Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 9th, 2012

►Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 1)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Lời tựa:

Đây là một bài phỏng vấn rất thú vị, và đáng đọc. Các thành viên của diễn đàn X-cafevn đặt nhiều câu hỏi rất hay, và ông André Menras Hồ Cương Quyết trả lời các câu hỏi một cách thẳng thẳng, không vòng vo, và có nhiều chi tiết rất đáng chú ý.

Ông HCQ đã mô tả nhiều chi tiết về cuộc sống của người dân ở Quãng Ngải và ở miền Nam VN  trong thời gian 1960s, 1970s,  sau năm 1975 và mấy năm qua. Đặc biệt là ở Đà Nẵng và Quãng Nam “Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản…Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.”

“Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!””.  Mời các bạn thưởng thức. 

Phần Giới thiệu

Người giới thiệu: thành viên oldmovie13

Cách đây 40 năm, khi còn là một đoàn viên “Thanh niên Lao động Việt Nam”, tôi đã đuợc nghe về chuyện hai anh André Menras và Jean-Piere Debris bị chính quyền Miền Nam bắt giam về tội treo cờ Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Sài Gòn. Khi đó tôi thấy rất tự hào là cuộc cách mạng Việt Nam đã lôi kéo đuợc các tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ phương Tây cùng tham gia. Đối với chúng tôi khi đó, hai anh thanh niên Pháp này cũng như Norman Morrison, Jean Fonda, Joan Baez, đều đang hành động theo tiếng gọi của “Lương tâm thời đại”, một việc làm bình thường, không thấm gì so với xuơng máu của hàng triệu thanh niên Việt Nam đã ngã xuống vì sự nghiệp “Giải phóng Dân tộc” ,“Giải phóng Nhân loại”.

Gần 10 năm sau ngày thống nhât đất nuớc, tôi có tình cờ gặp Jean-Piere Debris (bạn anh André, tên Việt là Hồ Tất Thắng) tại một khu nhà tập thể nhỏ ở phố Quan Thánh, Hà Nội. Jean-Pierre yêu một cô gái Việt và trở thành chàng rể Hà Nội. Khi đó nhận thức của tôi về cuộc chiến đã thay đổi. Tôi có hỏi Jean-Pierre: Điều gì đã khiến các anh tự từ bỏ cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc ở xứ sở anh để sang đây, chấp nhận hy sinh, đấu tranh một cho dân tộc khác trong cuộc chiến của họ.

Đáp lại câu hỏi của tôi, anh cười và nhìn về phía cô vợ Việt để nói rằng: Vì anh yêu con người Việt Nam!

Vào thời điểm đó, nói chuyện với nguời ngoại quốc, nhất là nói về chính trị với nguời Tây Âu, là một trò chơi nguy hiểm hơn là đòi “Đa Đảng, Đa Nguyên” hôm nay. Do vậy tôi đành thôi và chỉ coi các anh cũng y như tôi, đã từng mơ về một xã hội vĩ đại, không có “nguời bóc lột người”.

25.7.1970 André Menras, khi đó 24 tuổi, giáo viên pháp ngữ tại Sài Gòn, đã cùng bạn là Jean-Piere Debris leo lên tựợng “Thủy quân lục chiến” truớc cửa Hạ Nghị Viện để treo lá cờ của MTDTGP Miền Nam Việt nam và rải 6.000 tờ truyền chống cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai anh bị bắt đi tù đến năm 1973 thì đuợc thả  và trục xuất về Pháp.

Bẵng đi một thời gian dài, từ hai ba năm nay, tôi lại đuợc nghe về André Menras. Anh đã đuợc Chủ tich nước Nguyễn Minh Triết trao tặng quốc tịch Việt Nam, với một cái tên Việt là Hồ Cương Quyết, một cái tên rất cách mạng, đầy tính đảng.

Trong đầu tôi lại xuất hiện câu hỏi: Tại sao họ, những người như André lại đến với đất nuớc này theo kiểu đó, hơn nữa lại đúng vào lúc mà cái lý tưởng của Xã hội Chủ nghĩa đã bị thay thế bằng một Chủ nghĩa Tư bản rừng rú, vào lúc mà nguời nông dân Việt Nam đang bị cướp đi những thước đất cuối cùng, vào lúc tài nguyên của đất nuớc đang bị bòn rút để đầu tư vào các Resort, các sân Golf, trong khi bệnh viện và truờng học thì xuông cấp đến thảm hại, vào lúc mà những nguời con yêu nuớc như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… đang bị bức hại.

Nhiều người đã đặt ra câu hỏi sao anh lại lấy tên Cương Quyết với họ của cụ Hồ. Sau này André cho tôi biết, “Anh không bao giờ dám lấy họ Hồ, cái tên này là anh em tù chính trị tại khám Chí Hòa tặng cho anh, đặc biệt giáo sư Nguyễn Văn Quôi. Anh Quôi vượt ngục thành công trong chuyến đày ra Côn Đảo năm 1971, rồi năm 1972 anh Quôi hi sinh tại Củ Chi vì bom B52. Khi đuợc nhập quôc tịch Việt, anh đã quyết định giữ cái tên Hồ Cuơng Quyết để tưởng nhớ đến các đồng đội của anh đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vì độc lập tự do của dân tộc.”

Rồi những suy nghĩ của tôi về André cũng thay đổi, khi tôi thấy anh cũng đang đau nỗi đau, đang thổn thức nỗi buồn của của hàng triệu nguời Việt. Hồ Cuơng Quyết đã chủ động tham gia vào mọi phong trào vận động xã hội. Bằng một lối viết rất Việt và cũng rất Pháp, anh gửi gắm đến các đại biểu đại hội đảng CSVN khóa 11:

“Vài ba ngày nữa, các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam sẽ chia nhau những vị trí cầm đầu mới của Đảng. Người ta thường nói rằng cái mới bao giờ cũng đến từ cái cũ. Nhưng Lịch sử lại cho thấy rằng cái cũ bao giờ cũng có xu hướng bóp nghẹt cái mới. Giời đất ạ, xét theo góc độ này, sự thay đổi sắp tới không hề là một ngoại lệ của quy tắc chung. “Ván đã đóng thuyền rồi”. [Nguyên văn: les carottes sont cuites, thành ngữ Pháp nghĩa đen là “Cà rốt ninh nhừ rồi” (còn đổi món sao được ?) – Người dịch]. ………Trước thềm đại hội XI ĐCSVN “người lãnh đạo” dân tộc và quốc gia, các nhà lãnh đạo cao nhất và những đại biểu của Đảng họp lại liệu có thấm nhuần những điều hiển nhiên kia và gánh nặng trên vai họ không? Liệu họ có cảm thấy họ là những người thừa kế thực sự và trung thực của quá khứ? Liệu họ có nhận rõ thực tại là thế nào không? Liệu họ có lường được mối hiểm nguy đè nặng lên tương lai đất nước không? Nếu câu trả lời là “Có”, thì liệu họ có dám công khai xem xét các vấn đề nằm ngoài các công thức đạo đức giả vẫn dùng? Liệu họ có quyết định không chần chừ nữa tạo ra những điều kiện mới mang tính hiến định và tạo ra những điều kiện cụ thể và dân chủ nhằm kết chặt họ với nhân dân, mà nếu thiếu điều đó thì không thể bảo vệ được quốc gia? Nếu câu trả lời là “Không”, họ sẽ chịu thua hay là trong cái bong bóng của mình và kệ cho những đòn vọt họ vẫn sẽ mơ tưởng đến “tình anh em cộng sản” đã từ lâu tan biến. Trong vài ngày nữa, ta sẽ bắt đầu nghe thấy câu trả lời. Mà chẳng quá mộng mơ.” (Nguồn Boxitvn)

Anh tham gia các phong trào: phản biện dự án Bô Xit Tây Nguyên, đòi tự do cho công dân Cù Huy Hà Vũ. Anh tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Truờng Sa. Bị ngăn cản, anh thẳng thắn trao đổi với những nguời lãnh đạo TP HCM:

“Trong bối cảnh ấy, tôi lại càng sửng sốt khi thấy chính quyền tìm cách giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc. Hãy nói chuyện “tàu lạ” với ngư dân Trung Bộ, họ sẽ sửa ngay “tàu Trung Quốc”. Họ chẳng “lạ” gì, sự thật rành rành đối với họ. Tại sao phải giấu cả tên bọn hung thủ mà không ai không biết? Tại sao còn bắt cả báo chí phải dùng chữ “lạ” ở đây? Cái gì hại đến khả năng tự vệ là có hại cho đất nước“ (Nguồn: Hãy lên tiếng dõng dạc và minh bạch.)

Anh bỏ tiền túi, lăn lộn đến vùng biển đảo để giúp đỡ bà con ngư dân. Anh đã tìm mọi cách vận động để làm ra bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát” nhằm đánh động dư luận về tình cảnh khốn khó cũng như tinh thần kiên cuờng bảo vệ chủ quyền của bà con ngư dân miền Trung. Thật trớ trêu, bộ phim do chính Chủ tịch Nguyễn Minh Triết ủng hộ và đài truyền hình TPHCM giúp đỡ lại bị cấm lưu hành tại Việt Nam. Tôi biết André rất bị “sốc”, vì anh đến với Việt Nam, đến với bà con ngư dân vì một tình yêu chân thật, không hề mang một mục đich chính trị nào.

Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!”

Tôi đã hiểu anh hơn, cũng có thể vì anh và tôi gần như cùng thế hệ. Tuy nhiên không phải tất cả các câu hỏi đều đã đuợc giải đáp, nhất là với các bạn trẻ sinh ra sau chiến tranh. Do vậy tôi rất ủng hộ ý kiến của các bạn trong ban điều hành X-cafe, khi muốn mời anh André Menras Hồ Cuơng Quyết vào thảo luận với diễn đàn về những gì anh đã cảm nhận đuợc qua các chuyến đi ở Việt Nam, về đất nuớc, con nguời, về những nguy cơ và vận hội của dân tộc Việt. Là một trí thức phuơng Tây, đã lăn lộn ở Việt Nam qua cả hai chế độ, chắc chắn anh có cái nhìn rất thú vị.

Tôi thật không ngờ, mặc dù rất bận rộn về việc chuẩn bị mang bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát“ về chiếu tại Pháp và châu Âu, anh vẫn vui vẻ nhận lời tham gia đối thoại với diễn đàn. Anh André có thể hiểu hết các câu hỏi bằng tiếng Việt, nhưng anh thuờng viết tiếng Việt không dấu. Do vậy ban biên tập X-Cafevn sẽ giúp anh trong việc chỉnh sửa các câu trả lời và cả phiên dịch ra tiếng Việt, trong truờng hợp anh André viết băng tiếng Pháp cho thoát hết ý. Anh André hoàn toàn có quyền sửa online các lỗi dịch, nếu anh phát hiện ra. Nỗi quan tâm lớn nhất của anh André hiện nay là giúp đỡ bà con ngư dân miền Trung đánh cá ở Hoàng Sa, là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia. Theo anh, thông qua tình yêu nuớc, những vấn đề về dân chủ, về hòa giải dân tộc, tiến bộ xã hội sẽ có những đáp số chung. Do vậy anh cũng rất mong chúng ta tập trung trao đổi về đề tài này.

Tôi cũng mong muốn các thành viên diễn đàn đón tiếp anh André với tinh thần mến khách và thật sự tôn trọng anh, một khách mời của tất cả chúng ta.

Anh André cũng sẵn sàng đem bộ phim “Nỗi đau mất mát” của mình đến các thành phố Châu Âu để chiếu và quyên góp ủng hộ ngư dân miền Trung. Bạn nào có khả năng tổ chức các buổi chiếu phim như vậy có thể liên hệ luôn với anh qua diễn đàn này hoăc qua http://www.facebook.com/hocuongquyet

Xin cảm ơn anh André và các bạn.

———————————

Thành viên và khách mời có thể tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây

****************************************************

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn.

Thành viên tim hiểu hỏi:

Chào ông André Menras HCQ, trước hết cám ơn ông đã nhận lời tham gia cuộc trò chuyện này cùng chúng tôi.

Xin được gởi đến ông vài câu hỏi.

1. Ông có biết hoặc có thu lượm hình ảnh, tư liệu nào về cuộc sống của người dân ở các đảo, trong bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam – Nỗi đau mất mát”, thời kỳ trước 75 không?

2. Trong phim tôi thấy ông có nhắc đến những lần thảm sát tại nơi ông ghé thăm, nhưng ngoài điều ấy ra tôi không thấy ông mô tả cuộc sống ngư dân với biển thời gian ấy. Vì sao?

3. Ông có thể mô tả nỗi đau/ cú shock của ông (nếu có) sau việc bộ phim của ông không được chiếu tại VN không? Vì sao ông cảm thấy đau/ hay shock ?

Cám ơn ông
Tim hiểu

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1) Je suis désolé, j’ignore comment vivaient ces pêcheurs avant 1975. Je suis simplement allé une fois en mer en 1969, de Da Nang où j’enseignais le Français à Saigon avec une chalutier de pêche. Cette expédition de 4 jours le long de la côte m’a montré que les patrouilleurs américains étaient bien présents dans l’espace maritime côtier, que les contrôles étaient fréquents et assez tendus. Par contre, fait étonnant, on ne m’a jamais demandé mon identité. Pour revenir aux pêcheurs , je peux dire qu’en ce temps là, leurs activités étaient sous haute surveillance.

2) Au sujet du massacre qui a eu lieu à Binh Chau , village de pêcheurs,( lang gang ca), huyen de Binh Son, province de Quang Ngai : j’en parle dans le film . Sur cette plage, en 1968, 40 habitants du village ont été massacrés collectivement par les soldats Sud-coréens alliés des américains. Il ne faut pas oublier que la même année , à 10 kms de là, les Gis américains ont massacré 504 civils , pour la plupart des femmes, vieillards et enfants , à My lai ( Son My). Car cette zone-là était une zone de résistance très déterminée. Le but de mon film n’était pas de parler de la guerre , de la résistance, mais je voulais au passage montrer que ces gens avaient déjà beaucoup souffert pour leur pays et avaient payé très cher leur patriotisme. Comme aujourd’hui ils paient cher ce patriotisme en allant pêcher à Hoang Sa. Ces hommes et ces femmes sont des gens fiers et courageux.

3) Oui, j’ai été profondément choqué et indigné par cette interdiction, par la forme violente qu’elle a prise, par l’absence d’explication claire de la part des responsables, par le fait qu’elle va totalement à l’encontre des intérêts des pêcheurs du Centre Vietnam et du peuple vietnamien, parce qu’elle fait finalement le jeu des dirigeants chinois et de leur politique expansionniste en mer du Sud Est asiatique, parce qu’elle traite des vietnamiens patriotes comme s’ils étaient des ennemis du Vietnam. C’est absolument inacceptable dans la mesure où c’est un acte délibéré, certainement décidé en haut lieu par des dirigeants qui restent masqués car ils savent bien que leur position est insoutenable, injustifiable. En effet, s’il s’était uniquement s’agit de démarches administratives, d’autorisation à demander pour projeter le film, pourquoi personne ne m’a convoqué pour en parler, pour me guider dans les démarches à effectuer selon la loi ? Personne, absolument personne, ni de la police , ni des autorités administratives , ni des autorités politiques n’a osé se montrer pour en parler avec moi. La décision d’interdire est donc essentiellement politique, unilatérale et violente. Elle traduit une coupure énorme entre les dirigeants politiques et leur peuple, en particulier les intellectuels. Comme je n’osais pas y croire, j’ai envoyé une lettre à ceux que je croyais être mes amis, notamment au Président du Comité populaire, en demandant des explications amicales et une réparation pour cette injuste agression : je n’ai jamais eu de réponse, ni d’invitation à venir en parler amicalement ! C’est désolant et honteux ! ( je joins à cette réponse la lettre que j’ai envoyée aux autorités du UBND TP HCM et un article plus sentimental où j’exprime ma peine)

Bản dịch của thành viên hdat: (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

1) Tôi xin lỗi, tôi không biết các ngư dân sống trước năm 1975 như thế nào . Tôi chỉ đi biển một lần trên một tàu đánh cá vào năm 1969 , từ Đà Nẵng, nơi tôi giảng dạy tiếng Pháp vào Sài Gòn. Chuyến đi 4 ngày dọc theo bờ biển cho tôi thấy sự hiện diện liên tục của các tàu tuần tra Mỹ với tình trạng khá căng thẳng. Ngược lại, điều làm tôi ngạc nhiên là chẳng có ai hỏi giấy tờ tôi. Quay lại nói về các ngư dân. Tôi có thể nói rằng thời gian này, hoạt động của họ được canh chừng chặt chẽ.

2) Về vụ thảm sát đã diễn ra tại làng chài Bình Châu, Huyện Bình Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi: tôi là người nói trong phim. Trên bãi biển này vào năm 1968, 40 người dân bị tàn sát bởi những người lính Hàn Quốc, đồng minh của Hoa Kỳ. Chúng ta không được quên rằng cùng năm đó, ở Mỹ Lai chỉ cách nơi này 10 km, lính Mỹ đã tàn sát 504 thường dân, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em. Vì vùng này là vùng hai bên đánh nhau quyết liệt. Mục đích của bộ phim của tôi đã không nói về các cuộc chiến, mà tôi muốn chuyển đến người xem rằng người Việt tại vùng này đã chịu nhiều đau khổ cho đất nước và đã họ trả giá đắt cho lòng yêu nước. Cũng như bây giờ họ còn phải trả giá đắt cho lòng yêu nước khi đi đánh cá ở Hoàng Sa. Những người đàn ông và phụ nữ này là những người có lòng tự hào và lòng dũng cảm.

3) Đúng, tôi đã bị sốc mạnh và rất tức giận bởi lệnh cấm (phim) này, bởi các hình thức bạo lực đã được sử dụng, bởi thiếu những giải thích rõ ràng từ chính quyền, bởi vì nó hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của ngư dân miền Trung nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung và cuối cùng bởi vì nó chỉ là các trò chơi của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và chính sách bành trướng của họ tại Biển Đông Nam Á, một chính sách đối xử với những người Việt Nam yêu nước như là những người phản lại chính Tổ quốc họ. Điều này là hoàn toàn không thể chấp nhận được vì nó là một hành động cố ý, chắc chắn được quyết định từ lãnh đạo cấp cao. Họ không dám làm công khai bởi vì họ biết rằng họ không có lý.

Thực ra, nếu chỉ có vấn đề thủ tục hành chánh, xin phép để chiếu phim, tại sao không có ai nói với tôi và hướng dẫn cho tôi làm những gì theo quy định ? Chẳng có ai cả, công an không, các cơ quan hành chánh hoặc cơ quan chính trị cũng không, không người nào dám tiếp chuyện tôi. Quyết định cấm chắc chắc mang màu sắc chính trị, từ một phía và không có chút nhân nhượng nào. Nó phản ánh một hố sâu rất lớn giữa các nhà lãnh đạo chính trị và người dân của họ, đặc biệt là trí thức. Lúc đầu tôi đã không dám tin điều đó, nên tôi đã gửi một lá thư cho những người tôi nghĩ là bạn bè, bao gồm cả Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, ôn tồn yêu cầu một lời giải thích và hy vọng bãi bỏ lện cấm bất công này.Tôi chẳng nhận được câu trả lời mà ngay cả lời mời để đến nói chuyện như bạn bè cũng không! Thật là buồn và xấu hổ ! (Tôi đính kèm đây lá thư tôi đã gửi cho các cơ quan của UBND TP HCM và một bài viết trong đó tôi chỉ có thể nói nguyện vọng tình cảm của mình):


Thành viên Mai Trang hỏi:

Xin ông Andre cho biết nỗi đau của ngư dân tại Hoàng Sa , so sánh với nỗi đau của người Việt tại miền Nam trước 75 và sau 75 ?

Cái nỗi đau nào đau hơn thưa ông ?

Pardon moi, je ne parles pas francais .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Pas de problème de langue quand c’est le cœur qui parle vrai. Je ne peux parler que de ce que j’ai vu de ce que je pense de façon tout à fait personnelle. Ce que je peux dire de la situation des pêcheurs qui pratiquaient la pêche côtière dans la région de Da Nang où je me trouvais en 1968-1969 c’est que la pression sur eux était énorme. D’abord c’était celle de la guerre au quotidien. Et, ceux qui ont vécu la guerre dans cette zone du Vietnam, savent bien qu’elle était terrible. Je rappelle que Da Nang était une des bases militaires US les plus importantes du Vietnam que de cette base partaient les bombardiers, les avions mitrailleurs, les épandeurs de dioxyne…Chaque nuit les maquisards tiraient des salves de roquettes sur cette base, à partir des villages environnants, par-dessus les habitations de la ville qui de trouvaient entre les deux. Le matin au réveil , il m’arrivait de trouver du plâtre sur le haut de ma moustiquaire : il était tombé du plafond pendant la nuit, suite aux déflagrations des roquettes.

Les contrôles policiers et militaires, les perquisitions, les arrestations étaient chose ordinaires. Tout mouvement, déplacement de personne faisait l’objet de suspicion, de surveillance, surtout s’il s’agissait de paysans. Dans cette situation, les pêcheurs qui se déplaçaient le long de la côte en dehors des barrières de contrôle faisaient l’objet de la part des gardes-côtes de perquisitions régulières. Et c’est vrai que certains d’entre eux participaient à la résistance et transportaient d’autres choses que du poisson… Quelques fois, les patrouilles maritimes « confisquaient » une partie de leurs prises de pêche. Quelquefois les hélicoptères US « jouaient » à descendre très bas au-dessus des chalutiers pour les secouer jusqu’à la limite du chavirement. Les pêcheurs sont des hommes habitués à affronter la mer dans toute sa violence. Ils font face aux tempêtes, à la dureté d’un métier plein de dangers où l’on est souvent seul. Alors, ces hommes, souvent très pauvres, sont fiers. Ils n’ont pas peur. Et chaque mauvaise action ou agression de la part de la flotte côtière envers eux ne faisait qu’augmenter leur colère et leur envie de chasser hors de leur pays les militaires étrangers qui étaient venus y apporter le feu et la mort.

Juste pour illustrer leur psychologie, je vous raconte une anecdote personnelle qui m’est arrivée un matin de novembre 1968 à Da Nang, sur la plage de My Khe, où je me baignais, près de la colline Son Tra. Assez bon nageur, malgré les vagues assez fortes, j’ai nagé vers le large jusqu’à une centaine de mètres de la plage. Lorsque j’ai voulu revenir vers le rivage, j’ai senti un très fort courant qui m’entraînait au le large. J’avais beau forcer sur mes bras et accélérer les battements de jambes, je n’avançais que très peu. C’est alors qu’un petit chalutier est passé à quelques dizaines de mètres. Je me suis mis à l’appeler en criant très fort et agitant les bras. Le pêcheur qui me regardais a détourné son regard et a continué son chemin, comme s’il ne m’entendait pas, comme si je n’existais pas. Il ne pouvait pas ne pas avoir compris que j’étais en difficulté dans cette zone de forts courants qu’il connaissait bien. Mais pour lui, j’étais un soldat américain et m’abandonner à mon sort c’était sa façon à lui de faire la guerre. Je le comprends bien. Heureusement pour moi, il me restait juste l’énergie nécessaire pour reprendre pied sur le sable.

Aujourd’hui, je suis revenu à My Khe, tirer le filet avec les pêcheurs, plaisanter avec eux. Ils sont toujours aussi pauvres mais les bombes ne pleuvent plus sur leur tête et n’enlèvent plus leurs enfants. C’est un progrès essentiel.

Cependant il faut dire que leur sort n’est pas réjouissant, ni l’avenir de leurs enfants. La plage est de plus en plus privatisée, livrée aux capitaux étrangers pour la plupart. Des resorts géants s’emparent du sable et des terres alentour, interdisent l’accès aux habitants et aux pêcheurs. De Son Tra à Hoi An, c’est une succession de murs, de barbelés, de miradors. J’ai pu mesurer des kilomètres de murs avec, inscrits dessus, des caractères chinois. Les espaces dont disposent encore les pêcheurs pour jeter l’ancre sont de plus en plus réduits. Ils sont repoussés de la plage par les requins de l’immobilier. De mi-mai à fin août, les patrouilleurs chinois leur interdisent la haute mer. Chaque jour l’argent des resorts leur interdit toujours plus la plage. Ils vivent en paix mais pour quel avenir ? Cette année, des pêcheurs de Da Nang ont vendu leurs gros chalutiers à des pêcheurs de Binh Dinh. Ils cessent leur activité. Près d’un millier de jeunes de la province de Quang Ngai, fils de pêcheurs, ont abandonné la profession de leur père, trop dangereuse et trop pénible, sans protection, pour aller dans les hauts plateaux se louer pour la culture du Thé et du café. Petit à petit, dans cette zone qui fait face à Hoang Sa, terrain de pêche traditionnel des habitants du Centre Vietnam, la mer se vide des pêcheurs Vietnamiens alors que, dans le même temps, on rencontre de plus en plus souvent des chalutiers chinois près des côtes du Vietnam. Certains ont été vus il y a peu de temps à 20 lieues nautiques de Ly Son.

Si l’Etat , le pouvoir central n’adopte pas une politique cohérente , totale, de réel soutien et de protection à l’égard de ces hommes qui au mépris de leur vie vont affirmer la souveraineté du Vietnam sur cet espace insulaire et maritime , alors le Vietnam perdra sa mer. Et, sans la mer, il n’a pas d’avenir.

Je vous envoie deux photos pour illustrer ma réponse. Une trouvée sur google map et l’autre prise par moi sur la route qui longe la mer, de Da Nang à Hoi An.

Bản dịch của thành viên hdat (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

Ngôn ngữ không quan trọng khi chúng ta nói thật từ trái tim. Tôi chỉ nói những gì tôi thấy, những gì tôi nghĩ và mang tính chất cá nhân. Những gì tôi có thể nói về tình hình ngư dân đánh bắt ở khu vực ven biển Đà Nẵng là họ bị áp lực rất lớn. Tôi đã ở đó trong hai năm 1968-1969. Thứ nhất, chiến tranh xảy ở đây mỗi ngày. Sau đến, những người sống ở đây cũng nhận thức rằng chiến tranh gắn liền với khủng khiếp. Đà Nẵng là một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất của quân đội Mỹ ở Việt Nam, từ đây các máy bay ném bom, máy bay tiêm kích, máy bay rải chất Dioxyn … đã cất cánh. Mỗi đêm du kích bắn rốc két từ các làng xung quanh vào căn cứ. Chúng bay ngay trên nhà dân trong thành phố. Có sáng, khi tỉnh dậy tôi thấy mảnh vỡ từ trần nhà rơi trên màn ngủ do chấn động của những quả rốc két gây ra.

Các vụ cảnh sát hay quân đội lục soát hay bắt bớ xảy ra thường lệ. Mọi cử động, mọi di chuyển của người dân đều là đối tượng giám sát, nghi ngờ, đặc biệt nếu đối tượng là nông dân. Trong tình huống này, các ngư dân xuất hiện ở dọc bờ biển bên ngoài hàng rào kiểm soát đều được coi là đối tượng của những người lính gác biển và họ thường xuyên bị lục soát. Thực ra, có những người trong số họ tham gia kháng chiến và mang theo người những thứ không phải là cá … Đôi khi tuần tra trên biển “tịch thu” một số lượng cá của họ. Đôi khi máy bay trực thăng Mỹ “chọc” các tàu đánh cá bằng cách bay xuống thật thấp làm chúng lắc lư đến như sắp bị lật. Ngư dân là những người quen đối phó với mọi nguy hiểm trên biển. Họ phải đối mặt với bão, nghề của họ thật cơ cực và đầy nguy hiểm. Và nhiều khi họ chỉ có một mình. Do vậy, họ thường rất nghèo, nhưng họ lại có đầy lòng tự hào. Họ không sợ nguy hiểm. Vì vậy mà những hành động này của lính gác bờ biển hay của hạm đội bên ngoài chỉ làm tăng lòng tức giận của họ và họ mong muốn đuổi những người lính nước ngoài đi. Họ cho rằng những người lính này đã mang khói lửa và chết chóc đến quốc gia của họ.

Để minh họa cho tâm lý của họ, tôi kể với bạn một câu chuyện xảy ra với bản thân khi đang bơi ở bãi biển Mỹ Khê, gần đồi Sơn Trà – Đà Nẵng, vào một buổi sáng tháng 11 năm 1968. Là một người bơi lội khá, bất chấp những con sóng khá mạnh, tôi đã ra xa bờ đến cả trăm mét. Khi muốn quay trở lại bờ, tôi cảm thấy một luồng nước đẩy tôi ra xa thêm. Mặc những đập tay, đạp chân mạnh và nhanh hơn nhưng tôi bơi đi được rất ít. Lúc đó, một tàu đánh cá nhỏ đi qua cách tôi mấy chục mét. Tôi la hét rất lớn và vẫy tay. Chủ thuyền nhìn tôi nhưng sau đó quay mặt đi và tiếp tục con đường của mình, như thể ông không nghe thấy tiếng kêu của tôi, như thể là tôi không tồn tại. Ông ta không thể không biết tôi gặp khó khăn. Ông ta chắc chắn biết rõ khu vực này với các luồng nước mạnh. Nhưng đối với ông ta, tôi là một người lính Mỹ, và việc ông ta bỏ mặc số phận của tôi được coi là một cuộc chiến chống lại tôi. Tôi hiểu điều đó. May mà, tôi vẫn còn chút sức để tới được nơi chân chạm đất.

Ngày nay, trở về Mỹ Khê, tôi kéo lưới với ngư dân, nói đùa với họ. Họ vẫn còn nghèo nhưng không còn bom rơi xuống đầu họ và con cái của họ không còn bị chết bởi chiến tranh. Đấy mới là điều quan trọng.

Tuy nhiên phải nói rằng số phận của họ cũng chẳng phải vui vẻ gì, tương lai con cái họ cũng vậy. Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản. Từ giữa tháng Năm đến cuối tháng Tám, tuần tra Trung Quốc cấm họ ra biển. Ngày càng nhiều nhân viên của khu nghỉ mát không cho họ lai vãng đến gần. Họ sống trong hòa bình nhưng tương lai sẽ ra sao? Năm nay, ngư dân Đà Nẵng đã phải bán tàu đánh cá loại lớn cho ngư dân Bình Định. Họ không thể hành nghề được nữa. Cả ngàn thanh niên của tỉnh Quảng Ngãi, con của các ngư dân, đã rời bỏ nghề nghiệp của ông cha vì quá nguy hiểm và quá cơ cực mà lại không được bảo vệ. Họ phải đi lên các vùng cao làm thuê cho trong các vườn chè, vườn cà phê. Trong khu vực đối diện với Hoàng Sa, nơi đánh cá quen thuộc của người dân miền Trung Việt Nam, chúng ta thấy ngày càng ít ngư dân Việt Nam. Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.

Nếu Nhà nước, chính quyền trung ương không có một chính sách hợp lý, toàn diện, minh bạch để giúp đỡ và bảo vệ các ngư dân, những người bất kể nguy hiểm thách thức tính mạng sẵn sàng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các vùng hải đảo, thì Việt Nam sẽ mất biển. Không còn biển, Việt nam không có tương lai.

Tôi gửi cho bạn hai bức ảnh để minh họa cho câu trả lời của tôi. Một từ google-maps và một tôi chụp trên đường đi dọc bờ biển từ Đà Nẵng đến Hội An:

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 2)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Phần Giới thiệuPhần 1

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên Diên Vỹ hỏi:

Xin hỏi ông André HCQ:

Theo thông tin được biết thì cuốn phim của ông được sự ủng hộ của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Thế thì sau khi cuốn phim không được chiếu ở VN, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết có phản ứng hoặc nhận xét gì về việc này hay không?

Có những ai trong chính quyền âm thầm ủng hộ việc làm của ông nhưng vì vị trí tế nhị của họ nên không thể công khai? Họ có thái độ gì về sự kiện cấm chiếu phim không?

Cám ơn ông.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Comme vous le comprenez, ce film ne touche pas que la situation tragique des pêcheurs même si c’est cela l’essentiel qu’il se propose de montrer. Ce film est clairement situé dans le cadre des relations très contradictoires entre le Vietnam et la Chine, entre le Parti Communiste chinois et le PCV. Parler des pêcheurs c’est aussi dénoncer l’agression chinoise, sa sauvagerie, son caractère illégitime. Aider les pêcheurs à coller à leur mer et à leurs îles c’est les aider à gagner leur vie mais aussi c’est la meilleure façon de résister à l’agression de Pékin. Montrer le triste sort des familles et la façon dont elles vivent c’est aussi montrer qu’elles ne sont pas assez aidées, protégées, que la stratégie de défense de la mer du Vietnam n’est pas suffisante pour prétendre faire face à la cohérence, la globalité, la puissance de la stratégie chinoise. C’est mettre le doigt sur un point faible de la politique vietnamienne actuelle.
Ce que je veux dire par là , c’est que les origines et les implications de la situation humaine des pêcheurs est éminemment politique et que c’est un débat et peut-être aussi un combat à l’intérieur du Vietnam, des organes dirigeants du PCV et de l’Etat. Si le Président m’a soutenu, c’est d’abord qu’il a de l’amitié pour moi, pour ce que j’ai fait dans le passé aux côtés de la majeure partie du peuple vietnamien. C’est aussi qu’il sait que je ne suis pas intéressé par l’argent, qu’on ne peut m’acheter, me manipuler, que je n’appartiens à aucun clan, à aucun parti, que je n’ai aucune ambition politique, que je suis sincèrement dévoué à l’indépendance du Vietnam et à l’amitié que j’ai nouée avec les pêcheurs. Que je ne trahirai jamais cela.

Alors, je pense que, dans la situation présente, son intervention pour m’aider a été courageuse et je le respecte pour cela. Je ne me permettrai pas de lui demander des détails sur ses relations qui ne concernent que lui.

Si vous suivez bien l’actualité vietnamienne vous pourrez déceler, même dans les informations filtrées que donnent les journaux officiels que la ligne politique avec la Chine n’est pas uniforme. Elle est très nuancée, selon qui déclare quoi. Et , surtout, elle est changeante. En particulier ces derniers temps avec les luttes patriotiques qui sont apparues à Saigon ,à Ha Noi et dans d’autres villes de province. Il y a aussi des points où l’influence économique et donc politique chinoise est très forte et des endroits où elle l’est moins…Où les dirigeants vietnamiens y sont plus ou moins sensibles … Après l’interdiction du film , j’ai fait l’objet de deux très beaux articles , très élogieux, de mon combat pour Hoang Sa, pour les pêcheurs, dans les numéros de printemps du magazine Thanh Nien et Nguoi Lao dong…Vous savez que les articles doivent avoir le feu vert des rédactions, elles mêmes contrôlées strictement par le très politique Bo Thong tin Van hoa…et donc, les dirigeants politiques…J’ai donc pris ces articles comme des messages indirects de soutien à ce que je faisais … D’autres signes montrent qu’il faut se garder d’être manichéens : tout n’est pas et n’a jamais été tout noir ou tout blanc. On ne doit jamais accuser, condamner des gens en bloc, définitivement. On doit toujours laisser des portes ouvertes car la réalité change et les gens aussi. Nous avons besoin d’unité pour gagner et nous devons tout faire, malgré les très grands obstacles pour en garantir un minimum. Dans la longue résistance à la pression chinoise où nous sommes engagés, il nous faut beaucoup de clairvoyance, d’intelligence et de tolérance pour toujours aller à l’essentiel : ici, dans le cas du film : la protection concrète des pêcheurs pour qu’ils continuent d’occuper notre mer et pour le Vietnam, l’affirmation toujours plus forte à l’intérieur du pays et sur la scène internationale des droits souverains du Vietnam sur Hoang Sa. En gardant toujours le cap d’une lutte basée sur le respect du droit international et avec des actions pacifiques. Sans quoi, la loi de la jungle prévaudra et sur ce terrain, les dirigeants chinois sont les plus forts.

Bản dịch của thành viên hdat:

Như các bạn biết, bộ phim này không chỉ nói về hoàn cảnh khốn khổ của ngư dân mặc dù đây là chủ đề khởi đầu của nó. Bộ phim này rõ ràng là nằm trong bối cảnh quan hệ đầy mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc, giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Phim nói về những ngư dân, nhưng nó cũng tố cáo dã tâm xâm lược của Trung Quốc, với tính hoang dã rừng rú bất hợp pháp của nó. Giúp đỡ ngư dân bám biển và các đảo chẳng những giúp họ kiếm sống mà còn là cách tốt nhất để chống lại sự xâm lược từ Bắc Kinh. Hoàn cảnh cuộc sống đáng buồn của các gia đình ngư dân cho thấy rằng họ không được hỗ trợ, bảo vệ đầy đủ, rằng chiến lược bảo vệ biển của Việt Nam là không đủ để đối phó với Trung Quốc khi họ tập trung toàn bộ sức mạnh cho vấn đề. Điều này là để xác định một trong các điểm yếu của chính sách Việt Nam hiện nay.

Qua bộ phim tôi muốn nói rằng nguồn gốc và tác động của tình hình hiện tại lên các ngư dân hoàn toàn mang tính chất chính trị, và sẽ sinh ra các cuộc tranh luận và có thể là một cuộc đấu tranh nội bộ ở Việt Nam, ở các cơ quan cao cấp của Đảng cộng sản và các cơ quan của chính quyền. Nếu Chủ tịch (Nguyễn Minh Triết) đã hỗ trợ tôi, thứ nhất là do tình bạn mà ông ta dành cho tôi, cho những gì tôi đã làm trong quá khứ sát cánh với hầu hết những người Việt Nam. Thứ đến là ông ta biết rằng tôi không quan tâm đến tiền bạc, không ai có thể mua hay điều khiển được tôi, tôi không thuộc bất cứ một băng đảng nào, tôi không có tham vọng chính trị, tôi thực sự chân thành đối sự độc lập của Việt Nam và tình bạn của tôi với các ngư dân. Tôi sẽ không bao giờ phản bội nó.

Do vậy, tôi nghĩ rằng trong tình hình hiện nay, sự can thiệp của ông ta đã khuyến khích tôi và tôi tôn trọng ông ta vì điều đó. Tôi không cho phép bản thân mình đòi hỏi các chi tiết về các mối quan hệ riêng của ông ta.

Nếu bạn đọc tin tức Việt Nam bạn có thể phát hiện ngay cả trong những thông tin được chọn lọc trên các tờ báo chính thức rằng đường lối, chính sách đối với Trung Quốc cũng không nhất quán. Nó rất mơ hồ, tùy thuộc vào người nói. Và, trên tất cả, nó có thể hiểu sao cũng được. Đặc biệt là gần đây với các cuộc biểu tình yêu nước đã diễn ra ở Sài Gòn, Hà Nội và thành phố khác. Có nơi mà Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng kinh tế và chính trị và cả có nơi mà họ có ít …, nên các nhà lãnh đạo Việt Nam có nhiều hay ít quan tâm …

Sau khi bộ phim bị cấm, có hai bài rất hay nói về cuộc đấu tranh của tôi cho Hoàng Sa, cho các ngư dân, được đăng trên số đầu Xuân của tạp trí Thanh Niên và Người Lao Động, … bạn biết, các bài viết phải có được sự đồng ý của ban biên tập dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan chính trị là Bộ Văn Hóa Thông Tin … tức là các nhà lãnh đạo chính trị … Tôi coi các bài này là thông điệp gián tiếp của chính quyền hỗ trợ cho những gì tôi đã làm … Còn có những dấu hiệu khác, nhưng cần phải cẩn thận không được chủ quan vì : không có gì hoàn toàn trắng cũng như không có gì hoàn toàn đen. Không bao giờ nên buộc tội ai một cách chắc chắn. Mọi cánh cửa nên mở rộng vì hoàn cảnh có thể thay đổi, con người cũng vậy. Chúng ta cần đoàn kết để giành chiến thắng và chúng ta phải làm tất cả mọi thứ để vượt qua những trở ngại dù rất lớn để có được kết quả ban đầu dù nhỏ. Trong cuộc kháng chiến dài chống áp lực Trung Quốc, mà chúng ta nguyện tham gia, chúng ta cần phải khôn khéo, có tầm nhìn xa và lòng bao dung để luôn luôn tập trung vào vấn đề chính, ví dụ như trong phim : bảo vệ một cách cụ thể các ngư dân, những người làm sống biển, là khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa chẳng những cho người dân trong nước mà cho cả Quốc tế thấy. Cuộc đấu tranh của chúng ta luôn luôn dựa trên cơ sở tôn trọng hòa bình và các hiệp ước quốc tế. Nếu không, luật rừng sẽ thắng thế và trong lĩnh vực này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc mạnh hơn ai hết.


Thành viên Wasabi hỏi:

Tui vào đây chơi, nên làm biến đặt câu hỏi lung tung mấy nhân vật khách mời của cà. Nhưng hôm nay phá lệ cho dzui.

1/ Mr Ho, ông có cảm giác như thế nào khi nhiều người Việt Nam nói tiếng Tây như gió thì đó là một chuyện bình thường, còn một người Tây nói được tiếng Việt thì được nhiều người Việt hâm mộ? Mr Ho có nghĩ đó là bản tính của dân tộc nhược tiểu vui mừng khi có người của xứ văn minh hiểu được văn hóa của họ?

2/ Mr Ho, ông có cảm thấy ông đang bị đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng ông để tuyên truyền không? Tuyên tryền về thứ gì, đó là tuyên truyền cho những người con đất Việt bỏ xứ đi hàng chục năm, nay tới tuổi về hưu thì nên quây về cố hương, vì người Tây còn yêu văn hóa và nước Việt thì người việt tại sao không.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1/ Votre question est une bonne question. Sur le plan technique, je pense que tout d’abord la langue vietnamienne est plus difficile à parler pour un occidentale qu’une langue occidentale pour un Vietnamien. Pour de nombreuses raisons en particulier celle des accents qui, enchaînés sur des monosyllabes ne permettent pas l’erreur sur le ton employé , sous peine de véritables catastrophes qui, pour certaines font rire et pour d’autres font pleurer. Je me souviens de Mac Namara qui devant les troupes d’élite de l’armée du Sud à Saigon, a voulu conclure son discours par la formule que lui avait écrite ses conseillers : « Việt Nam Muôn Năm!“ et le malheureux avait déclaré le plus sérieusement du monde: Vịt Nam muốn nằm!, ce qui n’était pas franchement une invitation au combat.Il m’arrive moi aussi d’avoir des accidents de prononciation assez spectaculaires. Si vous ajoutez à cette difficulté celles dues aux prononciations régionnales ( allez donc parler aux pêcheurs du Quang Ngai si vous êtes de Saigon ou de Ha noi !) et aux termes particuliers à chaque terroirs, on comprend que des occidentaux à l’appareil phonatoire et auditif déjà bien formaté aient du mal à se faire comprendre quand ils tentent de courageuses phrases en Vietnamien!

Mais il y a un deuxième aspect culturel et psychologique, à votre question. Une langue est le reflet d’une culture. Pratiquer cette langue c’est pénétrer plus profondément dans cette culture et , inversément, si vous êtes déjà familiarisé avec la culture, vous comprendrez et pratiquerez plus aisément la langue. Pour parler, bien parler une langue, il fait aimer les gens du pays et vouloir aller vers eux, y être bien accueilli…Bien parler une langue étrangère c’est souvent un acte d’amour. C’est essentiel.

Enfin, selon moi , la langue est aussi le reflet d’une économie. Plus un pays est fort économiquement et plus sa langue a des chances de rayonner. Pourquoi le français, langue de référence il y a seulement quelques décades est en sérieuse perte de vitesse par rapport à l’anglais (américain) aujourd’hui? Parce que l’économie de la France est sérieusement sur le déclin et que l’économie américaine ( même si actuellement elle est en pleine régression) a carrément dominé le monde ces au cours des deux dernières décennies. Ainsi, si le Vietnam se développe au niveau économique et de façon indépendante, si le Vietnam produit, exporte, augmente ses échanges sur des bases nationales , alors le Vietnamien sera de plus en plus parlé par des étrangers. C’est une réalité objective. On constate déjà dans le vietnam actuel une progression sensible du nombre de jeunes étrangers qui se lancent sans complexe dans l’apprentissage et la pratique de la langue vietnamienne, alors que certains Viet Kieu qui avaient eu ttendance à la délaisser pour leurs enfants, reviennent vers elle, créent des cours de vietnamien dans le pays , la ville où ils vivent…

2/ Cher ami, jamais personne ne m’a dicté ce que je devais faire. A aucun moment de ma vie. Tout ce que je fais est volontaire , indépendant. Mon compte bancaire a toujours été pauvre et ma maison très modeste. Je me suis battu aux côtés de ceux que vous appelez les Viet Cong parce que c’était la seule façon de faire cesser cette sale guerre dont la principale cause était l’agression étrangère. Les bombes et les produits chimiques ont arrêté de pleuvoir sur le Vietnam, on n’enferme plus des centaines de milliers de pauvres gens derrière des barbelés, même s’il existe hélas actuellement des emprisonnés politiques ( ce qui est inacceptable) il n’y aucune comparaison avec les dizaines de milliers d’entre eux pendant l’ancien régime, les tortures , les cages à tigre… Non, je ne regrette pas une seule seconde le combat que j’ai mené, y compris mes années de jeunesse passées en prison, car je pense qu’il a fait avancer le Vietnam et qu’il a apporté un soulagement à son peuple. Actuellement, il qu’il s’agit d’aller plus loin vers une société civile et de droit, vers la défense de l’indépendance et de l’unité acquises, je ne me laisserai manipuler par aucun de ceux qui prennent pour prétexte la question des pêcheurs pour attaquer le régime. J’ai beaucoup de choses à reprocher au régime actuel, y compris des choses graves. Mais comme je l’ai dit à Dien Vy, il faut être positif pour aller à l’essentiel et faire avancer notre objectif commun. Je pourrais vous raconter bien des atrocités que j’ai vécues personnellement ainsi que mes amis sous l’ancien régime. Beaucoup de Vietnamiens , hélas, pourraient sans mentir parler des jours , des années terribles et humiliantes qu‘ils ont vécus dans des camps de rééducation , des errances en mer, des camps d’accueils à l’étranger, du déracinement déchirant avec le pays natal, la famille…les amis Je pense qu’il ne faut rien oublier mais je pense aussi que rester sur ces pages du passé ne règlera jamais les problèmes du présent qui eux sont là , devant nous. Alors, pour moi, il n’y a pas de propagande ( c’est un mot que je n’aime pas). Il y a seulement la réalité telle que je la vis et c’est cela qui me guide et c’est cela que je raconte. Je ne prétends pas détenir la vérité mais, malgré mes rides je peux dire que je n’ai jamais trahi mes vingt ans, que l’idéologie chez moi ne prendra jamais le pas sur l’humain et que je suis fier, chaque matin de me regarder dans la glace.

Bản dịch của thành viên hdat:

1/ Bạn đã đặt một câu hỏi hay. Thứ nhất, tôi nghĩ nói chung người phương Tây gặp khó khăn khi nói tiếng Việt hơn là người Việt nói một ngôn ngữ phương Tây. Có nhiều lý do, trong đó đặc biệt là cách nói, âm điệu lên xuống với các từ được nối thành câu, không cho phép có lỗi, nếu không sẽ là thảm họa, có khi làm cho bạn cười và lại làm cho người khác khóc. Tôi nhớ rằng khi MacNamara đứng trước những người lính hàng đầu của VNCH muốn kết thúc bài phát biểu của mình với câu tiếng Việt mà các cố vấn đưa cho ông ta : “Việt Nam muôn năm” và ông ta đã không may phát âm thành: Vịt Nam muốn nằm, hoàn toàn không có nghĩa cổ vũ cho các trận đánh. Ngay cả tôi cũng đã gặp nhiều “tai nạn” ngoạn mục khi phát âm. Thêm vào đó là sự khác nhau giữa các địa phương, chẳng hạn như bạn ở Sài Gòn hay Hà nội mà đi nói chuyện với các ngư dân ở Quảng Ngãi thì sẽ thấy. Vì vậy, mà chúng ta hiểu rằng tại sao mà những người phương Tây mặc dù được học với các dụng cụ âm thanh tân tiến mà còn phải dũng cảm lắm khi nói một câu tiếng Việt.

Thứ hai là vấn đề về văn hóa và tâm lý. Ngôn ngữ là một sự phản ánh của văn hóa. Thực hành ngôn ngữ là thâm nhập sâu hơn vào nền văn hóa và ngược lại, nếu bạn đã quen thuộc với nền văn hóa, bạn sẽ hiểu và sử dụng ngôn ngữ dễ dàng hơn. Muốn nói chuyện, nói chuyện tốt một ngôn ngữ, thì phải yêu người dân của đất nước đó và được họ chấp nhận … Khi nói một tiếng của một dân tộc nào tốt, bạn đã thể hiện tình yêu của mình với dân tộc đó. Điều này rất quan trọng.

Và cuối cùng, tôi nghĩ rằng ngôn ngữ cũng là một sự phản ánh của một nền kinh tế. Các quốc gia có nền kinh tế mạnh thì ngôn ngữ của họ cũng có nhiều cơ hội tỏa sáng. Tại sao tiếng Pháp, cách đây chỉ vài chục năm còn là thứ tiếng chuẩn mà nay đã bị tiếng Anh (Mỹ) bỏ xa ? Bởi vì nền kinh tế của Pháp suy giảm trầm trọng và nền kinh tế Mỹ (mặc dù hiện tại nó đang trong tình trạng trì trệ) đã ngự trị thế giới trong hai thập kỷ qua. Vì vậy, nếu Việt Nam phát triển kinh tế một cách độc lập, nếu Việt Nam tăng sản xuất, xuất khẩu, thương mại của mình, thì tiếng Việt sẽ được nhiều người nước ngoài sử dụng hơn. Nó là một thực tế khách quan. Hiện ở Việt Nam số thanh niên nước ngoài học và thực hành tiếng Việt đã gia tăng đáng kể. Trong khi đó, một số Việt Kiều một thời gian “lãng quên” tiếng Việt với con cái, nay mở lại những lớp học tiếng Việt ở quốc gia, thành phố nơi họ sinh sống.

2/ Bạn ạ, không ai có thể ra lệnh cho tôi phải làm gì. Bất kể khi nào trong cuộc đời tôi. Tất cả những gì tôi làm là tự nguyện không phụ thuộc vào ai. Tài khoản ngân hàng của tôi luôn luôn ít ỏi và ngôi nhà của tôi cũng khiêm tốn.

Tôi đã chiến đấu bên cạnh những người mà bạn gọi là Việt Cộng bởi vì nó là cách duy nhất để ngăn chặn một cuộc chiến tranh bẩn thỉu mà nguyên nhân chính là sự xâm lược của nước ngoài. Bom và hóa chất đã ngừng rãi trên Việt Nam, hàng trăm ngàn người không còn bị chặn sau những hàng rào dây thép gai. Mặc dù hiện nay tình trạng chính trị bị đầu độc (điều không thể chấp nhận) thì cũng không thể so sánh với hàng chục ngàn người dưới chế độ cũ (VNCH) bị tra tấn, nhốt trong chuồng cọp … Không, tôi không hối tiếc một giây nào về cuộc chiến mà tôi tham gia, với cả những năm thời trai trẻ của tôi trong nhà tù, bởi vì tôi nghĩ rằng nó đưa Việt Nam tiến về phía trước và giảm những nỗi đau của người dân.

Hiện nay, vấn đề là đưa Việt Nam tới một xã hội dân sự và pháp luật, để bảo vệ độc lập và sự thống nhất đã đạt được. Tôi sẽ không để bất cứ ai lợi dụng vấn đề ngư dân để chống lại chính quyền. Tôi cho rằng chế độ hiện hành có nhiều điều sai trái, bao gồm cả những điều nghiêm trọng. Nhưng, như tôi đã nói ở phần trả lời cho bạn Diên Vỹ, nên có cái nhìn tích cực đến những điều cơ bản và tập trung cho mục tiêu chung của chúng ta.

Tôi có thể kể cho bạn biết những tội ác của chế độ cũ (VNCH) mà cá nhân tôi và bạn bè đã có kinh nghiệm. Nhiều người Việt Nam, than ôi, không cần phóng đại cũng có thể nói ngày qua ngày, năm qua năm về những cái gì khủng khiếp và nhục nhã mà họ đã trải qua trong các trại cải tạo, lênh đênh trên biển, trong các trại tị nạn chuyển tiếp, tan nhà tan cửa, mất bạn bè gia đình …

Tôi nghĩ rằng không có gì nên quên, nhưng tôi cũng nghĩ rằng nếu ở lại trên các trang sử này của quá khứ, chúng ta sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề của hiện tại và của tương lai. Vì vậy, đối với tôi, đây không phải là tuyên truyền (một từ tôi không thích). Chỉ có thực tế như tôi đã thấy và đó là những gì chỉ đường cho tôi và đó là những gì tôi nói. Tôi không nói là sự thật thuộc về tôi, nhưng với những nếp nhăn trên trán, tôi có thể nói rằng tôi không bao giờ phản bội thời trai trẻ 20 tuổi của tôi với một tư tưởng không bao giờ đứng trên quyền lợi của người khác và tôi tự hào về mình mỗi sáng khi tôi nhìn vào gương.


Thành viên Cafe001 hỏi:
Xin trân trọng và cảm phục kính chào bác Hồ Cương Quyết, một công dân Việt Nam thực sự yêu nước Việt Nam bằng hành động thiết thực và hữu ích.

Thưa bác, cho phép tôi được hỏi ba câu hỏi:

1- Trong quá trình bác làm phim về Hoàng Sa, bác có được sự hỗ trợ (hoặc sự cản trở) nào không từ phía chính quyền Việt Nam?

2- Về bản chất, sự tham gia vào “chiến cuộc” của bác ở miền Nam trước đây và đối với Hoàng Sa hiện nay có khác nhau gì không?

3- Bác nhận xét như thế nào về lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam hiện nay .

Chân thành cám ơn bác trước.

Kính chúc bác cùng gia đình dồi dào sức khỏe và vạn sự như ý.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1. La télévision d’HCM ville m’a aidée à réaliser ce film, fourni une équipe (cameraman, preneur de son, interprète, chauffeur , voiture) pour aller tourner le film à Ly Son et Binh Chau ( Quang Ngai). Elle a mis à ma disposition ses studios et un monteur d’images et de son . Ce qui veut dire qu’elle a supporté l’essentiel des frais matériels sans lesquels je n’aurais pas pu réaliser ce film.
Par la suite, je n’ai reçu aucune aide pour m’aider à le projeter.

2. Il n’a aucune différence sur le fond entre mes combats passés et mes combats actuels pour Hoang Sa. Ils sont non violents. Se basent sur le respect des droits des peuples et des droits de l’homme. Tous sont animés de mon attachement particulier au Vietnam et à son peuple.

3. Beaucoup de gens parlent des jeunes vietnamiens d’aujourd’hui. Certains disent souvent qu’ils sont différents de la génération précédente. Naturellement et heureusement ! . Qu’ils ont grandi dans des univers complètement différents. D’autres disent qu’ils ne sont guidés que par la consommation, par l’argent, par l’apparence extérieure, qu’ils imitent docilement la (les) jeunesse (s) des pays occidentaux, que leurs racines culturelles sont fragilisées, qu’ils sont les produits d’une société où la loi du plus fort est celle du plus riche, d’une éducation qui ne favorise ni l’esprit critique ni la recherche personnelle libre, ni l’expression, ni la libre création. Certainement, il ya une part de vrai dans tout cela. Mais on ne peut pas parler des jeunes en général. Il ya ceux des villes, ceux des villages, ceux des hameaux, ceux de la mer , ceux des zones de montagnes reculées. Selon où on est né et où on vit, l’environnement humain et culturel est différent et les jeunes sont différents.

Mais ce qui les unit tous, c’est l’attachement au pays natal, à la famille. On voit bien le grand mouvement national qui secoue la période du Tet. Certains ont économisé toute l’année pour rentrer quelques jours au pays natal ! Non, quoique disent certains et malgré tous les défauts que l’on peut trouver aux jeunes d’aujourd’hui (dont ils ne sont pas toujours responsables) , l’attachement des jeunes à la terre natale et au pays natal reste encore très fort. Et je suis convaincu que s’ils le sentent en danger, ils seront prêt à le défendre.

Bản dịch của thành viên hdat:

1. Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh đã giúp tôi để làm cho bộ phim này, cung cấp một đội ngũ (người quay phim, người thu âm thanh, phiên dịch viên, lái xe, ô tô) để quay bộ phim ở Lý Sơn và Bình Châu (Quảng Ngãi). Họ để tôi sử dụng các phòng làm phim và người sửa hình ảnh và âm thanh. Điều này có nghĩa rằng họ đã gánh chịu nhiều phí tổn nguyên vật liệu, mà không có chúng thì tôi không thể làm được bộ phim này.

Sau đó, tôi không nhận được bất cứ giúp đỡ nào để chiếu phim.

2. Không có sự khác biệt đáng kể giữa các trận đấu trong quá khứ và trận đấu hiện nay cho Hoàng Sa, tất cả đều là bất bạo động. Chúng dựa trên sự tôn trọng quyền của các dân tộc và nhân quyền. Tất cả đều từ sự gắn bó đặc biệt của tôi với đất nước và người dân Việt Nam.

3. Nhiều người nói về giới trẻ Việt Nam ngày nay. Một số người nói họ khác các thế hệ trước. Tự nhiên và vui vẻ! Bởi vì, họ lớn lên trong thế giới hoàn toàn khác.

Những người khác nói rằng họ bị lèo lái bởi ham muốn hưởng thụ, bởi tiền bạc, bởi bề ngoài, họ bắt chước thanh thiếu niên ở các nước phương Tây. Gốc rễ văn hóa của họ đang bị lung lay. Họ là các sản phẩm của một xã hội, nơi mà kẻ mạnh nhất là những kẻ giàu có. Họ chịu một nền giáo dục không khuyến khích tư duy phê phán, không tự do tìm tòi, không sáng tạo. Chắc chắn có những thanh niên như thế. Nhưng chúng ta không thể nói như vậy cho toàn bộ giới trẻ nói chung. Có những người ở thành phố, những làng mạc, những thôn, xóm, những người sống trên biển, những người ở các vùng núi xa xôi. Tùy thuộc vào nơi được sinh ra, nơi sống, môi trường con người xung quanh và văn hóa khác nhau mà những người trẻ cũng trở thành khác nhau.

Nhưng cái mà có thể qui tụ được tất cả là sự gắn bó quê hương, gia đình. Chẳng hạn chúng ta thấy số lượng người di chuyển nhiều như thế nào nhân dịp Tết. Nhiều người đã phải tiết kiệm cả năm để có được một vài ngày xum họp gia đình! Không, dù có những người chỉ trích và mặc dù tất cả các lỗi có thể được tìm thấy trong thanh thiếu niên ngày nay (họ không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm), thì sự gắn bó của những người trẻ tuổi với nơi sinh ra, với quê hương vẫn còn rất mạnh. Và tôi tin rằng nếu cảm thấy bị đe dọa, họ sẽ sẵn sàng bảo vệ mảnh đất quê hương của họ.


Thành viên Neo hỏi:

Cách mạng thường hay ăn thịt chính con đẻ của mình, thưa bác HCQ, có khi nào bác đang nghĩ là bác đang bị “ăn thịt” ?

Neo

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Qui voudrait d’une peau aussi vieille et aussi épaisse que la mienne ?

Si vous prenez l’expression « bi an thit » dans le sens « être supprimé, dévoré », C’est vrai que l’expérience révolutionnaire a hélas témoigné de périodes de luttes cruelles pour le pouvoir. Car il ne s’agit plus là de révolution mais de pouvoir. Ce sont d’ailleurs souvent les plus sincères, quelquefois les plus populaires, qui ont été victimes de ces purges. Mais, si vous êtes honnêtes vous devez aussi remarquer que chez les antirévolutionnaires et même chez ceux qui se disent démocrates, les purges sont choses courantes quand on côtoie les sphères du pouvoir. Le danger commence quand le pouvoir est concentré dans les seules mains d’un individu où d’un petit groupe d’individus, quand il n’y a pas contrôle démocratique véritablement indépendant du pouvoir, avec des moyens politiques, juridiques, financiers et même militaires et de police. Ceci me semble vrai partout dans le Monde et ne concerne pas seulement que les révolutions.

Personnellement, comme je n’ai aucune ambition de pouvoir et que mon action n’est pas un problème d’Etat, je ne pense pas que cela me concerne. Et puis, je vous l’ai dit, je suis indigeste.

Bản dịch của thành viên hdat:

Ai muốn ăn bộ da dày của người vào tuổi tôi ?

Nếu bạn dùng “bị ăn thịt” cho “bị giết, bị ăn thịt,” thì đúng, vì kinh nghiệm cách mạng đáng tiếc được chứng minh qua các thời kỳ đấu tranh gay gắt tranh giành quyền lực. Bởi vì nó không phải là một cuộc cách mạng mà chỉ là tranh giành quyền lực. Chẳng những vậy, những người nhiệt huyết nhất, cả khi được nhiều người yêu mến nhất lại là những nạn nhân của những cuộc thanh trừng. Nhưng nếu bạn trung thực, thì bạn cũng thấy trong hàng ngũ những người phản cách mạng và thậm chí những người tự gọi mình là dân chủ, các cuộc thanh trừng cũng diễn ra phổ biến một khi có dính dáng đến quyền lực. Nguy hiểm bắt đầu khi quyền lực được tập trung trong tay của một cá nhân, hay một nhóm nhỏ, khi không có sự kiểm soát dân chủ thực sự độc lập với quyền lực bao gồm chính trị, pháp lý, tài chính và thậm chí cả quân sự và cảnh sát. Điều này có vẻ đúng trên toàn thế giới và không chỉ là với các cuộc cách mạng.

Cá nhân mà nói, vì tôi không có tham vọng quyền lực và hành động của tôi không phải là một vấn đề để chính quyền quan tâm, tôi không nghĩ nó liên quan gì đến tôi. Và sau cùng, tôi đã nói với bạn, tôi không thể bị tiêu hóa.


Thành viên GroundCrew hỏi:

Thưa ông André Menras ,

Sau khi ông vi phạm pháp luật ở nước VNCH bằng cách trưng cờ của kẻ thù trên một tượng đài chiến sĩ của chúng tôi . Ông bị chính phủ nước tôi xét xử , kết án, bị giam sau đó bị trục xuất về Pháp .

Sau đó ông đã viết một cuốn sách lên án chế độ lao tù của VNCH .

Chẳng bao lâu sau đó, quân đội Bắc Việt xâm chiếm VNCH gây ra làn sóng thuyền nhân trốn chạy khỏi chế độ tàn ác Cộng Sản và gần một triệu người bị giam cầm không có án, không có xét xử có người bị giam hơn mười năm, hoặc đã chết trong các trại tù cải tạo .

Ông có suy nghĩ gì về chế độ lao tù của Cộng Sản Việt Nam ? Cộng Sản Việt Nam có đáng bị lên án như ông đã từng lên án VNCH ?

Là một người cổ võ cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam một tổ chức của Cộng Sản Bắc Việt .

Ông có nghĩ là ông cũng có một phần trách nhiệm cho những tội ác mà Cộng Sản gây ra cho người dân miền Nam Việt Nam?

Kính ông .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Cher monsieur, j’aurais préféré que nous parlions des pêcheurs et de la façon de les aider. Mais je ne me déroberai pas à vos accusations. Je reconnais dans vos propos les termes de la propagande saïgonnaise que j’entendais dans ma jeunesse de la part du pouvoir militaire et policier que j’ai combattu pendant les deux ans que j’ai passés à Da Nang et à Saigon. Je reconnais aussi les mots de mes juges du tribunal militaire de la 3ème région devant lequel j’ai comparu en 1971… Cela me rajeunit. Et me donne aussi la cher de poule.

Si vous voulez parler d’un régime pénitentiaire cruel, de tortionnaires, de voyous, violeurs , assassins, maquereaux ,qui faisaient régner leur loi sur les prisonniers politiques en prison, Si vous voulez parler de tabassages quotidiens, d’enfants emprisonnés pour raisons politiques de femmes accouchant en prison etc.…etc.…je vous invite à lire le livre que j’ai écrit en 11 jours et nuits à ma sortie de Chi Hoa . Tout cela je l’ai vu, vécu et quelque fois enduré. Et je n’étais pas à Con Dao ni à Phu Quoc où ce fut pour beaucoup l’enfer sur terre. Vous connaissez le bon mot que certains utilisent aujourd’hui au sujet de Con Dao ? Con Dao : 23 mille citoyens et 3000 votants. La raison : 20000 sont couchés pour l’éternité dans le cimetière An Duong. Mon ami de Da Nang le vieux Phan Van Ba décédé en août dernier, a passé 17 ans de sa vie dans ce bagne dont 10 ans dans les cages à tigre ! J’ai côtoyé une seule fois en prison des soldats du nord en attente de déportation pour le bagne de Phu Quoc. Tous mes amis prisonniers politiques ou combattants, étudiants , professeurs avocats, guérilleros étaient du sud. Souvent de Saigon même.

Non monsieur, s’il vous plaît, ne comparez pas ce qui n’est pas comparable. Ne mélangez pas tout. Parmi mes gardiens, il y avait des bêtes fauves qui faisaient souffrir par plaisir. Beaucoup ne méritaient pas de vivre et ils ont pourtant survécu. Un des « gardiens » de Con Dao vit encore aujourd’hui sur cette île aux côtés de ses petits enfants. Il en est de même pour un des plus cruels tortionnaires de la prison « Cay Dua » à Phu Quoc. Il vit actuellement à Tien Giang, dans sa famille…

Je pense qu’il faut en tout point garder les proportions. Autant je ne peux pas accepter que des gens, fonctionnaires ou militaires aient été détenus après 1975, dans des camps de rééducation pendant des mois et des années et que certains y soient morts, autant je ne puis accepter que vous compariez leur situation avec celle des prisonniers politiques du régime de Saigon. Si vous le faite, c’est par ignorance ou par mauvaise foi.

Quand à votre autre accusation d’avoir violé les lois de VNCH, excusez-moi de le dire si brutalement : où est la loi quand, dans le village de Nam Co, vous passez en moto et voyez sur le bord de la route, au milieu d’une nuée de mouches, le ventre ouvert au couteau et les tripes à l’air, une cigarette placée en biais dans la bouche, le cadavre exposé d’un jeune paysan pour terroriser la population ? Où est la loi quand vous voyez les GIs libérateurs qui allument joyeusement les toits des paillottes d’un petit village devant les femmes qui pleurent, les vieux qui baissent la tête, les enfants qui hurlent ? Où est la loi lorsque les soldats Sud-Coréens ont pénétré dans le village où je bivais le thé offert par une famille de paysans et où ils ont violé une jeune fille pendant que deux d’entre eux montaient la garde, prêts à tirer , au seuil de la hutte ? Des scènes comme celles là je les ai photographiées, gravées dans mes yeux, dans ma mémoire de jeune enseignant républicain et civilisé. Pas de loi monsieur ! Sauf celle du M16, des B52, du Napalm, des rafles et de la torture.

J’ai vite compris que la seule loi qui était possible pour le jeune homme civilisé que j’étais ,c’était celle de la lutte pour arrêter tout ça. Mon acte, absolument indépendant, non violent et accusateur n’a été dicté que par une loi : celle de ma conscience. Car, si je n’avais rien fait, elle ne m’aurait jamais laissé en paix.

Et, si vous parlez de responsabilité permettez-moi de vous interroger. Vous sentez-vous vous-mêmes personnellement responsables des atrocités commises par les tortionnaires des prisons de VNCH, des Gis américains à My Lai ? Pensez-vous que continuer sur cette voie aurait pu arrêter la guerre, après cent ans de barbaries coloniales françaises, après les massacres de Ngo Dinh Diem, la destruction des forêts, la pollution chimique des fleuves ? Jamais ! la guerre aurait continué, indéfiniment car le peuple du Vietnam est un peuple fier qui n’aurait accepté de tutelle étrangère. Et les frères, les cousins, les beaux frères auraient continué à s’entretuer. Alors, si vous me posez la question de la responsabilité, je dis oui, je suis en partie responsable d’avoir mis fin à cela. J’espère avoir répondu à vos questions.

Bien à vous.

Bản dịch của thành viên hdat:

Thưa ông, tôi thực muốn chúng ta nói chuyện vê ngư dân và các biện pháp làm thế nào để giúp đỡ họ. Nhưng tôi không bỏ qua những lời cáo buộc của ông. Tôi nhận ra những lời nói tuyên truyền của chế độ Sài Gòn, mà tôi đã nghe trong thời thanh niên từ quân đội và cảnh sát, và tôi đã chiến đấu chống lại họ trong hai năm ở Đà Nẵng và Sài Gòn. Tôi cũng nhận ra những lời nói của các vị thẩm phán trong tòa án quân sự ở vùng 3 chiến thuật khi tuyên án tôi vào năm 1971 … Điều này làm tôi trẻ lại. Và nó cũng làm tôi nổi da gà.

Nếu ông muốn nói về một chế độ nhà tù tàn ác, nơi những kẻ tra tấn, côn đồ, kẻ hiếp dâm, giết người, ma cô áp dụng những luật riêng của chúng lên trên các tù nhân chính trị. Nếu ông muốn nói về sự đánh đập hàng ngày, trẻ em bị bỏ tù vì lý do chính trị, phụ nữ sinh con trong tù, vv … vv.. … tôi mời ông đọc cuốn sách tôi đã viết trong 11 ngày và đêm sau khi tôi rời khám Chí Hòa. Tất cả các điều này tôi đã thấy, đã sống và đôi khi phải chịu đựng. Đấy là tôi còn không trải qua Côn Đảo và Phú Quốc, nơi mà nhiều người nói là địa ngục trên trần gian. Ông có biết, ngày nay có người nói về Côn Đảo ra sao ? Côn Đảo: 23 000 dân và 3 000 cử tri. Lý do: 20000 mãi mãi nằm trong nghĩa trang An Dương. Một người bạn cũ của tôi ở Đà Nẵng Phan Văn Ba đã chết vào tháng Tám vừa qua. Ông ta đã mất 17 năm của cuộc đời trong nhà tù này, trong đó có 10 năm trong chuồng cọp! Tôi có gặp một lần duy nhất nhiều tù binh Bắc Việt trước khi họ được đưa ra Phú Quốc. Tất cả bạn bè của tôi, những tù nhân chính trị hoặc quân nhân, sinh viên, giáo viên, luật sư, du kích đều là người Nam. Phần lớn là người Sài Gòn.

Không thưa ông, xin vui lòng không so sánh những gì không thể so sánh. Không nên trộn lẫn tất cả. Một trong những ngườc gác tôi, ông ta như là một con thú hoang lấy đau khổ của người khác làm niềm vui. Có người không xứng đáng để sống mà họ vẫn sống sót. Một trong những người gác tù Côn Đảo vẫn sống hiện nay trên đảo cùng với con cháu. Ông ta là một trong những kẻ tra tấn tàn ác nhất trong nhà tù “Cây Dừa” tại Phú Quốc. Ông ta hiện đang sống tại Tiền Giang, cùng với gia đình của mình …

Tôi nghĩ rằng nên có cách nhìn hai chiều. Cũng như, khi tôi không thể chấp nhận rằng nhiều người, các viên chức, binh lính bị giam giữ sau năm 1975 ở các trại cải tạo trong nhiều tháng và năm và một số đã chết ở đó, thì tôi cũng không thể chấp nhận rằng ông so sánh tình hình của họ với các tù nhân chính trị của chế độ Sài Gòn. Nếu ông làm điều đó thì chứng tỏ ông không có thiện ý.

Khi ông buộc tội tôi vi phạm luật pháp của VNCH, xin lỗi tôi nói thẳng, đó là luật pháp gì ? ở làng Nam Co, khi đi xe máy qua người ta thấy bên lề đường một xác chết giữa một đám ruồi, bụng bị rạch bởi dao , ruột phơi ra và một điếu thuốc được gắn trên miệng. Xác người nông dân trẻ được trưng bày để khủng bố những người khác ? Pháp luật ở đâu khi ông nhìn thấy những lính giải phóng GI có bộ mặt rạng rỡ lúc châm lửa lên những mái nhà tranh trong một ngôi làng nhỏ trước phụ nữ đang khóc, người già cúi đầu, trẻ con la hét ? Pháp luật ở đâu khi các binh lính Hàn Quốc vào làng, nơi tôi được mời uống trà trong một gia đình nông dân và họ đã cưỡng hiếp một cô gái trong khi hai trong số đó đứng canh gác, sẵn sàng để bắn vào cửa những túp lều? Những cảnh như thế này tôi đã chụp ảnh, đã khắc sâu trong tâm trí của tôi, trong bộ nhớ của một giáo viên trẻ đến từ một đất nước có nền Cộng hòa và đã được xã hội hóa. Không có pháp luật thưa ông! Ngoại trừ luật của M16, B52, Napalm, của các cuộc tấn công và các cuộc tra tấn.

Tôi sớm nhận ra rằng luật duy nhất cho một người trẻ như tôi đã quen với một xã hội phát triển là theo đuổi cuộc chiến để ngăn chặn tất cả những điểu kể trên. Hành động của tôi, hoàn toàn độc lập, bất bạo động đã được quyết định bởi một luật, đó là lương tâm của tôi. Vì nếu tôi không làm gì, cái luật này sẽ chẳng để tôi yên.

Nhân ông nói về trách nhiệm pháp lý, xin cho tôi hỏi ông. Ông có cảm thấy bản thân cá nhân chịu trách nhiệm về tội ác của những kẻ tra tấn trong nhà tù của VNCH, của người lính Mỹ ở Mỹ Lai? Ông có nghĩ rằng tiếp tục con đường này sẽ dẫn đến kết thúc chiến tranh, sau một trăm năm nô lệ dã man với thực dân Pháp, sau các vụ thảm sát của Ngô Đình Diệm, phá rừng, làm ô nhiễm hóa học các con sông? Không bao giờ! Chiến tranh sẽ tiếp tục mãi mãi vì Việt Nam là một dân tộc tự hào và sẽ không chấp nhận bất cứ sự giám hộ nào của nước ngoài. Rồi anh em, họ hàng sẽ tiếp tục giết nhau. Vì vậy, nếu ông hỏi tôi câu hỏi về trách nhiệm, tôi nói có, tôi có một phần trách nhiệm chấm dứt những điều đó. Tôi hy vọng đã trả lời câu hỏi của ông.

Chúc ông tốt lành.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 3)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Phần Giới thiệuPhần 1Phần 2

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

Kính chào ông Andre Menras ,

Đầu tiên xin gửi đến ông lời cám ơn về công khó của ông khi thực hiện cuốn phim Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát , vì nó giúp cho nhiều người trong đó có tôi hiểu rõ thêm về hoàn cảnh khó khăn và cuộc sống đau buồn của ngư dân biển VN bị Trung Cộng bắt bớ, giết hại . Thứ hai kính chúc ông và gia đình một Năm Mới an lành và hạnh phúc .

Tôi xin được hỏi ông 4 câu hỏi sau :

1- Nguyên do nào , động lực nào thúc đẩy ông thực hiện đoạn phim tài liệu này ? Ông mong rằng nó sẽ đem lại được hiệu quả nào nếu nó được trình chiếu rộng rãi tại VN ?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je vais essayer de répondre à ces deux questions dans une même réponse.

Il y de cela 7 ans environ, en lisant le journal Thanh Nien à Nha Trang, j’ai lu la nouvelle de pêcheurs du Quang Ngai arrêtés et capturés par les Chinois (« tau la ») dans les eaux proches de Hoang Sa. J’ai posé des questions à mes amis anciens prisonniers politiques sous l’ancien régime et j’ai vu qu’ils étaient gênés pour me répondre.

Certainement, ils ne voulaient pas me faire de peine ou me mettre en colère, car ils connaissent bien mon caractère. Ces silences embarrassés ont aiguisés ma curiosité et j’ai senti, comme un enfant auquel les adultes cachent des choses interdites, qu’il fallait que je les découvre. A cette époque, je ne lisais pas les pages d’internet. Je me suis donc mis à poser des questions autour de moi, aux gens de la rue : aux vendeurs de journaux, cyclos, vendeuses de soupe, collègues enseignants…partout, j’ai rencontré de la gêne à parler de cela, de la tristesse, et j’ai compris que la discussion sur ce sujet n’était pas encouragée par les autorités. Par contre, j’ai aussi constaté que les gens savaient, sans connaître les détails, que les pêcheurs du Centre Vietnam souffraient des agressions de la Marine de guerre chinoise. Alors, j’ai poussé mes recherches plus avant : lecture de documents historiques sur les questions de souveraineté, lecture de documents juridiques, observation plus attentive et plus suivie de l’actualité. Des nouvelles perçaient de temps en temps dans les journaux concernant les pêcheurs et les protestations du porte –parole du Ministère des affaires étrangères du Vietnam étaient publiées dans la presse. Mais on ne parlait pas du tout ou rarement de la situation concrète des pêcheurs et de leurs familles. Au cours des dernières années, la situation s’est aggravée. Les autorités chinoises ont multiplié les agressions, ont accru leur violence et leur présence illégale dans zone maritime sous souveraineté vietnamienne…La presse vietnamienne a pu donner certaines informations, mais a été généralement réduite au silence quant aux commentaires. Des journalistes honnêtes et patriotes ont payé cher leur courage. Des bloggers aussi. Je me suis mis à internet et à lire des pages « xau », des blogs, et j’ai fait le tri des informations, des commentaires. J’ai compris que ce problème qui était d’abord une question humaine concernant la protection des travailleurs de la mer exerçant paisiblement leur métier dans une zone sous la souveraineté de leur Etat, devenait une question de liberté d’information, de liberté d’expression, bref : de démocratie. D’un autre côté, j’ai aussi bien mesuré que la première protection des pêcheurs et de leurs familles devait venir de leur propre peuple, de la solidarité de tout le peuple vietnamien. Sans elle, pas question d’appeler avec succès la solidarité internationale pour mettre pacifiquement un coup d’arrêt aux agressions chinoises et à leur appétit expansionniste. Or, cette solidarité populaire au Vietnam était strictement, quelquefois violemment empêchée par la rétention des informations imposée par le pouvoir. C’était un peu comme si dans une famille le voisin pénètre chez vous, vient étrangler vos enfants et si vous, le père de famille, leur interdisez de crier de peur qu’il ne casse les vases et brise le mobilier. Tous les arguments que certains de mes amis proches du pouvoir pouvaient me donner sur cette question « nhay cam », sur les négociations en cours qu’il ne fallait pas gêner, sur la puissance de guerre de l’armée chinoise, sur ses représailles économiques certaines qu’elle pouvait exercer, sur le nécessaire « cong hien » à payer à Pékin pour avoir droit à la paix…Aucun de ces arguments ne m’a convaincu. Au contraire, même quand ils étaient avancés par des dirigeants vietnamiens honnêtes et sincèrement patriotes, j’ai toujours considéré ces arguments comme des jugements à courte vue. D’abord, car, ils ne tenaient jamais compte du fait que les dirigeants chinois avaient nécessairement besoin de la paix et d’une bonne image pour continuer leur essor économique, garant de calme et de stabilité politique à l’intérieur de leur propre pays. Ils ne pouvaient pas se payer le faux pas d’une guerre dangereuse pour eux, avec un pays dont le peuple a montré qu’il peut et sait se battre patriotiquement contre des forces étrangères apparemment de beaucoup supérieures aux siennes. Je ne serai jamais un va-t- en guerre : pour avoir connu la guerre et ses horreurs, sachant que ce sont toujours les plus pauvres qui en endurent les plus terribles conséquences, je suis un homme de paix. Et je pense que se mobiliser pour dénoncer le plus fort possible les actes d’agression de Pékin, loin d’être un acte de guerre qui selon certains « jette de l’huile sur le feu », est, au contraire un acte fondamentalement pacifique. A condition que cette mobilisation soit ferme et très large, en un mot : populaire. Et cela passe par l’information concrète, totale et sans censure de la réalité vécue par les pêcheurs.

Je n‘ai jamais non plus accepté une analyse dont la conclusion est : la négociation avec la Chine n’est pas l’affaire du peuple dans son ensemble, c’est celle du Parti (et quand je dis Parti ici, je veux dire un petit nombre de dirigeants qui « négocient » sans contrôle aucun avec un petit nombre de dirigeants chinois). La terre et la mer du Vietnam sont l’affaire de chaque Vietnamien et de tous les Vietnamiens ! Comme le sort de nos compatriotes pêcheurs est l’affaire de chaque citoyen du Vietnam. Tous doivent connaître dans le détail leur situation, les entendre raconter leur vie et leurs difficultés quotidiennes pour que tous soient mobilisés pour aider, pour protéger, pour faire face au danger commun. Interdire les informations à ce sujet, c’est affaiblir le Vietnam qui a toujours tiré l’essentiel de sa force de son propre peuple.

J’ai aussi découvert que d’un côté, la Chine, à partir d’un système politique, administratif, juridique et militaire solidement construit, employait des moyens de propagande énormes auprès de son peuple et à l’étranger pour tromper l’opinion et isoler le Vietnam alors que les dirigeants vietnamiens ne créaient même pas les conditions de faire connaître à l’intérieur de leur propre pays les arguments historiques et juridiques qui justifient ses revendications souveraines pour Hoang Sa et Truong Sa. Pas de programme réel et solide dans les écoles pour que les jeunes apprennent à connaître l’histoire, la géographie de ces archipels qui appartiennent à la patrie. La plupart des étudiants de Ly Son que j’ai rencontrés ne connaissent même pas la situation et le nom des îles de l’archipel Hoang Sa où leur père, leurs oncles et leurs grands frères vont pêcher ! Seuls des efforts sérieux sont faits dans ce sens à Da Nang, et , à un degré moindre, à Quang Ngai. Il faut en féliciter les dirigeants locaux. Il n’y a pas encore de loi sur la mer présentée et votée par l’assemblée nationale…Bref, plus je me passionnais pour cette question, plus je mesurais son importance et plus je découvrais qu’en procédant si timidement, le Vietnam ne pourrait jamais gagner la dure bataille qui l’oppose à l’expansionnisme de Pékin, que les îles avaient déjà été volées et que la mer allait aussi devenir celle des pêcheurs chinois. Alors j’ai écrit de nombreux articles, certains ironiques, d’autres amers et même accusateurs. Mais si écrire des articles, rechercher des documents est très important, cela ne suffit pas. Il faut agir concrètement. C’est ce qui m’a décidé à me rendre à Ly Son, à Binh Chau, principales bases de départ des chalutiers pour Hoang Sa, afin de rencontrer les pêcheurs, voir comment ils vivaient et dans quelles conditions ils devaient travailler. J’avais déjà à ce moment là ma nationalité vietnamienne et ma CMND. J’avais donc le droit de me rendre sur l’île, sans formalité particulière. Je l’ai fait, en bénéficiant partout où j’allais de la bienveillante attention des différents services de sécurité qui me suivaient attentivement, sans doute pour me « protéger » des méchants pêcheurs…J’ai tout de suite senti que, malgré le respect extérieur que les autorités me témoignaient, j’étais un personnage gênant, voire suspect. J’avais décidé d’aller pêcher dans la zone de Hoang Sa comme membre de l’équipage d’un chalutier pour réaliser un reportage sur les conditions de vie de ces pêcheurs en haute mer, près des îles. Ma santé physique et mon expérience de la mer me le permettaient. J’ai donc trouvé un patron pêcheur qui a accepté de m’emmener à condition que je paie les frais. Mais quand nous sommes tous les deux allés à Quang Ngai au centre provincial des « Bien Phong » pour m’inscrire sur le registre des pêches, personne n’a voulu me recevoir. Par la suite, mon ami pêcheur, très embarrassé, est venu me rendre mon argent disant que sa femme n’était pas d’accord. Pauvre homme ! J’ai bien compris qu’il s’était mis en danger. J’ai écrit un long article sur cette histoire qui a été publié par Bauxite Vietnam : « Hoang Sa : sep di vang ! ». Je suis revenu plusieurs fois (5 fois en tout) à Binh Chau et Ly Son. J’ai dormi et mangé chez les pêcheurs, posé et tiré les filets avec eux. Je n’ai jamais pu réaliser mon souhait parce que les « an ninh » ou « cong an » ou « bien phong », sans jamais m’interdire quoi que ce soit, ont fait pression dans mon dos sur les pêcheurs pour faire échouer mon projet. A partir de là, suite à une rencontre que j’ai sollicitée avec M. Nguyen Minh Triet, alors président de la République en exercice, est née l’idée du film « Hoang sa Vietnam : Noi Dau Mat mat ».

Bản dịch của thành viên hdat:

Tôi sẽ cố gắng trả lời hai câu hỏi cùng lúc.

Cách đây khoảng 7 năm, khi đọc tờ báo Thanh Niên tại Nha Trang, tôi thấy ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc (“tàu lạ”) bắt trong hải phận gần Hoàng Sa và đưa đi. Tôi hỏi một số bạn, các cựu tù nhân chính trị dưới chế độ cũ và thấy họ gặp khó khăn khi trả lời. Chắc chắn, họ không muốn làm tổn thương tôi hay làm cho tôi tức giận, vì họ biết tính cách của tôi. Nhưng, sự im lặng càng làm tôi tò mò và tôi cảm thấy họ coi mình như một đứa trẻ mà họ là người lớn muốn che giấu những điều cấm kỵ, và tôi muốn khám phá ra nó. Vào thời điểm đó, tôi không đọc các trang mạng Internet. Vì vậy, tôi bắt đầu đặt câu hỏi xung quanh tôi, những người gặp ngoài đường như : người bán báo, người đạp xích lô, người bán phở, đồng nghiệp dạy học, …. nghĩa là khắp nơi, họ tuy đều buồn nhưng đều không dám nói. Tôi hiểu rằng các cuộc nói chuyện về vấn đề không được chính quyền khuyến khích. Ngược lại, tôi phải công nhận rằng người dân đều biết tuy không chính xác rằng ngư dân ở miền Trung bị Hải quân Trung Quốc tấn công. Vì vậy, tôi tiếp tục tìm kiếm sâu hơn: đọc các tài liệu lịch sử về vấn đề chủ quyền, đọc các văn bản pháp lý, tập trung chú ý hơn và theo sát các tin tức. Thỉnh thoảng cũng có các tin tức trên báo mà phải để ý mới thấy nói về ngư dân và phản ứng của phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Nhưng họ chẳng nói hay gần như không nói về tình hình thực tế của ngư dân và gia đình họ. Trong những năm cuối, tình trạng trở nên tồi tệ hơn. Chính quyền Trung Quốc tăng cường các cuộc tấn công, với bạo lực gia tăng lên cũng như sự hiện diện bất hợp pháp trong hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam …

Báo chí Việt Nam chỉ cung cấp một vài thông tin nhất định và nhìn chung im lặng, đặc biệt về bình luận. Những nhà báo trung thực và yêu nước đã trả giá đắt cho sự can đảm của họ. Bloggers cũng vậy. Tôi bắt đầu đọc các trang mạng “xấu”, blog, và tôi đã sắp xếp thông tin, bình luận. Và tôi nhận ra rằng vấn đề này lúc đầu chỉ là một vấn đề đời sống liên quan đến việc bảo vệ những người dân hành nghề trên biển một cách hòa bình trong một khu vực thuộc chủ quyền của một đất nước, đã trở thành một vấn đề về tự do thông tin, tự do phát biểu, hay nói ngắn gọn : vấn đề dân chủ. Mặt khác, tôi đo lường được rằng bảo vệ ngư dân và gia đình họ là vấn đề của chính họ, và chỉ có nhờ vào sự đoàn kết của tất cả người dân Việt Nam. Nếu không có nó, thì cũng chẳng mong gì kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế để ngăn chặn một cách bất bạo động các cuộc tấn công của Trung Quốc, bọn bành trướng lòng tham không đáy. Nhưng tình đùm bọc vẫn có giữa những người Việt Nam lại bị hạn chế, đôi khi còn bị ngăn cản vì các tin tức không được phổ biến bởi ngay chính quyền. Nó cũng như một người hàng xóm xâm nhập vào nhà của mình rồi xiết cổ trẻ con, mà người cha cấm chúng không được kêu cứu vì sợ kẻ kia làm vỡ bình hoa hay làm bể đồ đạc. Nhiều bạn bè tôi làm việc cho chính quyền đã đưa ra những lý lẽ về vấn đề “nhạy cảm” rằng nó đang được đàm phán và không nên làm ảnh hưởng, về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, về khả năng trả thù về kinh tế, về sự cần thiết của “cống hiến” đối với Bắc Kinh để được bình yên, … Chẳng có cái nào có thể thuyết phục được tôi. Ngược lại, ngay cả những lý do đó được đưa ra bởi các lãnh đạo Việt Nam yêu nước một cách trung thực và chân thành, thì tôi cũng coi chúng là là những quyết định thiển cận. Thứ nhất, bởi vì, họ không muốn thấy rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc rất cần một sự yên tĩnh nhằm tạo ra hình ảnh tốt để tiếp tục tăng trưởng kinh tế của họ, đảm bảo tính ổn định chính trị ngay trong đất nước của họ . Họ không thể không tính đến giá phải trả cho một cuộc chiến tranh nguy hiểm đối với một quốc gia mà ai cũng biết rằng người dân nước đó có thể chiến đấu chống lại các quân đội nước ngoài rõ ràng mạnh hơn họ rất nhiều. Tôi sẽ chẳng bao giờ là người hiếu chiến vì tôi đã biết thế nào là chiến tranh và những hình ảnh kinh hoàng của nó. Tôi cũng biết rằng, những người nghèo nhất luôn là những người gánh chịu hậu quả khủng khiếp nhất. Tôi là một người của hòa bình. Và tôi nghĩ rằng biểu tình tố cáo hành vi xâm lược ở Bắc Kinh, dù mạnh nhất, chẳng những còn xa là một hành động chiến tranh theo một số người nói “đổ thêm dầu vào lửa”, mà thực ra là một hành động cơ bản cho hòa bình. Với điều kiện là những cuộc biểu dương như vậy phải kiên quyết và rộng rãi, hay nói cách khác là có tính quần chúng. Và điều này đòi hỏi thông tin cụ thể, đầy đủ và không bị cắt xén về sự thực của ngư dân.

Tôi cũng không bao giờ chấp nhận lập luận với kết luận: đàm phán với Trung Quốc không phải là vấn đề của người dân nói chung mà chỉ là của Đảng (khi tôi nói Đảng ở đây, thực ra chỉ là một số ít các nhà lãnh đạo những người đàm phán mà không có sự kiểm soát cũng như với một số ít nhà lãnh đạo Trung Quốc). Đất và biển của Việt Nam là vấn đề của mỗi cũng như của mọi người Việt Nam! Cũng như vậy, số phận của ngư dân, đồng bào chúng ta, thuộc về trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam. Tất cả đều phải biết mọi chi tiết về tình trạng của ngư dân, lắng nghe họ nói về cuộc sống vật lộn hàng ngày mà có thể huy động để chẳng những giúp đỡ, bảo vệ họ, mà còn chống lại mối nguy hiểm chung. Việc cấm thông tin về vấn đề này chỉ làm cho Việt Nam yếu đi, một đất nước vẫn có được sức mạnh nhờ tất cả đồng lòng.

Mặt khác qua đó, tôi cũng khám phá ra rằng, Trung Quốc, từ một hệ thống chính trị, hành chính, pháp lý và quân sự được xây dựng vững chắc, lại sử dụng các phương tiện tuyên truyền mạnh mẽ chẳng những trong nước mà còn cả với quốc tế để lừa dối dư luận và cô lập Việt Nam trong khi các nhà lãnh đạo Việt Nam lại không tạo ra các điều kiện để thông báo ngay trong đất nước của mình các tài liệu lịch sử và pháp lý để chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Không có chương trình nào vững chắn và thực tế trong nhà tường dạy giới trẻ tìm hiểu về địa lý, lịch sử của các quần đảo, một phần của Tổ quốc. Hầu hết các sinh viên mà tôi đã gặp tại Lý Sơn thậm chí không biết tình hình và tên của các hòn đảo của Hoàng Sa, nơi mà cha, chú bác và anh em họ đi đánh cá! Chỉ ở Đà Nẵng người ta mới cố gắng quan tâm đến vấn đề này, và ở Quảng Ngãi với một mức độ thấp hơn. Chúng ta phải chúc mừng các nhà lãnh đạo địa phương này. Hiện vẫn chưa có luật biển được đệ trình lên quốc hội … Tóm lại, tôi càng thích thú đến vấn đề này, tôi càng thấy tầm quan trọng của nó và tôi còn phát hiện ra rằng với những hiểu biết của mình còn ít ỏi thì Việt Nam không bao giờ có thể giành chiến thắng trong trận chiến cuối cùng chống bọn bành trướng Bắc Kinh, rằng các đảo đã bị đánh chiếm và hải phận cũng sẽ thuộc về sở hữu thực sự của ngư dân Trung Quốc. Vì vậy, tôi đã viết nhiều bài viết, một số với mỉa mai, với cay đắng và thậm chí cả với những lời buộc tội. Nhưng nếu chỉ viết bài, chỉ tìm tài liệu tuy là rất quan trọng, thì cũng không đủ. Chúng ta phải có hành động cụ thể. Đó là những gì thúc đẩy tôi quyết định đi đến Lý Sơn, đến Bình Châu, nơi các tàu thuyền đánh cá xuất phát đi ra Hoàng Sa, để gặp gỡ ngư dân, xem sống ra sao và làm việc trong điều kiện nào. Tôi đi vào thời điểm mà tôi đã có quốc tịch Việt Nam, có thẻ CMND (chứng minh nhân dân). Nhờ vậy, tôi có quyền đến các đảo mà không cần bất kỳ thủ tục đặc biệt. Tôi đã đi nhiều nơi như vậy, và chỗ nào cũng được hưởng sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan an ninh đi theo chắc để “bảo vệ” tôi trước những ngư dân xấu bụng … Ngay lập tức, tôi cảm thấy rằng, mặc dù chính quyền tỏ ra tôn trọng tôi bề ngoài, nhưng thực ra đối với họ tôi chỉ là kẻ gây phiền nhiễu , một kẻ đáng nghi ngờ. Tôi quyết định xuống một tàu đánh cá ra khu vực Hoàng Sa như một ngư dân để làm một phóng sự về cuộc sống của các ngư dân trên biển cạnh các hòn đảo. Sức khỏe và kinh nghiệm về biển cho phép tôi làm được điều đó. Tôi tìm được một chủ thuyền đồng ý cho tôi đi cùng với điều kiện phải trả lệ phí. Nhưng khi hai chúng tôi đã đến Quảng Ngãi, trạm “Biên phòng” của tỉnh để ghi danh vào sổ đăng ký ngư dân, không ai muốn tiếp tôi. Sau đó, chủ thuyền với bộ mặt ngượng nghịu đến trả lại tiền tôi và nói rằng vợ ông ta không đồng ý. Tội nghiệp ông ấy! Tôi hiểu rằng ông đã tự tạo ra nguy hiểm cho bản thân. Tôi đã viết một bài viết dài kể về câu chuyện này và nó đã được đăng trên Bauxite Việt Nam, “Hoàng Sa: sếp đi vắng! “. Tôi đã quay lại Bình Châu Lý Sơn nhiều lần (5 tất cả). Tôi ngủ và ăn ở các nhà ngư dân, kéo và xếp lưới với họ. Tôi không thể thực hiện những gì tôi muốn vì luôn có “an ninh”, “công an” hay “biên phòng” tuy không cấm tôi, nhưng sau lưng tôi họ làm sức ép lên các ngư dân để làm hỏng dự định của tôi. Từ những sự việc này, và sau một cuộc gặp gỡ theo đề nghị của tôi với ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước lúc đó, tôi có ý tưởng làm bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát”.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

2- Ông có nghĩ là nhà nước VN sẽ cấm chiếu không , hay ông thực sự ngạc nhiên vì sự cấm đoán này ? Ông có dự định sẽ vận động hay đấu tranh như thế nào để nó được trình chiếu rộng rãi tại VN không ? Hay ông chấp nhận sự cấm đoán này và chỉ tìm cách phổ biến nó ở hải ngoại thôi ?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’ai été étonné de cette interdiction que je trouve violente, insultante pour moi et mes amis patriotes présents ce soir là, injuste pour les pêcheurs, très négative pour l’image du pouvoir et des forces de police au Vietnam et à l’étranger et enfin totalement contre- productive car elle a fait grimper en flèche le nombre de visiteurs du Film sur Youtube, provoqué la réaction de l’AFP et d’un bon nombre de journaux et revues étrangères. En un mot, je la qualifierai de brutalement imbécile. A moins que ce ne soit un stratagème pour faire au film une énorme publicité que nous n’aurions pas eu les moyens de lui offrir, car ce soir- là à Saigon, seulement une centaine d’amis devaient assister à sa projection privée. Si c’était là le but publicitaire visé, je dois remercier les cong an et ceux qui ont commandé leur intervention.
Mon but n’a jamais été de partir en guerre contre les autorités Saïgonnaises ni contre ceux qui ont donné cet ordre d’interdiction. Mon but aujourd’hui n’est pas de leur faire un procès. J’ai dit et écrit ce que j’en pensais. Je le maintiens et je laisse aux responsables toute la responsabilité de leur décision. Mais, ce que je puis affirmer, c’est qu’ils vont tout droit dans le mur car plus ont interdit et plus on pousse les gens à lutter contre l’interdit, surtout s’il est injuste. Si les censeurs avaient pu prouver que ce film est un film de propagande contre le régime, s’ils avaient pu montrer qu’il fait du mal aux pêcheurs, s’ils avaient pu trouver dans ce film des propos insultants pour la Chine ou le peuple chinois, s’ils avaient pu y trouver des informations fausses, alors , ils auraient eu des raisons d’interdire sa projection. Mais il n’y a rien de tout cela. Et, en admettant que je n’ai pas demandé l’autorisation de projection (privée) selon la loi vietnamienne, ils auraient pu me guider pour en faire les démarches s’ils avaient vraiment voulu que le film soit projeté. Visiblement ils ne le voulaient pas ! La question que je me pose est « ils » c’est qui ? A qui profite le fait que ce film soit interdit de projection au Vietnam ? J’ai un élément de réponse qui est : aux dirigeants de Pékin. Mais la réponse est-elle si simple ? L’interdiction ne profite-t-elle pas à d’autres qui sont, eux, Vietnamiens ? L’Histoire finira bien par nous le dire. Quoi qu’il en soit, pour un Vietnamien digne de ce nom l’interdiction et son procédé est inacceptable. Et je suis absolument sûr qu’un jour ce film documentaire sera projeté au Vietnam où il a déjà beaucoup été vu par internet. En attendant, je ferai tout pour qu’il soit le plus largement vu à l’Etranger.

Bản dịch của thành viên hdat:

Tôi ngạc nhiên với lệnh cấm và thấy nó thật quá đáng, nó xúc phạm đến tôi và cả những người bạn yêu nước đêm đó, nó không công bằng cho ngư dân, nó tạo hình ảnh tiêu cực cho chính quyền và công an chẳng những ở Việt Nam và ở cả nước ngoài và cuối cùng nó hoàn toàn phản tác dụng bởi vì nó làm tăng số lượng người truy cập trên YouTube, gây nên phản ứng của AFP, một số tờ báo và tạp chí nước ngoài. Hay nói gọn là ngu ngốc và tàn nhẫn. Trừ khi đây là một mưu đồ để quảng cáo cho bộ phim để nhiều người xem, vì chúng tôi không có khả năng thực hiện. Đêm đó ở Sài Gòn, chỉ khoảng trăm bạn bè đã đến tham dự buổi chiếu tư nhân. Nếu đây là mục đích quảng cáo, thì tôi phải cảm ơn công an và những người lên án lệnh cấm.

Mục tiêu của tôi là không bao giờ phát động một cuộc chiến chống lại chính quyền thành phố Sài Gòn hay chống lại những người ra lệnh cấm. Mục tiêu của tôi ngày nay không phải là kiện họ ra toà. Tôi nói và viết những gì tôi nghĩ. Tôi vẫn bảo vệ quan điểm của mình và để cho những người đó chịu trách nhiệm cho hành động của họ. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng họ đang lao thẳng đầu vào tường . Họ càng cấm, họ càng đẩy con người chống lại các lệnh cấm, đặc biệt khi chúng phi nghĩa. Nếu người kiểm duyệt có thể chứng minh rằng bộ phim này là một bộ phim tuyên truyền chống chế độ, nếu họ có thể cho thấy rằng nó làm tổn thương các ngư dân, nếu họ có thể tìm thấy trong bộ phim này những gì xúc phạm đến Trung Quốc, đến người Trung Quốc, nếu họ có thể tìm thấy các thông tin sai lệch, thì họ mới có lý do để cấm chiếu nó. Nhưng họ chẳng tìm ra được bất cứ lý do gì. Và, giả sử tôi đã không có giấy phép chiếu (tư nhân) theo pháp luật Việt Nam, họ có thể hướng dẫn cho tôi làm các thủ tục nếu họ thực sự muốn bộ phim được chiếu. Có thể thấy rằng họ không muốn! Tôi tự hỏi mình “họ” là ai? Ai được lợi khi bộ phim bị cấm chiếu ở Việt Nam? Tôi có một câu trả lời đó là: các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh. Nhưng câu trả lời chẳng nhẽ đơn giản như vậy ư? Hay lệnh cấm lại làm lợi cho chẳng ai khác ngoài chính những người Việt Nam ? Lịch sử sẽ cho chúng ta biết câu trả lời cuối cùng. Dù sao, đối với một người xứng đáng với danh Việt Nam, thì lệnh cấm và những hành động lúc đó là không thể chấp nhận được. Và tôi hoàn toàn chắc chắn rằng một ngày nào đó bộ phim tài liệu này sẽ được trình chiếu chính thức tại Việt Nam, ngay cả khi nó đã được coi nhiều trên mạng. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ làm mọi thứ để cho nó chiếu rộng rãi nhất ở nước ngoài.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

3- Tiền từ thiện thâu được từ việc trình chiêu cuốn phim này sẽ do ai bảo quản và sẽ được sử dụng như thế nào ? Nếu được dùng để giúp đỡ những ngư dân được phỏng vấn trong phim thì ông sẽ làm gì để bảo đảm tiền đến được tận tay họ mà không bị ăn chặn?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

L’association dont je suis président, l’ADEP France Vietnam ( Hoi huu nghi phat trien tra doi su pham Phap Viet) a déjà engagé depuis plus d’un an un programme d’aide aux veuves et aux orphelins des pêcheurs. Pour l’achat de produits de première nécessité, aliments , médicaments, pour des bourses d’études annuelles. En mai dernier j’ai pu aider 6 veuves de pêcheurs récemment disparus disparus et le Loup de mer Mai Phung Luu (22trieu VND). En novembre, j’ai pu encore leur transmettre 66 trieu VND). Nous avons déjà réuni une nouvelle somme s’élevant à 70 trieu dongs. Et j’espère bien que chaque projection du film s’accompagnera d’une collecte importante. Ainsi nous aiderons efficacement les familles qui en ont le plus besoin. Cette aide va être clairement consignée dans la page Web de l’association www.adepfrancevietnam.fr email : adep@adepfrancevietnam.fr . Les sommes données, les noms des récipiendaires (avec les reçus signés et datés), les noms des donateurs (pour ceux qui le désirent) y seront clairement consignés. Enfin et surtout je dois dire que les autorités ne nous ont jamais fait de difficulté pour transmettre directement, sans aucun intermédiaires, les sommes que nous avons toujours données sur place. Je dois dire aussi que, grâce au film et aux lettres des enfants de pêcheurs, le grand quotidien Thanh Nien a publié une série de cinq articles et a appelé ses lecteurs à participer à une campagne de solidarité matérielle. Les lecteurs ont été très généreux. J’espère que cela ne fait que commencer.

Bản dịch của thành viên hdat:

Hiệp hội mà tôi làm chủ tịch, ADEP Pháp Việt Nam (Hội Hữu Nghị phát triển trao đổi sư phạm Pháp Việt) đã tham gia từ hơn 1 năm vào chương trình giúp những góa phụ và trẻ mồ côi của ngư dân để mua nhu yếu phẩm thiết yếu, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, học bổng hàng năm. Tháng Năm năm ngoái tôi đã giúp được 6 quả phụ của những ngư dân vừa mất tích và con sói biển Mai Phụng Lưu (22 triệu đồng). Tháng mười một, tôi cũng chuyển đến cho họ 66 triệu đồng. Chúng tôi vừa quyên góp được thêm 70 triệu đồng. Và tôi hy vọng sau mỗi buổi chiếu phim sẽ quyên góp được một số tiền lớn. Như vậy, chúng tôi có thể giúp một cách hiệu quả các gia đình, những người thật sự cần nó. Sự trợ giúp này sẽ được ghi rõ trong trang web của hiệp hội www.adepfrancevietnam.fr email: adep@adepfrancevietnam.fr. Số tiền quyên đóng góp, người thu nhận (biên nhận có chữ ký và ngày), tên của người giúp đỡ (cho những ai muốn) đều được ghi rõ ràng. Cuối cùng, tôi phải nói rằng chính quyền chưa bao giờ gây bất kỳ khó khăn khi chúng tôi giao quà trực tiếp, không qua trung gian. Chúng tôi đưa tiền ngay tại chỗ. Tôi cũng muốn nói rằng thông qua phim ảnh và các thư của con em ngư dân, tờ báo hàng ngày Thanh Niên xuất bản một loạt năm bài báo và kêu gọi độc giả tham gia chiến dịch giúp đỡ về vật chất. Độc giả đã rất hào phóng. Tôi hy vọng đây chỉ là khởi đầu.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

4- Trước kia ông tranh đấu chống lại chính phủ VNCH , cho rằng CS và Mặt trận giải phóng miền Nam sẽ đem lại độc lập tự do hạnh phúc thực sự cho người dân 2 miền Nam Bắc . Bây giờ sau 37 năm dưới sự cầm quyền của đảng CS , ông có suy nghĩ gì về đời sống của người dân VN ngày nay , so với trước năm 1975 ?

Thành thật cám ơn ông .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Comme je l’ai déjà dit et expliqué dans mes précédentes réponses on ne peut comparer la vie de la très grande majorité des Vietnamiens pendant la guerre avec la vie aujourd’hui. (Je n’ai connu que celle du Sud mais je pense qu’au Nord cela devait aussi être très dur).

Ce que l’on peut dire si on est honnête c’est que Vietnam en paix est incomparablement plus facile à vivre que l’enfer qu’il était avant 1975 et même immédiatement après, pour la majorité du peuple. Ce que je puis dire aussi c’est que le Vietnam se développe rapidement selon les critères officiels utilisés pour mesurer ce développement. Cependant, ces critères économiques, très généraux et facilement faussés, traduisent quelquefois très mal la réalité. Pour que ce développement soit solide et durable, le Vietnam doit relever nécessairement certains défis : réduire vraiment le fossé encore très grands entre les pauvres et les riches,(or , il semble s’aggraver), rétablir la justice sociale en instaurant un droit concret à l’école gratuite, à la santé et au logement pour les plus pauvres. C’est à ces premiers critères selon moi qu’on doit juger la force et la modernité d’une société. Le Vietnam doit aussi vaincre « l’ennemi intérieur » qui est la corruption, véritable gangrène qui pourrit le système de haut en bas. Et il faut commencer par le haut ! En même temps, le Vietnam doit garantir son indépendance si chèrement acquise par les générations précédentes : en protégeant ses terres, aux frontières et dans le pays ; en protégeant sa mer et ses îles ; en protégeant ses matières premières et en évitant de les brader à l’Etranger (bauxite des hauts plateaux, charbon et autres minerais, bois, vendus en contrebande à travers des frontières très perméables…). C’est aussi de cela que dépend l’avenir du pays. Le Vietnam doit protéger son environnement des pollutions industrielles sauvages qui prennent souvent racine dans la corruption et le profit immédiat de quelques uns. Tous ces défis ne peuvent être relevés que si la majorité du peuple participe activement à ces nouveaux combats. Et c’est là le plus grand défi que le Vietnam doit maintenant relever : le défi démocratique. Le mieux vivre durable et le bonheur sont à ce prix.

Bien sûr, par ces appréciations personnelles, je ne veux donner aucune leçon. Si on analyse bien l’actualité et les « affaires » malodorantes et choquantes qui surgissent de temps à autres à la surface des sociétés occidentales comme celle de la France et des USA par exemple, on voit bien que ces pays ont eux-aussi, des défis démocratiques à relever. Ne parlons pas de la société chinoise qui est l’anti-démocratie d’où l’humain est exclu. Ce que je veux dire simplement, pour répondre à votre dernière question, c’est qu’après les immenses sacrifices consentis par des générations pour avoir droit à une société civile, libre, où il fait bon vivre de son travail, après ce que le Vietnam a représenté d’espoir pour les jeunesses du Monde entier, nombreux sont les gens comme moi qui pensent que le peuple du Vietnam mérite mieux que ce qu’il a .

Je vous remercie de vos questions.

Bản dịch của thành viên hdat:

Như tôi đã nói và giải thích trong các câu trả lời trước đây, chúng ta không thể so sánh cuộc sống của đại đa số người Việt Nam trong chiến tranh với cuộc sống hôm nay. (Tôi chỉ biết miền Nam, nhưng tôi nghĩ miền Bắc cũng khó khăn như vậy).

Nếu chúng ta nói một cách trung thực, đa số người dân cho rằng ở Việt Nam trong hòa bình cuộc sống chắc chắn dễ dàng hơn là cuộc sống dưới địa ngục trước năm 1975 và thậm chí ngay sau khi đó. Tôi cũng có thể nói là Việt Nam đang phát triển nhanh chóng theo các tiêu chí chính thức được sử dụng để đo lường sự phát triển. Tuy nhiên, các chỉ tiêu kinh tế, rất chung chung và dễ dàng bị bóp méo, đôi khi thể hiện sai thực tế. Để phát triển chắc chắn và vững bền, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức nhất định : giảm khoảng cách vẫn còn rất lớn giữa người nghèo và người giàu (mà, điều này đang có vẻ tồi tệ hơn), khôi phục lại công bằng xã hội như học miễn phí, y tế và nhà ở cho người quá nghèo. Đây là tiêu chí, mà tôi nghĩ để đánh giá sức mạnh và hiện đại của một xã hội. Việt Nam cũng phải vượt qua những “nội thù” đó là tham nhũng, nó làm hư thối cả hệ thống từ trên xuống dưới. Và nó phải bắt đầu từ cấp trên! Đồng thời, Việt Nam cần đảm bảo vệ nền độc lập mà các thế hệ trước đã trả giá đắt để đạt được : bảo vệ đất, bảo vệ biên giới, bảo vệ hải phận và hải đảo, bảo vệ tài nguyên, tránh bán tháo chúng cho nước ngoài (bauxite Tây Nguyên, than và khoáng sản khác, gỗ,) …, hàng giả được chuyển dễ dàng qua biên giới. Tương lai đất nước phụ thuộc vào những điều này. Việt Nam phải bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm công nghiệp hoang dã thường bắt nguồn từ tham nhũng và lợi ích trực tiếp của một vài cá nhân. Tất cả những thách thức chỉ có thể được vượt qua nếu đa số người dân cùng tham gia vào cuộc chiến mới này. Và đây là thách thức lớn nhất mà Việt Nam hiện nay phải đối mặt: thách thức của dân chủ. Đó là cái giá trả cho một cuộc sống ổn định và hạnh phúc.

Tất nhiên, đây chỉ là những đánh giá cá nhân, tôi không muốn đưa ra bất kỳ bài học nào. Nếu chúng ta phân tích kỹ những tin tức, những “vụ việc” bốc mùi và gây sốc đôi khi xuất hiện ngay trong xã hội ví dụ như Pháp hay Mỹ chẳng hạn, thì rõ ràng là bản thân các nước này cũng có những thách thức dân chủ. Tất nhiên chẳng cần nói đến xã hội Trung Quốc là một chế độ phản dân chủ, nơi mà con người bị không có giá trị gì. Tôi muốn nói một cách đơn giản, trả lời cho câu hỏi cuối cùng của bạn là sau những hy sinh to lớn của nhiều thế hệ để đạt được một xã hội văn minh, tự do, nơi mà con người có thể sống nhờ công sức của mình, từ những gì mà Việt Nam đã đại diện cho hy vọng của thanh niên của thế giới, nhiều người như tôi nghĩ rằng dân tộc Việt Nam xứng đáng hơn những gì hiện tại.

Cám ơn các câu hỏi của bạn.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 4)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Đây là một bài phỏng vấn rất đáng đọc.  Các thành viên của diễn đàn X-cafevn đặt nhiều câu hỏi rất hay, và ông André Menras Hồ Cương Quyết trả lời các câu hỏi cũng rất thú vị. Khi trả lời, ông HCQ đã mô tả nhiều chi tiết về cuộc sống của người dân ở Quãng Ngải trong thời gian ông sống ở VN, bắt đầu từ những năm 1960s, 1970s…và thời gian sau năm 1975 và mấy năm qua.

“Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!””. 

Mời các bạn đọc thưởng thức.

André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe  (Phần 4)

Submitted by TongBienTap X-cafevn.org, on Tue, 02/07/2012 – 03:18

Phần Giới thiệuPhần 1Phần 2Phần 3

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên kiwinbanana hỏi:
Chào ông Hồ Cương Quyết,

Cám ơn ông đã bỏ thời gian trò chuyện với chúng tôi. Tôi xin được phép có vài câu hỏi:

1. Sau nhiều năm ủng hộ chính quyền đương thời của Việt Nam, ông có những thay đổi nào trong suy nghĩ, nhận thức, và niềm tin của mình về chính quyền nầy?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je pense avoir déjà répondu à cette question dans mes précédentes réponses. Dans la vie, en général, la déception répond souvent à l’espoir. En politique, c’est une règle générale, dans tous les pays et tous les systèmes. Le Vietnam n’échappe pas à cette triste règle.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi nghĩ rằng tôi đã trả lời câu hỏi này trong câu trả lời trước đây của tôi. Trong cuộc sống, nói chung, thất vọng thường là kết quả của hy vọng. Trong chính trị, đây là một quy luật chung, trong tất cả các nước và tất cả các chế độ. Việt Nam cũng không là ngoại lệ trong quy luật đáng buồn này.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
2. Nếu có thể quay lại thời gian, ông vẫn sẽ ủng hộ CQVN qua những hành động từng làm? Hay ông sẽ suy nghĩ và hành động khác đi?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je l’ai déjà dit: je ne regrette rien de ce que j’ai fait par le passé aux côtés d’hommes et de femmes merveilleux qui m’ont appris la valeur de la modestie, de la dignité, du courage, de la solidarité. Je n’ai rien oublié de tout cela et essaie de me montrer digne de cette leçon d’humanité. Je n’ai rien à changer et suis fier d’avoir fait ce que j’ai fait, quand je l’ai fait où je l’ai fait et avec qui je l‘ai fait.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi đã nói, tôi không hối tiếc những gì tôi đã làm trong quá khứ cùng với những người đàn ông và phụ nữ tuyệt vời, những người đã dạy tôi giá trị của sự khiêm tốn, lòng can đảm, nhân phẩm, tình đoàn kết. Tôi không quên gì và cố gắng chứng minh bản thân mình xứng đáng với những bài học tình người này. Tôi không thay đổi và tự hào với những gì tôi đã làm vào bất kỳ thời điểm nào với bất cứ ai.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
3. So sánh giữa tình yêu đất nước Việt Nam của ông và những người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, ông nghĩ nó có khác nhau hay giống nhau? Và tình yêu nầy có liên can với lý tưởng chính trị của mình? Thí dụ: có hàng triệu người liều chết tìm đường đi khỏi Việt Nam trong thập niên 70s và 80s, vì để tìm tự do và vì lý do tư tưởng/chính trị. Họ có thể không chấp nhận hoặc ghét CQVN (cũng như nhiều người VN khác, kém may mắn hơn nên không ra đi được), nhưng họ vẫn yêu tổ quốc Việt Nam. Ở bình diện đó, nếu thay vào CQCS VN hiện nay là một chính quyền khác, thí dụ như VNCH ngày xưa, ông vẫn ủng hộ và yêu đất nước VN?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Un éminent “expert” de l’Asie du Sud-est, nommé De Trégloré, directeur à Bangkok d’un non moins “expert” Institut de Recherches sur l’histoire contemporaine du S-E asiatique” a déclaré à une journaliste de l’Agence France Presse que je faisais partie de ces étrangers qui se voulaient « plus vietnamiens que les Vietnamiens » et que mon film sur les pêcheurs était « ultranationaliste ». Avec de pareils chercheurs, la recherche est bien malade ! Bien que français tous les deux, nous n’avons ni la même culture, ni les mêmes valeurs. Il vit dans sa bulle de son milieu social et ne peut ni ne veux rien comprendre. Moi, je suis toujours tourné vers les plus pauvres et ces qui subissent. Lui, certainement pas. Moi, je n’ai pas de barrières de frontières ni de langue, ni de couleur de peau quand il s’agit des droits des peuples et des droits de l’homme. Mon nationalisme, mes nationalismes sont toujours fondés sur le respect mutuel, sur la défense de la justice et du droit. C’est pour toutes ces raisons que quand j’avais 20 ans j’ai pris fait et cause et risqué ma vie aux côtés du Vietnam agressé, tel que j’en ai été témoin. C’est pour les mêmes raisons que je me bats aujourd’hui aux côtés du peuple vietnamien. Seuls ce qui ont une vue étroite de l’Homme et du Monde ne peuvent pas comprendre. Je suis citoyen vietnamien avec mon long nez, mes poils aux bras et sur la poitrine, mes cheveux châtains et mes yeux bleus. Mon accent est approximatif et ma prononciation rencontre souvent des accidents. Et alors ? A quoi faut-il juger un bon citoyen d’un pays au 21 ème siècle ? Je ne pense pas que ce soit aux apparences mais aux actes. Mes actes sont clairs, actes passés, actes présents. Mes papiers administratifs le sont aussi. Donc, je suis vietnamien. Et, vu les bases sur lesquelles cette nationalité m’a été décernée, je dois dire que j’en suis fier.

Maintenant suis-je plus vietnamien ou moins vietnamien que d’autres parmi mes millions de compatriotes de souche 100% vietnamienne ? Je laisse à chacun son jugement selon ses propres valeurs d’évaluation. Ce que je sais, c’est que j’aime le Vietnam comme ma seconde patrie, que je la défendrai si elle est agressée et que je lutterai pour qu’elle avance vers plus de progrès. Sans attendre de cela aucune louange ni reconnaissance parce que, bien que très différent d’aspect de la vendeuse de soupe ou du marchand de journaux du coin de la rue, je me sens profondément vietnamien. Comprenez-le ou pas : pour moi, c’est naturel. Cela ne m’empêche pas de râler contre les incivilités dans la rue, les gens qui ne savent pas se ranger pour faire la queue, qui crachent de leur moto. Je peste contre la sono des Karaoké qui vous éclate les tympans, la violence de certains cong an quand ils arrêtent les motocyclistes, les motos qui prennent feu à cause de l’essence trafiquée, les trous qui s’ouvrent d’un coup dans la chaussée saïgonnaise ( tử thần), les empoisonnements à cause des traffics d’aliments avariés, les trafics de jeunes femmes vers l’étranger, les enveloppes qu’il faut donner à certains fonctionnaires ou cadres locaux pour que votre dossier administratif soit pris en compte, les grandes affaires de faillites frauduleuses des compagnies d’Etat qui touchent les hautes sphères du pouvoir et qui pompent l’argent des contribuables… etc. Je vis tout cela comme des atteintes personnelles, j’en souffre et je ne l’accepte pas.

De la même façon que je râle contre Sarkozy et l’image déplorable que ses amis et lui donnent de « ma » France, contre les connivences de la maffia et des policiers « de la République », contre les grandes affaires de corruption qui minent les cercles du pouvoir et qui émergent à l’approche des élections… Tous ces gens sont-ils plus français ou moins français que mon père qui a commencé à travaillé à l’âge de 7 ans dans une ferme, loué par ses parents à des propriétaires terriens, qui n’est allé à l’école que 6 mois dans sa vie, qui parlait mieux la langue occitane que le français de Paris, et qui s’est arrêté de retourner la terre de son jardin à l’âge de 90 ans ? « Ma » France ce sont des gens comme lui, droits, travailleurs, dignes, honnêtes, et accueillants avec les « Etrangers ». « Ma » France n’est pas celle de Sarkozy et de ses milliardaires d’amis. De ce point de vue-là et non pas parce que Sarkozy a des racines polonaises, je considère mon père plus français que Sarkozy. De même que certaines personnes, y compris haut placées qui vivent au Vietnam ne font pas partie de « mon » Vietnam. Je ne suis ni un mouton qui suivrait un troupeau en bêlant comme l’animal de tête, ni un désespéré qui, résigné attend les évènements en se lamentant. Je suis un modeste combattant citoyen et pacifique qui regarde dans le sens de la marche sans jamais oublier d’où il vient. Avec réalisme, mais aussi avec une part de rêve. Et, toujours avec mes amis. J’ai déjà parlé de cela dans mes réponses.

Bản dịch của thành viên hdat:
Một chuyên gia “hàng đầu” trong khu vực Đông Nam Á tên là De Trégloré, giám đốc Viện nghiên cứu về lịch sử hiện đại của Đông Nam Á ở Bangkok nói với cô nhà báo của Agence France Presse rằng tôi là một người nước ngoài muốn “Việt Nam” hơn cả những người Việt Nam, và bộ phim của tôi còn có cả tính dân tộc cực đoan. Với các nhà nghiên cứu như vậy, “nghiên cứu” là bệnh nặng! Mặc dù cả hai nói tiếng Pháp, nhưng chúng tôi không có cùng một văn hoá, cũng không cùng một giá trị. Ông ta sống khép kín trong xã hội lồng kiếng của mình, không thể và cũng không muốn hiểu điều đó. Tôi thì luôn luôn tìm đến những người nghèo nhất, những người chịu đau khổ. Ông ta chắc chắn là không. Tôi không bị hạn chế hay trở ngại về ngôn ngữ hay màu da khi nói đến các quyền của các dân tộc và nhân quyền. Nhưng chủ nghĩa dân tộc của luôn luôn dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, bảo vệ công lý và pháp luật. Đó là những lý do mà khi mới 20 tuổi, tôi đã bât chấp nguy hiểm tính mạng mà sát cánh cùng một Việt Nam bị xâm lược, như tôi đã chứng kiến. Cũng với những lý do này mà ngày nay tôi cũng đang chiến đấu cùng với nhân dân Việt Nam. Chỉ những ai có một cái nhìn hẹp hòi đối với con người và thế giới mới không thể hiểu điều đó. Tôi là công dân Việt Nam với cái mũi lõ, lông trên cánh tay và ngực, tóc nâu và đôi mắt xanh. Cách đặt câu của tôi là gần đúng nhưng phát âm của tôi thường gặp trục trặc. Thì đã sao? Theo tiêu chuẩn nào để đánh giá một công dân tốt thế kỷ 21? Tôi không nghĩ rằng là bề ngoài mà là những hành động. Hành động của tôi luôn rõ ràng, trong quá khứ cũng như hiện tại. Tôi đã có đầy đủ giấy tờ. Vì vậy, tôi là người Việt Nam. Việc tôi có được quốc tịch đã nói lên tất cả, và tôi phải nói rằng tôi rất tự hào về điều đó.

Bây giờ tôi “Việt” nhiều hay ít hơn những người khác trong số các hàng triệu đồng bào gốc Việt 100% của tôi? Tôi để các bạn đánh giá theo cách nhìn riêng. Những gì tôi biết là tôi yêu Việt Nam như là tổ quốc thứ hai của tôi, và tôi sẽ bảo vệ nếu nó bị tấn công, tôi sẽ chiến đấu để thúc đẩy nó tiến bộ hơn. Không cần lời khen ngợi, không cần được vinh danh, bởi vì tuy bề ngoài tôi rất khác từ người bán phở, người bán báo trên vỉa hè, nhưng tôi cảm thấy rất là “Việt”. Ai hiểu nó hay không thì tùy, nhưng đối với tôi, đó là tự nhiên. Điều đó không ngăn cản tôi phản đối lối sống thiếu tư cách trên đường phố, những người chen ngang hàng, gầm rú xe gắn máy. Tôi cũng phản đối âm thanh Karaoke làm thủng màng nhĩ, sử dụng bạo lực của công an khi họ chặn xe máy, xe máy bốc cháy do xăng bị pha trộn, các ổ gà (hố tử thần) trên đường ở Sài Gòn, ngộ độc do thực phẩm hư thối nhập lậu, buôn bán phụ nữ trẻ ra nước ngoài, phong bì cho một số quan chức nhà nước cũng như địa phương để cho hồ sơ, đơn … được đảm bảo giải quyết, các vụ phá sản do gian lận của các công ty nhà nước, nhưng được nuôi bằng tiền thuế của dân, dính đến các quan chức cao cấp… vv. Tôi nhìn thấy tất cả và cảm thấy như chính bản thân bị chà đạp, tôi đau khổ và tôi không chấp nhận nó.

Cũng cùng phương thức như vậy, tôi phản đối Sarkozy và hình ảnh xấu mà ông ta và bạn bè mang lại cho nước Pháp “của tôi”, tôi chống lại sự thông đồng giữa mafia và cảnh sát “của nền Cộng hòa,” chống các vụ tham nhũng lớn đang làm yếu quốc gia nhất là trong giai đoạn bầu cử hiện nay … Tất cả những người này, họ nhiều hay ít “Pháp” hơn cha tôi? người bắt đầu làm việc từ khi 7 tuổi trong một trang trại mà ông bà tôi thuê từ các chủ đất, người chỉ đi học tất cả 6 tháng trong cuộc đời, nhưng nói ngôn ngữ Occitan(*) tốt hơn nhiều người Pháp ở Paris, và chỉ ngừng ra đồng làm việc vào tuổi 90? Nước Pháp “của tôi” là những người như cha tôi, thẳng thắn, chăm chỉ lao động, xứng đáng, trung thực và hiếu khách với những người nước ngoài. Nước Pháp “của tôi” không phải là của Sarkozy và bạn bè tỷ phú của ông ta. Từ cách nhìn này, chứ không phải vì Sarkozy có nguồn gốc Ba Lan, tôi thấy cha tôi hơn “Pháp” hơn cả Sarkozy. Cũng như một số người, bao gồm một số nhà lãnh đạo hàng đầu ở Việt Nam, không phải thuộc vào Việt Nam “của tôi”. Tôi không phải là một con cừu như những con khác làm theo con đầu đàn hay là một kẻ tuyệt vọng suốt ngày than khóc và đợi cái gì đó rơi vào tay. Tôi là một công dân khiêm tốn và hiền hoà luôn giữ vững con đường tiến về phía trước nhưng cũng không bao giờ quên mình đến từ đâu. Với tất cả thực tế nhưng cũng giữ một chút của những giấc mơ. Và, luôn luôn với bạn bè của tôi. Tôi đã đề cập điều này trong những câu trả lời trước đây của tôi.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
4. Bên cạnh cuốn phim về TS-HS, mà tôi nghĩ sẽ có nhiều người Việt Nam cảm kích, ông đã hoặc sẽ có những dự định gì để tranh đấu cho những bất công và vấn nạn – vốn là hệ quả của một chính quyền độc đảng – đang hiển nhiên trong xã hội Việt Nam, từ kinh tế, chính trị đến tôn giáo? Nếu nổ lực của ông được tập trung trong vấn đề hải đảo, ông có thấy những bất công và vấn nạn ấy?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Ma priorité présente est la défense des pêcheurs. Aider à créer un mouvement large, solide, déterminé, pour faire connaître leur sort nationalement et sur le plan international. Susciter un élan de solidarité matérielle envers eux car ils en ont terriblement besoin. En même temps et à travers ces drames humains, je souhaite faire prendre conscience à la communauté internationale des menaces qui pèsent sur le droit souverain du Vietnam en Mer du S-E asiatique, des violations de plus en plus flagrantes du droit international sur la mer par les dirigeants chinois, de la menace que cela implique pour la liberté de circulation et la paix dans cette zone du monde. Je ne me laisserai pas détourner de cette lourde tâche. Je n’ai ni crédits, ni secrétaire pour mener à bien ce combat qui demande toute la concentration de mon temps, de mes moyens financiers familiaux et de mon énergie. C’est déjà très difficile pour moi.

Pour le reste, je ne suis ni sourd ni aveugle, je vois bien des injustices, bien des violations du droit, de la Constitution, bien des abus de pouvoir à combattre mais je pense qu’il faut aller à ce qui unit le plus et cela, selon moi, c’est la défense du pays. Alors, agissons fermement, intelligemment, pacifiquement et solidairement dans ce sens, sans rien oublier du reste et en essayant de soulager ceux qui souffrent de leur combat.

Bản dịch của thành viên hdat:
Ưu tiên của tôi là bảo vệ của ngư dân. Tham gia một phong trào rộng lớn, mạnh mẽ, kiên định, công khai hoàn cảnh khó khăn của họ trong quốc gia và trước quốc tế. Gây dựng một cái đà giúp đỡ vật chất vì họ rất cần nó. Đồng thời qua các nạn mà ngư dân phải chịu đựng, tôi muốn cảnh báo thế giới nhận thức các mối đe dọa đến chủ quyền biển của Việt Nam ở Đông Nam Á, các vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về biển ngày càng nhiều của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mối đe dọa là tự do đi lại và chung sống hòa bình trong khu vực này của thế giới. Tôi không chấp nhập bị bẻ sang hướng khác mà quay lưng lại với nhiệm vụ khó khăn này. Tôi không thể vay tiền cũng như không có người phục vụ riêng để thực hiện cuộc đấu tranh, một công cuộc đòi hỏi phải tập trung tất cả thời gian, sức lực của tôi, tài chính của gia đình. Vậy đã là rất khó khăn với tôi.

Đối với những gì còn lại, tôi không điếc cũng không mù, tôi nhìn thấy nhiều lý do để đấu tranh : bất công, các vi phạm pháp luật, Hiến pháp, lạm dụng quyền lực, .. nhưng tôi nghĩ chúng ta nên tìm đến cái mà có thể đoàn kết được tất cả chúng ta, theo ý kiến của tôi, là bảo vệ đất nước. Vì vậy, chúng ta hãy hành động một cách kiên quyết, chắc chắn, với sự thông minh, đoàn kết, không bạo lực theo hướng này, nhưng không quên cố gắng giảm sự tổn hại đến những nạn nhân của đấu tranh.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
5. Ông nghĩ thế nào về tương lai Việt Nam? Việt Nam, từ con người đến thể chế, cần phải làm gì để ngày nào đó được một xã hội như Pháp, nơi được xem là ngọn đuốc của tự do dân chủ? Và ngày ấy sẽ xảy ra trong bao lâu, 10, 20 hay 50 năm?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je ne suis pas devin et resterai très prudents sur le délai des changements sociaux. Il est certain qu’ils sont inévitables. Mais dans quel sens ? En faveur de qui ? de quelle classe sociale ? J’ai déjà répondu pour l’essentiel sur la société française. Dans la réalité, bien des acquis de la révolution ont été confisqués au peuple français … Bien des libertés restent choses formelles, sans réalité véritable. Depuis la libération du pays contre le fascisme d’Hitler en 1945, bien des acquis sociaux pour protéger les plus faibles ,jeunes, pauvres, vieux, ont été grignotés, sous prétexte de crise, par les différents gouvernements de droite (et aussi certains de gauche). La France a été donnée en pâture aux grandes sociétés et aux banques qui se sont copieusement servies sur le dos du peuple français et ont presque ruiné le pays. Heureusement, contrairement au Vietnam, les Français conservent une culture de combat social, de résistance aux agressions sociales. Mais, hélas, nous ne faisons que résister, que freiner la progression des forces énormes qui nous font retourner en arrière dans l’Histoire, qui ravivent la pauvreté, les manques de soins, qui ferment les écoles, les maternités, qui mettent à la rue même l’hiver, de plus en plus de sans-abris provenant quelque fois de classes moyennes… Non, la France actuelle, n’est pas un exemple à donner de société de progrès. Ne la rêvez pas s’il vous plaît.

Bien sûr cette situation n’est pas comparable à celle du Vietnam. Le Vietnam est parti de moins que rien, après des décades d’une guerre totale, destructrice des ressources naturelles, des talents humains de la force de travail efficace. Il est passé en quelques décades d’une société moyenâgeuse aux objectifs d’une société « développée » et moderne. Avec une frontière commune à un géant en pleine croissance et par nature expansionniste et annexionniste, le défi est colossal aussi bien au niveau matériel qu’au niveau du changement des mentalités. Le système politique que le pays s’est donné a été dicté par la guerre et les alliances nécessaires. Il est issu de cette situation et en est l’héritage. Or, la guerre, même si elle n’a été gagnée que grâce au concours de la majorité du peuple vietnamien, n’est pas un modèle de démocratie. Elle a toujours impliqué que les chefs soient aveuglément obéis, sans aucune discussion. C’était alors une question de vie ou de mort. Ce système de fonctionnement ne correspond pas à celui qui est nécessaire pour développer un pays en temps de paix. Il ne correspond pas non plus à la mentalité naturelle des Vietnamiens qui, bien que respectueux de la hiérarchie sont aussi très indépendants. La modernité a besoin de participation large, de liberté de création, d’esprit d’initiative, de débat, de critiques, de tolérance, d’une juste évaluation et récompense des compétences. Toutes ces choses font l’objet de petits et de grands combats entre le conservatisme craintif devant l’exigence pressante d’une société civile, la peur de perdre son siège et ses privilèges et les forces de progrès dont d’ailleurs, certains éléments se trouvent quelquefois engagés dans le camp des conservateurs. L’essentiel c’est de mener ce combat de façon vraiment patriotique, constructive et non destructrice et violente. Tranquillement. Car la violence et la destruction ne ferait qu’affaiblir le pays face aux appétits du puissant voisin.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi không phải là tiên tri và vẫn còn phải rất thận trọng nói về thời điểm xã hội thay đổi. Chắc chắn rằng điều đó không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, theo nghĩa nào? Dành cho ai? từ tầng lớp xã hộ nào? Tôi đã trả lời chủ yếu dựa vào xã hội Pháp. Trong thực tế, thành quả cách mạng đã bị ăn cắp khi đến tay người Pháp … Trên danh nghĩa có tự do, nhưng thực chất thì không. Kể từ khi đất nước được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của chủ nghĩa phát xít của Hitler vào năm 1945, nhiều lợi ích xã hội để bảo vệ kẻ yếu, trẻ,(ajouter : người lao động) : người nghèo, người già, đã bị gặm nhấm bởi các chính phủ cánh hữu khác nhau cũng như một số của cánh tả) dưới lý do của cái gọi là “khủng hoảng”. Pháp được cho là thực phẩm cho các tập đoàn và các ngân hàng lớn, họ hưởng thụ trên lưng người dân, và họ đã gần như hủy hoại đất nước. May mắn thay, không giống như ở Việt Nam, người Pháp giữ lại một nền văn hóa phản kháng xã hội, đấu tranh chống sự phá hoại xã hội. Nhưng, than ôi, chúng tôi chỉ chống lại, làm chậm sự tiến triển của thế lực lớn, một thế lực làm cho chúng tôi đi ngược lại lịch sử, làm sống lại nghèo đói, thiếu y tế, đóng cửa trường học, nhà hộ sinh, ném nhiều người ra đường phố ngay cả trong mùa đông, nhiều khi có cả những người thuộc tầng lớp trung lưu … Không, Pháp không phải là ví dụ của xã hội tiến bộ để noi theo. Xin đừng mơ đến nó.

Tất nhiên tình hình ở Pháp không thể so sánh của Việt Nam. Việt Nam từ một nước gần như không có gì, sau nhiều thập kỷ chiến tranh, bị phá hủy về nguồn tài nguyên thiên nhiên, về tài năng con người và về lực lượng sản xuất. Vậy mà chỉ sau một vài thập kỷ, từ một xã hội thời trung cổ nay Việt Nam đang đến các mục tiêu của một xã hội “phát triển” và hiện đại. Có biên giới với một kẻ khổng lồ ngày càng tăng cường mở rộng và sáp nhập là một thách thức là rất lớn cả về vật chất lẫn những thay đổi trong thái độ. Hệ thống chính trị mà đất nước ngày nay được thiết lập bởi những quyết định từ thời chiến tranh dựa trên các liên minh cần thiết. Nó xuất phát từ tình huống này và còn đang thừa kế. Nhưng chiến tranh, ngay cả khi đã giành chiến thắng với tham gia của toàn dân Việt Nam, không phải là một mô hình dân chủ. Nó để lại hậu quả, một lớp lãnh đạo quen tuân thủ một cách mù quáng các mệnh lệnh, mà không có thảo luận nào. Lúc đó là vấn đề sống hay chết. Nhưng nay, hệ điều hành này không còn phù hợp để phát triển một đất nước trong thời bình. Nó không tương ứng với tính cách tự nhiên của người Việt Nam, mặc dù tôn trọng cấp trên nhưng cũng rất độc lập. Hiện đại hóa cần sự tham gia rộng rãi, tự do sáng tạo, ý kiến, tranh luận, phê bình, khoan dung, đánh giá công bằng tài năng. Tất cả là những trận đánh lớn nhỏ giữa bảo thủ sợ hãi và các nhu cầu cấp bách của một xã hội dân sự, giữa nỗi lo sợ mất chỗ ngồi của mình, mất đặc quyền và các lực lượng tiến bộ. Ngoài ra cũng có một số người khác đứng về phe bảo thủ. Điều chính trong các cuộc chiến này phải trên cơ sở: lòng yêu nước, tinh thần xây dựng, không phá hoại và không sử dụng bạo lực. Hãy bình tĩnh. Sử dụng bạo lực và hủy diệt chỉ làm suy yếu đất nước, và như vậy sẽ hợp với khẩu vị của người láng giềng lớn.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
6. Ông có muốn chia sẻ cuộc trò chuyện nầy với những phương tiện truyền thông trên thế giới, thí dụ như VOA, BBC, hay báo chí của người Việt Hải Ngoại lẫn báo chí quốc nội?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’ai suis déjà beaucoup intervenu sur la question des pêcheurs : article pour la BBC, talk- show en direct et en vietnamien avec RFI, très nombreux articles sur le net…Je n’ai jamais refusé une source d’information sur ce sujet. En souhaitant qu’elles aient l’honnêteté de transmettre ce qui a réellement été dit, sans manipulation. Jusqu’à présent, cela a toujours été le cas.

Quand à la presse du Vietnam, son encadrement politique est tel et les sanctions sont si sévères que même les journalistes qui voudraient laisser parler les gens ne le peuvent pas sous peine de perdre leur carte et leur emploi. Nombreux sont les cas de ce genre qui sont déjà arrivés. Alors, plutôt que de les mettre en danger ou en situation de me censure, je préfère écrire sur le net dans des pages comme bauxite Vietnam. Mais je ressens actuellement un resserrement de la poigne politique sur l’information, suite à la volonté clairement exprimée d’accroître le contrôle sur le net et sur les blogs individuels. Ceci n’est pas rassurant pour la liberté d’information et d’expression. Et c’est voué à l’échec.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đã dành nhiều tâm sức cho vấn đề của ngư dân: viết bài cho BBC, talk-show trực tiếp bằng tiếng Việt với RFI, nhiều bài viết trên mạng … Tôi không bao giờ từ chối một nguồn thông tin về chủ đề này. Hy vọng chúng trung thực để truyền đạt những gì thực sự, mà không bị bóp méo. Đến nay, chưa có trường hợp nào sai lệch.

Đối với báo chí tại Việt Nam, chẳng những hạn chế vì chế độ chính trị mà các hình phạt rất nặng sẵn sàng cho các nhà báo như rút thẻ, mất việc làm khi họ có ý đăng những gì mà người dân nói. Có nhiều trường hợp như thế đã xảy ra. Vì vậy, thay vì đặt họ vào nguy hiểm hoặc tôi có nguy cơ bị kiểm duyệt, tôi thích viết trên các trang web như bauxite Việt Nam. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy một chính sách mới đối với truyên thông, với ý định rõ ràng để tăng kiểm soát trên mạng và trên các blog cá nhân. Điều này không bảo đảm cho tự do thông tin và phản biện. Và nó sẽ thất bại.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
7. Ông có khi nào cảm thấy lẻ loi vì những quyết định và hành động của ông trong mấy mươi năm qua?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je ne me suis jamais senti seul dans tout ce que j’ai fait. Pendant la guerre c’est un peuple qui m’a poussé vers cette statue de Saigon , vers ce drapeau de résistance. Ce sont les gens que j’ai vu souffrir, y compris des soldats de VNCH, des jeunes soldats américains…Sur cette statue, dans ma tête et dans mon cœur, tous ces gens étaient avec moi et donnaient du sens à ma vie. En prison, même isolé au secret, même interné en hôpital psychiatrique, je ne me sui jamais senti seul car je ne l’ai jamais été. Un superbe réseau de résistance avec des étudiants prisonniers politiques, des gardiens, des prisonniers de droit commun américains et français, des amis à la Poste de Saigon qui faisaient partir les documents et lettres clandestines vers la France, les USA, des français et des américains ordinaires qui nous envoyaient de l’autre bout du monde, dans des boîtes de pâté, des paquets de biscuits , des documents et des livres interdits ! J’ai même pu transmettre à mes amis emprisonnés politiques une radio qu’ils ont très ingénieusement emporté dans leur déportation à Con Dao et par laquelle ils ont écouté « radio libération » pendant près de 3 ans, chaque nuit ! La radio est actuellement au musée de la révolution à Ha Noi. Dans l’Hôpital psychiatrique de Bien Hoa, une folle m’a pris en pitié (j’étais très amaigri car je faisais la grève de la faim depuis 20 jours) et m’a donné un morceau de pain… que j’ai accepté de manger pour lui faire plaisir ! A ma libération j’ai parcouru le Monde pour rester aux côtés de mes amis emprisonnés encore en danger dans les prisons. J’ai rencontré des milliers d’amis jeunes et vieux d’une vingtaine de pays. Sans jamais les revoir pour la plupart, ils sont restés dans mon coeur et ressurgissent dans les moments difficiles pour me donner des vitamines.

Aujourd’hui avec ce film et le tour de présentation que je commence, j’ai l’impression de rajeunir et mes amis, dont beaucoup sont d’une autre génération, se comptent par milliers…Non quand on se bat pour des causes justes et humaines, on n’est jamais seul. Bien sûr quelquefois on peut connaître des moments difficiles où les évènements immédiats vous attristent et font baisser votre moral. Mais, si on garde le cap, si on encaisse les coups en restant soi-même, la situation finit par changer, des portes s’ouvrent et on découvre que les amis, anciens et nouveaux sont la force qui vous fait avancer.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đã không bao giờ cảm thấy cô đơn trong tất cả mọi thứ tôi đã làm. Trong chiến tranh, đám đông đã đẩy tôi hướng tới bức tượng ở Sài Gòn, với lá cờ của kháng chiến. Đấy là những những người mà tôi thấy sự đau khổ của họ, bao gồm cả binh lính VNCH, những người lính trẻ Mỹ … Đứng trên bức tượng, trong tâm trí và trong trái tim tôi, tất cả những người này mang cho tôi ý nghĩa của cuộc sống. Trong tù, thậm chí bị cô lập trong phòng biệt giam, ngay cả trong một bệnh viện tâm thần, tôi không bao giờ cảm thấy cô đơn, bởi vì tôi đã không bao giờ cô đơn. Một mạng lưới kháng chiến tuyệt vời với các tù nhân chính trị, sinh viên, lính canh, thường phạm Mỹ và Pháp, các bạn bè ở Bưu điện Sài Gòn, những người đã gửi các tài liệu và thư bí mật sang Pháp, Hoa Kỳ, và những người dân Pháp, Mỹ từ khắp nơi trên thế giới cũng thường gửi cho chúng tôi tài liệu, sách cấm trong các hộp mì, hộp bánh bích-quy! Tôi thậm chí còn chuyển đến bạn bè tù chính trị một chiếc máy vô tuyến, họ đã khéo léo mang nó theo ra Côn Đảo và qua đó họ nghe “Đài phát thanh Giải phóng” trong gần ba năm, mỗi đêm! Chiếc máy này hiện đang trong viện bảo tàng cách mạng tại Hà Nội. Trong bệnh viện tâm thần Biên Hòa, một cô bị điên thương hại tôi (tôi rất ốm sau khi tuyệt thực 20 ngày) và đã cho tôi một miếng bánh mì … tôi chấp nhận ăn để làm cho cô ấy vừa lòng! Sau ngày được tự do, tôi đã đi khắp thế giới để có thể vẫn sát cánh cùng với những bạn bè còn bị mắc kẹt trong các nhà tù nguy hiểm. Tôi đã gặp hàng ngàn bạn trẻ và có tuổi ở hai mươi quốc gia. Tuy tôi không bao giờ gặp lại họ, nhưng họ vẫn luôn luôn trong trái tim tôi, và họ xuất hiện trở lại vào những thời điểm mà tôi gặp khó khăn để tiếp sức cho tôi.

Hôm nay với bộ phim này và tôi vừa bắt đầu một vòng đi trình diễn, tôi cảm thấy trẻ lại và bạn bè của tôi, trong đó có nhiều thế hệ khác nhau, đã kể đến hàng ngàn … Không, khi chúng ta đấu tranh cho chính nghĩa, cho nhân loại, thì chúng ta không bao giờ cô đơn. Tất nhiên, đôi khi bạn có thể gặp khó khăn, chẳng hạn như gặp sự phiền muộn làm suy giảm tinh thần của bạn. Nhưng nếu chúng ta kiên định giữ đường đi, thì ngay có lúc gặp vấp váp, cuối cùng tình hình cũng sẽ thay đổi, cánh cửa sẽ mở và chúng ta thấy bạn bè, cũ cũng như mới là lực lượng giúp chúng ta đi về phía trước.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
8. Hỏi ông hoài, mất lịch sự quá. Xin ông đặt câu hỏi lại cho chúng tôi.Cám ơn ông rất nhiều.
K.
Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Poser des questions, n’importe quelle question, n’a jamais été une impolitesse. Il n’y a pas de question idiote ni de question impolie. Il s’agit qu’elle soit sincère.

La mienne est simple : Amis, qu’allez-vous faire pour aider concrètement et efficacement nos compatriotes pêcheurs de Ly Son et de Binh Chau ? Pour aider le Vietnam à garder ses terres, ses îles, sa mer et à récupérer ce qui lui a été volé à Hoang Sa ?

Bản dịch của thành viên hdat :
Đặt câu hỏi, bất cứ câu hỏi nào, không bao giờ bất lịch sự. Không có câu hỏi nào là ngu ngốc hoặc bất lịch sự khi nó là câu hỏi chân thành.

Câu hỏi của tôi thật đơn giản: bạn, bạn sẽ làm gì để giúp đỡ một cách hiệu quả các ngư dân Lý Sơn và Bình Châu để giúp Việt Nam giữ đất đai, hải đảo, biển và thu lại những gì đã bị mất ở Hoàng Sa?

————————
(*) Occitan : Tieng occitan là một tiếng địa phương của miền nam nước Pháp, rất gần với tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý và tiếng Pháp cổ. Nó cũng bắt nguồn từ tiếng La Tinh và Hy Lạp cổ.


Khách ẩn danh hỏi:
Với thái độ của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, ông có nghĩ là tương lai biển đảo của Việt Nam sẽ bị Trung Quốc thâu tóm, không về mặt quân sự, chủ quyền thì cũng về mặt kinh tế hay không?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’avais accepté de participer à ce forum très sympathique pour parler de mon film et des pêcheurs du Centre Vietnam. Mais il est vrai que leur sort s’inscrit dans un cadre beaucoup plus général et sans être politologue ni devin, je vais en toute modestie, m’efforcer de répondre à votre question qui recouvre un vaste espace d’analyse et de réflexion.

D’abord, il me semble que l’attitude des autorités vietnamiennes à Ha Noi ou à Saigon n’est pas celle d’un bloc monolithique. Il y a, en interne, des différences d’appréciation, d’opinion selon les niveaux de responsabilité, selon les régions selon l’histoire de chacun… Je note par exemple des signes évidents qui traduisent en haut lieu ces différences d’appréciation. En effet, le 25 novembre 2011, le Premier Ministre M. Nguyen Tan Dung déclarait solennellement devant l’assemblée nationale où se trouvaient la plupart des membres du bureau politique du PCVN : «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này »… C’est parfait et je me demande qui, au Vietnam et dans le monde, n’est pas d’accord avec cette déclaration (mis à part les dirigeants chinois qui n’ont pas peur du ridicule). Mon film n’a rien dit d’autre que ce qu’à affirmé le Premier ministre. Les patriotes vietnamiens, dont j’étais, n’ont rien dit d’autre quand ils sont descendu dans la rueà Saigon où ont défilé autour du lac Hoan Kiem à Ha Noi. Pourquoi ont-ils été arrêtés, réprimés, menacés, insultés par des communiqués télévisés, et pourquoi certains sont-ils encore aujourd’hui, emprisonnés ?

Autre déclaration de monsieur le Premier ministre devant l’Assemblée nationale, le même jour :

« Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. » Parfait ! Mais alors pourquoi le film qui donne la parole aux pêcheurs malmenés et à leurs veuves, donc qui est une action véritablement patriotique, est-il interdit de projection, de façon violente et sans explication, seulement 4 jours après, par la police de Saigon ? Visiblement, il n’y a pas unité de vue entre le Premier ministre et certains dirigeants du bo Cong an !

Autre détail qui traduit ce manque d’unité de vue au plus haut de la direction du pays : le journal Tuoi Tre du Tet a présenté une longue interview du général (thuong tuong) Ngyen Chi Vinh, fils du général ( Dai tuong) Nguyen Chi Thanh. Ce vice-ministre de la défense nationale qui négocie régulièrement avec ses homologues chinois à tel point qu’on peut se demander si ce n’est pas lui le véritable ministre des affaires étrangères concernant les relations avec la Chine, est docteur en droit, intellectuel d’une famille renommée. Quand il fait une déclaration aux journalistes, il n’oublie rien du message qu’il veut faire passer et, vu son haut rang, il doit certainement relire avec ses conseiller l’article du journaliste avant de donner le feu vert pour sa parution. Eh bien, dans ce long article, le général NCV a longuement parlé des îles, de la mer, de la souveraineté du Vietnam. Tout le discours a été exclusivement centré sur Truong Sa ! J’ai vainement cherché un seul mot sur Hoang Sa : absolument aucun ! Cela confirme mon inquiétude, que j’exprimais voilà plus d’un an dans un article à bauxite Vietnam (« Hoang Sa : Khong the giu « nguyen hien trang ! »). Lors du voyage en Chine du 21 au 28 04 2010 du supérieur hiérarchique de M. Nguyen Chi Vinh, le ministre de la Défense M. Phung Quang Thanh, celui-ci déclarait vouloir maintenir la situation « nguyen hien trang » en mer du S-E asiatique. Cela voulait dire en clair : le Vietnam abandonne toute revendication sur Hoang Sa et sur les îles occupées de force par la marine de guerre chinoise à Co Lin et Gac Ma en 1988. Inacceptable ! Le récent « oubli », très inquiétant du Général Nguyen Chi Vinh va dans le même sens. Il est en tout cas en parfaite contradiction avec la ferme déclaration du Premier ministre M. Nguyen Tan Dung, un mois auparavant qui est de récupérer Hoang Sa de façon légale et pacifique.

Ces différences et ,peut-être , ces divergences, se révèlent et s’accentuent avec les actes d’agression chinois qui se multiplient, avec leurs ingérences dans les affaires intérieures vietnamiennes, avec leur ton provocateur, insolent, menaçant, avec la réponse populaire qui se manifeste en réaction et en résistance au Vietnam même, avec les réactions de résistance de plus en plus affirmées dans la Région et dans l’ASEAN (Philippines notamment), avec l’implication de plus en plus nette des USA (même si l’Histoire nous incite à la prudence car elle nous montre que ,selon leur intérêt, ils peuvent abandonner leurs alliés pour pactiser avec ceux qu’ils déclaraient être leurs ennemis jurés). Les choses changent, les hommes aussi. Ne les mettons pas tous dans le même sac, une fois pour toutes. Disons fermement ce que nous pensons, agissons de façon pacifique et déterminée, selon le droit, le respect des hommes et des peuples, mais laissons les portes ouvertes. Beaucoup de ceux que nous croyons en face de nous finiront par y entrer et rejoindre l’inévitable progrès.

Le fait que la Chine, dans sa conquête violente des espaces maritimes et insulaires porte ses agressions contre le japon, ( « chalutiers de pêche chinois »- vrai ou faux- qui abordent les garde-côte japonais..) la Corée du Sud ( garde-côte sud coréen poignardé par « pêcheur chinois »- vrai ou faux-), les USA défiés ( en mars 2009 l’USNS « Impeccable », agressé par 5 « chalutiers chinois » –vrais ou faux – à 120km d’Hai Nan), l’Inde menacée ( INS Airavat menacé le 22/7/2011par bâtiment chinois à 45 milles nautique à peine des côtes de Nha Trang en pleine Zone économique exclusive du Vietnam)… Toutes ces actions bien concrètes sont symboliques des intentions de Pékin. Elles créent les conditions nouvelles d’alliances au sein des Etats et, surtout, dans les opinions publiques .Les dirigeants du Vietnam ne peuvent pas les ignorer et doivent les utiliser pour protéger leur pays et leurs pêcheurs.

Mais Pékin ne renoncera pas si facilement à sa langue de bœuf gourmande. Elle est annoncée, planifiée, financée, armée. Sa réalisation est commencée et il est certain que les annexionnistes Han vont trouver des moyens pour essayer de progresser. La DOC ( Declaration of Conduct) que la Chine a signé en 2002 n’a pas été respectée par elle. C’est une évidence. Il serait très étonnant que Pékin signe rapidement un COC (Code of Conduct) qui les contraindrait juridiquement à renoncer à leur projet, un projet hors la loi qui n’avance que par la violence et le mépris du droit international. Ainsi, sans être devin on peut dire que 2012 verra, certainement hélas, de nouvelles menaces, de nouveaux actes d’agression, de nouveaux pêcheurs vietnamiens sinistrés, de nouvelles familles dans le malheur. La volonté de domination et la soif de pétrole, sur fond d’ultranationalisme, ne s’arrêteront pas à l’issue de négociations bipartites Vietnam-Chine sur la mer et les îles. Il serait très naïf de le croire. La Chine fait semblant de négocier pour se donner une image pacifique mais gagne du temps pour attendre le moment favorable à de violents mauvais coups. Elle a toujours fait ainsi. Ses dirigeants sont experts en coups tordus. Qu’ils commencent par annoncer qu’ils regrettent le sort fait aux pêcheurs vietnamiens, aux disparus faute d’abris accordés en temps de tempête, aux disparus éperonnés de nuit par leurs bateaux « pas du tout étranges » à coque d’acier ; qu’ils commencent par reconnaître, regretter et rembourser les pillages pratiqués sur des centaines de chalutiers ( produits de la pêche, matériel volé ou détruit bateaux coulés , incendiés…) ; qu’ils commencent par dédommager les familles orphelines du mari ou du fils ( sachant que l’argent ne pourra jamais faire revenir l’être aimé) ; qu’ils commencent par cesser leur harcèlement quotidien sur les pêcheurs, par lever leurs interdits de pêche de mai à août où, en réalité la mer est libre pour les seuls chalutiers chinois …Alors , nous pourrons commencer à croire en leur volonté de négocier sincèrement. Sans cela, tout, absolument tout de leur part n’est que tromperie.

Cependant, sans parler de la menace militaire, qui, je l’ai dit, est difficile et dangereuse à employer par Pékin car elle peut se retourner contre celui qui l’a déclenchée, la menace économique que la Chine peut exercer est par contre bien réelle et considérable vu le poids que Pékin s’est taillé petit à petit dans l’économie du Vietnam. Par le business, notamment avec les familles vietnamiennes en réseaux avec les cercles dirigeants vietnamiens, la Chine peut étrangler notre pays trop dépendant d’elle. Là est un autre combat qui exige du temps et, de la part des industriels et des commerçants vietnamiens, une fibre patriotique et une vue intelligente de leurs intérêts à long terme. Indirectement, de cette situation dépend le sort de toute l’économie liée à la mer et aux îles…

Autrement dit, selon moi, le combat pour protéger les îles et la mer ainsi que pour retrouver Hoang Sa qui nous a été volée, et les îles occupées après le coup de force de 1988 , est un combat de longue durée où l’on doit avant tout protéger les pêcheurs et leur donner les moyens modernes et sûrs de vivre, car ce sont eux essentiellement qui affirment physiquement la souveraineté du pays dans ces espaces maritimes. Sans leur présence, la mer est vide et ce vide sera vite occupé par les chalutiers chinois (il commence à l’être de plus en plus) et les bâtiments de guerre chargés de les « protéger ». Faute d’une stratégie cohérente et totale, rapidement mise en place, après avoir perdu les îles, le Vietnam perdra sa mer. Et s’il perd sa mer, il aura vite perdu ses terres.

Si tout le peule se lève pour appuyer des dirigeants dignes de ce nom, la situation changera certainement et elle ne peut qu’évoluer en faveur du respect de l’Histoire et du droit international. Avec l’intervention de l’opinion publique internationale. N’ayons pas peur : sur ce terrain la position du Vietnam est difficilement attaquable.
Mais pendant ce temps- là, comme m’a dit un vieux pêcheur-plongeur dans le film, il faut « fixer le requin » car, selon lui, quand on fixe ce prédateur, il n’attaque pas. Cela signifie que, de façon pacifique et sans tomber dans les provocations ni dans les insultes, il faut faire preuve de fermeté envers chaque agression chinoise, y compris verbale. Et surtout, pour les dirigeants vietnamiens dignes de ce nom : ne pas conclure d’accord confidentiellement, dans le dos et à l’insu de leur peuple, ne pas le mettre, comme cela a souvent été fait, devant le fait accompli. Toute mesure proposée qui concerne les îles et la mer doit d’abord passer par l’assemblée nationale, faire l’objet d’un vrai débat et avoir une vraie approbation populaire. Ces temps viendront : j’ai confiance en l’avenir. Une confiance vigilante et… combative aux côtés de mes nombreux amis.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đồng ý tham gia diễn đàn thiệt dễ chịu này để nói về bộ phim và ngư dân miền Trung Việt Nam. Nhưng đúng là số phận của họ nằm trong một khuôn khổ tổng quát. Không phải là một chính trị học cũng không phải thầy bói, với tất cả sự khiêm tốn, tôi cố gắng trả lời câu hỏi của bạn với sự nới rộng của phân tích cùng suy luận.

Đầu tiên, tôi thấy có vẻ như là thái độ của chính quyền Việt Nam tại Hà Nội hay Sài Gòn không nhất quán. Trong nội bộ họ, cũng có sự khác biệt về quan điểm, phụ thuộc vào mức độ trách nhiệm cuả người phát ngôn, cách hay nơi truyền đạt tin tức … Tôi đưa ví dụ phản ánh dấu hiệu ý kiến khác nhau ngay cả ở cấp cao của chính quyền. Thật vậy, ngày 25 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng trước Quốc hội, nơi hiện diện hầu hết các thành viên của bộ chính trị ĐCSVN «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này »… Cho đến đây, tôi cho là hoàn hảo và tôi tự hỏi, ai ở Việt Nam hay trên thế giới không đồng ý với lời tuyên bố này (trừ các nhà lãnh đạo Trung Quốc, những người chẳng sợ bị chế giễu). Bộ phim của tôi không nói bất cứ điều gì khác với những gì mà Thủ tướng khẳng định. Những người Việt Nam yêu nước, trong đó có cả tôi, cũng chẳng nói bất cứ điều gì khác khi chúng tôi xuống đường ở Sài Gòn hay diễu hành xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tại sao chúng tôi bị bắt, bị trừng phạt, bị đe dọa, bị xúc phạm bởi hệ thống truyền thông qua TV và lý do gì mà ngày nay còn một số người bị cầm tù?

Ngoài ra Thủ tướng cũng nói hôm đó trước Quốc hội: « Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia.» Hay lắm! Nhưng tại khi sao, chỉ 4 ngày sau đó, bộ phim tạo điều kiện cho các ngư dân cũng như các góa phụ bị đối xử nghiệt ngã được nói, tức là một hành động thực sự yêu nước, thì lại bị cấm chiếu bằng bạo lực bởi cảnh sát Sài Gòn mà không có lời giải thích? Rõ ràng, không có sự nhất quán giữa lời nói của Thủ tướng và một số nhà lãnh đạo của Bộ Công an!

Một chi tiết khác phản ánh sự thiếu thống nhất từ những lãnh đạo cao nhất của đất nước: báo Tuổi Trẻ số Tết đăng cuộc phỏng vấn dài với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông thứ trưởng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng này, người thường xuyên thương lượng với các đối tác Trung Quốc đến mức mà người ta tự hỏi ông ta có phải là Ngoại trưởng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là tiến sĩ luật, một trí thức xuất thân từ gia đình danh giá. Khi ông tuyên bố trước các nhà báo, ông ta chẳng quên những thông điệp nào muốn truyền đạt và nhìn chức vụ cao của ông ta, chắc chắn ông cùng với các cố vấn phải duyệt lại bài viết trước khi bật đèn xanh cho đăng nó. Vâng, trong bài viết dài này, Tướng NCV nói chuyện nhiều về các đảo, biển, chủ quyền của Việt Nam. Tất cả các cuộc nói chuyện chỉ nói về Trường Sa! Tôi đã tìm kiếm, nhưng vô vọng để thấy một từ duy nhất : Hoàng Sa! Điều này khẳng định mối lo lắng của tôi mà tôi đã thể hiện một bài viết cho bauxite Việt Nam cách đây hơn một năm, (Hoàng Sa: không thể giữ “nguyên hiện trạng”). Trong chuyến đi Trung Quốc từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 4, năm 2010, cấp trên của ông Nguyễn Chí Vịnh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, tuyên bố muốn duy trì tình thế “nguyên hiện trạng” ở vùng biển Đông Nam Á. Điều này có nghĩa rõ ràng : Việt Nam từ bỏ những đòi hỏi về chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và các đảo bị chiếm đóng bởi lực lượng hải quân Trung Quốc ở Co Lin và Gac Ma năm 1988. Không thể chấp nhận được! Cái “quên” (không nói về HS) đáng lo ngại gần đây của Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng theo chiều hướng đó. Rõ ràng là chúng hoàn toàn mâu thuẫn các tuyên bố một cách chắc chắn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một tháng trước đó rằng sẽ thu hồi lại Hoàng Sa bằng con đường hoà bình và tôn trọng các quy ước quốc tế.

Những tuyên bố khác nhau này, hay có thể là những quan điểm khác nhau, càng rõ rệt theo những hành động hiếu chiến ngày càng nhiều của Trung Quốc can thiệp ngay cả vào những công việc nội bộ của Việt Nam, với tính chất xấc láo, khiêu khích, đe dọa, …, đối với các cuộc biểu tình phản đối ở Việt Nam, cũng như đối với phản ứng ngày càng quyết liệt trong khu vực và từ các nước ASEAN (đặc biệt là Philippines), đối với sự tham gia nhiều và rõ ràng hơn của Hoa Kỳ (mà theo Lịch sử thì chúng ta phải thận trọng bởi vì họ có thể vì lợi ích riêng mà bỏ rơi đồng minh khi họ bắt tay với những kẻ mà họ gọi là kẻ thù). Sự vật thay đổ, con người cũng vậy. Đừng đánh giá tất cả trước sau như nhau. Quan trọng là chúng ta hành động một cách bất bạo động, nhưng kiên quyết, theo luật pháp, tôn trọng người khác, dân tộc khác đối, không quên để các cánh cửa mở rộng. Tin tưởng rằng những người tưởng như là đối thủ trước đây cuối cùng sẽ tham gia cùng với chúng ta để đạt được những sự tiến bộ.

Thực tế, Trung Quốc trong công cuộc chinh phục hải phận và hải đảo đã sử dụng bạo lực đối với Nhật Bản (“tàu đánh cá của Trung Quốc” – đúng hay sai – xâm phạm bờ biển Nhật Bản …) hay đối với Hàn Quốc (lính biên phòng bị đâm bởi “những ngư dân Trung Quốc” – đúng hay sai), thách thức Hoa Kỳ (tháng 3 năm 2009 tàu USNS “Impeccable,” bị tấn công bởi năm “tàu đánh cá Trung Quốc” thực hay giả mạo – cách đảo Nam Hải 120 km), đe dọa Ấn Độ (tàu INS Airavat, ngày 22/7/2011, bởi tàu chiến Trung Quốc chỉ cách bờ biển Nha Trang 45 hải lý, trong vùng khai thác kinh tế của riêng Việt Nam) … Tất cả những hành động này thể hiện chính sách của Bắc Kinh. Chúng tạo ra những liên minh mới giữa các quốc gia, và đặc biệt là cách nhìn mới của công chúng. Lãnh đạo Việt Nam không thể bỏ qua mà phải sử dụng chúng để bảo vệ đất nước cũng như ngư dân của họ.

Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không từ bỏ dễ dàng tham vọng với cái lưỡi bò. Họ công bố nó với sự chuẩn bị đằng sau cả về tài chính lẫn sức mạnh của quân đội. Họ đã bắt đầu và chắc chắn các nhà lãnh đạo bành trướng Hán sẽ tìm mọi cách mở rộng nó. DOC (Declaration of Conduct) mà Trung Quốc tuy đã ký trong năm 2002 nhưng lại không tôn trọng. Đó là điều hiển nhiên. Sẽ là điều ngạc nhiên khi Bắc Kinh nhanh nhảu ký COC (Code of Conduct), vì đó là luật sẽ ngăn cản tham vọng của họ, một dự án bất chấp tất cả và chỉ có thể thực hiện bằng bạo lực với sự coi thường luật pháp quốc tế. Như vậy, chẳng cần đoán, có thể nói rằng năm 2012 chắc chắn chúng ta sẽ thấy những mối đe dọa mới, những hành vi xâm lược, mà nạn nhân là ngư dân Việt Nam và gia đình của họ. Tham vọng thống trị và sự khát dầu lửa, trên cơ sở một chủ nghĩa dân tộc cự đoan, đều sẽ không bị ngăn lại qua các cuộc đàm phán song phương về vấn đề biển và đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sẽ rất là ngây thơ khi đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán đó. Trung Quốc giả vờ thương lượng làm như muốn đạt được một hòa bình, nhưng thực ra để có thêm thời gian chờ đợi thời điểm thích hợp để đưa ra những cú bạo lực. Họ đã luôn luôn làm như vậy. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc là những chuyên gia trong các thủ đoạn bẩn thỉu.

Rằng họ bắt đầu bằng cách thông báo, họ rất thương tiếc số phận của các ngư dân Việt Nam, những người bị mất tích, mà họ “không thể” cung cấp nơi trú ẩn do điều kiện mưa bão, những người bị mất tích do bị đâm ban đêm bởi những tàu của họ “không phải ngẫu nhiên” có vỏ bằng thép. Rằng họ bắt đầu bằng công nhận với sự thương tiếc và đến bù cho các vụ cướp bóc thực hiện đối với hàng trăm tàu thuyền đánh cá (hải sản đánh được và thiết bị tàu bị đánh cắp hoặc bị phá hủy, tàu bị chìm đắm, bị cháy …), rằng họ bắt đầu bằng cách bồi thường các gia đình có người chết hay mất tích (nhưng tiền không bao giờ có thể mang lại người thân yêu). Rằng họ phải ngăn chặn quấy rối hàng ngày các ngư dân, bãi bỏ lệnh cấm đánh cá từ tháng năm đến tháng tám, trong thực tế chỉ các tàu thuyền đánh cá Trung Quốc không bị cấm…

Chỉ sau đó, chúng ta mới có thể bắt đầu tin tưởng vào họ để đàm phán một cách chân thành. Nếu không, mọi điều, tất cả điều của họ chỉ là lừa dối.

Trong khi những mối đe dọa quân sự được sử dụng bởi Bắc Kinh, mà tôi đã nói, không phải là dễ dàng thực hiện và nguy hiểm, vì nó có thể quay ngược chống lại kẻ gây ra, thì mối đe dọa kinh tế Trung Quốc lại là thực tế với mức độ đáng kể khi chúng ta thấy họ xâm nhập dần dần vào nền kinh tế của Việt Nam. Qua các vụ làm ăn đặc biệt là với các gia đình Việt Nam có liên hệ với các nhà lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc có thể bóp chết đất nước chúng ta, bởi vì chúng ta quá phụ thuộc vào họ. Đây lại là một cuộc chiến khác đòi hỏi thời gian của các nhà công nghiệp và doanh nhân Việt Nam, đòi hỏi lòng yêu nước, sự thông minh của họ để nhìn thấy những lợi ích lâu dài. Một cách gián tiếp, những điều này sẽ dẫn đến lối thoát cho toàn bộ nền kinh tế liên quan đến biển và hải đảo …

Nói cách khác, theo ý kiến của tôi, cuộc chiến để bảo vệ các hải đảo và biển cũng như đòi lại Hoàng Sa với các đảo bị chiếm đóng sau cuộc xâm lược năm 1988, là một cuộc chiến lâu dài, trong đó trước hết phải bảo vệ ngư dân và tạo điều kiện giúp họ sống tốt và an toàn, bởi vì chính họ là những người, với sự có mặt của mình, khẳng định chủ quyền quốc gia về biển cả. Nếu không có sự hiện diện của họ, biển sẽ bị bỏ trống và các tàu đánh cá Trung Quốc sẽ nhanh chóng lấp các chỗ trống này (những chỗ như vậy ngày càng nhiều hơn) và các tàu chiến Trung Quốc đến để “bảo vệ” chúng. Thiếu một đường lối kiên quyết và toàn diện tức thời, thì sau khi mất các đảo, Việt Nam sẽ mất cả hải phận rồi tiếp đến là đất liền.

Toàn dân phải đứng lên để hỗ trợ các nhà lãnh đạo, những người xứng đáng với vị trí của họ, thì tình hình chắc chắn sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực trên cơ sở tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế. Với sự can thiệp của công luận quốc tế. Đừng sợ, đất nước Việt Nam ở vào một vị trí khó có thể bị tấn công.

Cho tới lúc đó, như một ngư dân, một thợ lặn trong bộ phim, có nói với tôi, chúng ta phải “nhìn trừng trừng vào mắt” con cá mập, bởi vì, khi đó loại động vật săn mồi ăn này sẽ không dám tấn công ta nữa. Điều này có nghĩa, ưu tiên cho đàm phán, không để rơi vào cái bẫy khiêu khích hay xúc phạm, nhưng chúng ta phải kiên quyết chống lại mọi sự xâm lược Trung Quốc, ngay cả bằng lời nói. Đặc biệt là cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, những người xứng đáng với vị trí của họ : không được ký kết các thỏa thuận ngầm sau lưng dân, không thể đặt dân trước sự đã rôi, như họ vẫn làm cho đến nay. Bất kỳ quyết định nào được đề xuất về biển và đảo đều phải được Quốc hội phê chuẩn sau các cuộc tranh luận thực sự và được dân ủng hộ. Thời điểm như vậy sẽ đến : tôi tin tưởng vào tương lai. Một lòng tin tưởng nhưng với cảnh giác … và không thiếu tính chiến đâu bên cạnh nhiều bạn bè của tôi.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (phần 5)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

 

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn.org. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Khách ẩn danh hỏi: Với thái độ của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, ông có nghĩ là tương lai biển đảo của Việt Nam sẽ bị Trung Quốc thâu tóm, không về mặt quân sự, chủ quyền thì cũng về mặt kinh tế hay không?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời [*]:

Tôi đồng ý tham gia diễn đàn thiệt dễ chịu này để nói về bộ phim và ngư dân miền Trung Việt Nam. Nhưng đúng là số phận của họ nằm trong một khuôn khổ tổng quát. Không phải là một chính trị học cũng không phải thầy bói, với tất cả sự khiêm tốn, tôi cố gắng trả lời câu hỏi của bạn với sự nới rộng của phân tích cùng suy luận.

Đầu tiên, tôi thấy có vẻ như là thái độ của chính quyền Việt Nam tại Hà Nội hay Sài Gòn không nhất quán. Trong nội bộ họ, cũng có sự khác biệt về quan điểm, phụ thuộc vào mức độ trách nhiệm cuả người phát ngôn, cách hay nơi truyền đạt tin tức… Tôi đưa ví dụ phản ánh dấu hiệu ý kiến khác nhau ngay cả ở cấp cao của chính quyền. Thật vậy, ngày 25 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng trước Quốc hội, nơi hiện diện hầu hết các thành viên của bộ chính trị ĐCSVN «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này»… Cho đến đây, tôi cho là hoàn hảo và tôi tự hỏi, ai ở Việt Nam hay trên thế giới không đồng ý với lời tuyên bố này (trừ các nhà lãnh đạo Trung Quốc, những người chẳng sợ bị chế giễu). Bộ phim của tôi không nói bất cứ điều gì khác với những gì mà Thủ tướng khẳng định. Những người Việt Nam yêu nước, trong đó có cả tôi, cũng chẳng nói bất cứ điều gì khác khi chúng tôi xuống đường ở Sài Gòn hay diễu hành xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tại sao chúng tôi bị bắt, bị trừng phạt, bị đe dọa, bị xúc phạm bởi hệ thống truyền thông qua TV và lý do gì mà ngày nay còn một số người bị cầm tù?

Ngoài ra Thủ tướng cũng nói hôm đó trước Quốc hội: «Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia.» Hay lắm! Nhưng tại khi sao, chỉ 4 ngày sau đó, bộ phim tạo điều kiện cho các ngư dân cũng như các góa phụ bị đối xử nghiệt ngã được nói, tức là một hành động thực sự yêu nước, thì lại bị cấm chiếu bằng bạo lực bởi cảnh sát Sài Gòn mà không có lời giải thích? Rõ ràng, không có sự nhất quán giữa lời nói của Thủ tướng và một số nhà lãnh đạo của Bộ Công an!

Một chi tiết khác phản ánh sự thiếu thống nhất từ những lãnh đạo cao nhất của đất nước: báo Tuổi Trẻ số Tết đăng cuộc phỏng vấn dài với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông thứ trưởng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng này, người thường xuyên thương lượng với các đối tác Trung Quốc đến mức mà người ta tự hỏi ông ta có phải là Ngoại trưởng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là tiến sĩ luật, một trí thức xuất thân từ gia đình danh giá. Khi ông tuyên bố trước các nhà báo, ông ta chẳng quên những thông điệp nào muốn truyền đạt và nhìn chức vụ cao của ông ta, chắc chắn ông cùng với các cố vấn phải duyệt lại bài viết trước khi bật đèn xanh cho đăng nó. Vâng, trong bài viết dài này, Tướng NCV nói chuyện nhiều về các đảo, biển, chủ quyền của Việt Nam. Tất cả các cuộc nói chuyện chỉ nói về Trường Sa! Tôi đã tìm kiếm, nhưng vô vọng để thấy một từ duy nhất: Hoàng Sa! Điều này khẳng định mối lo lắng của tôi mà tôi đã thể hiện một bài viết cho bauxite Việt Nam cách đây hơn một năm, (Hoàng Sa: không thể giữ “nguyên hiện trạng”). Trong chuyến đi Trung Quốc từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 4, năm 2010, cấp trên của ông Nguyễn Chí Vịnh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, tuyên bố muốn duy trì tình thế “nguyên hiện trạng” ở vùng biển Đông Nam Á. Điều này có nghĩa rõ ràng: Việt Nam từ bỏ những đòi hỏi về chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và các đảo bị chiếm đóng bởi lực lượng hải quân Trung Quốc ở Co Lin và Gac Ma năm 1988. Không thể chấp nhận được! Cái “quên” (không nói về HS) đáng lo ngại gần đây của Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng theo chiều hướng đó. Rõ ràng là chúng hoàn toàn mâu thuẫn các tuyên bố một cách chắc chắn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một tháng trước đó rằng sẽ thu hồi lại Hoàng Sa bằng con đường hoà bình và tôn trọng các quy ước quốc tế.

Những tuyên bố khác nhau này, hay có thể là những quan điểm khác nhau, càng rõ rệt theo những hành động hiếu chiến ngày càng nhiều của Trung Quốc can thiệp ngay cả vào những công việc nội bộ của Việt Nam, với tính chất xấc láo, khiêu khích, đe dọa…, đối với các cuộc biểu tình phản đối ở Việt Nam, cũng như đối với phản ứng ngày càng quyết liệt trong khu vực và từ các nước ASEAN (đặc biệt là Philippines), đối với sự tham gia nhiều và rõ ràng hơn của Hoa Kỳ (mà theo Lịch sử thì chúng ta phải thận trọng bởi vì họ có thể vì lợi ích riêng mà bỏ rơi đồng minh khi họ bắt tay với những kẻ mà họ gọi là kẻ thù). Sự vật thay đổ, con người cũng vậy. Đừng đánh giá tất cả trước sau như nhau. Quan trọng là chúng ta hành động một cách bất bạo động, nhưng kiên quyết, theo luật pháp, tôn trọng người khác, dân tộc khác đối, không quên để các cánh cửa mở rộng. Tin tưởng rằng những người tưởng như là đối thủ trước đây cuối cùng sẽ tham gia cùng với chúng ta để đạt được những sự tiến bộ.

Thực tế, Trung Quốc trong công cuộc chinh phục hải phận và hải đảo đã sử dụng bạo lực đối với Nhật Bản (“tàu đánh cá của Trung Quốc” – đúng hay sai – xâm phạm bờ biển Nhật Bản …) hay đối với Hàn Quốc (lính biên phòng bị đâm bởi “những ngư dân Trung Quốc” – đúng hay sai), thách thức Hoa Kỳ (tháng 3 năm 2009 tàu USNS “Impeccable,” bị tấn công bởi năm “tàu đánh cá Trung Quốc” thực hay giả mạo – cách đảo Nam Hải 120 km), đe dọa Ấn Độ (tàu INS Airavat, ngày 22/7/2011, bởi tàu chiến Trung Quốc chỉ cách bờ biển Nha Trang 45 hải lý, trong vùng khai thác kinh tế của riêng Việt Nam)… Tất cả những hành động này thể hiện chính sách của Bắc Kinh. Chúng tạo ra những liên minh mới giữa các quốc gia, và đặc biệt là cách nhìn mới của công chúng. Lãnh đạo Việt Nam không thể bỏ qua mà phải sử dụng chúng để bảo vệ đất nước cũng như ngư dân của họ.

Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không từ bỏ dễ dàng tham vọng với cái lưỡi bò. Họ công bố nó với sự chuẩn bị đằng sau cả về tài chính lẫn sức mạnh của quân đội. Họ đã bắt đầu và chắc chắn các nhà lãnh đạo bành trướng Hán sẽ tìm mọi cách mở rộng nó. DOC (Declaration of Conduct) mà Trung Quốc tuy đã ký trong năm 2002 nhưng lại không tôn trọng. Đó là điều hiển nhiên. Sẽ là điều ngạc nhiên khi Bắc Kinh nhanh nhảu ký COC (Code of Conduct), vì đó là luật sẽ ngăn cản tham vọng của họ, một dự án bất chấp tất cả và chỉ có thể thực hiện bằng bạo lực với sự coi thường luật pháp quốc tế. Như vậy, chẳng cần đoán, có thể nói rằng năm 2012 chắc chắn chúng ta sẽ thấy những mối đe dọa mới, những hành vi xâm lược, mà nạn nhân là ngư dân Việt Nam và gia đình của họ. Tham vọng thống trị và sự khát dầu lửa, trên cơ sở một chủ nghĩa dân tộc cự đoan, đều sẽ không bị ngăn lại qua các cuộc đàm phán song phương về vấn đề biển và đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sẽ rất là ngây thơ khi đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán đó. Trung Quốc giả vờ thương lượng làm như muốn đạt được một hòa bình, nhưng thực ra để có thêm thời gian chờ đợi thời điểm thích hợp để đưa ra những cú bạo lực. Họ đã luôn luôn làm như vậy. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc là những chuyên gia trong các thủ đoạn bẩn thỉu.

Rằng họ bắt đầu bằng cách thông báo, họ rất thương tiếc số phận của các ngư dân Việt Nam, những người bị mất tích, mà họ “không thể” cung cấp nơi trú ẩn do điều kiện mưa bão, những người bị mất tích do bị đâm ban đêm bởi những tàu của họ “không phải ngẫu nhiên” có vỏ bằng thép. Rằng họ bắt đầu bằng công nhận với sự thương tiếc và đến bù cho các vụ cướp bóc thực hiện đối với hàng trăm tàu thuyền đánh cá (hải sản đánh được và thiết bị tàu bị đánh cắp hoặc bị phá hủy, tàu bị chìm đắm, bị cháy …), rằng họ bắt đầu bằng cách bồi thường các gia đình có người chết hay mất tích (nhưng tiền không bao giờ có thể mang lại người thân yêu). Rằng họ phải ngăn chặn quấy rối hàng ngày các ngư dân, bãi bỏ lệnh cấm đánh cá từ tháng năm đến tháng tám, trong thực tế chỉ các tàu thuyền đánh cá Trung Quốc không bị cấm…

Chỉ sau đó, chúng ta mới có thể bắt đầu tin tưởng vào họ để đàm phán một cách chân thành. Nếu không, mọi điều, tất cả điều của họ chỉ là lừa dối.

Trong khi những mối đe dọa quân sự được sử dụng bởi Bắc Kinh, mà tôi đã nói, không phải là dễ dàng thực hiện và nguy hiểm, vì nó có thể quay ngược chống lại kẻ gây ra, thì mối đe dọa kinh tế Trung Quốc lại là thực tế với mức độ đáng kể khi chúng ta thấy họ xâm nhập dần dần vào nền kinh tế của Việt Nam. Qua các vụ làm ăn đặc biệt là với các gia đình Việt Nam có liên hệ với các nhà lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc có thể bóp chết đất nước chúng ta, bởi vì chúng ta quá phụ thuộc vào họ. Đây lại là một cuộc chiến khác đòi hỏi thời gian của các nhà công nghiệp và doanh nhân Việt Nam, đòi hỏi lòng yêu nước, sự thông minh của họ để nhìn thấy những lợi ích lâu dài. Một cách gián tiếp, những điều này sẽ dẫn đến lối thoát cho toàn bộ nền kinh tế liên quan đến biển và hải đảo …

Nói cách khác, theo ý kiến của tôi, cuộc chiến để bảo vệ các hải đảo và biển cũng như đòi lại Hoàng Sa với các đảo bị chiếm đóng sau cuộc xâm lược năm 1988, là một cuộc chiến lâu dài, trong đó trước hết phải bảo vệ ngư dân và tạo điều kiện giúp họ sống tốt và an toàn, bởi vì chính họ là những người, với sự có mặt của mình, khẳng định chủ quyền quốc gia về biển cả. Nếu không có sự hiện diện của họ, biển sẽ bị bỏ trống và các tàu đánh cá Trung Quốc sẽ nhanh chóng lấp các chỗ trống này (những chỗ như vậy ngày càng nhiều hơn) và các tàu chiến Trung Quốc đến để “bảo vệ” chúng. Thiếu một đường lối kiên quyết và toàn diện tức thời, thì sau khi mất các đảo, Việt Nam sẽ mất cả hải phận rồi tiếp đến là đất liền.

Toàn dân phải đứng lên để hỗ trợ các nhà lãnh đạo, những người xứng đáng với vị trí của họ, thì tình hình chắc chắn sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực trên cơ sở tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế. Với sự can thiệp của công luận quốc tế. Đừng sợ, đất nước Việt Nam ở vào một vị trí khó có thể bị tấn công.

Cho tới lúc đó, như một ngư dân, một thợ lặn trong bộ phim, có nói với tôi, chúng ta phải “nhìn trừng trừng vào mắt” con cá mập, bởi vì, khi đó loại động vật săn mồi ăn này sẽ không dám tấn công ta nữa. Điều này có nghĩa, ưu tiên cho đàm phán, không để rơi vào cái bẫy khiêu khích hay xúc phạm, nhưng chúng ta phải kiên quyết chống lại mọi sự xâm lược Trung Quốc, ngay cả bằng lời nói. Đặc biệt là cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, những người xứng đáng với vị trí của họ : không được ký kết các thỏa thuận ngầm sau lưng dân, không thể đặt dân trước sự đã rôi, như họ vẫn làm cho đến nay. Bất kỳ quyết định nào được đề xuất về biển và đảo đều phải được Quốc hội phê chuẩn sau các cuộc tranh luận thực sự và được dân ủng hộ. Thời điểm như vậy sẽ đến: tôi tin tưởng vào tương lai. Một lòng tin tưởng nhưng với cảnh giác… và không thiếu tính chiến đâu bên cạnh nhiều bạn bè của tôi.

Thành viên Mai Trang hỏi:

Kính thưa ông André Menras,

Xin được hỏi ông:

1/ Có phải vì nghĩ VN từng là thuộc địa của nước ông, nên khi miền Nam VN có sự hiện diện của quân đội Mỹ, ông bèn chống lại chính phủ miền Nam bằng cách treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi đã rất ngây thơ khi tôi 20 tuổi (người ta nói ngày nay tôi vẫn vậy vào tuổi 66) nhưng cũng không đến mức để nói rằng chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương cũng như ở Bắc Phi đã kết thúc tốt đẹp. Tôi và chẳng có ai trong gia đình đã tham gia trong đó. Chúng tôi cũng không tham gia những phong trào chống thuộc địa làm rung chuyển nước Pháp. Như tôi đã nói, những gì đã đẩy tôi lên bức tượng với lá cờ của MTDTGPMNVN, không phải là một ý thức hệ, không phải do tôi là người Pháp cũng không phải tôi đối lập với Mỹ. Tôi cũng có xu hướng, trước khi đi Việt Nam, thông qua quan điểm mỗi ngày trên truyền hình và các phương tiện truyền thông hình ảnh của chiến tranh, cho rằng quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam là để bảo vệ “thế giới tự do”… Tôi đã hoàn toàn thay đổi quan điểm của tôi khi tiếp xúc với thực tế mà tôi đã chứng kiến và tôi có nói nhiều lần trong diễn đàn này.

Có điều buồn cười là sau khi bị bắt, trong cuộc thẩm vấn, một đại tá an ninh chính trị Sài Gòn đã đặt câu hỏi cũng như bạn “ông có thuộc phòng nhì không? Ông có làm việc cho Bảo Đại không?”. Trong khi tờ báo lá cải của cộng đồng Pháp tại Sài Gòn, dưới sự điều khiển của Tổng Lãnh sự quán Pháp, coi tôi và các đồng nghiệp là “những người Maoism trẻ, tâm thần gần như của người chậm phát triển, những người không hiểu biết gì về chiến tranh Việt Nam…”. Đối với họ, rõ ràng, chúng tôi là những người Pháp xấu bởi vì đã quấy nhiễu các thương nhân trong các phi vụ nhiều hay ít có vấn đề, thậm chí phanh phui những kẻ đồng lõa của họ. Những người khác thì nói hay viết rằng chúng tôi có lẽ làm việc cho CIA vì tại thời điểm đó, Nixon qua mở rộng chiến tranh (cuộc xâm lược Cam-pu-chia và hạ Lào) đã bắt đầu chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, “chuyển màu xác chết sang màu vàng” và đã tuyên bố sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam. Một số người Việt Nam, cay đắng vì điều này, có thể có nhận thức sẽ bị bỏ rơi, đã nhân cơ hội này coi lá cờ là biểu tượng cho phản bội của Mỹ. Tất cả những điều này làm cho tôi cười rất nhiều.

Những người khốn khổ này đã không thể hiểu được rằng sự hy sinh chỉ có thể đi từ trái tim và lương tâm, từ sự ghê tởm những tội ác, từ những tội nghiệp hay ngưỡng mộ, tóm lại một từ: tình con người. Và nhiều người cho đến ngày nay vẫn chưa hiểu điều đó khi tôi đấu tranh cho Hoàng Sa và các ngư dân của chúng ta.

Giáo dục mà tôi thừa hưởng từ cha mẹ, những người nông dân nghèo, trung thực, với niềm tự hào, cũng đóng rất nhiều trong quyết định của tôi vào công cuộc đấu tranh. Mặc dù trong cả cuộc đời, họ không “làm chính trị” (như họ nói) nhưng họ luôn đứng về phía những người nghèo, nhưng người yếu. Yếu tố cuối cùng đã đẩy tôi đến hành động cực đoan này, là ý thức trách nhiệm của bản thân là một giáo viên của nước Cộng hoà Pháp. Tôi tin, và tôi luôn tin tưởng vào các giá trị tự do, bình đẳng và bác ái. Tôi có nhiệm vụ dạy điều đó cho thế hệ trẻ. Và cách tốt nhất để dạy không phải là lời nói mà là hành động.

Làm thế nào để hiểu được điều này khi chúng ta không từng trải qua?

Thành viên Mai Trang hỏi:

2/ Có bao giờ ông hối tiếc về hành động này làm ông mất tự do vài năm trời?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi đã nói, tôi không hối tiếc với những gì tôi đã làm. Tất nhiên, bị đánh đập, bị tù đày, rồi bệnh viện tâm thần, phải xa gia đình, những trừng phạt khủng khiếp phải chịu, những năm dài không bạn nữ, lương thực thiếu thốn và bị căm ghét… tất cả điều này chẳng thú vị cho một thanh niên 20 tuổi đầy đủ sức sống, một người yêu thương cha mẹ, bạn bè, thích chơi thể thao và tiệc tùng. Nhưng tôi tự an ủi những khi xuống tinh thần rằng hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam cùng độ tuổi cũng ở trong tình trạng như tôi, hay nhiều khi còn tệ hại hơn.

Cuối cùng, tôi phải nói rằng qua cuộc đấu tranh này mà tôi thực sự đã trưởng thành và tôi đã phát hiện ra “con người” có nghĩa gì. Bài học quí giá, không thể quên này, tôi có được là nhờ nhân dân Việt Nam. Nếu không hiểu nó, thì bạn cũng không thể hiểu được cuộc đấu tranh của tôi cho ngư dân ngày nay.

Thành viên Mai Trang hỏi:

3/ Ông nghĩ gì khi người dân Việt chống bọn bành trướng Trung Cộng bị nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay bỏ tù như ông Điếu Cày Nguyễn văn Hải, bà Bùi thị Minh Hằng?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi nghĩ rằng việc họ bị tù là không công bằng, chẳng những về nhân đạo mà còn về chính trị, nó làm suy yếu Việt Nam, làm suy yếu chế độ Việt Nam đối với sự xâm lăng của Trung Quốc. Tất cả điều này làm tổn hại đến hình ảnh của Việt Nam và làm giảm sự giúp đỡ của quốc tế. Tôi nghĩ rằng đại đa số người Việt Nam biểu tình một cách bất bạo động không để lật đổ chế độ, nhưng để bảo vệ đất nước. Qua đàn áp họ, chế độ đã làm giảm lực lượng ủng hộ họ và càng bị cô lập hơn. Cũng như là một người tự bắn vào chân mình.

Thành viên Mai Trang hỏi:

4/ Ông nghĩ gì khi các ông: André Menras, Huỳnh Tấn Mẫm khi xưa chống chế độ miền Nam nên bị bỏ tù, bây giờ khi xuống đường biểu tình chống bọn bành trướng Trung Cộng cũng bị nhà cầm quyền khuyến cáo?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Trong câu hỏi của bạn và các câu hỏi sau đây, tôi xin lỗi một chi tiết nhỏ, tôi không thích từ “Trung Cộng”. Đối với tôi, các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã không có thể được mô tả như là cộng sản: họ không xứng đáng.

Tóm lại, chúng tôi, những người bạn tù già mà bạn nói, đã quen và có kinh nghiệm trong các cuộc chiến chống xâm lược. Nó đã nuôi thời thanh niên của chúng tôi. Cùng nhau hay bên cạnh nhau, chúng tôi đã trải qua ngục tối, bị đánh đập, tuyệt thực, biết những kẻ rừng rú nhất “đầu trâu mặt ngựa”… Chúng tôi đã nhìn vào mắt chúng và hát những bài hát của quân giải phóng. Nhà tù là trận chiến của chúng tôi và chúng tôi chưa bao giờ chịu nhường bước. Vì vậy, ai có thể làm chúng tôi sợ hãi khi Việt Nam là nạn nhân của một sự xâm lược kiểu mới và ai có thể đặt các dấu hỏi lên những gì mà chúng tôi đã đạt được qua những hy sinh? Ai có thể ngăn cản chúng tôi chiến đấu một lần nữa? Không ai cả! Đặc biệt không phải là những người tự xưng là bạn bè của chúng tôi, mặc dù chúng tôi có để ý đến họ. Chính những người này và đồng lõa của họ đã đẩy chúng tôi đến đấu tranh mặc dù chúng tôi không muốn. Họ không chấp nhận đối thoại. Bởi vì họ sợ. Họ cho ảnh sát mặc thường phục theo dõi chúng tôi như chúng tôi là những tên khủng bố nguy hiểm. Họ chắc chắn xâm nhập vào hộp thư của chúng tôi… Họ đặt lén camera để theo dõi cuộc sống riêng tư của chúng tôi. Ví dụ, tấm băng ghi cho thấy họ hành động để bắt luật sư Cù Huy Hà Vũ! Nó thật là nhục nhã và bẩn thỉu! Họ làm cho chúng tôi sống bầu không khí dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn… Khi chịu đựng được tất cả những điều này từ một kẻ thù, thì chúng ta coi thường chúng. Nó lại còn có khi trở thành niềm tự hào. Nhưng khi họ là những người mà bạn coi là đồng chí, là những người luôn được bạn hỗ trợ, mà áp đặt lên bạn những điều này, bạn sẽ cảm thấy bị sỉ nhục, tổn thương sâu sắc, bị phản bội. Đối với tôi, nó làm tăng sự phẫn nộ và quyết tâm của tôi tiếp tục sát cánh cùng với các bạn trẻ, cùng với đồng bào ngư dân của chúng tôi, trên con đường mà chúng tôi đã lựa, đó là con đường trước và trên tất cả: độc lập của Việt Nam. Thực tế sẽ phán xét.

Nếu có thể còn nhớ một dấu hiệu của tuổi trẻ vui tươi trong tình huống đáng buồn như thế này, như tôi nói đùa với các bạn thân cựu sinh viên của tôi ở nhà tù Chí Hòa, bất cứ khi nào tôi ở Việt Nam là tôi có thêm một cái gì đó, “mình có cái đuôi!”

Thành viên Mai Trang hỏi:

5/ Ông có bao giờ hối tiếc vì nhập quốc tịch Việt Nam không?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Đây là một vinh dự rất lớn cho tôi khi có quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch gốc của tôi. Đó là một vinh dự khi nhận nó từ một lãnh đạo cấp cao nhất, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết một người kháng chiến của Tây Ninh. Đối với tôi, quốc tịch không chỉ là một giải thưởng cho quá khứ, mà một quốc tịch với trách nhiệm, một lời mời để đấu tranh cho công cuộc xây dựng ngày nay.

Nhiều bạn bè nói với tôi một cách chân thành, “Chúc mừng!”. Nhiều người khác, khá thất vọng với tình hình xã hội và chính trị đã nói với tôi: “Chia buồn!”. Những người cũng biết tôi đã giữ im lặng, và lo lắng tự hỏi: “anh ta sẽ làm gì?”. Còn tôi, ngày đó, tôi đã hạnh phúc bởi vì chính thức tham gia vào các chuyện quan trọng ở Việt Nam, tôi không còn ở bên ngoài mà đã vào trong nhà, trong gia đình. Bây giờ tôi hoàn toàn chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn, các cuộc chiến. Với nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Tôi đã nhận cuốn Hiến pháp năm 1992. Tôi đọc nó một cách cẩn thận, rất cẩn thận. Và, mặc dù tôi tự hỏi về một số vấn đề khó hiểu, nhưng tôi tôn trọng nó và yêu cầu nó được tôn trọng. Tôi lấy tên Việt Nam được đặt khi còn ở trong tù làm tên chính thức. Nó có một giá trị thiêng liêng đối với tôi bởi vì các anh em bạn tù đã tặng nó cho tôi sau một quyết định được suy nghĩ kỹ dựa trên các hành động của tôi trong những điều kiện khắc nghiệt. Tôi không bao giờ phản bội nó. Sẽ có không có ông Hyda và Tiến sĩ Jekyll. Ở Việt Nam, tôi luôn luôn là Hồ Cương Quyết!

Thành viên Mai Trang hỏi:

6/ Ông có liên lạc các học trò của ông khi xưa tại Lê Quý Đôn để hỏi họ cảm nghĩ như thế nào về hành động của ông lúc trước tại miền Nam VN?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi chỉ gặp lại hai hoặc ba lần một cô học trò nhỏ cũ (cô được tám tuổi vào thời điểm đó) của một lớp mà dạy ở trường Lê Quý Đôn vào năm 1970, trước khi tôi bị bắt. Cô ta hiện đang làm trong ngành du lịch. Chúng tôi thực sự rất vui để tìm lại chính mình nhưng tôi không có thời gian cũng như không mong muốn nói chuyện chính trị với cô ấy. Một ngày, tôi nhận được qua Internet hình ảnh của lớp học của tôi ở trường Lê Quý Đôn. Thật cảm động, vì chiến tranh, vì cuộc sống mà chúng tôi đã phải sống rải rác trên khắp thế giới. Đó là một thảm kịch khủng khiếp, những gì đã xảy ra với người dân Việt Nam. Tôi thật sự muốn gặp lại những người bạn nhỏ (chú gà mới nở) nay đã thành người lớn …

Thành viên Mai Trang hỏi:

7/ Nhận định của ông như thế nào về sự hiện diện của Trung Cộng tại VN hiện nay: tại các công trình bauxite tại cao nguyên Trung Phần, tại Hoàng sa, Trường sa?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Thảm kịch lớn nhất của nhân dân Việt Nam là có biên giới chung với Trung Quốc. Bất cứ với chế độ nào, vào bất kỳ thời gian nào, những người đứng đầu của đất nước này đều coi Việt Nam là tài sản riêng, nơi tiêu khiển, lá chắn của họ ở biên giới phía nam… Và Việt Nam đã lớn mạnh, đoàn kết, tự giải phóng và phát triển trong quan hệ mâu thuẫn nhưng cần thiết với người khổng lồ ích kỷ này. Điều này vẫn còn đúng ngày nay, trong điều kiện đặc biệt khó khăn và nguy hiểm cho Việt Nam. Qua những gì xảy ra trong quá khứ, Trung Quốc luôn cớ sự thèm muốn đối với Việt Nam. Nó tăng lên mỗi khi Việt Nam suy yếu hay khi Trung Quốc cường thịnh. Hoàng Sa đã trải qua sự chiếm đóng quân sự đầu tiên của Trung Quốc trong năm 1946, khi Hiệp ước Chung King cho phép Tưởng Giới Thạch giải giáp quân đội Nhật. Vào thời điểm đó, quần đảo không còn dưới sự “bảo vệ” của hải quân thuộc địa Pháp. Người Trung Quốc đã đến định cư trên phần phía bắc (gọi là Amphitrite) và họ ở luôn đó đến nay. Họ gia tăng và củng cố sự chiếm đóng sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Cho đến ngày 19 tháng một năm 1974, lợi dụng sự thờ ơ của hạm đội 7 Hoa Kỳ, mặc dù có mặt ngay gần đó, họ đã sử dụng bạo lực tấn công một phần phía nam của quần đảo này (được gọi là Crossant nhóm Trăng Khuyết, Lưỡi Liềm), làm 64 quân nhân Việt Nam thiệt mạng, và chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Họ tấn công Trường Sa năm 1988, làm 74 quân nhân Việt Nam thiệt mạng, rồi sau đó gậm nhấm quần đảo, phù hợp với giai đoạn suy yếu kinh tế của Việt Nam và phát triển kinh tế của Trung Quốc. Kẻ ăn thịt Trung Quốc vẫn đang rình rập chờ đợi thời điểm yếu đuối của con mồi và yếu tố bất ngờ.

Điều đó nói lên, theo ý tôi, chiến lược để kiểm soát Việt Nam và đưa Việt Nam xuống thành một tỉnh của Trung Quốc là một chiến lược toàn diện. Nó chưa từng được tổ chức với những suy tính cẩn thận như ngày nay.

Trước hết, chiến lược này được tính trên sự phụ thuộc kinh tế có thể được đo lường bằng mức thâm hụt rất lớn và còn tăng nữa trong cán cân thương mại gây thiệt hại cho Việt Nam, họ thò bàn tay vào các dự án xây dựng lớn, vào các nhà máy nhiệt điện lớn ở Bắc Việt Nam với mục đích kiểm soát nền sản xuất năng lượng. Trung Quốc cũng luôn có những khát vọng đối với khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Dự án Bô xít ở Trung Nguyên là ví dụ điển hình. Tất cả các chi phí chính, ô nhiễm môi trường và xã hội, nguy cơ của một thảm họa lũ “bùn đỏ”, đầu tư trong các cấu trúc, đường bộ, đường sắt, bến cảng, Việt Nam chịu hết. Trung Quốc sẽ thu thập nhôm giá rẻ và chỉ mất thêm chi phí vận chuyển tối thiểu từ các cảng Việt Nam vào lãnh thổ của mình. Việt Nam sẽ bán hết dự trữ quặng, một ngày cần lại, chúng ta sẽ phải mua với một giá đắt hơn. Sẽ mất nhiều thời gian để đề cập đến các thị trường song song của than đá, đồng và các kim loại khác, gỗ quý hiếm hoặc thường vượt biên giới, nơi mà sự giám sát lỏng lẽo với sự đồng lõa của các quan chức tham nhũng địa phương… Đó thực sự là cướp bóc có hệ thống.

Đồng thời, các công ty Trung Quốc thuê hàng ngàn ha đất cho 50 năm hay 100 năm, một số tại các điểm chiến lược. Họ tàn phá rừng hiện nay tạo gây xói mòn, họ chỉ trồng các loại cây cho thị trường của họ, và sau đó sẽ để lại những vùng hoang tàn. Đó là thảm họa Kinh tế và sinh thái cho Việt Nam! Thêm vào đó, các công ty này, như “Innogreen” chẳng hạn, sau khi thuê đất đã đuổi dân địa phương, đưa công nhân Trung Quốc sang để làm việc, duy trì, và chiếm đất dần dần, các gia đình sẽ sinh ra và phát triển hình thành trên thực tế những vùng lãnh thổ Trung Quốc ngay trong Việt Nam. Phương thức này được thực hiện trước đó tại Lào, Miến Điện… Đây gọi là sự chiếm đóng bằng “sinh sản”.

Vấn đề của người lao động Trung Quốc không có tay nghề chuyên môn hay bất hợp pháp (thực sự họ cũng bị bóc lột bởi các ông chủ Trung Quốc) xảy ra ở nhiều tỉnh của Việt Nam từ Bắc vào Nam. Nhiều nhà báo Việt Nam đã viết những phóng sự với chứng cứ chắc chắn về vấn đề này. Đó là kiểu chiếm đóng với “sự hiện diện”, đặc biệt là khi không có gì đảm bảo rằng những “công nhân” thực sự là công nhân, chứ không phải binh sĩ hay nhân viên tình báo cải trang.

Tiếp theo, như là một yếu tố rất quan trọng của chiến lược dẫn đến sự thống trị của Trung Quốc, mà chúng ta phải đề cập là khối lượng sản phẩm tiêu dùng Trung Quốc chảy liên tục ngày càng nhiều vào Việt Nam, tuy với chất lượng xấu nhưng lại hợp với túi tiền người nghèo. Sản xuất vừa và nhỏ Việt Nam không thể cạnh tranh một cách lành mạnh và đã bị bóp nghẹt. Điều này làm tăng sự phụ thuộc vào Bắc Kinh.

Có nhiều điều để nói về các cuộc tấn công của Trung Quốc về văn hóa, những bộ phim truyền hình, số lượng sách của các tác giả Trung Quốc được nhân lên gấp nhiều lần trong các hiệu sách lớn, học bổng cho sinh viên du học ở Trung Quốc … Ở Việt Nam, Trung Quốc có mặt ở khắp mọi nơi. Hiện hoặc ẩn. Tôi chắc rằng sự xuất phát của một tàu từ Lý Sơn đi đánh cá ở Hoàng Sa đã được báo cho tuần tra Trung Quốc! Tôi lặp lại: chưa bao giờ, mối nguy hiểm của sự thống trị của Việt Nam bởi Trung Quốc lại lớn như ngày nay.

Thành viên Mai Trang hỏi:

8/ Bây giờ ông có thật sự nghĩ Mỹ xâm chiếm miền Nam khi thấy hiện nay Mỹ đã rút quân tại Iraq và đang rút quân tại Afghanistan?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Ở bất cứ nơi nào, Hoa Kỳ can thiệp thường vì lý do không thực như họ tuyên bố, họ châm lửa hay nhen nhóm, nhưng họ không bao giờ dập nó. Họ thường bỏ rơi “đồng minh” trong những tình huống bi thảm. Như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ chỉ hành động cho một mục đích duy nhất: lợi nhuận, thường là ngắn hạn cho các tập đoàn lớn (đặc biệt là vũ khí) và các ngân hàng của họ. Không may, đây là bài học lịch sử. Năm 1972, Nixon và Kissinger đã bán Việt Nam và các hòn đảo, khi họ không còn có thể bảo vệ chúng, để đổi lấy sự xâm nhập thị trường Trung Quốc. Không chút băn khoăn, họ để những người lính VNCH bị thảm sát tại Hoàng Sa Họ thậm chí không hỗ trợ các phản đối của Sài Gòn tại Liên hợp quốc. Với Biển Đông Nam Á ngày nay, sự tham gia ngày càng tăng của Hoa Kỳ là tốt cho cân bằng lực lượng chống lại lòng ham muốn của Trung Quốc. Nhưng đừng để bị lừa: cam kết của Mỹ không vì để bảo vệ công lý hay pháp luật (Mỹ không ký Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982). Sự tăng cường hiện diện của Mỹ chủ yếu là cho lợi ích riêng, như Hillary Clinton tuyên bố. Và những cam kết này cũng có thể sẽ bị « quên » sau một cuộc thương lượng mới các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Washington trên lưng của người dân ASEAN, những người bị ảnh hưởng trực tiếp.

Thành viên Mai Trang hỏi:

9/ Ông có nghĩ chính quyền VN hiện nay quá nhu nhược trước những vi phạm lãnh thổ của Trung Cộng, cũng như việc nhường một phần Bản Giốc cho bọn này?

Kính,

Mai Trang

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi không thích sử dụng từ “nhu nhược”. Nó ít khi tương xứng với sự thật. Thái độ của các nhà lãnh đạo Việt Nam chắc chắn đáng bị chỉ trích. Tuy nhiên, áp lực lên họ là rất lớn. Tôi muốn nói đến quyền lực hiện nay của Trung Quốc bên trong và ngoài Việt Nam. Nó phải được tính đến trong một trận chiến đối kháng lâu dài và khó khăn.

Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không đồng ý với sự độc tài, bạo lực, bất hợp pháp và nguy hiểm, để bịt miệng các tiếng nói yêu nước và những lời kêu gọi đoàn kết ngày càng tăng trên khắp Việt Nam. Tôi phàn nàn về việc thiếu dân chủ cho các quyết định về những vấn đề quan trọng cho đất nước, cũng như tôi phàn nàn về việc thiếu hỗ trợ thực sự cho các ngư dân miền Trung Việt Nam. Tất cả điều này không phục vụ lợi ích của đất nước mà chỉ làm lợi cho chính sách bành trướng của Trung Quốc.

(còn tiếp)

_______________________

[*] Ông Hồ Cương Quyết trả lời bằng tiếng Pháp, và thành viên HDat thuộc diễn đàn X-cafevn.org đã dịch sang tiếng Việt. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý. Dân Luận xin không đăng phần tiếng Pháp, độc giả quan tâm có thể bấm vào đây để đọc bản tiếng Pháp.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »