Trần Hoàng Blog

►Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 1)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Lời tựa:

Đây là một bài phỏng vấn rất thú vị, và đáng đọc. Các thành viên của diễn đàn X-cafevn đặt nhiều câu hỏi rất hay, và ông André Menras Hồ Cương Quyết trả lời các câu hỏi một cách thẳng thẳng, không vòng vo, và có nhiều chi tiết rất đáng chú ý.

Ông HCQ đã mô tả nhiều chi tiết về cuộc sống của người dân ở Quãng Ngải và ở miền Nam VN  trong thời gian 1960s, 1970s,  sau năm 1975 và mấy năm qua. Đặc biệt là ở Đà Nẵng và Quãng Nam “Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản…Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.”

“Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!””.  Mời các bạn thưởng thức. 

Phần Giới thiệu

Người giới thiệu: thành viên oldmovie13

Cách đây 40 năm, khi còn là một đoàn viên “Thanh niên Lao động Việt Nam”, tôi đã đuợc nghe về chuyện hai anh André Menras và Jean-Piere Debris bị chính quyền Miền Nam bắt giam về tội treo cờ Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Sài Gòn. Khi đó tôi thấy rất tự hào là cuộc cách mạng Việt Nam đã lôi kéo đuợc các tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ phương Tây cùng tham gia. Đối với chúng tôi khi đó, hai anh thanh niên Pháp này cũng như Norman Morrison, Jean Fonda, Joan Baez, đều đang hành động theo tiếng gọi của “Lương tâm thời đại”, một việc làm bình thường, không thấm gì so với xuơng máu của hàng triệu thanh niên Việt Nam đã ngã xuống vì sự nghiệp “Giải phóng Dân tộc” ,“Giải phóng Nhân loại”.

Gần 10 năm sau ngày thống nhât đất nuớc, tôi có tình cờ gặp Jean-Piere Debris (bạn anh André, tên Việt là Hồ Tất Thắng) tại một khu nhà tập thể nhỏ ở phố Quan Thánh, Hà Nội. Jean-Pierre yêu một cô gái Việt và trở thành chàng rể Hà Nội. Khi đó nhận thức của tôi về cuộc chiến đã thay đổi. Tôi có hỏi Jean-Pierre: Điều gì đã khiến các anh tự từ bỏ cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc ở xứ sở anh để sang đây, chấp nhận hy sinh, đấu tranh một cho dân tộc khác trong cuộc chiến của họ.

Đáp lại câu hỏi của tôi, anh cười và nhìn về phía cô vợ Việt để nói rằng: Vì anh yêu con người Việt Nam!

Vào thời điểm đó, nói chuyện với nguời ngoại quốc, nhất là nói về chính trị với nguời Tây Âu, là một trò chơi nguy hiểm hơn là đòi “Đa Đảng, Đa Nguyên” hôm nay. Do vậy tôi đành thôi và chỉ coi các anh cũng y như tôi, đã từng mơ về một xã hội vĩ đại, không có “nguời bóc lột người”.

25.7.1970 André Menras, khi đó 24 tuổi, giáo viên pháp ngữ tại Sài Gòn, đã cùng bạn là Jean-Piere Debris leo lên tựợng “Thủy quân lục chiến” truớc cửa Hạ Nghị Viện để treo lá cờ của MTDTGP Miền Nam Việt nam và rải 6.000 tờ truyền chống cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai anh bị bắt đi tù đến năm 1973 thì đuợc thả  và trục xuất về Pháp.

Bẵng đi một thời gian dài, từ hai ba năm nay, tôi lại đuợc nghe về André Menras. Anh đã đuợc Chủ tich nước Nguyễn Minh Triết trao tặng quốc tịch Việt Nam, với một cái tên Việt là Hồ Cương Quyết, một cái tên rất cách mạng, đầy tính đảng.

Trong đầu tôi lại xuất hiện câu hỏi: Tại sao họ, những người như André lại đến với đất nuớc này theo kiểu đó, hơn nữa lại đúng vào lúc mà cái lý tưởng của Xã hội Chủ nghĩa đã bị thay thế bằng một Chủ nghĩa Tư bản rừng rú, vào lúc mà nguời nông dân Việt Nam đang bị cướp đi những thước đất cuối cùng, vào lúc tài nguyên của đất nuớc đang bị bòn rút để đầu tư vào các Resort, các sân Golf, trong khi bệnh viện và truờng học thì xuông cấp đến thảm hại, vào lúc mà những nguời con yêu nuớc như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… đang bị bức hại.

Nhiều người đã đặt ra câu hỏi sao anh lại lấy tên Cương Quyết với họ của cụ Hồ. Sau này André cho tôi biết, “Anh không bao giờ dám lấy họ Hồ, cái tên này là anh em tù chính trị tại khám Chí Hòa tặng cho anh, đặc biệt giáo sư Nguyễn Văn Quôi. Anh Quôi vượt ngục thành công trong chuyến đày ra Côn Đảo năm 1971, rồi năm 1972 anh Quôi hi sinh tại Củ Chi vì bom B52. Khi đuợc nhập quôc tịch Việt, anh đã quyết định giữ cái tên Hồ Cuơng Quyết để tưởng nhớ đến các đồng đội của anh đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vì độc lập tự do của dân tộc.”

Rồi những suy nghĩ của tôi về André cũng thay đổi, khi tôi thấy anh cũng đang đau nỗi đau, đang thổn thức nỗi buồn của của hàng triệu nguời Việt. Hồ Cuơng Quyết đã chủ động tham gia vào mọi phong trào vận động xã hội. Bằng một lối viết rất Việt và cũng rất Pháp, anh gửi gắm đến các đại biểu đại hội đảng CSVN khóa 11:

“Vài ba ngày nữa, các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam sẽ chia nhau những vị trí cầm đầu mới của Đảng. Người ta thường nói rằng cái mới bao giờ cũng đến từ cái cũ. Nhưng Lịch sử lại cho thấy rằng cái cũ bao giờ cũng có xu hướng bóp nghẹt cái mới. Giời đất ạ, xét theo góc độ này, sự thay đổi sắp tới không hề là một ngoại lệ của quy tắc chung. “Ván đã đóng thuyền rồi”. [Nguyên văn: les carottes sont cuites, thành ngữ Pháp nghĩa đen là “Cà rốt ninh nhừ rồi” (còn đổi món sao được ?) – Người dịch]. ………Trước thềm đại hội XI ĐCSVN “người lãnh đạo” dân tộc và quốc gia, các nhà lãnh đạo cao nhất và những đại biểu của Đảng họp lại liệu có thấm nhuần những điều hiển nhiên kia và gánh nặng trên vai họ không? Liệu họ có cảm thấy họ là những người thừa kế thực sự và trung thực của quá khứ? Liệu họ có nhận rõ thực tại là thế nào không? Liệu họ có lường được mối hiểm nguy đè nặng lên tương lai đất nước không? Nếu câu trả lời là “Có”, thì liệu họ có dám công khai xem xét các vấn đề nằm ngoài các công thức đạo đức giả vẫn dùng? Liệu họ có quyết định không chần chừ nữa tạo ra những điều kiện mới mang tính hiến định và tạo ra những điều kiện cụ thể và dân chủ nhằm kết chặt họ với nhân dân, mà nếu thiếu điều đó thì không thể bảo vệ được quốc gia? Nếu câu trả lời là “Không”, họ sẽ chịu thua hay là trong cái bong bóng của mình và kệ cho những đòn vọt họ vẫn sẽ mơ tưởng đến “tình anh em cộng sản” đã từ lâu tan biến. Trong vài ngày nữa, ta sẽ bắt đầu nghe thấy câu trả lời. Mà chẳng quá mộng mơ.” (Nguồn Boxitvn)

Anh tham gia các phong trào: phản biện dự án Bô Xit Tây Nguyên, đòi tự do cho công dân Cù Huy Hà Vũ. Anh tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Truờng Sa. Bị ngăn cản, anh thẳng thắn trao đổi với những nguời lãnh đạo TP HCM:

“Trong bối cảnh ấy, tôi lại càng sửng sốt khi thấy chính quyền tìm cách giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc. Hãy nói chuyện “tàu lạ” với ngư dân Trung Bộ, họ sẽ sửa ngay “tàu Trung Quốc”. Họ chẳng “lạ” gì, sự thật rành rành đối với họ. Tại sao phải giấu cả tên bọn hung thủ mà không ai không biết? Tại sao còn bắt cả báo chí phải dùng chữ “lạ” ở đây? Cái gì hại đến khả năng tự vệ là có hại cho đất nước“ (Nguồn: Hãy lên tiếng dõng dạc và minh bạch.)

Anh bỏ tiền túi, lăn lộn đến vùng biển đảo để giúp đỡ bà con ngư dân. Anh đã tìm mọi cách vận động để làm ra bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát” nhằm đánh động dư luận về tình cảnh khốn khó cũng như tinh thần kiên cuờng bảo vệ chủ quyền của bà con ngư dân miền Trung. Thật trớ trêu, bộ phim do chính Chủ tịch Nguyễn Minh Triết ủng hộ và đài truyền hình TPHCM giúp đỡ lại bị cấm lưu hành tại Việt Nam. Tôi biết André rất bị “sốc”, vì anh đến với Việt Nam, đến với bà con ngư dân vì một tình yêu chân thật, không hề mang một mục đich chính trị nào.

Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!”

Tôi đã hiểu anh hơn, cũng có thể vì anh và tôi gần như cùng thế hệ. Tuy nhiên không phải tất cả các câu hỏi đều đã đuợc giải đáp, nhất là với các bạn trẻ sinh ra sau chiến tranh. Do vậy tôi rất ủng hộ ý kiến của các bạn trong ban điều hành X-cafe, khi muốn mời anh André Menras Hồ Cuơng Quyết vào thảo luận với diễn đàn về những gì anh đã cảm nhận đuợc qua các chuyến đi ở Việt Nam, về đất nuớc, con nguời, về những nguy cơ và vận hội của dân tộc Việt. Là một trí thức phuơng Tây, đã lăn lộn ở Việt Nam qua cả hai chế độ, chắc chắn anh có cái nhìn rất thú vị.

Tôi thật không ngờ, mặc dù rất bận rộn về việc chuẩn bị mang bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát“ về chiếu tại Pháp và châu Âu, anh vẫn vui vẻ nhận lời tham gia đối thoại với diễn đàn. Anh André có thể hiểu hết các câu hỏi bằng tiếng Việt, nhưng anh thuờng viết tiếng Việt không dấu. Do vậy ban biên tập X-Cafevn sẽ giúp anh trong việc chỉnh sửa các câu trả lời và cả phiên dịch ra tiếng Việt, trong truờng hợp anh André viết băng tiếng Pháp cho thoát hết ý. Anh André hoàn toàn có quyền sửa online các lỗi dịch, nếu anh phát hiện ra. Nỗi quan tâm lớn nhất của anh André hiện nay là giúp đỡ bà con ngư dân miền Trung đánh cá ở Hoàng Sa, là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia. Theo anh, thông qua tình yêu nuớc, những vấn đề về dân chủ, về hòa giải dân tộc, tiến bộ xã hội sẽ có những đáp số chung. Do vậy anh cũng rất mong chúng ta tập trung trao đổi về đề tài này.

Tôi cũng mong muốn các thành viên diễn đàn đón tiếp anh André với tinh thần mến khách và thật sự tôn trọng anh, một khách mời của tất cả chúng ta.

Anh André cũng sẵn sàng đem bộ phim “Nỗi đau mất mát” của mình đến các thành phố Châu Âu để chiếu và quyên góp ủng hộ ngư dân miền Trung. Bạn nào có khả năng tổ chức các buổi chiếu phim như vậy có thể liên hệ luôn với anh qua diễn đàn này hoăc qua http://www.facebook.com/hocuongquyet

Xin cảm ơn anh André và các bạn.

———————————

Thành viên và khách mời có thể tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây

****************************************************

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn.

Thành viên tim hiểu hỏi:

Chào ông André Menras HCQ, trước hết cám ơn ông đã nhận lời tham gia cuộc trò chuyện này cùng chúng tôi.

Xin được gởi đến ông vài câu hỏi.

1. Ông có biết hoặc có thu lượm hình ảnh, tư liệu nào về cuộc sống của người dân ở các đảo, trong bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam – Nỗi đau mất mát”, thời kỳ trước 75 không?

2. Trong phim tôi thấy ông có nhắc đến những lần thảm sát tại nơi ông ghé thăm, nhưng ngoài điều ấy ra tôi không thấy ông mô tả cuộc sống ngư dân với biển thời gian ấy. Vì sao?

3. Ông có thể mô tả nỗi đau/ cú shock của ông (nếu có) sau việc bộ phim của ông không được chiếu tại VN không? Vì sao ông cảm thấy đau/ hay shock ?

Cám ơn ông
Tim hiểu

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1) Je suis désolé, j’ignore comment vivaient ces pêcheurs avant 1975. Je suis simplement allé une fois en mer en 1969, de Da Nang où j’enseignais le Français à Saigon avec une chalutier de pêche. Cette expédition de 4 jours le long de la côte m’a montré que les patrouilleurs américains étaient bien présents dans l’espace maritime côtier, que les contrôles étaient fréquents et assez tendus. Par contre, fait étonnant, on ne m’a jamais demandé mon identité. Pour revenir aux pêcheurs , je peux dire qu’en ce temps là, leurs activités étaient sous haute surveillance.

2) Au sujet du massacre qui a eu lieu à Binh Chau , village de pêcheurs,( lang gang ca), huyen de Binh Son, province de Quang Ngai : j’en parle dans le film . Sur cette plage, en 1968, 40 habitants du village ont été massacrés collectivement par les soldats Sud-coréens alliés des américains. Il ne faut pas oublier que la même année , à 10 kms de là, les Gis américains ont massacré 504 civils , pour la plupart des femmes, vieillards et enfants , à My lai ( Son My). Car cette zone-là était une zone de résistance très déterminée. Le but de mon film n’était pas de parler de la guerre , de la résistance, mais je voulais au passage montrer que ces gens avaient déjà beaucoup souffert pour leur pays et avaient payé très cher leur patriotisme. Comme aujourd’hui ils paient cher ce patriotisme en allant pêcher à Hoang Sa. Ces hommes et ces femmes sont des gens fiers et courageux.

3) Oui, j’ai été profondément choqué et indigné par cette interdiction, par la forme violente qu’elle a prise, par l’absence d’explication claire de la part des responsables, par le fait qu’elle va totalement à l’encontre des intérêts des pêcheurs du Centre Vietnam et du peuple vietnamien, parce qu’elle fait finalement le jeu des dirigeants chinois et de leur politique expansionniste en mer du Sud Est asiatique, parce qu’elle traite des vietnamiens patriotes comme s’ils étaient des ennemis du Vietnam. C’est absolument inacceptable dans la mesure où c’est un acte délibéré, certainement décidé en haut lieu par des dirigeants qui restent masqués car ils savent bien que leur position est insoutenable, injustifiable. En effet, s’il s’était uniquement s’agit de démarches administratives, d’autorisation à demander pour projeter le film, pourquoi personne ne m’a convoqué pour en parler, pour me guider dans les démarches à effectuer selon la loi ? Personne, absolument personne, ni de la police , ni des autorités administratives , ni des autorités politiques n’a osé se montrer pour en parler avec moi. La décision d’interdire est donc essentiellement politique, unilatérale et violente. Elle traduit une coupure énorme entre les dirigeants politiques et leur peuple, en particulier les intellectuels. Comme je n’osais pas y croire, j’ai envoyé une lettre à ceux que je croyais être mes amis, notamment au Président du Comité populaire, en demandant des explications amicales et une réparation pour cette injuste agression : je n’ai jamais eu de réponse, ni d’invitation à venir en parler amicalement ! C’est désolant et honteux ! ( je joins à cette réponse la lettre que j’ai envoyée aux autorités du UBND TP HCM et un article plus sentimental où j’exprime ma peine)

Bản dịch của thành viên hdat: (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

1) Tôi xin lỗi, tôi không biết các ngư dân sống trước năm 1975 như thế nào . Tôi chỉ đi biển một lần trên một tàu đánh cá vào năm 1969 , từ Đà Nẵng, nơi tôi giảng dạy tiếng Pháp vào Sài Gòn. Chuyến đi 4 ngày dọc theo bờ biển cho tôi thấy sự hiện diện liên tục của các tàu tuần tra Mỹ với tình trạng khá căng thẳng. Ngược lại, điều làm tôi ngạc nhiên là chẳng có ai hỏi giấy tờ tôi. Quay lại nói về các ngư dân. Tôi có thể nói rằng thời gian này, hoạt động của họ được canh chừng chặt chẽ.

2) Về vụ thảm sát đã diễn ra tại làng chài Bình Châu, Huyện Bình Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi: tôi là người nói trong phim. Trên bãi biển này vào năm 1968, 40 người dân bị tàn sát bởi những người lính Hàn Quốc, đồng minh của Hoa Kỳ. Chúng ta không được quên rằng cùng năm đó, ở Mỹ Lai chỉ cách nơi này 10 km, lính Mỹ đã tàn sát 504 thường dân, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em. Vì vùng này là vùng hai bên đánh nhau quyết liệt. Mục đích của bộ phim của tôi đã không nói về các cuộc chiến, mà tôi muốn chuyển đến người xem rằng người Việt tại vùng này đã chịu nhiều đau khổ cho đất nước và đã họ trả giá đắt cho lòng yêu nước. Cũng như bây giờ họ còn phải trả giá đắt cho lòng yêu nước khi đi đánh cá ở Hoàng Sa. Những người đàn ông và phụ nữ này là những người có lòng tự hào và lòng dũng cảm.

3) Đúng, tôi đã bị sốc mạnh và rất tức giận bởi lệnh cấm (phim) này, bởi các hình thức bạo lực đã được sử dụng, bởi thiếu những giải thích rõ ràng từ chính quyền, bởi vì nó hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của ngư dân miền Trung nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung và cuối cùng bởi vì nó chỉ là các trò chơi của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và chính sách bành trướng của họ tại Biển Đông Nam Á, một chính sách đối xử với những người Việt Nam yêu nước như là những người phản lại chính Tổ quốc họ. Điều này là hoàn toàn không thể chấp nhận được vì nó là một hành động cố ý, chắc chắn được quyết định từ lãnh đạo cấp cao. Họ không dám làm công khai bởi vì họ biết rằng họ không có lý.

Thực ra, nếu chỉ có vấn đề thủ tục hành chánh, xin phép để chiếu phim, tại sao không có ai nói với tôi và hướng dẫn cho tôi làm những gì theo quy định ? Chẳng có ai cả, công an không, các cơ quan hành chánh hoặc cơ quan chính trị cũng không, không người nào dám tiếp chuyện tôi. Quyết định cấm chắc chắc mang màu sắc chính trị, từ một phía và không có chút nhân nhượng nào. Nó phản ánh một hố sâu rất lớn giữa các nhà lãnh đạo chính trị và người dân của họ, đặc biệt là trí thức. Lúc đầu tôi đã không dám tin điều đó, nên tôi đã gửi một lá thư cho những người tôi nghĩ là bạn bè, bao gồm cả Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, ôn tồn yêu cầu một lời giải thích và hy vọng bãi bỏ lện cấm bất công này.Tôi chẳng nhận được câu trả lời mà ngay cả lời mời để đến nói chuyện như bạn bè cũng không! Thật là buồn và xấu hổ ! (Tôi đính kèm đây lá thư tôi đã gửi cho các cơ quan của UBND TP HCM và một bài viết trong đó tôi chỉ có thể nói nguyện vọng tình cảm của mình):


Thành viên Mai Trang hỏi:

Xin ông Andre cho biết nỗi đau của ngư dân tại Hoàng Sa , so sánh với nỗi đau của người Việt tại miền Nam trước 75 và sau 75 ?

Cái nỗi đau nào đau hơn thưa ông ?

Pardon moi, je ne parles pas francais .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Pas de problème de langue quand c’est le cœur qui parle vrai. Je ne peux parler que de ce que j’ai vu de ce que je pense de façon tout à fait personnelle. Ce que je peux dire de la situation des pêcheurs qui pratiquaient la pêche côtière dans la région de Da Nang où je me trouvais en 1968-1969 c’est que la pression sur eux était énorme. D’abord c’était celle de la guerre au quotidien. Et, ceux qui ont vécu la guerre dans cette zone du Vietnam, savent bien qu’elle était terrible. Je rappelle que Da Nang était une des bases militaires US les plus importantes du Vietnam que de cette base partaient les bombardiers, les avions mitrailleurs, les épandeurs de dioxyne…Chaque nuit les maquisards tiraient des salves de roquettes sur cette base, à partir des villages environnants, par-dessus les habitations de la ville qui de trouvaient entre les deux. Le matin au réveil , il m’arrivait de trouver du plâtre sur le haut de ma moustiquaire : il était tombé du plafond pendant la nuit, suite aux déflagrations des roquettes.

Les contrôles policiers et militaires, les perquisitions, les arrestations étaient chose ordinaires. Tout mouvement, déplacement de personne faisait l’objet de suspicion, de surveillance, surtout s’il s’agissait de paysans. Dans cette situation, les pêcheurs qui se déplaçaient le long de la côte en dehors des barrières de contrôle faisaient l’objet de la part des gardes-côtes de perquisitions régulières. Et c’est vrai que certains d’entre eux participaient à la résistance et transportaient d’autres choses que du poisson… Quelques fois, les patrouilles maritimes « confisquaient » une partie de leurs prises de pêche. Quelquefois les hélicoptères US « jouaient » à descendre très bas au-dessus des chalutiers pour les secouer jusqu’à la limite du chavirement. Les pêcheurs sont des hommes habitués à affronter la mer dans toute sa violence. Ils font face aux tempêtes, à la dureté d’un métier plein de dangers où l’on est souvent seul. Alors, ces hommes, souvent très pauvres, sont fiers. Ils n’ont pas peur. Et chaque mauvaise action ou agression de la part de la flotte côtière envers eux ne faisait qu’augmenter leur colère et leur envie de chasser hors de leur pays les militaires étrangers qui étaient venus y apporter le feu et la mort.

Juste pour illustrer leur psychologie, je vous raconte une anecdote personnelle qui m’est arrivée un matin de novembre 1968 à Da Nang, sur la plage de My Khe, où je me baignais, près de la colline Son Tra. Assez bon nageur, malgré les vagues assez fortes, j’ai nagé vers le large jusqu’à une centaine de mètres de la plage. Lorsque j’ai voulu revenir vers le rivage, j’ai senti un très fort courant qui m’entraînait au le large. J’avais beau forcer sur mes bras et accélérer les battements de jambes, je n’avançais que très peu. C’est alors qu’un petit chalutier est passé à quelques dizaines de mètres. Je me suis mis à l’appeler en criant très fort et agitant les bras. Le pêcheur qui me regardais a détourné son regard et a continué son chemin, comme s’il ne m’entendait pas, comme si je n’existais pas. Il ne pouvait pas ne pas avoir compris que j’étais en difficulté dans cette zone de forts courants qu’il connaissait bien. Mais pour lui, j’étais un soldat américain et m’abandonner à mon sort c’était sa façon à lui de faire la guerre. Je le comprends bien. Heureusement pour moi, il me restait juste l’énergie nécessaire pour reprendre pied sur le sable.

Aujourd’hui, je suis revenu à My Khe, tirer le filet avec les pêcheurs, plaisanter avec eux. Ils sont toujours aussi pauvres mais les bombes ne pleuvent plus sur leur tête et n’enlèvent plus leurs enfants. C’est un progrès essentiel.

Cependant il faut dire que leur sort n’est pas réjouissant, ni l’avenir de leurs enfants. La plage est de plus en plus privatisée, livrée aux capitaux étrangers pour la plupart. Des resorts géants s’emparent du sable et des terres alentour, interdisent l’accès aux habitants et aux pêcheurs. De Son Tra à Hoi An, c’est une succession de murs, de barbelés, de miradors. J’ai pu mesurer des kilomètres de murs avec, inscrits dessus, des caractères chinois. Les espaces dont disposent encore les pêcheurs pour jeter l’ancre sont de plus en plus réduits. Ils sont repoussés de la plage par les requins de l’immobilier. De mi-mai à fin août, les patrouilleurs chinois leur interdisent la haute mer. Chaque jour l’argent des resorts leur interdit toujours plus la plage. Ils vivent en paix mais pour quel avenir ? Cette année, des pêcheurs de Da Nang ont vendu leurs gros chalutiers à des pêcheurs de Binh Dinh. Ils cessent leur activité. Près d’un millier de jeunes de la province de Quang Ngai, fils de pêcheurs, ont abandonné la profession de leur père, trop dangereuse et trop pénible, sans protection, pour aller dans les hauts plateaux se louer pour la culture du Thé et du café. Petit à petit, dans cette zone qui fait face à Hoang Sa, terrain de pêche traditionnel des habitants du Centre Vietnam, la mer se vide des pêcheurs Vietnamiens alors que, dans le même temps, on rencontre de plus en plus souvent des chalutiers chinois près des côtes du Vietnam. Certains ont été vus il y a peu de temps à 20 lieues nautiques de Ly Son.

Si l’Etat , le pouvoir central n’adopte pas une politique cohérente , totale, de réel soutien et de protection à l’égard de ces hommes qui au mépris de leur vie vont affirmer la souveraineté du Vietnam sur cet espace insulaire et maritime , alors le Vietnam perdra sa mer. Et, sans la mer, il n’a pas d’avenir.

Je vous envoie deux photos pour illustrer ma réponse. Une trouvée sur google map et l’autre prise par moi sur la route qui longe la mer, de Da Nang à Hoi An.

Bản dịch của thành viên hdat (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

Ngôn ngữ không quan trọng khi chúng ta nói thật từ trái tim. Tôi chỉ nói những gì tôi thấy, những gì tôi nghĩ và mang tính chất cá nhân. Những gì tôi có thể nói về tình hình ngư dân đánh bắt ở khu vực ven biển Đà Nẵng là họ bị áp lực rất lớn. Tôi đã ở đó trong hai năm 1968-1969. Thứ nhất, chiến tranh xảy ở đây mỗi ngày. Sau đến, những người sống ở đây cũng nhận thức rằng chiến tranh gắn liền với khủng khiếp. Đà Nẵng là một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất của quân đội Mỹ ở Việt Nam, từ đây các máy bay ném bom, máy bay tiêm kích, máy bay rải chất Dioxyn … đã cất cánh. Mỗi đêm du kích bắn rốc két từ các làng xung quanh vào căn cứ. Chúng bay ngay trên nhà dân trong thành phố. Có sáng, khi tỉnh dậy tôi thấy mảnh vỡ từ trần nhà rơi trên màn ngủ do chấn động của những quả rốc két gây ra.

Các vụ cảnh sát hay quân đội lục soát hay bắt bớ xảy ra thường lệ. Mọi cử động, mọi di chuyển của người dân đều là đối tượng giám sát, nghi ngờ, đặc biệt nếu đối tượng là nông dân. Trong tình huống này, các ngư dân xuất hiện ở dọc bờ biển bên ngoài hàng rào kiểm soát đều được coi là đối tượng của những người lính gác biển và họ thường xuyên bị lục soát. Thực ra, có những người trong số họ tham gia kháng chiến và mang theo người những thứ không phải là cá … Đôi khi tuần tra trên biển “tịch thu” một số lượng cá của họ. Đôi khi máy bay trực thăng Mỹ “chọc” các tàu đánh cá bằng cách bay xuống thật thấp làm chúng lắc lư đến như sắp bị lật. Ngư dân là những người quen đối phó với mọi nguy hiểm trên biển. Họ phải đối mặt với bão, nghề của họ thật cơ cực và đầy nguy hiểm. Và nhiều khi họ chỉ có một mình. Do vậy, họ thường rất nghèo, nhưng họ lại có đầy lòng tự hào. Họ không sợ nguy hiểm. Vì vậy mà những hành động này của lính gác bờ biển hay của hạm đội bên ngoài chỉ làm tăng lòng tức giận của họ và họ mong muốn đuổi những người lính nước ngoài đi. Họ cho rằng những người lính này đã mang khói lửa và chết chóc đến quốc gia của họ.

Để minh họa cho tâm lý của họ, tôi kể với bạn một câu chuyện xảy ra với bản thân khi đang bơi ở bãi biển Mỹ Khê, gần đồi Sơn Trà – Đà Nẵng, vào một buổi sáng tháng 11 năm 1968. Là một người bơi lội khá, bất chấp những con sóng khá mạnh, tôi đã ra xa bờ đến cả trăm mét. Khi muốn quay trở lại bờ, tôi cảm thấy một luồng nước đẩy tôi ra xa thêm. Mặc những đập tay, đạp chân mạnh và nhanh hơn nhưng tôi bơi đi được rất ít. Lúc đó, một tàu đánh cá nhỏ đi qua cách tôi mấy chục mét. Tôi la hét rất lớn và vẫy tay. Chủ thuyền nhìn tôi nhưng sau đó quay mặt đi và tiếp tục con đường của mình, như thể ông không nghe thấy tiếng kêu của tôi, như thể là tôi không tồn tại. Ông ta không thể không biết tôi gặp khó khăn. Ông ta chắc chắn biết rõ khu vực này với các luồng nước mạnh. Nhưng đối với ông ta, tôi là một người lính Mỹ, và việc ông ta bỏ mặc số phận của tôi được coi là một cuộc chiến chống lại tôi. Tôi hiểu điều đó. May mà, tôi vẫn còn chút sức để tới được nơi chân chạm đất.

Ngày nay, trở về Mỹ Khê, tôi kéo lưới với ngư dân, nói đùa với họ. Họ vẫn còn nghèo nhưng không còn bom rơi xuống đầu họ và con cái của họ không còn bị chết bởi chiến tranh. Đấy mới là điều quan trọng.

Tuy nhiên phải nói rằng số phận của họ cũng chẳng phải vui vẻ gì, tương lai con cái họ cũng vậy. Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản. Từ giữa tháng Năm đến cuối tháng Tám, tuần tra Trung Quốc cấm họ ra biển. Ngày càng nhiều nhân viên của khu nghỉ mát không cho họ lai vãng đến gần. Họ sống trong hòa bình nhưng tương lai sẽ ra sao? Năm nay, ngư dân Đà Nẵng đã phải bán tàu đánh cá loại lớn cho ngư dân Bình Định. Họ không thể hành nghề được nữa. Cả ngàn thanh niên của tỉnh Quảng Ngãi, con của các ngư dân, đã rời bỏ nghề nghiệp của ông cha vì quá nguy hiểm và quá cơ cực mà lại không được bảo vệ. Họ phải đi lên các vùng cao làm thuê cho trong các vườn chè, vườn cà phê. Trong khu vực đối diện với Hoàng Sa, nơi đánh cá quen thuộc của người dân miền Trung Việt Nam, chúng ta thấy ngày càng ít ngư dân Việt Nam. Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.

Nếu Nhà nước, chính quyền trung ương không có một chính sách hợp lý, toàn diện, minh bạch để giúp đỡ và bảo vệ các ngư dân, những người bất kể nguy hiểm thách thức tính mạng sẵn sàng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các vùng hải đảo, thì Việt Nam sẽ mất biển. Không còn biển, Việt nam không có tương lai.

Tôi gửi cho bạn hai bức ảnh để minh họa cho câu trả lời của tôi. Một từ google-maps và một tôi chụp trên đường đi dọc bờ biển từ Đà Nẵng đến Hội An:

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: