Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 8th, 2011

Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Posted by hoangtran204 trên 08/12/2011

Bài phỏng vấn dưới đây có nội dung rất xúc tích. Các chữ, các câu trong câu hỏi và trong câu trả lời đều có rất nhiều ẩn ý sâu xa. Chú ý, phần bàn luận có chữ màu xanh, nằm trong dấu ngoặc [] là của Trần Hoàng.

 

Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Tác giả: Huỳnh Phan (thực hiện)

Tuần Việt Nam Dec 6, 2011

Việt nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị “dập” bất cứ lúc nào.

LTS: Có thể nói trong quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ Việt – Mỹ gần 4 thập kỷ qua, ông Lê Văn Bàng là người chứng kiến và tham gia ở các mức độ khác nhau hầu như từ đầu tới cuối.

Từ một chuyên viên theo dõi tình hình thực hiện Hiệp định Paris, theo dõi báo chí và dư luận Mỹ để báo cáo cho lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Chính trị, đến vị trí phụ trách quan hệ của Vụ Bắc Mỹ.

Từ một trưởng phòng liên lạc, đại biện lâm thời, rồi trở thành đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Mỹ.

Thôi chức thứ trưởng ngoại giao vào đầu năm 2008, ông lại tham gia dự án KX03 về chính sách đối ngoại của Đảng, trong đó phần của ông là quan hệ song phương Việt – Mỹ trong các mối tương quan song phương và đa phương khác.

Kể từ tháng 4. 2011, ở tuổi 64, ông lại tham gia vào một chương trình khác liên quan đến hai quốc gia nhiều duyên nợ này – dự án bệnh viện Việt – Mỹ.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu của trao đổi với cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng về những dấu mốc trong tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ, với cả những nỗ lực xích lại gần nhau và những hiểu lầm, những bước tiến và bước hụt, trong những bối cảnh lợi ích của hai bên tham gia tiến trình này bị tác động, chi phối bởi những lợi ích trong những mối quan hệ khác.

– Nhà báo Huỳnh Phan: Lần đầu tiên ông tiếp xúc với người Mỹ là khi nào?

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng:Đó là khi ông Henry Kissinger vào Hà Nội đầu năm 1973 (10.1-13.1), do ông Lê Đức Thọ mời, trước khi hai bên chính thức ký Hiệp định Paris vào 27.1.1973. Một dịp may bất ngờ đối với một nhân viên ngoại giao mới vào ngành được vài tháng như tôi (ông Lê Văn Bàng vào Bộ Ngoại giao tháng 10.1972, sau khi tốt nghiệp đại học ở Cuba, chuyên ngành tiếng Anh – TG).

Đoàn của ông Kissinger đến Nội Bài vào buổi tối. Khi đó, sân bay Nội Bài còn tung toé hết lên, chỉ được mỗi cái đường băng là tử tế. Tôi được giao toàn bộ nhóm phi công chuyên cơ, khoảng 20 người, làm hướng dẫn và phiên dịch cho họ.

Tuy vậy, tôi vẫn có hai kỷ niệm đáng nhớ về ông Kissinger.

Kỷ niệm thứ nhất là khi dẫn cả đoàn ông Kissinger đến thăm Bảo tàng Mỹ thuật (ở đường Nguyễn Thái Học), nhân dân nghe tin có Kissinger đến, họ tập trung rất đông dưới sân bảo tàng biểu tình phản đối. Nhiều người còn cầm đá, cầm gạch, bịt chặt cửa không cho đoàn ra.

Tôi cảm thấy căng quá. Hà Nội vừa mới trả qua đợt tàn phá kinh khủng của B52 Mỹ suốt 12 ngày đêm mà. Tuy nhiên, cuối cùng, chúng tôi cũng dẫn được đoàn Kissinger ra ngoài theo lối cửa sau, ra đường Cao Bá Quát.

Kỷ niệm thứ hai là khi dẫn ông tới Bảo tàng Lịch sử. Khi nghe dịch cái biển ghi 4 câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, ông ấy nói luôn: “Đây là Điều khoản 1 của Hiệp định Paris (khẳng định độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam)”.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng

Ấn tượng của ông về ông Kissinger?

Trước đó, tôi cũng đọc nhiều về Kissinger, và, khi gặp, tôi cảm nhận ông quả là một người giỏi giang, uyên bác, và có nhiều mưu mẹo. Hơn nữa, đối đầu được với ông Lê Đức Thọ trên bàn đàm phán suốt 4 năm ròng chắc hẳn không phải tay vừa. [Kissinger là một cáo già, một tay chơi toàn cầu. Còn Lê Đức Thọ chỉ là một con tốt trên bàn cờ, vì vậy, không thể nào so sánh Kissinger với Lê Đức Thọ. Thủ đoạn của LĐ Thọ chỉ nằm trong phạm vi hiếp đáp các đảng viên ở ngoài Bắc; hãy đọc tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên và Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn mới biết Lê Đức Thọ ]

Ý ông muốn nói đến việc ông Kissinger đã khéo léo “đẩy” cam kết cụ thể phía Mỹ trong viện trợ giúp hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết thời hậu chiến ở Việt Nam (3,25 tỷ USD viện trợ không hoàn lại trong 5 năm và khoảng 1-1,5 tỷ USD viện trợ lương thực và hàng hoá), như ông Lê Đức Thọ đã kiên quyết đòi hỏi, sang bức công hàm của Tổng thống Richard Nixon gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng (ngày 1.2.1973)?

Hơn nữa, trong bức công hàm này, Tổng thống Nixon còn gài thêm rằng “mỗi thành viên thực hiện theo những quy định của Hiến pháp của mình”. Theo qui định của Hiến pháp Mỹ, có viện trợ (hay)không và viện trợ bao nhiêu là do bên lập pháp quyết định, chứ không phải bên hành pháp.

_Đúng vậy. Và không ngờ đó lại là chỗ nghẽn trong đàm phán bình thường hoá giữa Việt Nam và Mỹ trong những năm sau đó.

[Lời bàn của Trần Hoàng: ý của Lê Văn Bàng nói là: năm 1976,  TT Jimmy Carter đã cử phái đoàn Mỹ qua Paris đàm phán và kêu gọi VN hãy bình thường hóa với Mỹ. Cuộc đàm phán này do Mỹ chủ xướng, kéo dài  từ 1976- đến cuối năm 1978 mà VN vẫn khăng khăng đòi Mỹ viện trợ tái thiết. Lê Duẫn và Lê Đức Thọ không hiểu ra rằng: Khi Miền Bắc  tấn công và chiếm Miền Nam 30-4-1975, thì  họ đã vi phạm các điều khoản trong hiệp định Paris, coi như phá vở Hiệp Định,  là vi phạm luật, vậy làm sao mà bắt Mỹ  phải thi hành các điều khoản đã cam kết trong hiệp định đó?

Phái đoàn đàm phán của TT Jimmy Carter (1976-1978) vẫn mềm mỏng nói rằng: VN hãy bình thường hóa quan hệ ngoại giao trước, rồi hành pháp của TT Carter sẽ dùng các thỏa hiệp chính trị với quốc hội Mỹ, và rồi sẽ cung cấp tiền bạc cho VN. Và rằng tiền viện trợ cho VN  nên được gọi bằng 1 cái tên khác, và có thể không phải là 3 tỷ, mà  bằng cách viện trợ mỗi năm 1 ít, có khi còn nhiều gấp mấy lần số 3 tỷ đô la.

Nhưng Lê Đức Thọ và Lê Duẫn vì kiến thức rất kém cỏi về chính trị của nước Mỹ, họ  cứ tưởng hành pháp Mỹ có quyền nhiều hơn quốc hội Mỹ! Và cứ kỳ kèo để kéo dài thời gian. Mỹ nhờ Trung Cộng nói hộ. Cuối cùng, Trung Quốc trong vai trò trung gian, đã nhìn thấy cơ hội và nhảy vào hớt trọn, kêu gọi Mỹ đầu tư vào TQ (1980-1990, Mỹ, Âu Châu, và Á châu đầu tư vào Trung Cộng hơn 500 tỷ đô la. 

Thật ra, cuộc vận động của TQ mời Mỹ vào đầu tư đã xảy ra từ khi Mỹ nhờ TQ làm trung gian đàm phán với VN 1971. Mao trạch Đông tính tình đa nghi nên vẫn nghi ngại chưa muốn Mỹ vào đầu tư. Sau khi Mao chết 1976, phe đảng của Hoa Quốc Phong và bè lũ 4 tên bị loại bỏ, và  Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền, ông đã viếng thăm Hoa Kỳ tháng 1-1979. Sau cuộc viếng thăm của Đặng Tiểu Bình 1979, Trung Cộng chính thức mở cửa, mời Mỹ, Âu Châu và các nước Á Châu vào TQ đầu tư làm ăn. Chỉ trong 1 thập niên, 1980-1990, số tiền đầu tư vào Trung Cộng là 500 tỷ đô la- theo Tạp chí The Economist (1992-1993). 

Trở lại giai đoạn 1972-1978 là giai đoạn Trung Cộng tìm đủ mọi cách tiến tới làm thân với Mỹ, sau khi nhận ra rằng: chủ nghĩa cộng sản không thể làm cho đất nước giàu, nhân dân rất đói khổ. GDP của Trung Cộng ước tính chỉ bằng 500 tỷ đô la (năm 1976).  

Thắng lợi của TQ trong giai đoạn này là đã làm cho Mỹ thấy lợi nếu Mỹ đầu tư vào TQ, và đồng thời Mỹ nhận ra rằng: khi Mỹ liên kết với Trung Cộng để nhờ  nước này ghìm chân Liên Xô ở phía Á Châu (Trung Cộng duy trì hơn 1 triệu bộ đội tại vùng biên giới phía Bắc, buộc Liên Xô phải duy trì 1 lực lượng quân đội thường trực 1 triệu quân đóng dọc theo biên giới Liên Xô và Trung Cộng. Việc này làm kinh tế của Liên Xô càng thêm suy sụp).

Kết quả,  Mỹ đã bỏ hẳn đàm phán với VN về chuyện bình thường hóa ngoại giao 1978, và Mỹ chuyển hướng qua đầu tư vào TQ (thay vì tái thiết cho VN); Trước đó, Mỹ nhờ TQ làm trung gian cho cuộc đàm phán vào năm 1977- đầu năm 1978. Và cuộc tấn công của VN vào Kampuchea cuối năm 1978 đã cắt đứt cuộc đàm phán giữa Mỹ và VN. – T.H.]

(Cựu thứ trưởng ngoại giao Lê văn Bàng nói tiếp)Trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, phía Việt Nam đã chiến thắng khi buộc Mỹ phải ký hiệp định hoà bình và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam

[Để ý: câu này rất mâu thuẩn với đầu bài “Rơi vào ván bài nước lớn, VN lỡ bước”; tựa đề cho thấy Lê văn Bàng hiện nay đã hiểu rõ vấn đề: 1972, Mỹ bắt tay TQ, bao vây Liên Xô, và chấp nhận bỏ Miền Nam VN từ 1973. Chiến lược Mỹ chuyển qua: đánh rắn phải đánh vào cái đầu,  đánh vào đuôi rắn thì làm sao giết được nó… ].

Thế nhưng, tiếp nhận một đất nước bị tàn phá vào thời điểm thống nhất đất nước, cộng với kinh tế ngày càng khó khăn những năm sau đó, yêu cầu kiên quyết của phía Việt Nam là Mỹ viện trợ để tái thiết, theo điều khoản 21 của hiệp định, là hoàn toàn hợp lý.

[Đến đây thì chứng tỏ khả năng đọc hiểu của Lê Văn Bàng về hiệp định Paris 1973 là có vấn đề, và cũng đồng thời chứng tỏ cho đọc giả thấy rằng: Lê Đức Thọ và Lê Duẫn đã không hiểu rõ các câu, các chữ trong Hiệp Định Paris 27-1-1973. Theo các điều khoản trong hiệp định này, nếu Miền Bắc hay Miền Nam vi phạm, nghĩa là nếu Miền Bắc tấn công Miền Nam, hoặc ngược lại, thì các điều khoản còn lại trong Hiệp Định sẽ không có giá trị thi hành. Đó là lý do tại sao từ 1975 cho đến mãi mãi về sau, đảng CSVN không thể đòi Mỹ viện trợ tái thiết, hay thưa kiện Mỹ ra tòa án quốc tế, để đòi hỏi Mỹ phải thi hành hiệp định Paris 1973.  T.H.]

Tuy nhiên, kể từ khi Tổng thống Jimmy Carter của Đảng Dân chủ lên nắm quyền (đầu năm 1977), và thể hiện mạnh mẽ mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, ông ta lại vấp phải một thách thức rất lớn từ phái Cộng hoà trong Quốc hội.

Khi thấy vấn đề MIA/POW (người mất tích trong chiến tranh và tù binh) của Mỹ bị phía Việt Nam gắn với điều 21 của Hiệp định, và cả bức thư hứa hẹn của Tổng thống Nixon, những nghị sĩ Cộng hoà đã phản ứng rất mạnh. Đỉnh điểm là đầu tháng 5.1977, khi Mỹ và Việt Nam bắt đầu đàm phán bình thường hoá ở Paris, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu cấm bất kỳ viện trợ nào cho Việt Nam.

Có phải đó là lý do, trong chuyến đi một số nước châu Á vào tháng 7.1978, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền đã tuyên bố với báo chí quốc tế là Việt Nam không yêu cầu thực hiện điều 21 của hiệp định nữa, hay không? Bởi trong ba vòng đàm phán trong năm 1977 ở Paris, do chính ông Phan Hiền làm trưởng đoàn, Việt Nam luôn coi việc thực hiện điều 21 là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá.

Tôi nghĩ còn có thêm một lý do quan trọng khác nữa. Đến lúc đó, lãnh đạo Việt Nam đã nhận thức được tình hình đã thay đổi quá nhiều, nhất là sự căng thẳng với Trung Quốc, với việc cắt viện trợ và rút chuyên gia về nước, và Campuchia, khi chính quyền Khmer Đỏ đã có các cuộc xâm phạm biên giới phía Tây Nam, lên tiếng đòi xem lại vấn đề phân định lãnh thổ giữa hai nước, cũng như cắt đứt quan hệ ngoại giao.

Việt Nam, lúc đó, đã đồng ý vào COMECON (Hội đồng Tương trợ Kinh tế), chuẩn bị ký một hiệp ước đồng minh với Liên Xô, và cho phép hải quân của họ sử dụng Cảng Cam Ranh (1978). Đổi lại, Liên Xô cam kết tăng viện trợ cho Việt Nam.

Tức là đến thời điểm đó, lãnh đạo Việt Nam đã có sự chuyển hướng chiến lược. Và, như vậy, nhu cầu tái thiết từ viện trợ của Mỹ không còn quan trọng như trước nữa.

[Điều này cho thấy, đảng CSVN đã sai lầm vì các lãnh đạo của đảng quá kém cỏi và có tầm nhìn chiến lược quá hạn hẹp về cục diện thế giới. Thực tế cho thấy, từ năm 1976-1986, Việt Nam thiếu lương thực, thiếu điện, thiếu xăng dầu, thuốc men,…cả nước rơi vào đói khổ triền miên cho đến 1991.

Trong 15 năm, 1976-1991, Việt Nam nghèo thê thảm. Điện cúp mỗi tuần 5 ngày. Xe hơi chạy bằng than. Cả nước ở bên lề nạn đói và dân chúng phải ăn bo bo, bột mì mốc, khoai mì. Không có đường để ăn. Không có vải để  may mặc.  Còn Liên Xô gần như kiệt quệ . Và càng kiệt quệ hơn  sau Liên Xô tấn công vào Afghanistan năm 1979.

VN chỉ bắt đầu khá lên khi Mỹ bỏ cấm vận 1988, cho phép Thái lan, Mã lai, Singapore, Nam Hàn, Nhật…vào đầu tư vào từ 1989-1994, là giai đoạn đầu của “đổi mới” – T.H.]

Tức là chính sức ép từ phía Bắc, và phần nào đó từ phía Tây Nam, đã khiến lãnh đạo Việt Nam quyết định phải nhanh chóng bình thường hoá vô điều kiện với Mỹ?

Đúng vậy. Trước sức nóng chủ yếu từ phương Bắc, nếu khộng có luồng gió ôn hoà từ phía Tây thì căng lắm. Và, vì vậy, vào tháng 9.1978, Việt Nam cử một trưởng đoàn mới là Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sang đàm phán kín với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Holbrooke, chấp nhận bình thường hoá vô điều kiện.

[Điều này chứng tỏ đảng CSVN lệ thuộc và chịu sự quản lý của đảng CSTQ, và cho thấy rằng, các nhân vật lãnh đạo của họ quá kém cỏi. Đã bỏ lở cơ hội bang giao với Mỹ vào năm 1976, và sau đó đã để cho TQ phổng tay trên. Chuyện kém cỏi ấy lập lại về sau,  dưới thời TT Clinton,  khi Mỹ mời VN gia nhập WTO 1998, đảng CSVN lại ngần ngừ, đi hỏi ý kiến TQ và rồi bị  TQ chơi xỏ, TQ đi sau, mà nhảy vào WTO trước 2001; mãi tới  năm 2006,  thì VN mới dám vào WTO.]

Thoả thuận xong với ông Holbrooke, ông Thạch chờ suốt mà không có câu trả lời từ Bộ Ngoại giao Mỹ. Sự nhượng bộ của Việt Nam đã quá muộn, bởi, trong thời gian đó, đã có những biến chuyển mạnh mẽ của tình hình thế giới, và Mỹ không thể ứng xử như cũ. Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc lúc đó là ưu tiên hàng đầu của Mỹ.

Mike Morrow, người đầu tiên phỏng vấn được ông Nguyễn Cơ Thạch khi ông lên nhậm chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1980, có kể rằng, trong cuộc phỏng vấn đó, ông Thạch tiết lộ rằng ông đã nói thẳng với người đồng cấp Holbrooke rằng Mỹ không cần phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tức là có thể bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, rồi sau đó với Việt Nam. 

[Mỹ bình thường hóa quan hệ với VN năm 1994 sau khi VN thỏa thuận việc rút quân khỏi Kampuchea 1988-1991. Mỹ yêu cầu VN rút quân khỏi Kampuchea từ 1979, nếu không thì Mỹ sẽ không bang giao.

Đảng cộng sản VN được thành lập năm 1930, lấy tên là Đảng Cộng Sản Đông Dương. Họ đã có tham vọng chiếm Lào và Kamphuchea từ dạo ấy. Sau khi Đảng CSVN chiếm được miền Nam 1975, họ đã tìm cách thôn tính Kampuchea. Thời cơ đưa đến vào năm 1978, khi  Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh tranh không lại với Lê Duẫn, nên cả hai muốn làm vương bên Kampuchea, cả hai lập mưu kế các vụ xâm nhập biên giới và cùng nhau xung phong đánh Kampuchea từ 1977. ( Blog này có bài viết khá hay các bạn nên đọc).   Sau khi chiếm được Kampuchea, cả hai đã bận rộn cướp vàng bên đất Miên. (Lê Đức Thọ ở bên Kampuchea 1978-1982),

Vì mục đích giải phóng Kampuchea để chiếm giữ lâu dài và vì tham lợi, nên đảng CSVN cứ trì hoãn mãi cho đến khi nền kinh tế VN kiệt quệ,  hoàn toàn sụp đổ, đời sống dân chúng cả nước bị nạn đói đe dọa hàng ngày, 1977-1986.

Cuối cùng, khi Lê Duẫn chết 1986, Nguyễn văn Linh, Võ văn Kiệt và Đỗ Mười (mới dám) và nhận ra cần phải thay đổi chiến lược nếu không sẽ chết. Đảng CSVN đã thông qua ông VV Kiệt bắn tiếng và cam kết với Liên Hiệp Quốc là sẽ rút khỏi Kampuchea  trong vòng 3 năm  (giai đoạn 1987-1989), với điều kiện…VN sẽ nhận được sự giúp đỡ kinh tế và đầu tư của khối tư bản!  

Thật là đáng mỉa mai thay cho việc giải phóng Miền Nam, làm chết hơn 5 triệu người VN, bắt giam 1 triệu quân cán chính Miền Nam, đánh cướp nhà cửa và  tư sản Miền Nam và cào bằng cho miền Nam nghèo như Miền Bắc, đốt sạch hết sách vỡ của miền Nam, hủy hoại văn hóa của miền Nam, làm cho hơn 3 triệu người Miền Nam phải chạy ra khỏi nước bất chấp chết chóc, rồi gây chiến tranh để chiếm Kampuchea,  bắt cả nước tiến lên XHCN đến nổi cả nước bị đói, kinh tế bị thất bại te tua, nay đảng CSVN quay về đúng với con đường lựa chọn mà Miền Nam Việt Nam đã chọn lựa và đi từ hồi 1954-1975! T.H.]

Việc Vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Trần Quang Cơ, người sang New York cùng ông Thạch hồi tháng 9.1978,  còn cố chờ sang cả tháng 1.1979, tức là sau khi Mỹ đã ký thoả thuận xong với với Trung Quốc, càng khẳng định cho quyết tâm “còn nước còn tát” này của phía Việt Nam.

Đúng là Việt Nam đã thực sự hy vọng sẽ bình thường hoá được với Mỹ trong thời gian đó. Tôi còn nhớ là đã được Bộ Ngoại giao cử vào biên chế đại sứ quán tương lai, phụ trách mảng văn phòng. Tuy đại sứ chưa chọn, nhưng biên chế sứ quán thì đâu vào đấy. Tháng 12.1978, Bộ Ngoại giao Mỹ còn chuyển cho phía Việt Nam ảnh chụp toà đại sứ ở Washington D.C. của chính quyền Sài Gòn cũ nữa.

Tức là chúng ta đã tính đến việc lập ngay sứ quán khi thoả thuận bình thường hoá được ký kết.

Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn tiếp Đại sứ Lê Văn Bàng tại Lễ trình Quốc thư.

Phóng viên kỳ cựu của hãng AP là Peter Arnett, người đã tháp tòng đoàn nghị sĩ Mỹ vào Hà Nội mùa hè năm 1976, đã nói rằng dưới thời Tổng thống Carter, Mỹ muốn cải thiện quan hệ của mình ở Trung Mỹ với việc trả kênh đào Panama cho nước này quản lý. Ông đã tập trung nhiều công sức và thời gian để thuyết phục Quốc hội phê chuẩn hiệp ước mà ông ký với Tướng Omar Torrijos vào tháng 9.1977, và vì vậy đã sao nhãng phần nào câu chuyện bình thường hoá với Việt Nam.

Ông có ý kiến gì về nhận định đó?

Lê Văn Bàng: Tôi nghĩ ông ta hoàn toàn chính xác khi nói tới nỗ lực của Tổng thống Carter trong việc lấy lại hình ảnh và ảnh hưởng của Mỹ ở Trung Mỹ, và Mỹ La tinh nói chung. Bởi, sau Việt Nam, Mỹ thất thế cả về uy tín lẫn kinh tế, và Liên Xô đã tranh thủ mở rộng ảnh hưởng, rất mạnh. Họ vươn tay tới Angola, Mozambique, hay Ethiopia ở châu Phi, và nhất là Nicaragua – một quốc gia nằm ngay “sân sau” của Mỹ.

[Ông Lê Văn Bàng quá quan trọng hóa vai trò của Nicaragua. Nước này có nhiều sông rạch như miền Tây, và tài nguyên rất nghèo nàn, Nicaragua, một nước quá nghèo, quá nhỏ, dân số rất ít, chỉ hơn 5,5 triệu người vào năm 2011. Ông Lê văn Bàng cũng lầm vì  Nicaragua không phải là sân sau của nước Mỹ. Nicaragua nằm cách xa Texas (Mỹ) là 2000 km. Mexico mới nằm giáp ranh với Mỹ.  Nhấp chuột vào chữ Nicaragua sẽ thấy bản đồ: Mỹ nằm ở phía Bắc, rồi đến Mexico, và Nicaragua là một giải đất nằm ở phía Nam. Lối nói của ông Bàng  là 1 cách chạy tội và bao che cho sự ngu muội của các nhà lãnh đạo của đảng CSVN.)

Nhưng quan trọng hơn, Mỹ đã phải tập trung vào “con bài” Trung Quốc, dựa trên cơ sở sự bất đồng sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc, nhằm thay đổi cán cân quyền lực trên thế giới giữa Mỹ và Liên Xô.

Đến thời điểm lãnh đạo Việt Nam thực sự mong muốn bình thường hoá ngay với Mỹ, phía Mỹ lại chưa muốn. Bởi, như vậy, họ khó thúc đẩy bình thường hoá và cải thiện quan hệ với Trung Quốc được.

Tóm lại, Việt nam đã đi gần đến nơi, nhưng câu chuyện chiến lược đã cản trở. Việt Nam đã tình cờ rơi vào ván bài chiến lược của các nước lớn, và lại là một con bài chẳng mấy quan trọng, có thể bị “dập” bất cứ lúc nào. 

[Những phân tích của T.H. ở  trong ngoặc kép [ ] nói trên, cho thấy ông Lê Văn Bàng không thành thật. Đó là cách nói của những người cộng sản. Dùng 20-30 phần trăm các sự kiện có thật, và dán vào 70-80% là các lời nói dối với mục đích nhằm che đậy sự thật.]

Khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia cuối năm 1978, mọi mối tiếp xúc hầu như bị cắt đứt. Ngay cả vấn đề MIA/POW, một trong những lời hứa của ông Jimmy Carter với hiệp hội những gia đình có người Mỹ mất tích trong chiến tranh khi tranh cử, Mỹ cũng chẳng quan tâm nữa.

[Lúc nầy là đã muộn rồi, lịch sử đã sang trang. Đảng CSVN đã đánh mất 1 cơ hội quý báu bang giao với Mỹ mà phải chờ đợi 20 năm sau mới thực hiện được. Chung quy là vì quá ngu muội trong tầm nhìn chính trị thế giới, và trong giai đoạn này, đảng viên ĐCSVN đã tham lam cướp đất đai hãng xưởng ở Miền Nam (nói trệch qua là đánh tư sản), cướp đất đai của chùa chiền và nhà thờ, say mê bắn giết hàng ngàn sĩ quan và giới chức hành chánh VNCH tháng 5-1975- 1978, bỏ tù 300 000 sĩ quan và giới chức VNCH từ 1975 cho đến 1983 hoặc 1991 mới thả ra. Cũng trong giai đoạn này, Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh bận rộn làm vương và cướp vàng của Kampuchea 1979-1988. Thật ra, việc đánh Kampuchea đã thực hiện từ năm 1977. Blog này có bài viết khá hay các bạn nên đọc.]

Thậm chí đến năm 1981, khi chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ một chuyến thăm cho ông Andrew Young, cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc và cựu cố vấn của Tổng thống Carter, Bộ Ngoại giao Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan vẫn không chấp thuận cho họ sang Việt Nam.

Mọi chuyện phải chờ đến năm 1985, Mỹ mới quay lại Việt Nam…

[ Đoạn này Lê Văn Bàng phát biểu cũng không đúng. Chỉ đến sau khi Lê Duẫn chết năm 1986, Nguyễn văn Linh lên làm Tổng Bí thư, và cùng với Võ Văn Kiệt mới mạnh dạn tìm cách quan hệ với Mỹ, bằng cách tự nguyện rút quân ra khỏi Kampuchea. Nhưng nhóm Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đang bận rộn chia chát vàng bên Kampuchea chần chừ không chịu rút về. Lê Đức Thọ đau yếu từ 1987 và chết 1990.

Cuối  năm 1986, VN hoàn toàn kiệt quệ về năng lượng, nhiên liệu, lương thực, cả xã  Quỳnh Lưu ở Nghệ An nổi dậy đánh công an, rồi bị Trung Quốc đánh chiếm Trường Sa 1988, TQ cũng tấn công đánh chiếm núi Lão Qua 1986-1991, sức cùng, lực tận,  VN đành phải chấp nhận rút quân khỏi Kampuchea. Liên Xô kiệt quệ, rồi sụp đổ, Trung Quốc biến thành kẻ thù, VN có còn đi lên XHCN một mình hay không? Tất nhiên là không. Đọc lịch sử thành lập, ta thấy ngay đảng CSVN đã lệ thuộc nước ngoài từ lúc mới ra đời. Khi thì đảng phải lệ thuộc  Liên Xô, khi thì Trung Quốc, khi thì lệ thuộc cả hai. Không có một giây phút nào mà các nhân vật lãnh đạo của đảng CSVN được quyền hành động. Nhất nhất đều hỏi ý kiến của Liên Xô hoặc Trung Quốc vì  2 nước này  cung cấp tiền bạc, lương thực, súng ống, xăng dầu cho đảng CSVN. Bởi vậy chính Lê Duẫn viết: “ta đánh miền Nam và đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc…”]

(Còn tiếp…)

Advertisements

Posted in Chinh Tri Viet Nam | 1 Comment »

Các nước viện trợ nói với TT Nguyễn Tấn Dũng: Bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa không nên bị trừng phạt, nhưng ngược lại nên khuyến khích

Posted by hoangtran204 trên 08/12/2011

Các nước viện trợ kêu gọi Việt Nam tăng cường cải cách kinh tế và cải thiện nhân quyền

Hà Nội – Các nước và các tổ chức tài trợ Việt Nam hôm nay thứ Ba ngày 6 tháng Mười Hai khẩn thiết kêu gọi Việt Nam gia tăng những nỗ lực cải cách kinh tế và cảnh cáo nước cộng sản này hãy cải thiện nhân quyền hay có nguy cơ làm phương hại đến sự thành công kinh tế của Việt Nam.

Việt Nam kể từ hôm đầu năm đã tập chú đến sự ổn định nền kinh tế thay vì là phát triển, đang vât vã với sự lạm phát cao nhất Á châu ở mức 20 phần trăm và hiện đang rất cần đẩy mạnh những cải cách kinh tế, các nước viện trợ nói.

“Dễ cho Việt Nam rất nhiều để theo đuổi chương trình tái cấu trúc (nền kinh tế) ngay bây giờ hơn là phải tái cấu trúc nền kinh tế sau khi đã bị lâm vào tình trạng khủng hoảng,” giám đốc của Ngân hàng Thế giới (World Bank) đặc trách Việt Nam, bà Victoria Kwakwa nói trong buổi họp của các nước viện trợ ở Hà Nội.

Kể từ hôm tháng Hai, những người hoạch định chính sách đã và đang cố gắng ổn định nền kinh tế bị đang bị khốn khó vì nhiều thách đố khác nhau xảy ra cùng lần bao gồm dự trữ ngoại quốc giảm dần, cách biệt trong cán cân mậu dịch, áp lực giảm của tiền đồng và sự lạm phát phi mã không kiềm chế được.

Việt Nam cần tiến hành cải cách mảng ngân hàng, tư nhân hóa những doanh nghiệp nhà nước, đơn giản hóa phương cách quản trị và làm nhiều hơn nữa để chống tham nhũng đang tràn lan, các nước viện trợ phát biểu ở buổi họp.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giám đốc Ngân hàng Thế giới đặc trách Việt Nam bà Victoria Kwakwa. Nguồn hình: AFP, Hoàng Đình Nam


Các nước viện trợ cũng bày tỏ “sự hối tiếc” trước tình trạng dân chủ của nhà nước độc tài này, họ cảnh cáo là một hồ sơ nhân quyền tồi tệ có thể có hại cho tiến trình kinh tế.

Cuộc trấn áp các nhà bất đồng chính kiến mới đây nhất làm xấu đi cái uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế trong lãnh vực nhân quyền cũng như “sự phát triển kinh tế và xã hội về lâu về dài,” đại sứ Na Uy Stale Torstein Risa phát biểu.

Hằng chục người chỉ trích chính trị một cách ôn hòa đã bị kết án tù dài hạn kể từ khi Việt Nam tiến hành cuộc trấn áp sự tự do ngôn luận vào cuối năm 2009, theo Tổ chức Ân xá Quốc tế.

Biểu tình hiếm xảy ra ở Việt Nam nhưng đã có một số cuộc biểu tình được tổ chức trong năm nay từ vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc cho đến chuyện tranh chấp đất đai của người dân oan với nhà cầm quyền địa phương. Một số cuộc biểu tình này đã bị công an dùng vũ lực giải tán.

“Bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa không nên bị trừng phạt, nhưng ngược lại nên khuyến khích,” ông Risa nói, ông nói thêm đây là quan điểm của những nước viện trợ cho Việt Nam như Na Uy (Norway), Gia Nã Đại (Canada), Tân Tây Lan (New Zealand) và Thụy Sĩ (Switzerland).

Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng nói nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền của người dân đối với tự do và nhân quyền nhưng ông cảnh cáo là những quyền như thế “phải được thể hiện trong khung hiến pháp và luật định”.

Nhà nước Việt Nam sẵn sàng mở cuộc đối thoại về những vấn đề này với các nước viện trợ để “hiểu biết lẫn nhau hơn nữa,” theo ông Dũng.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) Donors urge Vietnam to speed up economic reforms. AFP, 6 December 2011

Posted in Tài Chánh-Thuế, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »