Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 4th, 2012

►Trong cuộc phỏng vấn 1992, Gs Phan Đình Diệu đã nói về: Ứng dụng của Toán Học và Dân Chủ

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2012

* Gs Phan Đình Diệu, khoảng 1980, ” là đại biểu Quốc hội lúc hơn 40 tuổi, một trong đại biểu trẻ nhất thời đó. Trong một lần được hỏi về (Lê Duẫn) một vị quan cao nhất và ảnh hưởng của ông đối với đất nước, anh Diệu có nói đại ý, vị lãnh đạo ấy rất vĩ đại, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ tới thắng lợi, nhưng vĩ đại hơn, nếu ông từ chức ngay bây giờ.”

*”Ông hoạt động phong trào dân chủ, đòi đổi mới chính trị (đa nguyên, đa đảng) để phát triển đất nước, do đó bị gạt bỏ khỏi danh sách đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên tiếng nói của ông có tính khoa học cao, nên có sức thuyết phục lớn, đặc biệt là đối với giới khoa học tại Hà Nội”

*Trong cuộc Phỏng vấn vào năm 1992 ở Hà Nội, ông trả lời “Là một người làm khoa học, đã từ khá lâu tôi phát hiện ra rằng chủ nghĩa Mác-Lê khó có thể mang lại điều gì hữu ích cho một nước muốn thoát ra khỏi nghèo nàn. Nghiên cứu khoa học điện toán, thuyết hệ thống và các vấn đề quản lý hiện đại, tôi nhận ra rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như học thuyết Mác-Lê xác định không phù hợp với một nước muốn phát triển về xã hội, kinh tế và khoa học. Vì những lý do hiển nhiên, Marx và Lenin không có điều kiện tìm hiểu xã hội hiện đại. Song đảng cộng sản ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã ngây thơ tìm cách áp dụng học thuyết của họ vào xã hội hiện đại. Sự thất bại của họ đã được minh chứng rõ rệt nhất trong cuộc cách mạng điện toán, đặc trưng của thế giới trong thập niên 1980. Sự thất bại của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày nay hầu như mọi người đều thấy rõ. Vấn đề còn lại là biết rút ra kết luận một cách đầy đủ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.”

*“Ở Việt Nam có hay không có một giới trí thức, một lực lượng trí thức độc lập về xã hội và chính trị? Đó là vấn đề quan trọng đặt ra cho mọi xã hội muốn thiết lập hay cải thiện chế độ dân chủ.

Trước tiên, tôi muốn nói tới lớp những nhà trí thức đã được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Trong lớp này, có những nhân vật dũng cảm và đáng kính. Một vài vị còn sống nhưng không còn mấy ảnh hưởng. Thật ra, chỉ còn lại một số rất nhỏ. Chúng tôi quý trọng công lao của họ đối với dân tộc. Lớp thứ hai là một số đông những chuyên gia được đào tạo trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội. Đảng nghĩ hộ cho mọi người. Ý thức chính trị của các chuyên viên nói chung là yếu. “

                    ***********

Gs. Phan Đình Diệu bàn về Toán học và Dân chủ

Hiệu Minh giới thiệu
Giáo sư Phan Đình Diệu. Ảnh: internet

HM Blog xin đăng lại bài phỏng vấn Giáo sư Phan Đình Diệu được Diễn Đàn dịch từ Tạp chí Nordic Newsletter of Asian Studies (số 2, năm 1993, xuất bản tại Copenhagen, Đan Mạch). Xin cảm ơn Diễn Đàn và Còm sỹ Historian đã tìm ra bài này.

Người phỏng vấn là một nhà sử học Na Uy, ông Stein Tønnesson, tác giả luận án tiến sĩ có giá trị Sự bùng nổ chiến tranh Đông Dương 1946 bảo vệ năm 1982 tại Oslo (bản tiếng Pháp: “ 1946: Déclenchement de la guerre d’Indochine”, Nhà xuất bản L’Harmattan, Paris 1987).

Cuộc phỏng vấn được tiến hành vào tháng 9.1992 tại Viện Khoa học Việt Nam, khi đó Giáo sư Phan Đình Diệu là Viện phó.

Dù phỏng vấn đã có tử cách đây 2 thập kỷ, nhưng những gì Giáo sư Diệu nói, còn nhiều điều cho chúng ta suy ngẫm.

Giáo sư có nhắc đến trí thức Việt nam, một vấn đề nóng trên mạng mấy tuần qua. Ông cho rằng “Chế độ XHCN đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội“.

Gần đây Giáo sư Ngô Bảo Châu, khi luận về trí thức, nói theo một khía cạnh khác ”Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.” Mặc dầu Ngô Bảo Châu có nói thêm:”Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”

So sánh hai cách tiếp cận khác nhau về trí thức của hai giáo sư cũng thấy thú vị, nhất là chúng ta cần học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội.

Phỏng vấn Phan Đình Diệu: Ứng dụng toán học và dân chủ

Bởi Stein TØNNESSON

Stein TØNNESSON: Năm 1982, ông công bố trên tạp chí Nghiên cứu Việt Nam một bài báo nhan đề “ ứng dụng toán học và máy tính điện tử”. Nay dường như ông muốn ứng dụng toán học vào cả vấn đề dân chủ. Vì sao một nhà toán học lại trở thành chính khách ?

Phan Đình Diệu: Tôi không phải là chính khách, mà tôi chỉ muốn tham gia vào việc nước như một công dân. Là một người yêu nước, thiết tha với nhân dân nghèo khó, tôi muốn đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước. Là một người làm khoa học, đã từ khá lâu tôi phát hiện ra rằng chủ nghĩa Mác-Lê khó có thể mang lại điều gì hữu ích cho một nước muốn thoát ra khỏi nghèo nàn. Nghiên cứu khoa học điện toán, thuyết hệ thống và các vấn đề quản lý hiện đại, tôi nhận ra rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như học thuyết Mác-Lê xác định không phù hợp với một nước muốn phát triển về xã hội, kinh tế và khoa học.Vì những lý do hiển nhiên, Marx và Lenin không có điều kiện tìm hiểu xã hội hiện đại. Song đảng cộng sản ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã ngây thơ tìm cách áp dụng học thuyết của họ vào xã hội hiện đại. Sự thất bại của họ đã được minh chứng rõ rệt nhất trong cuộc cách mạng điện toán, đặc trưng của thế giới trong thập niên 1980. Sự thất bại của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày nay hầu như mọi người đều thấy rõ. Vấn đề còn lại là biết rút ra kết luận một cách đầy đủ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.

ST: Tôi có cảm tưởng là trong lãnh vực kinh tế, thực ra Việt Nam đã từ bỏ mô hình xã hội chủ nghĩa rồi.

PĐD: Nét nổi bật trong tình hình hiện nay là sự mâu thuẫn giữa một mặt là ý muốn duy trì sự chuyên chế của đảng, và mặt khác, phát triển thị trường tự do. Đây là là một sự kết hợp mới. Chưa hề có một nhà lý luận cộng sản nào nghiên cứu tình thế này trên một cơ sở có thể coi là thường trực.

ST: Phải chăng hệ thống chính trị hiện nay phản ánh một quan niệm Á châu về dân chủ, khác với quan niệm dân chủ Tây phương?

PĐD: Có thể có sự khác biệt về thực tế chính trị giữa châu Á và phương Tây, chứ không có quan niệm khác nhau về dân chủ. Dân chủ thì ở đâu cũng là dân chủ. Một hệ thống dân chủ đòi hỏi trước hết phải tôn trọng các quyền con người và quyền công dân. Điều này đặt ra ở mọi nơi. Và quyền công dân phải được tôn trọng bằng cách tổ chức bầu cử tự do. Nhân tố then chốt của một chế độ dân chủ là cách bầu ra người lãnh đạo. Bầu cử dân chủ nghĩa là bầu cử tự do, bỏ phiếu kín, và mọi người đều có quyền ra ứng cử. Không có những điều đó, không thể gọi là dân chủ. Cũng cần nói thêm: tất nhiên có những mức độ khác nhau về dân chủ. Theo tôi nghĩ, không có nơi nào nền dân chủ có thể coi là hoàn thiện, kể cả ở nước ông [tức là Na Uy, chú thích của người dịch], hay ở Đức, Pháp hoặc Hoa Kỳ. Chất lượng một chế độ dân chủ có thể đo bằng hai tiêu chuẩn. Thứ nhất là cách vận hành của thể chế bầu cử: cử tri có thực sự được chọn lựa hay không, kết quả cuộc bầu cử phản ánh dân ý tới đâu? Thứ nhì là khả năng của nhân dân tác động vào quá trình quyết định thông qua thảo luận trên các media, trong các cuộc hội họp, gặp gỡ ở địa phương, cũng như ở cấp vùng, và cấp toàn quốc.

ST: Phải chăng ông chủ trương thiết lập một chế độ đa đảng ở Việt Nam?

PĐD: Điều cốt yếu không phải là có nhiều đảng, không phải là có một chế độ đa đảng, mà là có sự chọn lựa thật sự. Muốn chọn lựa thật sự, hai đảng có thể cũng đủ, với điều kiện là hai đảng ấy thực sự khác nhau.

ST: Ông có ngại rằng đặt ra những đảng đối lập có thể tác hại tới sự ổn định xã hội và sự tăng trưởng kinh tế hiện nay ở Việt Nam, thậm chí gây ra hỗn loạn chăng?

PĐD: Vâng, tôi nghĩ có nguy cơ đó; bởi vậy tôi mới nói hai đảng cũng đủ. Trong toán học có một định lý cơ bản: một biểu đồ định hướng là cân bằng nếu như và chỉ nếu như nó có hai nhánh (tiếng Anh bipartite còn có nghĩa là hai bên, hai đảng). Nhiều đảng quá có thể dẫn tới hỗn loạn – trừ phi các đảng liên kết chung quanh hai cực. Hệ thống lưỡng đảng ở Hoa Kỳ hay ở Vương quốc Anh xem ra ổn định hơn là hệ thống nhiều đảng như ở Pháp dưới thời đệ tứ cộng hoà. Còn ở Việt Nam hiện nay là hệ thống chính trị độc đảng. Ngày nào chế độ còn trấn áp được mọi sự đối lập thì hệ thống còn ổn định, nhưng đó chỉ là một sự ổn định tĩnh. Còn sự ổn định động, hàm ý phát triển tích cực, chỉ có thể thực hiện bằng cách lập ra một “đối cực”. Xin hiểu đối cực theo nghĩa xây dựng của nó, chứ không phải phá hoại.

ST: Các nhà lãnh đạo hiện nay của Việt Nam dường như đã tiến một bước khá dài trong việc thừa nhận quyền tự do ý kiến và tự do phát biểu.

PĐD: Sự chuyên chế của đảng không còn toàn diện như trước kia. Có một thời, ngay cả khẩu phần lương thực cũng được quyết định trên cơ sở lòng trung thành đối với đảng. Bây giờ đã tự do hơn, nhưng theo ý tôi, 1987 và 1988 là những năm tự do hơn là từ đó đến nay. Trong hai năm ấy, chúng tôi đã bước đầu thể nghiệm thảo luận về chính trị và lý luận, sau đó bị dẹp.

ST: Người ta vẫn khuyến khích báo chí tố cáo tham nhũng, lạm quyền.

PĐD: Đúng thế, nhưng với những hạn chế rất rõ ràng. Điều cấm kỵ chủ yếu liên quan tới sự chuyên chế của đảng. Không ai được quyền phê bình đảng, cho dù ở cấp huyện. Tham nhũng thì được phép phê phán, vì tham nhũng không phải là vấn đề hệ thống chính trị. Đó là một vấn đề chung. Tham nhũng chung quy có nghĩa là bán quyền lực. Có lẽ ở đâu cũng có sự bán quyền lực, khác nhau là ở quy mô. Tình hình làm ăn hiện nay ở Việt Nam đang làm cho tham nhũng phát triển. Trong một xã hội cộng sản tập trung, sự tham nhũng chừng nào bị lệch dòng (deflected) vì thiếu vắng thị trường. Các đặc lợi phát sinh từ các đặc quyền hơn là do buôn bán quyền thế. Trong những xã hội dân chủ, do không giữ được (hoặc ít giữ được) bí mật, nên ở chừng mực nào đó, sự tham nhũng bị ngăn chặn, hay hạn chế; người ta không (hoặc ít) dám buôn bán quyền lực vì sợ bị tố cáo hoặc truy tố. Còn ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi gặp cả hai cái nạn ấy cộng lại: một thị trường mặc sức phát triển trong đó quyền lực là một thứ hàng hoá buôn đi bán lại, song song tồn tại với một giới cầm quyền giữ bí mật cao độ. Vừa qua có vụ hoá giá nhà ở thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ cấp cao được mua nhà công với giá rẻ, và bán lại với giá thật cao, chúng tôi đòi công bố danh sách, song người ta lờ đi. Hệ thống chính trị này không cho phép công bố đầy đủ thông tin về tham nhũng trong những vụ việc có quy mô quá lớn như vậy.

ST: Tôi muốn trở lại vấn đề dân chủ: ông có cho rằng “ đối cực”, hay ít nhất, là cái cực kia, có thể phát triển ngay trong quốc hội hiện nay không?

PĐD: Tôi không mấy tin tưởng vào Quốc hội mới được bầu [tháng 7.1992]. Cuộc bầu cử quốc hội vừa rồi là chọn giữa vài ứng cử viên đã được đảng và Mặt trận Tổ quốc lựa ra từ trước. Khoảng 40 người ra ứng cử độc lập, nhưng người ta chỉ chấp nhận cho 2 người ứng cử, và cả hai đều thất cử. Trình độ học vấn của các đại biểu khoá này cao hơn khoá trước, nhưng tôi không thấy ai có thể đóng một vai trò độc lập. Các cuộc thảo luận ở Quốc hội vẫn diễn ra trong lằn ranh do đảng vạch ra.

ST: Thế thì ông đặt hy vọng vào đâu? Vào giới trí thức? Trong đại hội Đảng vừa qua, vai trò của trí thức đã được nâng cấp một cách đáng kể?

PĐD: Trước khi bàn về vai trò trí thức, thử hỏi: trí thức là ai? Ở Việt Nam có hay không có một giới trí thức, một lực lượng trí thức độc lập về xã hội và chính trị? Đó là vấn đề quan trọng đặt ra cho mọi xã hội muốn thiết lập hay cải thiện chế độ dân chủ. Trước tiên, tôi muốn nói tới lớp những nhà trí thức đã được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Trong lớp này, có những nhân vật dũng cảm và đáng kính. Một vài vị còn sống nhưng không còn mấy ảnh hưởng. Thật ra, chỉ còn lại một số rất nhỏ. Chúng tôi quý trọng công lao của họ đối với dân tộc. Lớp thứ hai là một số đông những chuyên gia được đào tạo trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội. Đảng nghĩ hộ cho mọi người. Ý thức chính trị của các chuyên viên nói chung là yếu. Những người giỏi tham gia chính quyền, và tự nhiên là đảng viên. Rất có thể nhiều chuyên viên, trong cuộc sống riêng, cũng có tư tưởng dân chủ, nhưng không có cách gì kiểm nghiệm điều đó cả. Thành phần thứ ba là những trí thức được đào tạo trước đây ở miền Nam. Phần đông đã bỏ đi. Tất nhiên có thể họ sẽ trở về giúp nước bằng cách này hay cách khác, nhưng muốn đóng một vai trò chính trị có ý nghĩa, thì người trí thức phải gần gụi nhân dân. Cuộc sống kéo dài ở hải ngoại không phải là mảnh đất thuận lợi cho một lực lượng trí thức tích cực. Cuối cùng là thanh niên, những người vừa được hay còn đang được đào tạo trong những năm gọi là đổi mới. Những năm gần đây, quả đã có một nền văn nghệ độc lập khởi sắc. Nhưng còn phải có thời gian thì các xu hướng nói trên mới có thể hình thành một lực lượng xã hội chính trị thực sự. Nói tóm lại, kết luận của tôi là hiện nay Việt Nam chưa có một giai cấp trí thức.

ST: Nghĩa là nhìn về toàn cục thì ông bi quan? Hay ông còn thấy có hy vọng ở đâu đó?

PĐD: Tôi nói điều này chắc ông ngạc nhiên: mặc dầu tôi đã nói như ở trên về sự chuyên chế của đảng cộng sản, song tôi vẫn hy vọng là đảng cộng sản tự nó sẽ thay đổi. Những ai suy nghĩ một cách có trách nhiệm về tiền đồ dân tộc tất phải tán thành sự thay đổi trong ổn định. Cách tốt nhất để thực hiện việc này là thuyết phục đảng cộng sản phải biết nhìn nhận thực tế và từ bỏ con đường cũ. Tôi đã soạn những bản kiến nghị và nói với những nhà lãnh đạo đảng. Ít nhất họ đã nghe tôi nói. Theo tôi, đảng cộng sản Việt Nam có hai mặt, mặt cộng sản và mặt yêu nước. Nó nên giữ mặt thứ nhì và bỏ mặt thứ nhất, nó có thể tự biến đổi thành một lực lượng yêu nước chân chính. Theo chỗ tôi biết, có những nhà lãnh đạo cấp cao là những người rất chân thành.

ST: Nhưng làm thế nào đi tới cái thế lưỡng cực?

PĐD: Đây chính là sự thử thách lớn về tinh thần trách nhiệm và sự dũng cảm của giới lãnh đạo. Nếu họ thực sự yêu nước thương dân thì họ phải chấp nhận biến đảng trở thành một đảng dân tộc, tôn trọng đầy đủ các quyền tự do cơ bản và tổ chức bầu cử tự do. Trong điều kiện đó, những tổ chức chính trị khác sẽ xuất hiện, từng bước triển khai thành một lực lượng đối lập xây dựng. Nếu đảng cộng sản tự cải tạo trong quá trình đó, thì trong suốt một thời gian dài, nó có thể thắng cử.

ST: Ông có nghĩ rằng ông có thể đóng một vai trò trong tiến trình biến đổi đó hay không? Phan Đình Diệu phải chăng là Sakharov của Việt Nam?

PĐD: Như tôi đã nói ở trên, tôi không phải là một chính khách và tôi không có tham vọng (chính trị). Song, với tư cách một nhà khoa học và một công dân yêu nước, tôi muốn tham gia việc nước. Dân chủ là tham gia việc nước.

*Các bạn có thì giờ rãnh thì nhấp chuột vào đường link sau đây để đọc 3 hồi ký  “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên,  “Chuyện Kể Năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn,  và “Đường Đi Không Đến” của Xuân Vũ.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nói thẳng: Việt Nam không dám theo Mỹ vì phải dựa Bắc Kinh

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2012

Hôm kia là ngày 3-2-2012, là ngày sinh nhật đảng CSVN tròn 81 tuổi. Trong khoảng thời gian 81 năm qua, khi thì vâng lệnh ngoại bang, khi thì để  đánh lừa người Việt nhằm kiếm sự ủng hộ,  Đảng đã thay đổi tên họ 5 lần.  Tên đảng thay đổi như sau: Đảng CSVN tháng 1-1930; Đảng CS Đông Dương, tháng 10-1930; Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, tháng 11-1945; Đảng Lao Động VN 1951; và, Đảng CSVN 1976). Người thành lập đảng và là chủ tịch đảng cũng thay đổi tên họ 6 lần trước 1930; sau khi thành lập đảng, ông thay đổi tên họ 4 lần nữa. Bút hiệu, bí danh của ông thì rất nhiều. Có website nói là 54, nhưng nguồn tin trên google nói là ông HCM có trên 100 bút danh, có chỗ liệt kê tới 174 bút danh!  Cũng may, lúc ấy chưa có internet.

Mặc dù đảng được 81 tuổi, nhưng chắc chắn đảng chưa trưởng thành và có hành động độc lập. Bằng chứng thì quá nhiêu, nhưng tờ báo dưới đây công khai nói huỵch toẹt vào trước ngày sinh nhật 81 tuổi của đảng CSVN:   “Tờ Hoàn Cầu Thời Báo của đảng CSTQ, hôm Chủ Nhật, 29 tháng 1, viết bài bình luận nói rằng: nhà cầm quyền Việt Nam không dám theo Mỹ và quay lưng lại với Bắc Kinh, vì còn phải dựa vào họ để tồn tại.”   Bài dịch của bài báo này như sau.

 

Báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nói thẳng: Việt Nam không dám theo Mỹ vì phải dựa Bắc Kinh

Nam Phương – Người Việt     30-1-2012

BẮC KINH (NV)Báo của đảng Cộng Sản Trung Quốc, tờ Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times), hôm Chủ Nhật, 29 tháng 1, có bài bình luận nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam không dám theo Mỹ và quay lưng lại với Bắc Kinh, vì còn phải dựa vào họ để tồn tại.


Hàng trái cây, rau củ từ Trung Quốc chuyển về chợ bán sỉ nông sản Tam Bình (Sài Gòn) trước khi được phân phối bán lẻ khắp nơi. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hoàn Cầu Thời Báo là một ấn bản bằng cả Anh ngữ và Hoa ngữ của Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh.

Nội dung chính của bài viết có tựa đề “Make Phillipines pay for balancing act” (Bắt Phillipines gánh hậu quả cho trò đi dây” là bình luận và đe dọa Phillipines khi thấy nước này tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ.

Hải quân và Không quân của Phillipines quá lạc hậu và nhỏ bé, không thể đối phó với các hành động lấn chiếm của Trung Quốc. Nếu muốn đối phó với Bắc Kinh, Phillipines phải dựa vào hiệp định tương trợ quốc phòng, ký với Mỹ từ năm 1951, để yêu cầu Hoa Thịnh Ðốn hậu thuẫn.

Tin tức thời sự hồi tuần qua cho hay Phillipines đã đồng ý để Mỹ gia tăng sự hiện diện quân sự ở nước này cùng với sự gia tăng tập trận giữa hai nước.

Bắc Kinh, về chính thức thì ăn nói nhẹ nhàng, nhưng lại cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo đe dọa ra mặt.

Trong bài bình luận ngày 29 tháng 1, 2012, Hoàn Cầu Thời Báo không những nói sẽ trừng phạt kinh tế trực tiếp Phillipines mà gián tiếp còn dùng các nước ở Ðông Nam Á để đánh hội đồng.

Một mặt áp lực về kinh tế, Hoàn Cầu Thời Báo cũng nói Bắc Kinh sẽ gia tăng hiện diện quân sự tại Biển Ðông.

Hàng điện, điện tử Trung Quốc ở khắp Việt Nam. (Hình: Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam)

“…Trung Quốc có một số nguyên tắc. Họ không chấp nhận cho một nước nhỏ ở khu vực tạo ra các căng thẳng quân sự bằng chiến lược đu dây. Một cái giá phải trả nếu vi phạm nguyên tắc này. Phillipines không phải là ngoại lệ.” Hoàn Cầu Thời Báo viết. 

“Rung cây dọa khỉ”  (…dọa đảng CSVN)

Trong bài bình luận này, Hoàn Cầu Thời Báo nói rằng: “Phillipines và Việt Nam là hai nước chính yếu quậy cho sóng nổi lên ở Biển Ðông. Tuy nhiên Việt Nam cần sự hậu thuẫn chính trị của Trung Quốc (để tồn tại) nên sự hợp tác (liên minh) giữa Việt Nam và Hoa Kỳ rất khó đạt được.”

Cuối tháng 10, 2011, tờ Hoàn Cầu Thời Báo đã có bài bình luận đe dọa cả Việt Nam và Phillipines nên chuẩn bị tinh thần để “nghe tiếng đại bác” trong một bài viết về tranh chấp Biển Ðông.

Mới ngày 27 tháng 1, 2012, tờ South China Morning Post ở Hongkong có một bài phân tích về sự tăng cường quân sự của Việt Nam, từ mua máy bay chiến đấu Sukhoi SU-30MK2 đến tàu ngầm lớp Kilo của Nga, dự tính mua hỏa tiễn Brahmos của liên doanh chế tạo Nga-Ấn. Trong bài viết này, một chiến lược gia của quân đội Trung Quốc không thấy nêu tên nói rằng: “Dĩ nhiên, những sự tăng cường quân sự đó là bình thường trong một chừng mực nào đó. Sự quan tâm chính của chúng tôi trong đoản kỳ là Hà Nội trở nên quá tự tin và những kế hoạch như vậy dẫn đến sự hung hăng. Họ phải hiểu như vậy là làm mất ổn định.”

Bài viết của tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 29 tháng 1, 2012 tuy chỉ có một câu ngắn đề cập đề Việt Nam nhưng cũng đủ để mô tả cho thấy Bắc Kinh nắm được tử huyệt của chế độ Hà Nội. Không có Bắc Kinh chống lưng, cái chế độ độc tài đảng trị tại Hà Nội không thể tồn tại.

Theo các con số được nêu ra trên báo Tuổi Trẻ ngày 24 tháng 3, 2011, sự lệ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc ngày càng trầm trọng. Ít nhất 60% hàng hóa Việt Nam nhập cảng từ Trung Quốc là nguyên liệu và máy móc giá rẻ để phục vụ kỹ nghệ sản xuất xuất cảng và tiêu thụ tại Việt Nam.

Hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn hàng hòa cùng loại sản xuất tại Việt Nam nên đủ mọi thứ từ nông sản phẩm đến máy móc, đồ điện tử quần áp từ Trung Quốc tuồn sang Việt Nam cả “chính ngạch” (chính thức) đến nhập lậu có mặt cả ở thành phố đến hẻm hóc thôn quê.

Ðến cuối năm 2010, Trung Quốc xuất cảng (chính ngạch) sang Việt Nam $20 tỉ USD trong khi Việt Nam xuất cảng sang Trung Quốc có $7.3 tỉ USD, thâm thủng mậu dịch tới $12.7 tỉ USD.

Trong mối quan hệ mậu dịch với toàn thế giới, Trung Quốc là nước duy nhất mà Việt Nam bị thâm thủng mậu dịch.

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo đe dọa dùng kinh tế đánh Phillipines, chưa chắc đã làm nước này sợ vì không lệ thuộc nhiều vào Bắc Kinh như Việt Nam và còn có thể dựa vào các mối quan hệ thương mại khác, đặc biệt là Mỹ.

Trong năm 2010, Trung Quốc xuất cảng sang Phillipines một số lượng hàng hóa trị giá $16.2 tỉ USD trong khi nhập cảng $11.5 tỉ USD. Phillipines chỉ bị thâm thủng mậu dịch $4.7 tỉ USD.

Nếu Bắc Kinh giở võ kinh tế, Việt Nam sẽ khó tránh khỏi điêu đứng.

Trong năm 2010, Trung Quốc xuất cảng qua Việt Nam 21 tỷ đô la, trong khi chỉ  nhập cảng từ Việt Nam chỉ có 1 tỷ đô là.

Nếu không có kế hoạch thay đổi đường lối kinh tế từ sản xuất đến mậu dịch, Việt Nam ngày càng lún sâu vào sự lệ thuộc kinh tế sẽ giúp Bắc Kinh gia tăng áp lực chính trị. Ðiều này có thể giúp giải thích tại sao các lãnh tụ Hà Nội đều rất tránh né làm phiền lòng phương Bắc.

“Về lâu về dài, Trung Quốc sẽ dùng lợi thế kinh tế để cắt các hoạt động giữa các nước ASEAN với Phillipines.”

Bài bình luận của Hoàn Cầu Thời Báo không cần giấu diếm dã tâm của họ khi muốn đạt các mục tiêu trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông với Phillipines, và cũng là bắn tiếng cho cả Việt Nam.

* BBC viết về  Hoàn cầu Thời Báo (Global Times)

*Báo Mới (của đảng bộ TP Hà Nội)  đăng lại bài của BBC và cắt xén bài nội dung:   “Hoàn cầu Thời báo” là thứ báo gì?

*Make Philippines Pay for Balancing Act  (Global Times | January 29, 2012)

The Philippines has signaled during a recent bilateral defense dialogue that it would expand the US military presence on its soil. US navy ships will reportedly be deployed in the Philippines, and more joint military exercises will be considered. China must respond to this move. Besides expressions of concern and disagreement, detailed countermeasures are necessary.

Given the recent active maneuvers of the US military in China’s neighboring area, the lack of a response from China would be inappropriate, though it is also impossible to react strongly toward every move by the US. It is thus necessary to single out a few cases and apply due punishment.

The Philippines is a suitable target to impose such a punishment. A reasonable yet powerful enough sanction can be considered. It should show China’s neighboring area that balancing China by siding with the US is not a good choice.

The Philippines and Vietnam are the two main countries creating waves in the South China Sea. Yet Vietnam needs China’s political support as an alliance between Vietnam and the US has a difficult line to cross. However, the Philippines can easily surrender itself as a pawn in the US’ geopolitical game against China. But the Philippines has its own bitter memory of the US. At least for now, Filipinos remain aware of the history of US colonization. Meanwhile, China’s economy presents a huge attraction.

Well-measured sanctions against the Philippines will make it ponder the choice of losing a friend such as China and being a vain partner with the US.

To this end, China may consider cooling down its business ties with the Philippines. One step forward in military collaboration with the US means a step backward in economic cooperation with China. In the long run, China may also use its economic leverage to cut economic activities between ASEAN countries and the Philippines.

The US will likely increase aid to the Philippines to make up for its losses. This will further burden the US financially. During this tug of war, as long as China keeps its economic growth momentum, it will have an advantage.

While isolating the Philippines economically, China should keep a reserved military stance in South China Sea affairs, convincing neighboring countries of its peaceful intentions and defusing fears of China’s rise.

Not being an empire, China won’t be easily irritated or flex its military muscle at will. However, it has its principles. It will not accept a small country in the region creating military tensions by playing a balancing strategy. A price should be paid for violating this principle. The Philippines will not be an exception.

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2012

test

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »