Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 28th, 2011

Có hai anh Ba Đua

Posted by hoangtran204 trên 28/10/2011

DCVOnline: Ba Đua trong bài viết này có thể là một nhân vật có thật ngoài đời, hiện làm phó bí thư thành ủy thành phố HCM… Nhưng cũng có thể, Ba Đua này là một nhân vật tượng trưng cho muôn ngàn Ba Đua “một mặt hai lòng” trong xã hội Việt Nam hôm nay.  DCVOnline xin mời bạn đọc theo dõi bài viết này của tác giả Đỗ Trung Quân, đã được đăng trên blog Quê Choa hôm Chủ Nhật tuần này.
                                            **************************

Tạm “tị nạn rượu” nằm nhà, chợt nhớ lâu ngày anh em chưa gặp nhau. Gọi điện cho thằng em ruột mời cà phê. Nó cười trong điện thoại, “Ông anh mà cà phê à?”

Quán lề đường. Thằng bộ đội của năm 1979 giờ thất nghiệp, vợ nuôi. Tôi bảo, “chú có số ‘thân cư thê’ sướng hơn tôi”. Thằng em thua tôi 6 tuổi, năm 1979 nó ở quận 4.

Khi Trung Quốc đánh Việt Nam nó lang bang vào cuộc mít tinh ở ngã tư Hoàng Diệu – Đoàn Nhữ Hài nghe anh Bí thư Quận đoàn 4 đọc một bài hiệu triệu nảy lửa “đánh cho để răng đen… đánh cho để tóc dài… đánh cho chích phản bất phục hoàn…”(2) gì gì đấy.
Sôi máu thanh niên, nó về thưa mẹ tôi “Cho con đi bộ đội”. Nghe kể lại mẹ tôi khi ấy rưng rưng nước mắt, “Thằng anh mày còn ở bên K chưa về, mày đi có chuyện gì thì mẹ sống với ai …” Nhưng nó cứ đi, đăng ký quân đội. Chuyển quân ra phía bắc. 4 năm sau vác ba lô giải ngũ, đen kịt lầm lì nhưng mẹ tôi hạnh phúc. Hai đứa con trai đều trở về bình an, lành lặn. Tôi đi làm công nhân in 8 năm, nó chạy xe ôm. Khi tôi về Tuổi Trẻ làm báo. Nó vẫn chạy xe ôm, tình thật nó chưa học xong lớp 6.“Cái anh đọc diễn văn hiệu triệu hồi ấy tên gì em quên rồi anh nhỉ?
“Anh Ba Đua – Nguyễn Văn Đua!” Tôi trả lời, nó là thường dân chả để ý gì đến cán bộ lãnh đạo. Nhưng tôi biết chắc nó vào lính vì lời hiệu triệu chống bọn bành trướng Bắc Kinh của anh ngày ấy.
Có hai anh Ba Đua? Hay chỉ một Ba Đua mà “một mặt hai lòng”? Nguồn: On the net


Anh Ba Đua. Thằng em tôi không biết anh bây giờ làm gì nhưng tôi thì đương nhiên biết. Anh là Phó bí thư thường trực Thành ủy thành phố này. Người không thích thanh niên Sài Gòn xuống đường, không thích cái áo U No – đường lưỡi bò mà ngay đến cả tạp chí Nature nổi tiếng thế giới cũng đã có bài lật tẩy bọn học giả Trung Quốc về cái đường lưỡi bò nhảm nhí ấy.

Anh không thích những cuộc hội thảo của giới trí thức việt nam về những vấn liên quan đến chủ quyền biển đảo, cho dù hôm nay họ cũng như anh ngày xưa đầy lòng yêu nước. “Sao lại thế, hồi ấy ổng hùng biện, quyết liệt lắm kia mà. Em sôi máu đi lính vì bài diễn thuyết của Ổng đấy!”

Tôi cười buồn, biết giải thích thế nào chuyện “ổng” nhỉ. Nó hỏi, “thế anh xuống đường ông Ba Đua có cấm, cản, làm khó gì không? Mà chẳng lẽ có hai anh Ba Đua. Có đúng là ông Đua ấy không?”

Tôi lại cười buồn, “Hình như là có hai anh Ba Đua chú ạ!”

Nó châm thuốc thắc mắc, “Vậy nếu anh Ba Đua Quận đoàn 4 hồi đó giờ xuống đường chống ngoại xâm thì sao?”

Tôi bật cười thành tiếng “Thì anh Ba Đua Thành ủy bây giờ sẽ bắt anh Ba Đua Quận đoàn 4 hồi đó chớ sao!”Buổi cà phê bờ kè dừng ở đấy. Anh em tạm biệt nhau. Nhìn cái bóng khắc khổ của người lính biên giới 1979 năm xưa, thằng em ruột của mình, tôi bỗng khẽ thở dài mà chẳng rõ tại sao mình lại thở dài.

Chắc tại buổi chiều Sài Gòn cũng đang sầm cơn mưa lớn…

DCVOnline

Nguồn:

(1) Có hai anh Ba Đua. Đỗ Trung Quân, bài đã được đăng trên blog Quê choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập
(2)Bài hịch  “Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáo bất hoàn/ Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ,” của vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

*Người xông pha

++++++++++++++++++++++

Những người sống sót sau trận Gạc Ma

Quỳnh Chi, phóng viên RFA
2011-10-25

Trận hải chiến trên đảo Gạc Ma năm 1988 diễn ra chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ đã giết chết 64 hải quân Việt Nam.

Họ vẫn còn sống

Chín người sống sót bao gồm anh Lê Văn Đông, Nguyễn Văn Thống, Trần Thiện Phụng, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Tiến Hùng, Trương Văn Hiền, Lê Minh Thoa, Mai Văn Hải và Dương Văn Dũng. Số phận của họ sau cuộc chiến như thế nào?

Anh Thống cho biết: “Tàu chìm lúc khoảng 7 giờ 30 sáng. Sau đó tôi bị thương và vớt được một miếng gỗ và trôi đến khoảng 4 giờ chiều thì bị bắt. Tôi bị thương nặng nhưng lại ôm được tấm gỗ mang ra làm nhà. Tôi ôm và cứ để mặc nó trôi thế nào thì trôi. Lúc bị họ kéo khỏi mặt nước thì tôi đau lắm. Tôi biết rằng có vài người cũng bị bắt lên khoang tàu rồi nhưng không nhìn rõ ai cả vì tôi bị thương ở mắt”.

Đó là lý do anh Thống còn sống sót sau trận chiến. Nếu không nhờ những tấm gỗ mà các chiến sĩ hải quân Việt Nam dự định dùng làm nhà trên đảo, có lẽ cũng chẳng ai còn sống sót kể chuyện của họ ngày hôm nay. Trong số những người không tử thương trong trận chiến, có lẽ anh Thoa là người tỉnh táo nhất. Anh còn nhớ rõ cảm xúc của mình khi thấy tàu Trung Quốc xuất hiện trở lại:

“Đến 6 giờ chiều thì tôi nhìn thấy một con tàu từ hướng đông chạy đến. Lúc ấy tôi rất mừng và nghĩ là tàu Việt Nam. Nhưng khi tàu này dừng lại và chuyển hướng gió thì tôi nhìn thấy hai chữ “Trung Quốc”. Lúc đó tôi đã xác định rằng cuộc đời tôi đến đây là hết rồi. Họ bắt từng người lên tàu. Tôi là người bị bắt cuối cùng và khi lên tàu thì đã thấy tám anh em trên tàu rồi.”

Tất cả những người bị bắt lên tàu đều bị thương, đều bị yêu cầu cởi bỏ hết quần áo ngoài và đều bị bỏ cùng một khoang tàu chở về nhà tù Trung Quốc ở Quảng Đông. Lúc đó, tất cả nghĩ rằng đời họ đến đây là hết. Mọi người đều im lặng, chỉ nhìn nhau nhưng không nói được lời nào.

Trong số chín người trên khoang tàu, anh Thống là người bị thương nặng nhất. Theo lời anh kể, lúc lên tàu, anh không phân biệt được ngày đêm và bất tỉnh ngay sau đó. Khi tỉnh lại, anh chỉ biết kêu than và xin quần áo mặc vì lạnh. Anh Thoa nói tiếp:

“Lúc bị bắt lên tàu Trung Quốc thì suốt ba ngày ba đêm cũng không ai ăn uống gì cả. Có lúc tôi khát nước, nhìn thấy một người nữ trên tàu và xin cô ấy chút nước vì cô ấy đang ăn dưa hấu. Nhưng cô ấy còn không cho, còn dùng giày đá vào chân tôi đau điếng. Lúc đó, người thì bị thương. Trời thì lạnh, chúng tôi chỉ mặc quần đùi và áo lót.

Tôi bị thương nặng nhưng lại ôm được tấm gỗ mang ra làm nhà. Tôi ôm và cứ để mặc nó trôi thế nào thì trôi.

Anh Nguyễn Văn Thống

Tất cả đều bị thương và mệt mỏi vì phải bơi gần một ngày trên biển. Tất cả những người bị bắt lên khoang tàu đều không được băng bó gì cả. Sau 3 ngày 3 đêm, chúng tôi về đến đảo Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, thì những người bị thương nặng mới được băng bó. Lúc đó thì những vết thương đã bốc mùi lên rồi”.

Sau 3 ngày 3 đêm, chín hải quân Việt Nam bị đưa về làm tù binh ở bán đảo Lôi Châu. Tại đây, mỗi người nuôi một niềm hy vọng riêng. Tuy nhiên, không ai dám hy vọng sẽ lại bước chân trên mảnh đất quê hương lần nữa. Anh Dũng tâm sự:
“Lúc ấy tôi không hề nghĩ có ngày mình được trở về. Bởi vì các loại tù khác thì còn có án, còn có ngày về. Còn tù như chúng tôi thì không thể biết được ngày về”.

Bị bắt làm tù binh

Họ vẫn còn sống – là sự thật. Họ bị bắt làm tù binh tại Trung Quốc – là sự thật. Tất cả không hề hoài nghi gì về điều ấy. Điều duy nhất họ chưa biết rõ lúc ấy là việc Trung Quốc có chiếm đảo Gạc Ma hay không. Chính vì thế mà họ hy vọng. Anh Thoa thở dài nhớ lại:

toquoc.net-250.jpg
Anh Lê Văn Đông (P) và anh Trần Thiện Phụng (T) chụp trước ngày xảy ra trận hải chiến đẫm máu. Photo courtesy of toquoc.net

“Vì đảo Gạc Ma rất dài, nên lúc ấy tôi hy vọng là Trung Quốc không chiếm hết đảo. Nhưng sau này khi trở về Việt Nam thì tôi cũng biết là Trung Quốc chiếm đảo ấy luôn rồi.”

Cũng tại đây, họ bắt đầu một cuộc đấu mới: cuộc đấu trí với cai ngục Trung Quốc. Theo lời kể, trong năm đầu tiên bị giam, cứ cách vài ngày họ bị gọi đi cung một lần để tìm hiểu về những người giữ chức vụ quan trọng trong hải quân Việt Nam. Họ còn phải đấu trí với những bài báo được viết bằng tiếng Việt được đưa vào ngục mà theo họ là “của những người phản quốc”. Thậm chí, các anh đã xé bỏ những tờ báo xuyên tạc ấy. Anh Dũng nói:

“Khi cai ngục đưa cho chúng tôi những bài báo ấy thì chúng tôi không đọc, thậm chí xé, đốt trước mặt cai ngục luôn. Có lúc đánh với cai ngục, tôi cũng không sợ. Tôi nghĩ mình cá đã nằm trên thớt, tôi không sợ gì nữa. Họ muốn chặt con cá lúc nào cũng được, nhưng họ có dám chặt không?”

Trong số những người còn sống sót, có lẽ anh Dũng là người kiên cường và mạnh mẽ nhất. Thậm chí, có lần anh đã cãi nhau với thông dịch viên Trung Quốc vì anh không khuất phục. Anh nói tiếp:

“Tôi tuyên bố rằng ‘Mày nhốt tao thì mày phải mang cơm cho tao ăn. Mày dám không đem cơm cho tao ăn không?’. Tôi đã nói câu đó thì tôi không bao giờ sợ chết.”

Cuộc đấu trí lớn nhất có lẽ là việc trình bày về việc bên nào nổ súng trước khi một năm sau đó, Hội chữ thập đỏ quốc tế vào trại giam thăm các hải quân Việt Nam. Anh Dũng nói:

“Khi hội chữ thập đỏ quốc tế đến thì họ yêu cầu mình phải viết tường trình rằng ai nổ súng trước. Tôi trả lời là Trung Quốc là phía nổ súng bởi Việt Nam súng đâu mà nổ? Hành động và nổ súng là chỉ có Trung Quốc thôi. Nhưng Trung Quốc lại không chấp nhận là họ nổ súng trước.”

Một năm sau khi ngày trận chiến xảy ra, đại diện Hội chữ thập đỏ quốc tế đến thăm các tù binh Việt Nam, đó cũng là lúc gia đình nhận được tin báo các anh còn sống. Trước đó, báo Nhân dân đăng ngày 28 tháng 3 năm 1988 đăng tin rằng tất cả các chiến sĩ tử trận trong trận hải chiến Trường Sa. Anh Thoa nói:

“Trong một năm đầu ở tù, chúng tôi hoàn toàn không có tin tức về Việt Nam. Sau đó, Hội Chữ thập đỏ quốc tế vào tù thăm chúng tôi thì họ cho phép viết mỗi người một lá thư dài 24 chữ để họ chuyển về gia đình. Tôi báo cho gia đình là tôi vẫn còn sống và hiện đang ở tù tại Trung Quốc”.

Và đó là lá thư duy nhất các anh được gởi về nhà trong gần 4 năm ở nhà tù Trung Quốc. Họ ở trong nhà tù Trung Quốc, tồn tại trong sự lo lắng với những nỗi niềm riêng. Anh Thống lo cho cha mẹ già cùng bảy anh chị em khác. Anh Phụng lo cho đứa con vừa mới chào đời được một năm. Anh Hải lo cho cảnh nhà túng quẫn… Anh Thoa lại có

“Ở trong tù, nhớ nhà kinh khủng, nhất là vào những đêm giao thừa. Nhớ gia đình, cha mẹ, em út…không biết họ sống như thế nào. Ở trong tù thì làm sao mà thoải mái được. Lúc đó, đầu óc tôi suy nghĩ rất nhiều. Lao động thì vất vả. Tôi cứ suy nghĩ về gia đình và cuộc đời của mình. Lúc ấy tôi còn trẻ, chỉ mới 20-21 mà thôi. Tôi là con cả trong gia đình có 4 người con, đứa em út tôi lúc ấy mới 7 tuổi thôi nên tôi lo cho nó lắm.”

Giấc mơ hồi hương

Và họ cứ sống như thế với những lo toan, mong mỏi cho đến một ngày vào tháng 11 năm 1991, sau chuyến công du Trung Quốc của Đại tướng Lê Đức Anh vào tháng 9. Anh Thoa nhớ lại:“Chiều hôm ấy chúng tôi được đãi một bữa ăn tươi mà họ cũng không nói gì cả. Đến khoảng 4 giờ sáng họ bảo chúng tôi thu xếp quân trang. Khi lên xe, họ đọc lệnh phóng thích tù binh”.

Anh Thoa còn cho biết, khi nghe lệnh được phóng thích, anh vừa mừng vừa sợ. Mừng vì mình có hy vọng được về với gia đình, với tổ quốc thân yêu; nhưng lo vì không biết thực hư như thế nào. Ngồi trên xe, chín người lại nhìn nhau mà im lặng, như lúc họ im lặng trên khoang tàu khi bị bắt mang về Trung Quốc cách đó gần 4 năm. Mỗi người một suy nghĩ, một nỗi lo. Anh Thống nói:

“Sau hơn 3 năm rưỡi, họ đọc lệnh cho về là tất cả đều mừng rỡ, mừng mà không ngủ được. Cứ đợi đến sáng để được lên xe qua biên giới. Được về, dĩ nhiên là vui, nhưng buồn vì mình bị thương nặng thì không biết cuộc sống sẽ thế nào”.

Không khí im lặng, hồi hộp kéo dài trong suốt 2 ngày đường đi, để khi họ nhìn thấy được lá cờ Việt Nam bay phất phới phía bên kia biên giới, họ mới tin là mình được tái sinh. Anh Thoa tâm sự:

“Lúc ấy vừa vui vừa sợ nên mọi người đều nhìn nhau im lặng. Đến khi được qua bên kia biên giới Việt Nam rồi, chúng tôi rất mừng. Nhìn trong bản đồ tôi thấy Quảng Đông và Cao Bằng rất gần, nhưng không hiểu sao khi ngồi lên xe thì thấy đi lâu lắm. Chúng tôi đi 2 ngày mới đến biên giới Việt Nam.”

Vậy là họ được trả về Việt Nam sau gần 4 năm chịu cảnh tù đày nơi đất khách. Bây giờ nhớ lại, cái cảm giác sung sướng và hạnh phúc vẫn còn dâng trào trong từng con tim, từng chân tóc, thớ da của họ. Họ sung sướng cảm nhận từng bước chân mình trên con đường đất quê hương, mở rộng lồng ngực hít thật sâu mùi cao nguyên xanh thẫm và ngửa mặt như đón lấy cái nắng gió trên bầu trời. Lòng họ hân hoan, nôn nao và hạnh phúc như được sống lại lần thứ hai.

Sau một tháng sống tại khu an dưỡng dành cho hải quân tại vịnh Hạ Long, chín người lính còn sống sót trong trận hải chiến tại Gạc Ma được cho về nhà. Trừ anh Phụng được gia đình lên tận khu an dưỡng đón, tám người còn lại không thể báo tin về nhà. Để rồi khi thấy họ xuất hiện, gia đình chỉ biết khóc và không nói nên lời. Anh Dũng cho biết:

“Cả làng thấy tôi về họ đến thăm. Lúc ấy vì vui quá mà không biết nói gì nữa, mừng quá mà khóc thôi. Gia đình tôi rất mừng, không thể tượng tượng được con mình trở về như thế.”

Rồi trong số họ, có người về nhà và thấy chính ảnh của mình trên bàn thờ. Cho đến bây giờ, anh Thoa vẫn nhớ như in cái ngày đặc biệt ấy:

“Tôi ngồi tàu đi từ Hà Nội về đến Qui Nhơn khoảng 4 giờ sáng. Không biết lúc ấy gia đình vì sao gia đình tôi lại có linh tính. Chiếc xe ôm chở tôi vừa dừng trước nhà thì gia đình mở cửa ra. Lúc ấy tôi mặc trang phục hải quân. Gia đình thấy tôi thì khóc òa lên. Tôi cũng khóc luôn bởi vì lúc ấy bố mẹ, anh em, bác của tôi ai cũng khóc cả. Khóc vì quá mừng.

Lúc tôi trở về nhà thì thấy nhà vẫn còn thờ tôi. Đó là bức hình tôi chụp khi chưa vào quân đội. Lúc ấy tôi mới 15-16 tuổi thôi. Gia đình phóng lớn tấm hình ấy và để trên bàn thờ. Bây giờ tôi vẫn còn giữ tấm hình ấy.”

Cho đến bây giờ, anh Thoa vẫn còn giữ tấm ảnh thờ của chính mình. Anh Dũng vẫn giữ những tấm hình của đồng đội. Anh Phụng, anh Hải, anh Nhân, anh Đông, anh Thống, anh Hiền vẫn còn giữ những tấm huân chương chiến sĩ… như để khép lại một quá khứ nhưng không chối bỏ nó. Có lẽ hơn ai hết, họ hiểu rằng: họ đã sống thay cho 64 đồng đội mãi mãi nằm lại Gạc Ma ngoài kia.

Chương trình “Câu chuyện hàng tuần” xin được tạm dừng tại đây. Thưa quý vị, trở về cuộc sống bình thường, họ có chấm dứt được những gian truân? Mời quý vị đón nghe kỳ tới.

RFA

Advertisements

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chien Tranh Bien Gioi Viet Trung 1979 | Leave a Comment »