thể hình dung việc nhập khẩu than từ năm 2012 là không hề dễ dàng. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than.

TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu.

Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Xin trích lại một đoạn trong một bài viết về vấn đề này của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc công ty Năng lượng sông Hồng, một công ty thành viên của TKV: “Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập trung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực khác mà không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam đã có thể được đẩy lùi hàng chục năm”.

Mạnh Quân

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!pjXr6C6CGBYDG0ZN8yuMdVr.asmSfg–/article?mid=1731&fid=-1

nguồn: sgtt.com.vn

http://www.atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44470/index.aspx

*http://sct.quangninh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=116&news_id=7967

—–

Bài 3-Xuất khẩu tài nguyên thô: Biết nguy, vẫn không dừng

Báo Saigon Giải Phóng

Mặc dù đã có nhiều tiếng nói từ Quốc hội đề nghị hạn chế xuất khẩu khoáng sản, ngay cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại kỳ họp Quốc hội cuối năm trước đã đề nghị “chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thô” nhưng từ tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho đến bộ Công thương gần đây vẫn dường như vẫn lao theo quán tính, thói quen cũ. Khoáng sản nhiều loại vẫn được xuất khẩu với số lượng lớn bất chấp thực tế chính nhiều loại khoáng sản đó đã dần trở nên khan hiếm với chính các doanh nghiệp cần dùng đến chúng ở trong nước.

Như SGTT đã đưa tin, từ cuối năm 2009, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị  Thủ tướng Chính phủ cho xuất khẩu thêm 400 ngàn tấn tinh quặng sắt, 84 ngàn tấn tinh quặng magnetit, 18 ngàn tấn mangan, 44 ngàn tấn kẽm…

Cho đến đầu năm nay, riêng hậu quả của tình trạng xuất khẩu số lượng lớn các loại tinh quặng khoáng sản kéo dài trong nhiều năm đõ đã được thấy rõ. Theo ông Phạm Chí Cường,chủ tịch hiệp hội Thép Việt Nam, vừa qua, một số doanh nghiệp sản xuất thép, đang có các dự án luyện thép lò cao qui mô lớn đã đồng loạt gửi nhiều văn bản đến bộ Công thương, hiệp hội Thép bày tỏ ý kiến phản đối việc cho phép xuất khẩu quặng sắt và nhiều loại khoáng sản khác.

Theo các doanh nghiệp này, số lượng tinh quặng sắt xuất khẩu năm 2009 thực tế nhiều hơn báo cáo của Tổng cục Hải quan 600 ngàn tấn. Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam là 1,81 triệu tấn do họ thống kê cả số lượng hàng xuất theo đường tiểu ngạch, trốn thuế từ Việt Nam sang. Ông Cường cũng cho biết, về phía hiệp hội Thép Việt Nam cũng có môt văn bản đề nghị chấm dứt xuất khẩu quặng sắt để dành nguồn quặng này cho các nhà máy trong nước khai thác lâu dài.

Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thép,  ông Huang Tony, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ cho biết, chỉ tính nhu cầu quặng sắt của 3 công ty sản xuất thép trong nước (có đơn kiến nghị) trong đó có công ty của ông thì mỗi năm, lượng tinh quặng thép cần là hơn 2 triệu tấn. Ông này cho rằng, nếu tình hình xuất khẩu quặng sắt vẫn tiếp tục thì nguy cơ các dự án luyện thép lò cao đã được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng sẽ phải đắp chiếu do không có nguyên liệu để hoạt động bởi việc nhập khẩu nguyên liệu ngày càng đắt đỏ, khó khăn.

Nhưng chưa dừng lại ở đấy, mới đây nhất, ngày 27.2, tổng công ty Khoáng sản Việt Nam (trực thuộc TKV_ lại có đề nghị cho xuất khẩu 20.000 tấn tinh quặng đồng quy khô với lý do là để ổn định tình hình tài chính, duy trì sản xuất của tổ hợp khai thác Sin Quyền (Lào Cai)…Sau đó, TKV lại có đề nghị lên bộ Công thương để bộ xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận đề nghị của tổng công ty Khoáng sản.

Nếu tiếp tục đà xuất khẩu này, có lẽ trong năm nay, lượng tinh quặng khoáng sản: đồng, sắt, kẽm, mangan…có thể vượt xa năm 2009.

Theo số liệu của tổng cục Hải quan, không kể than, dầu mỏ, năm 2009, số lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu lên tới 2,15 triệu tấn, đạt kim ngạch gần 135 triệu USD. Nước nhập khẩu nhiều nhất các nguồn quặng này của Việt Nam vẫn là Trung Quốc.

Chỉ trong năm ngoái, Trung Quốc nhập 1,67 triệu tấn các loại trong đó có 1,2 triệu tấn tinh quặng sắt của Việt Nam với giá trị 103 triệu USD. 2 tháng đầu năm nay, theo số liệu của bộ Công thương, riêng xuất khẩu than đá, quặng và một số loại khoáng sản khác (chưa tính dầu thô) đã lên tới khoảng 2 triệu tấn trị giá 89 triệu USD.

Riêng nguồn khoáng sản được xuất khẩu lớn nhất trong nhiều năm qua là than thì năm nay có giảm xuống chút ít. Sau khi đã thực hiện xuất khẩu 24 triệu tấn than trong năm 2009, năm nay, TKV  đề nghị xuất khẩu thêm 18 triệu tấn nữa và dự tính tiếp tục giảm vào năm 2011, để đến năm 2013 và 2014 chỉ còn xuất khẩu 3-4 triệu tấn than/năm.

Nhưng đáng nói, chính ông Trần Xuân Hoà, tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cuối tuần trước đã đề nghị Chính phủ cho phép ngay từ năm nay thí điểm việc nhập than cho một số hộ sản xuất trong nước bởi trong những năm tới, việc nhập khẩu than sẽ trở lên rất khó khăn.

Biết trước việc nhập than (từ năm 2013) trở đi là rất lớn và  sẽ khó khăn như vậyTKV vẫn đề nghị và bộ Công thương vẫn cho phép thực hiện xuất khẩu than với số lượng còn lớn như vậy thì đây chỉ có thể hiểu là một việc làm cạn kiện tài nguyên, làm nghèo đất nước.

Còn nhớ, từ tháng 6.2008, bộ Công thương đã ban hành thông tư hướng dẫn số 08/2008/TT-BCT trong đó quy định rõ: kể từ 30.9.2008, khoáng sản khai thác được phải ưu tiên cho chế biến sâu trong nước; nếu xin phép xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn, hàm lượng chế biến cao. Nhưng với việc tiếp tục xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận các đề nghị cho xuất khẩu khoáng sản, tinh quặng như vậy rõ ràng bộ này đã làm trái với chính thông tư, quy định do ngành mình ban hành.

Phải chăng vẫn đang có một sức ép lớn để đạt các chỉ tiêu tăng trưởng GDP, đạt thành tích xuất khẩu đã khiến bộ Công thương phải làm trái cả quy định của mình như vậy ? Còn nếu cứ viện những lý do cũ : do khai thác dư thừa, có trong nước chưa có cơ sở chế biến sâu, do thiếu vốn đầu tư…thì đó đều là những cách giải thích không hợp lẽ, khó thuyết phục.

Mạnh Quân

Nguồn Sgtt.com.vn

Báo: http://www.tinkinhte.com/cong-nghiep/mo-khai-khoang/xuat-khau-tai-nguyen-tho-biet-nguy-van-khong-dung.nd5-dt.87812.136143.html

——————————————————————————————–

——————————————————————————————–

———————————————————

Ngoài việc làm kinh tế quốc gia mà chỉ dựa dẫm vào việc bán dầu thô như bài báo trên, đảng dựa vào nông dân và ngư dân nữa trời ạ. Vừa ép giá để mua rẻ, vừa dựa vào lớp người nghèo khổ này để bán ra nước ngoài thu ngoại tệ và gia tăng GDP, nhưng kể công là “chính phủ giao” nghe mà muốn mắc ói.

“Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, …Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 12/2009 ước đạt 1,3 tỷ USD, đưa tổng giá trị  xuất khẩu cả năm của nhóm ngành này lên 15,34 tỷ USD” (nguồn)

Doanh nghiệp dệt may xuất khẩu chiếm 14 tỷ USD năm 2011 (nguồn)

———————————————————

___________________________________

Thông báo-Thông cáo

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM THÁNG 12 VÀ 12 THÁNG NĂM 2011

Thống kê Hải quan – 1/02/2012 11:00 AM

I.          Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 12/2011 đạt 18,44 tỷ USD, tăng nhẹ 0,9% so với tháng trước đó và tăng 12,6% so với tháng 12/2010. Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,09 tỷ USD, tăng 2,6 % so với tháng 11/2011; nhập khẩu là 9,36 tỷ USD, giảm 0,7%. Kết quả là cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 thâm hụt 270 triệu USD, giảm mạnh 52,4% so với tháng trước và bằng 3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. 

Theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan thì tính từ đầu năm đến ngày 25 tháng 12 năm 2011, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã chinh phục mức kỷ lục mới của Việt Nam “200 tỷ USD” sau khi đã cán mốc 100 tỷ USD vào ngày 01 tháng 12 năm 2007.

Tính đến hết tháng 12 năm 2011 tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước đạt 203,66 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá hàng hoá xuất khẩu đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% và thực hiện vượt 22% mức kế hoạch của cả năm 2011; trong khi đó, trị giá hàng hóa nhập khẩu là 106,75 tỷ USD, tăng 25,8% và vượt 14,2% kế hoạch của cả năm. Với kết quả trên thì cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong năm 2011 thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

 Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2011

 

 

Theo số liệu Thống kê Hải quan thì tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2011 đạt 96,71 tỷ USD, tăng 36% so với kết quả thực hiện của năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 47,87 tỷ USD, tăng 40,3% và chiếm 49,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trị giá nhập khẩu của khu vực các doanh nghiệp này là 48,84 tỷ USD, tăng 32,1%, chiếm 45,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu đạt 49,03 tỷ USD trong năm 2011, tăng 28,7% và nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng 21%.

II. Một số nhóm hàng xuất khẩu chính

Hàng thủy sản: kim ngạch xuất khẩu trong tháng 12/2011 đạt 581 triệu USD, giảm nhẹ 0,2% so với tháng 11. Tính đến hết năm 2011, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 6,11 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2010 và tăng 65,6% so với mức bình quân giai đoạn 2005- 2009.

Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn là 3 đối tác chính nhập khẩu hàng thuỷ sản trong năm 2011, cụ thể: xuất mặt hàng này sang thị trường EU đạt 1,36 tỷ USD, tăng 12,9%; sang Hoa Kỳ đạt 1,16 tỷ USD, tăng 21,3%; sang Nhật Bản đạt 1,02 tỷ USD, tăng 13,6% so với năm 2010. Ngoài ra, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn mở rộng sang các thị trường như Hàn Quốc: 490 triệu USD, tăng 26,1%; Trung Quốc: 223 triệu USD, tăng 37,3%; Braxin: 86,3 triệu USD, tăng 153,5%…

Gạo vẫn là một mặt hàng nông sản chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu nông sản của nước ta (chiếm 26,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản). Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy năm 2011 lượng gạo xuất khẩu đạt 7,1 triệu tấn và trị giá đạt 3,66 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 3,3% về lượng và tuy nhiên tăng khá 12,6% về trị giá so với năm trước.

Biểu đồ 2: Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam năm 2011

 

Cà phê: lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 12/2011 là 155,6 nghìn tấn, trị giá đạt 325 triệu USD, tăng 119,9% về lượng và tăng 116,6% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 12 tháng/2011, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt gần 1,26 triệu tấn, trị giá đạt 2,75 tỷ USD, tăng 3,2% về lượng và tăng 48,7% về trị giá so với năm 2010.

Thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của nước ta trong năm 2011 bao gồm EU: 490 nghìn tấn, tăng 1,8% và chiếm 39% tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam; tiếp theo là Hoa Kỳ: 138,5 nghìn tấn, giảm 9,5%; Nhật Bản: 50,7 nghìn tấn, giảm 4,4%… so với năm 2010.

Cao su: tháng 12/2011, lượng cao su xuất khẩu đạt 111 nghìn tấn, trị giá 335 triệu USD, giảm 11,8% về lượng và giảm 11,1% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết tháng 12/2011, tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước đạt 817 nghìn tấn, tăng 4,4%, trị giá đạt 3,23 tỷ USD, tăng 35,4% so với năm 2010.

Trung Quốc vẫn là đối tác chính tiêu thụ cao su nhập khẩu từ Việt Nam trong năm 2011 với 502 nghìn tấn, tăng 8% và chiếm tới 61,4% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là các thị trường: EU: 67,1 nghìn tấn, tăng 6,2%; Malaixia: 57,8 nghìn tấn, giảm 2%; Đài Loan: 34,3 nghìn tấn, tăng 7,6%;…

Dầu thô: lượng dầu thô xuất khẩu năm 2011 đạt 8,24 triệu tấn, tăng 3,3% và trị giá đạt 7,24 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010. Đơn giá xuất khẩu bình quân đạt 879 USD/tấn (khoảng 115 USD/thùng), tăng 41,4% so với năm trước.

Lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: 1,82 triệu tấn, tăng gấp 4 lần, sang Ôxtrâylia: 1,44 triệu tấn, giảm 50,5%; sang Trung Quốc: 1,25 triệu tấn, tăng 111%; sang Malaixia: 1,09 triệu tấn, giảm 16,1% so với năm trước.

Than đá: lượng than xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 là 17,2 triệu tấn, giảm 13,4%, trị giá đạt 1,63 tỷ USD, tăng 1,3% so với năm 2010. Lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều giảm so với năm trước. Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam với 13,4 triệu tấn, giảm 8,2% và chiếm tới 78,3% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc: 1,52 triệu tấn, giảm 13,5% và Nhật Bản: 1,37 triệu tấn, giảm 19,8%…

Hàng dệt may: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2011 của nước ta đạt 14,04 tỷ USD, tăng 25,3% so với năm 2010 và tăng tới 132% so với kim ngạch bình quân của giai đoạn 2001 – 2010.

Từ năm 2007, trị giá xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp FDI vượt qua các doanh nghiệp trong nước. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của khối doanh nghiệp FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước liên tục tăng trong những năm gần đây. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 8,51 tỷ USD, chiếm 60,6% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam.

Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2006 – 2011

 

Trong năm 2011, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là 3 thị trường lớn nhất tiêu thụ hàng dệt may từ Việt Nam với kim ngạch và tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2010 lần lượt là 6,88 tỷ USD và 12,5%; 2,57 tỷ USD và 33,6%; 1,69 tỷ USD và 46,4%. Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 3 thị trường này đạt 11,15 tỷ USD, chiếm tới 79,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước trong năm 2011.

Giày dép các loại: trong tháng 12/2011, lượng giày dép xuất khẩu đạt 721 triệu USD, tăng 10,4% so với tháng 11/2011; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam trong năm 2011 đạt 6,55 tỷ USD, tăng 27,9% so với năm 2010. Trong đó, trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 4,98 tỷ USD, chiếm 76% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng giày dép cả nước.

Những đối tác chính nhập khẩu giày dép của Việt Nam trong năm 2011 chủ yếu là: EU: 2,61 tỷ USD, tăng 15,7%; Hoa Kỳ: 1,91 tỷ USD, tăng 35,5%; Trung Quốc: 253 triệu USD, tăng 63%; Nhật Bản: 249 triệu USD, tăng 44,7%;…

Túi xách, ví, vali, mũ & ô dù: năm 2005, xuất khẩu nhóm hàng này chỉ đạt 500 triệu USD, đến năm 2010 đạt 959 triệu USD. Năm 2011, xuất khẩu nhóm hàng này đạt con số ấn tượng lên đến gần 1,3 tỷ USD, tăng 34% so với năm trước. Các đối tác chính nhập khẩu túi xách, ví, vali, mũ & ô dù của Việt Nam chủ yếu là: Hoa Kỳ: 459 triệu USD, tăng 38,1%; EU: 441 triệu USD, tăng 23,3%; Nhật Bản: 144 triệu USD, tăng 53,8% so với năm 2010…

4 : Diễn biến tình hình xuất khẩu túi xách, ví, vali, mũ & ôdù theo tháng năm 2009- 2011

Biểu đồ 5: Diễn biến tình hình xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép theo tháng năm 2009- 2011


Sản phẩm từ sắt thép: kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 37,8% so với năm 2010. Xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép tăng mạnh sang thị trường Hoa Kỳ với 285 triệu USD, tăng tới 133,4%; xuất sang EU đạt 240 triệu USD, tăng 18,9%; xuất sang Nhật Bản đạt 122 triệu USD, tăng 24,7%…

Điện thoại các loại & linh kiện: diễn biến xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 theo hướng tăng mạnh trong quý II và quý III. Tính chung năm 2011, xuất khẩu điện thoại các loại & linh kiện đạt 6,89 tỷ USD, tăng 198,4% so với năm 2010.

Biểu đồ 6: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện theo tháng năm 2010 – 2011

 

Những đối tác chính nhập khẩu điện thoại các loại & linh kiện của Việt Nam trong năm 2011 là EU với 2,94 tỷ USD (năm 2010 là 427 triệu USD), chiếm 42,6% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam. Tiếp theo là Hồng Kông: 660 triệu USD, tăng 73,8%; Nga: 536 triệu USD, tăng 111%; Ấn Độ: 371 triệu USD, tăng 45,2% so với năm 2010.

III. Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam vớikim ngạch năm 2011 đạt 15,34 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2010. Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 6,59 tỷ USD, tăng 28,1% và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 8,75 tỷ USD, tăng 2,4% so với một năm trước đó.

Nhóm hàng máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng nhập khẩu chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 5,18  tỷ USD, tăng 15,7% so với năm 2010; tiếp đến là Nhật Bản: 2,8 tỷ USD, tăng 9,9%; EU: 2,42 tỷ USD, tăng 10,8%; Hàn Quốc: 1,26 tỷ USD; tăng 13,8%; Đài Loan: 899 triệu USD, tăng 10,9%; Hoa Kỳ: 848 triệu USD, tăng 4,1%;…

Xăng dầu các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là gần 10,7 triệu tấn, tăng 11,4% so với năm 2010 với trị giá gần 9,9 tỷ USD, tăng 61,6%. Đơn giá nhập khẩu bình quân trong năm 2011 tăng 45% so với năm 2010 nên kim ngạch tăng do yếu tố giá là 3,07 tỷ USD và tăng do yếu tố lượng là 698 triệu USD.

Biểu đồ 7: Đơn giá nhập khẩu xăng dầu các loại theo tháng năm 2010 – 2011

 

Lượng xăng dầu nhập khẩu theo loại hình tạm nhập tái xuất trong năm 2011 là 715 nghìn tấn, giảm 60,6% so với năm 2010. Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong năm 2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với gần 4,4 triệu tấn, tăng 26,7%; tiếp theo là Đài Loan: 1,39 triệu tấn, tăng 31,6%; Trung Quốc: 1,32 triệu tấn, giảm 13%; Hàn Quốc: 1,12 triệu tấn, tăng 1,36%; Cô oét: 796 nghìn tấn, tăng 62,4%;… so với năm 2010.

Sắt thép các loại: tính đến hết năm 2011, tổng lượng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là 7,39 triệu tấn, giảm 18,7%, kim ngạch nhập khẩu là 6,43 tỷ USD, tăng 4,5%. Trong đó, lượng phôi thép nhập khẩu là 878 nghìn tấn, trị giá đạt 576 triệu USD, giảm 55,8% về lượng và giảm 46,4% về trị giá so với năm 2010.

Biểu đồ 8: Lượng sắt thép các loại nhập khẩu năm 2005- 2011

 

Trong năm 2011, Việt Nam nhập khẩu sắt thép trong năm 2011 chủ yếu có xuất xứ từ: Nhật Bản với 1,93 triệu tấn, tăng 10,6% so với năm 2010; Hàn Quốc: gần 1,7 triệu tấn, tăng 2,9%; Trung Quốc: 1,67 triệu tấn, giảm 23,7%; Đài Loan: 810 nghìn tấn, tăng 1,4%;…

 Nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong tháng này kim ngạch nhập khẩu đạt 939 triệu USD, giảm 12,5% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 lên 12,27 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm 2010. Trong đó trị giá nhập khẩu vải là 6,73 tỷ USD, tăng 25,5%; nguyên phụ liệu dệt may da giày 2,95 tỷ USD, tăng 12,5%; xơ sợi dệt là 1,53 tỷ USD, tăng 30,4% và bông là hơn 1 tỷ USD, tăng 56,1%.

Trong năm 2011, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập khẩu 7,88 tỷ USD, tăng 26,3% và các doanh nghiệp trong nước là 4,39 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2010.

Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong năm 2011 là: Trung Quốc: 3,96 tỷ USD, tăng 26,4%; Hàn Quốc: 2,11 tỷ USD, tăng 22%; Đài Loan: 2 tỷ USD, tăng 16,6%; Nhật Bản: 737 triệu USD, tăng 43,4%; Hoa Kỳ: 733 triệu USD, tăng 70,9%; Hồng Kông: 594 triệu USD, tăng 10,3%; … so với năm 2010.

Phân bón các loại: trong cả năm 2011, lượng phân bón nhập khẩu của Việt Nam là hơn 4,25 triệu tấn, tăng 21,1%, trị giá là 1,78 tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010. Trong đó nhập khẩu nhiều nhất là phân Urê với hơn 1,13 triệu tấn, tăng 14,5%; phân Kali là 947 nghìn tấn, tăng 44,2% và phân SA là 891 nghìn tấn, tăng 30,5% so với năm 2010.

Tính đến hết năm 2011, Việt Nam nhập khẩu phân bón chủ yếu có xuất xứ từ: Trung Quốc: 2,17 triệu tấn, tăng 26,9% và chiếm tỷ trọng 51% trong tổng kim ngạch nhập khẩu phân bón của cả nước; Bêlarút: 378 nghìn tấn, tăng mạnh 159%; Philippin: 319 nghìn tấn, tăng 61,6%; Nhật Bản: 239 nghìn tấn, tăng 11,9%; …

Ô tô nguyên chiếc:trong tháng lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là 3,6 nghìn chiếc, tăng 31,3%, nâng tổng lượng xe nhập khẩu trong năm 2011 lên 54,6 nghìn chiếc, trị giá là hơn 1 tỷ USD, tăng 1,4% về lượng và tăng 5,1% về trị giá so với năm 2010.

Tính đến hết năm 2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu xe dưới 9 chỗ là 34,9 nghìn chiếc, giảm 0,3%; ô tô tải là 16 nghìn chiếc, tăng 13,3%; ô tô loại khác là 3,69 nghìn chiếc, giảm 32,5% so với năm 2010.

Biểu đồ 9: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm 2011

 

Xe ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Hàn Quốc với 25 nghìn chiếc, giảm 11% so với năm 2010. Trong đó, lượng xe dưới 9 chỗ ngồi là gần 18 nghìn chiếc, giảm 5,3% và chiếm 71,8% lượng xe nhập khẩu từ thị trường này. Tiếp theo là các thị trường: Trung Quốc: 5,5 nghìn chiếc, tăng 31,8%; Thái Lan: 5,38 nghìn chiếc, tăng 92,5%; Nhật Bản: 4,55 nghìn chiếc, giảm 15,6% so với năm 2010;…

Hàng điện gia dụng và linh kiện: trong năm vừa qua, Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu có xuất xứ từ các thị trường Đông Nam Á.

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 đạt 675 triệu USD, tăng 4,5% so với năm 2010. Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam có xuất xứ từ từ các nước thành viên ASEAN với 497 triệu USD (trong đó nhập khẩu từ: Thái Lan là 352 triệu USD; Malaixia: 123 triệu USD; Inđônêxia: 19,2 triệu USD); nhập khẩu từ Trung Quốc: 124 triệu USD; Hàn Quốc: 20,2 triệu USD; …

—————————————————

Dự Án cho thuê đất ở Phú Yên 210 năm (3.000 km2), tương đương 60% diện tích toàn tỉnh Phú Yên.

Đảng chỉ đạo khai thác tài nguyên khoáng sản dầu khí  từ 1980 để lấy tiền làm vốn. Nhưng đã trải hơn 30 năm qua, kể từ khi khái thác dầu khí 1988 cho đến nay, mà tiền bạc vẫn thiếu hut. Chuyển qua bán các mỏ khoáng sản than đá, tungsten, wolfram, Titan, Bô xít…cho Nhật, Trung Quốc, Đài Loan,…để thu thêm chút tiền đô, nhưng kinh tế cũng chưa thấy gì khả quan. 

Đảng và nhà nước luôn luôn kẹt vốn, nên chỉ đạo đi vay nợ nước ngoài. Kết quả  hiện nay nợ quốc gia lên 58 tỷ, và nợ của các doanh nghiệp quốc doanh lên tới 5o tỷ (nguồn:  * Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh  *  Nợ của Việt Nam)

Số tiền do Việt kiều gởi về nước gia tăng mỗi năm .  Năm 2011, kiều hối là 9 tỷ; năm 2010, kiều hối 8 tỷ; năm 2009, kiều hối 7 tỷ…(nguồn). Tất cả số tiền này (sau cùng) đều được thân nhân Việt kiều đổi lấy tiền Việt Nam do nhà nước in ra (thuê Úc in tiền polymer) và lọt vào tay nhà nước. Nhưng lượng  tiền đô la khổng lồ này đã đi về đâu? Chui vào túi của ai?

Trong khi các tài nguyên thiên nhiên đang bị đảng và nhà nước cho khai thác đến mức cạn kiệt, không để dành lại làm của cho các thế hệ VN mai sau. Bán Dầu khí dưới biển, cho thuê đất đai trên rừng,  đốn gỗ xuất khẩu qua Thái Lan, Mỹ, và Âu Châu, nhìn quanh quẫn thì không còn chỗ nào mà đảng và nhà nước chưa bán. Vài năm qua, nhà nước đã  nhận ra là đất dưới đồng bằng và miền biển là còn để trống.

Vậy là đảng và nhà nước chỉ đạo kế hoạch đem đất đai cho nước ngoài thuê. Ngoài Bắc thì cho Đài Loan – Trung Quốc thuê 300 000 hecta rừng đầu nguồn mà giá thuê chỉ có 50 000 đồng VN 1 hecta. Khi bị phát hiện, thì chính phủ giả vờ không biết “Trước đó, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã có ý kiến phản ảnh việc 10 tỉnh cho doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng đầu nguồn dài hạn, với tổng diện tích (theo thỏa thuận) lên tới trên 305.000ha. Ngay sau khi có thông tin này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ NN&PTNT kiểm tra, làm rõ để báo cáo Thủ tướng.”  (nguồn) (nguồn)

Chuyện lớn như thế thì giả vờ không nhìn thấy, nhưng chuyện nhỏ như này thì biết rất rõ. Vì không đút tiền cho nó ăn, nên kiếm cớ làm khó dễ. Hoặc, muốn đem tiền của, đồ vật đi cứu trợ dân, phải có Mặt Trận TQ và đảng ủy đến phát quà (nói chính xác là kể công).

[Mi Vân bị ngăn cấm về VN làm việc từ thiện

Cô Mi Vân: Cũng như năm trước, tôi có đặt 100 chiếc xe lăn để tặng cho những người già yếu và những người khuyết tật. Năm trước, tôi cũng về với 100 chiếc xe lăn và sau đó thấy có những người nghèo và những trẻ em mồ côi, khuyết tật, tôi cảm thấy muốn làm thêm gì nữa (nguồn), ( nguồn video)

Năm 2011, ở tỉnh Bình Dương thì Becamex (một doanh nghiêp xây dựng của quân đội, thuộc Bộ Quốc Phòng) xây China Town  cho Trung Quốc thuê (nguồn Đông Đô Đại Phố, mời các bạn tìm trên google tên phố để thấy tỉnh Bình Dương đang trở thành khu định cư của  Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, Hàn di cư tới ở: “Siêu” dự án thành phố mới Bình Dương được chính thức khởi công vào ngày 26/04/2010 với quy mô 1.000 ha, phục vụ cho khoảng 125.000 người định cư lâu dàihơn 400.000 người thường xuyên đến làm việc.”  (nguồn)

Năm 2012,  Becamex lại khởi công xây dựng thị trấn Tokyo ở Bình Dương với 7500 nhà cửa và căn hộ. Khu này Nhật mướn theo kế hoạch lâu dài chưa biết là 50 năm hay 99 năm.

Dự án dưới đây cho thuê đất ở Phú Yên 210 năm. Hợp đồng đã ký kết 2010, nhưng cũng may là chủ đầu tư Ả Rập giờ đang bị kẹt vốn, nên dự án có khả năng tạm dừng.

Dự án cho Ả Rập thuê 300 000 hecta đất ở tỉnh Phú Yên trong thời gian 210 năm do Bộ Chính Trị chủ trì, nay tỉnh đề nghị tạm dừng vì chủ đầu tư đang kẹt vốn.

Dự án 250 tỷ USD ở Phú Yên: “Khả năng sẽ tạm dừng”

ANH QUÂN

Báo VnEconomy

03/03/2011 08:59 (GMT+7)

picture
Gành Đá Dĩa, một thắng cảnh của Phú Yên, nơi tập đoàn Sama Dubai dự định mở một khu du lịch.
 

Ngày 2/3, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh đã cho hay về khả năng tạm dừng dự án của Sama Dubai tại Phú Yên.

“Thường trực Chính phủ đã họp để đánh giá các mặt tác động và khả năng triển khai dự án. Có khả năng sẽ tạm dừng dự án đó”, ông Sinh nói với VnEconomy.

Trước đó, theo một số nguồn tin, lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên đã có văn bản chính thức trình Bộ Chính trị đề nghị cho dừng dự án của tập đoàn Sama Dubai do dự án chưa được triển khai đầu tư, ảnh hưởng đến vấn đề phát triển kinh tế của tỉnh.

Dự án đặc khu kinh tế do tập đoàn Sama Dubai (Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất – UAE) đăng ký đầu tư tại tỉnh Phú Yên có tổng vốn đầu tư 250 tỷ USD. Quy mô của dự án lên đến 300.000 ha (3.000 km2), tương đương 60% diện tích toàn tỉnh Phú Yên.

Theo VOV News, dự thảo bản ghi nhớ ngày 25/6/2008 có nội dung: đặc khu kinh tế có được các quyền tự quản lý ở mức độ cao đối với môi trường kinh doanh, thiết lập một hệ thống quản lý, pháp lý, tư pháp theo tiêu chuẩn quốc tế. Vùng đất thuộc đặc khu kinh tế được dựng hàng rào để ngăn cách.

Chủ đầu tư đã yêu cầu Việt Nam cho thuê đất dự án trong 70 năm đầu tiên, sau đó ký tiếp hai lần nữa, mỗi giai đoạn là 70 năm, tổng cộng thời gian thuê đất dự án là 210 năm. UBND tỉnh Phú Yên đã trao giấy chứng nhận đầu tư 3 dự án con trong tổng thể dự án là khu du lịch gành Đá Dĩa, nâng cấp sân bay Tuy Hoà và xây dựng tuyến đường cao tốc nối từ sân bay Tuy Hoà tới khu du lịch gành Đá Dĩa.

Trả lời VnEconomy về lộ trình đi đến dừng dự án của Sama Dubai, ông Sinh cho biết, hiện nay dự án chưa được cấp phép, còn đang trong quá trình thương thảo các điều kiện. “Dự án đã có điều kiện gì đâu, hiện vẫn còn rất sơ khai, đang bàn các vấn đề về thể chế, thủ tục thôi, họ cũng mới vào xem thôi”, ông nói.

Theo lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, do các địa phương được chủ động trong quá trình quy hoạch lại các khu vực phát triển kinh tế xã hội, nên nếu không tiếp tục dự án nữa thì sẽ quy hoạch lại.

Liên quan đến thông tin về 3 dự án nhỏ thuộc dự án đã cấp phép, ông Sinh cho biết: “Dự án đã cấp phép mà nhà đầu tư đang thực hiện bình thường thì tôi nghĩ là vẫn triển khai”.

Phú Yên, mảnh đất “hẹp” giữa đèo Cù Mông và đèo Cả, mấy năm gần đây bỗng được đánh thức bởi nhiều dự án lên đến nhiều tỷ USD, như dự án khu công nghiệp lọc hóa dầu vốn đầu tư 11 tỉ USD, khu du lịch liên hợp cao cấp 4,3 tỉ USD, dự án Thành phố Sáng tạo Nam Tuy Hòa 11,4 tỷ USD hay dự án nói trên của tập đoàn Sama Dubai… Tuy nhiên, việc triển khai một cách hiệu quả các “siêu dự án” này nhìn chung đến nay vẫn còn là dấu hỏi, thậm chí đã có nhà đầu tư xin rút lui.

Nguồn: Báo VnEconomy

————————————————–

Nền kinh tế VN hiện có GDP là 100 tỷ, mà tiền bán dầu khí và ga chiếm hơn 34 tỷ (và việc bán dầu khí đã kéo dài hơn 20 năm qua), chưa tính tiền bán than đá, mỏ Tungsten, Wolfram, quặng sắt, quặng Titan (cát đen) đọc theo bờ biển Phước Lý (Qui Nhơn trải dài ra Thanh Hóa), quặng Bô Xít, tiền Việt Kiều gởi về hơn 10 tỷ…cho ngoại bang thuê mướn đất đai, cho  xuất khẩu 500 000 công nhân ra nước ngoài trước là để kiếm việc làm, sau là dùng số người này gởi tiền đô la về cho đảng lãnh đạo làm…kế hoạch tiếp để cả nước cùng tiến lên…chế độ Cộng Sản. (Xin nói thêm là nhờ có đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nên VN đã bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa lâu rồi; mấy chục năm qua cả nước đã tiến lên XHCN, việc xây dựng con người mới của xã-hội- mới XHCN cũng đã xong rồi, và hiện nay cả nước đang giai đoạn hoàn thiện chế độ XHCN trong nay mai. Những khó khăn hiện nay chỉ là tạm thời.)

Nhưng làm kế hoạch gì mà hết kế hoạch 5 năm này, đến kế hoạch 5 năm khác, nền kinh tế VN vẫn hoàn toàn èo uột.  Cùng lúc đi vay mượn khắp nơi, đến nổi hiện nay có người lên tiếng cảnh báo nợ quá cao.

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*) Thứ Tư,  9/3/2011, 22:36 (GMT+7)

nguồn

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

 

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2011VÀ TRIỂN VỌNG
2012 – VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

*http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=217

———–

Bài 4

Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản là sai lầm

TS. Nguyễn Thành Sơn (*)

Nguồn

(TBKTSG) – Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, tài nguyên khoáng sản là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ tài nguyên khoáng sản.

Định hướng sai thị trường tiêu điểm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược chính sách đều nhấn mạnh ngành khai khoáng trước hết phải “phục vụ cho nền kinh tế quốc dân”, thì tài nguyên khoáng sản (TNKS) của Việt Nam thời gian qua được khai thác chủ yếu để xuất khẩu sang Trung Quốc. Việc “nhất quán” từ khâu quy hoạch, cấp phép hoạt động, khuyến khích đầu tư, đơn giản thủ tục hành chính… trong lĩnh vực khoáng sản thời gian qua đã biến Việt Nam thành nguồn cung cấp thuận lợi các loại khoáng sản có ích, không tái sinh cho thị trường Trung Quốc. Việc cung cấp này tuy nhỏ, lẻ và chỉ do một số ít doanh nghiệp được thực hiện, nhưng vô tình đã làm cho thị trường khoáng sản kim loại của Việt Nam chỉ có một người mua là Trung Quốc.

Xác định sai cơ cấu sản phẩm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách đều nhấn mạnh yêu cầu “chế biến sâu” để nâng cao giá trị, thì TNKS của Việt Nam chỉ được chế biến đạt tiêu chuẩn là nguyên liệu rẻ tiền để xuất khẩu.

Ngành khai thác than, trước đây các sản phẩm than đạt tiêu chuẩn Việt Nam (chất lượng cao) chiếm 80-90%, chỉ có 10-20% là than tiêu chuẩn ngành (chất lượng thấp) và không có than tiêu chuẩn cơ sở (chất lượng xấu). Hiện nay than tiêu chuẩn Việt Nam chỉ đạt 40-50%, còn lại là than tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở. Cơ cấu sản phẩm này đi ngược mọi quan điểm và chính sách về TNKS, nhưng phù hợp với thị trường Trung Quốc.

Quy định của Nhà nước rất chặt chẽ là không cho phép xuất khẩu quặng thô, chỉ cho phép xuất khẩu quặng đã qua chế biến. Về mặt kỹ thuật, “chế biến” là công đoạn nâng cao hàm lượng có ích trong quặng. Nhưng chỉ cần một số động tác nhặt tay, hay sàng phân loại thủ công, hàm lượng có ích đã tăng lên và quặng cũng được coi là đã qua chế biến để được xuất khẩu.

Ngoài ra, khâu chế biến trong ngành khai khoáng Việt Nam đạt trình độ kỹ thuật rất thấp. Hiện nay công nghệ chế biến titan chỉ dừng lại ở “quặng tinh” để xuất khẩu. Nếu từ tinh quặng titan chế ra được xỉ titan giá trị tăng lên 2,5 lần, từ xỉ titan chế biến thành pigment giá trị tăng 10 lần, từ pigment sản xuất ra titan kim loại giá trị tăng hơn 80 lần. Đồng Sinh Quyền cũng là một ví dụ: bằng công nghệ luyện “hiện đại” của Trung Quốc, tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản (TKV) chỉ làm ra được đồng có độ tinh khiết tối đa 99,95-99,97%, trong khi để kéo thành dây dẫn điện, đòi hỏi đồng phải có độ tinh khiết đạt 99,99%. Chênh lệch giá bán giữa hai mức độ tinh khiết này có thể lên tới hàng ngàn đô la Mỹ mỗi tấn. Alumina cũng có triển vọng tương tự. Nếu độ tinh khiết không đạt trên 98% thì hiệu quả kinh tế cũng chỉ như xuất khẩu quặng thô.

Buông lỏng quản lý, cấp giấy phép tràn lan

Thị trường đầu ra rất “ngon ăn” đã biến lĩnh vực khai khoáng của Việt Nam, chủ yếu là đào mỏ, bung ra đến mức không thể quản lý nổi.

Trong quá trình thi hành Luật Khoáng sản 1996-2010, thông qua hai công cụ cấp phép và phân quyền, các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS đã đóng vai trò rất quyết định trong việc chuyển đổi khối lượng lớn TNKS từ sở hữu toàn dân sang thành nguồn thu của những nhóm lợi ích.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam chỉ có vài chục loại khoáng sản nằm trong lòng đất, nhưng trong 12 năm (1996-2008) hai bộ Công nghiệp và Tài nguyên và Môi trường đã kịp cấp 928 giấy phép hoạt động khoáng sản, ngoài ra trong ba năm (2005-2008) còn phân cấp cho 60 tỉnh thành cấp 4.213 giấy phép.

Mặc dù vậy, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước TKV lại là trường hợp đặc biệt. Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, từ khi thành lập đến năm 2008, các đơn vị khai thác than của TKV hoạt động không có giấy phép và vi phạm nghiêm trọng Luật Khoáng sản.

Trong suốt 15 năm qua các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS chỉ thực thi quyền cấp các giấy phép hoạt động khai thác những khoáng sản hiện có từ thời bao cấp, bỏ qua nhiệm vụ điều tra tìm kiếm và thăm dò các mỏ mới.

Tổn thất Tài Nguyên Khoáng Sản (TNKS) còn rất lớn

Từ việc chạy theo lợi nhuận trước mắt, cùng với việc buông lỏng quản lý nhà nước, đã dẫn đến việc TNKS bị khai thác rất lãng phí. Tổn thất TNKS trong các khâu khai thác, chế biến rất cao.

Tổn thất than trong khai thác bằng công nghệ hầm lò đến 40-60%;

tổn thất quặng trong khai thác bằng công nghệ lộ thiên cũng rất cao: apatit 26-43%;

quặng kim loại 15-30%;

đá xây dựng 15-20%;

vàng 60-70%…

Đặc biệt, tỷ lệ tổn thất TNKS trong các mỏ do tư nhân khai thác không thể kiểm soát được vì công nghệ lạc hậu và tư tưởng “dễ làm, khó bỏ” rất phổ biến. Các mỏ đá trắng ở Nghệ An là ví dụ điển hình với tổn thất lên tới trên 70%.

Làm gì để sử dụng bền vững TNKS?

Tiết kiệm là quốc sách: Việt Nam thuộc loại rất nghèo về TNKS nhưng sử dụng lại rất hoang phí. Trữ lượng than của thế giới đạt bình quân khoảng 120 tấn/người, còn Việt Nam chưa tới 25 tấn/người.

Thế giới dùng 1 ký than để phát ra 3 kWh điện, trong khi Việt Nam chỉ phát được 2 kWh. Trong tương lai, chúng ta có thể nhập khẩu được lúa mì, nhưng không thể nhập được than, hay nước ngọt. Chính than và nước ngọt sẽ là rào cản sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù lượng mưa lớn, nhưng nước ngọt cho phát triển kinh tế đang ngày càng hiếm. Nhiều đối tác nước ngoài đề xuất các dự án đầu tư lớn như lọc dầu, hóa chất, phân bón, luyện thép ở Quảng Ninh, nơi có nhiều lợi thế về năng lượng và giao thông cảng biển, nhưng không thể triển khai chỉ vì thiếu nước ngọt. Các dự án nhiệt điện ở Quảng Ninh hiện nay cũng phải dùng nước mặn để làm mát.

Từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên Tài Nguyên Khoáng Sản: So sánh hai mô hình phát triển khác nhau của tỉnh Quảng Ninh (dựa vào TNKS) và tỉnh Vĩnh Phúc (hầu như không có TNKS) cho thấy dù Quảng Ninh đứng thứ 5 về thu ngân sách tuyệt đối, nhưng nếu so sánh mức thu ngân sách trên tổng mức đầu tư của xã hội, Vĩnh Phúc đã bỏ xa Quảng Ninh.

Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, TNKS là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ TNKS.

Trong kết cấu giá thành sản phẩm của ngành khai khoáng không có khoản mục “nguyên liệu chính” (thường chiếm tỷ trọng 30-70% trong chi phí của các sản phẩm khác). Trong khi đó tỷ trọng các khoản tiền lương, khấu hao thường cao. Vì vậy, dựa vào ngành khai khoáng để đạt mức tăng trưởng về GDP rất dễ dàng.

Cấm xuất khẩu khoáng sản dưới mọi hình thức: Việt Nam là nước có diện tích nhỏ, có tuổi địa chất không lớn. Vì vậy, về mặt khoa học, không có đủ không gian và thời gian để hình thành những mỏ khoáng sản lớn. Hiệu quả mang lại từ xuất khẩu khoáng sản không đáng kể. Việc cho phép xuất khẩu là nguyên nhân chính của việc khai thác khoáng sản bừa bãi, dẫn đến tổn thất tài nguyên, tàn phá môi trường.

Đối với doanh nghiệp, việc cho phép xuất khẩu sẽ làm cho doanh nghiệp ỷ lại. Hiệu quả xuất khẩu ngày càng giảm. Nếu như trước đây, giá xuất khẩu than cao hơn giá thành bình quân 2-5 lần, hiện nay giá than xuất khẩu chỉ bằng 1,32 lần giá thành.

Chỉ khai thác khoáng sản khi có nhu cầu tiêu dùng trong nước: Đối với nền kinh tế, mọi khoáng sản khi chưa khai thác đều là tích sản. Vì vậy, giá trị của TNKS chưa khai thác sẽ ngày một tăng. Khoáng sản của Việt Nam chỉ mang tính hàng xén, mỗi loại có một ít, phân tán, nhỏ lẻ. Trong lĩnh vực TNKS không nên áp dụng chính sách miễn, giảm thuế. Vì càng miễn giảm thuế, TNKS càng được khai thác kém hiệu quả, tổn thất càng cao, môi trường càng xấu hơn.

Nâng cao chất lượng quy hoạch TNKS: Quy hoạch về TNKS của Việt Nam tương đối nhiều (khoảng 15 quy hoạch khác nhau). Nhưng nhìn chung, các quy hoạch được soạn thảo theo ý chí của lãnh đạo nhiều hơn là trên cơ sở khoa học và thực tế. Chất lượng quy hoạch thấp, điển hình là các quy hoạch quan trọng như bauxite, titan và gần đây là quy hoạch than (vừa được Thủ tướng phê duyệt ngày 9-1-2012).

Các quy hoạch thường có tên gọi “thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng”… nên đã “vỡ” ngay trong tên gọi và khi còn trên giấy. Theo quy hoạch mới nhất của ngành than, riêng khâu thăm dò đến năm 2015 phải thực hiện 2,23 triệu mét khoan sâu, tương đương với khối lượng thực hiện từ năm 1955 đến nay trong ngành than. Chỉ cần mắt xích thăm dò này đổ, toàn bộ các khâu khai thác, chế biến, sử dụng than sẽ vỡ theo. Quy hoạch TNKS là đầu vào của các quy hoạch khác (như điện, thép, xi măng…) nên cần được tiếp cận một cách nghiêm túc.

______________________________________________

(*) Giám đốc Ban quản lý các dự án than ĐBSH-Vinacomin

5 phản hồi to “►Tăng-trưởng (GDP) bằng cách bán tài nguyên khoáng sản và nâng giá bất động sản là sai lầm”

  1. […] tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD, chiếm 41,9% GDP và GDP của VN năm 2009 là 90 tỷ. (nguồn)  và ở […]

  2. […] chánh nói trên và các kế hoạch kinh tế của đảng đều thất bại thấy rõ. (nguồn) và […]

  3. […] « Tăng-trưởng (GDP) bằng cách bán tài nguyên khoáng sản là sai lầm […]

  4. hoangtran204 said

    Chiến dịch đánh tư sản, tịch thu các hãng xưởng, kho bãi, và nhà cửa đất đai, rồi 1976, chiến dịch đổi tiền 500 đồng miền Nam chỉ đổi lấy 1 đồng tiền “giải phóng” để cướp sạch tiền tiết kiệm của người miền Nam, cắt đứt và không chi trả gần 8 triệu “sổ hưu” của những công chức y tế, giáo dục, quân đội, công nhân, doanh nhân miền nam đã làm việc trong thời gian 1950-1975 và trước đó.

    Kể từ ngày chính phủ HCM lên cầm quyền ở miền Bắc 1946, lần đổi tiền 1950 và 1958. Lần nhất theo tỷ giá 100: 1 và lần 2 theo tỷ giá 1000:1, vậy là người miền Bắc nghèo đi hay mất tổng cộng là 10.000 lần số tài sản của họ vào tay bác và đảng.

    Khi chiếm được miền Nam, chiến dịch đổi tiền năm 1976, làm người miền Nam nghèo đi 500 lần, tỷ giá đổi tiền 1 đồng giải phóng bằng 500 đồng Miền Nam 500:1.

    Chiến dịch đổi tiền năm 1978, theo đó, 1 đồng mới giá bằng 1 đồng miền Bắc, nhưng chỉ bằng 0,8 đồng “giải phóng”.

    Chiến dịch đổi tiền 1985, 1 đồng mới có giá trị 10 lần đồng 1978. Vậy là toàn dân nghèo đi 10 lần chỉ vì đảng và nhà nước bất tài, đưa kế hoạch kinh tế 5 năm ra đều gặp thất bại, thâm thủng ngân sách, nên lấy chính sách đổi tiền để tước đoạt giá trị tích lũy của những người biết làm ăn và để dành tiền tiết kiệm. http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dong

    Khi có máy in tiền trong tay, thực tế là mua tiền mới để dành sẵn trong kho, cứ 1 đồng tiền mới polymer, giá in là 5 cents trả cho công ty Úc. Dùng 2 tờ 500.000 đồng polymer giá chưa tới 10 cents tiền công in, cũng đổi được 50 đô la Mỹ, coi như lời 49,90 đô la. (Tương tự mua 1, bán lấy lời hơn 49 lần.)

    Kể từ 1986, đảng và nhà nước dù cố gắng hết sức, họp hành soạn thảo kế hoạch rất căng, thực thi các kế hoạch kinh tế theo đúng chính sách, nhưng cũng đã không cải thiện được đời sống dân chúng. Dân chúng cả nước đều nghèo, nạn đói đe dọa hàng năm từ 1975-1989 gọi là “đói giáp hạt”, nông dân bao vây và đánh trả các lực lượng công an và ủy ban các xã…đã làm đảng lo sợ các cuộc nổi dậy, nên phải quay trở về đi theo chủ nghĩa kinh tế tư bản, gọi là “đổi mới” cho đỡ mắc cở.

    Lần này, đảng và nhà nước nắm độc quyền tất cả các ngành nghề có ăn nhất trong 1 nước, bằng cách thành lập 91 tập đoàn và tổng công ty, với số công ty con lên đến trên 12000 công ty. Ban giám đốc và trưởng phòng của các tập đoàn, tổng công ty, và 12000 công ty con, cùng là các cán bộ đảng viên cao cấp, hoặc con cái của họ nắm giữ chức vụ then chốt để tiếp tục đục khoét tiền bạc, ăn cắp tài nguyên khoáng sản bán chia nhau. Trong suốt 20 năm qua, năm nào thì báo cáo tổng kết của tất cả các công ty nhà nước đều là: hoàn thành vượt mức kế hoạch 120-150%, hoặc cao hơn năm trước 25%. Nhưng thực tế là tất cả các tập đoàn và tổng công ty, công ty con thua lỗ đến độ phá sản.
    Tập đoàn PetroVietnam chỉ có việc hút dầu dưới Biển Đông, ngoài khơi Vũng Tàu, mỗi ngày hút lên 430.000 thùng dầu, chở qua Nhật, và Singapore bán lấy tiền mà cuối cùng cũng thua lỗ. Tập Đoàn Than và Khoáng Sản mỗi năm khai thác và bán hơn 23 triệu tấn than, nhưng cũng thua lỗ và mắc nợ. Tổng công ty Điện lực VN (EVN) cũng báo cáo thua lỗ…

  5. […] ►Tăng-trưởng (GDP) bằng cách bán tài nguyên khoáng sản và nâng giá bất động s… […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: