Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 12th, 2011

►Nợ Công năm 2010, và 2011 – Nợ của các Tập đoàn và Tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh 2010

Posted by hoangtran204 trên 12/10/2011

Nhà nước dấu rất kỷ số nợ công và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh tế và tài chánh trong nước cứ phải dựa vào các nguồn tin do quốc hội, bộ tài chánh đưa ra mỗi lần một mảnh nhỏ, và đúc kết thành các bài báo sau đây:

Đài BBC năm 2006 có bài viết như sau:  Suốt hơn thập kỷ qua, năm sau cao hơn năm trước, các nước cấp viện trợ  đã dành cho Việt Nam nguồn vốn cam kết hàng  chục tỷ đô la. (nguồn)

5 năm sau, vào 28-11-2011, báo chí quốc tế tiếp tục cho biết:
CHXHCN Việt Nam là 1 trong 5 nước lâu nay nhận viện trợ nhiêù nhất thế giới
(nguồn)
Vietnam is one of five countries receiving the biggest ODA (Official Development Assistance) capital in the world.

Các nhà tài chánh và kinh tế trong nước gần đây có viết chút ít về nợ nần của Việt Nam. 5-6 bài báo dưới đây nói về nợ công, và nợ của các tập đoàn và tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh… Mời các bạn đọc và tìm hiểu.

“Ông (Bùi Kiến) Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-201032,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009; trong đó, nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh (4,6 tỷ đô la).

Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD,  nợ của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh là 3,98 tỷ USD, tổng cộng là 28 tỷ USD, chiếm 41,9% GDP;  (GDP của VN năm 2009 là 90 tỷ. (nguồn)  và ở đây

Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

————————————————————————-

*Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia,

Nợ công năm 200733,8% của GDP, hay 21 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP, hay 29 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 85 tỷ

2009 nợ công là 41,9%  của GDP, hay 37 tỷ USD; và GDP của VN vào năm này là 91 tỷ (nguồn)

2010 nợ công là 56,7% của GDP, hay 54 tỷ USD ; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

Dự kiến nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP, hay 61 tỷ USD; GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn).

Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.”

Các con số trên là chưa tính đến nợ Doanh Nghiệp Nhà Nước, do chính phủ bảo lãnh. 

Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

++++++++++++++++++++++++++++

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng

(Dân trí) – Thứ Bẩy, 09/07/2011.  Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng (= 56,1 tỉ đô la Mỹ), tương đương 56,7% GDP năm 2010, và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng (69 tỷ  US đô la) , bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng (42 tỷ US đô la), bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý ( gần13 tỷ  US đô la), đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn… ( theo Sơn Ngọc)

***************************************

Trong bài báo 3 Rủi Ro Lớn từ  Nợ Công của Việt Nam (ở cuối bài nầy)

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước (100 tập đoàn và tổng công ty)  còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

Trong một bài báo khác có tựa để Cảnh Báo Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước, tác giả Vũ Thành Tự An, nguồn  Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

Theo Uỷ Ban Tài Chính quốc gia, nợ của DNNN năm 2009 có hơi khác một chút. Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn và tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”, GDP của năm 92 tỷ USD, vậy nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD.  (bài của Vũ Thành Tự An)

Tổng cộng   Nếu như vào năm 2001 nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD +  nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD  = 105,2 tỷ USD 


*********************************


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

***************************************

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỷ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(ghi chú của TH:  tạm cho hối suất 1 đô la Mỹ = 20000 đồng VN, thì  86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 41 tỷ + 4,3 tỷ  = 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg

GDP của năm 2008 là  85 tỷ USD  ;   GDP của năm 92 tỷ USD

Nợ của doanh nghiệp nhà nước từ 23,9 %  (20 tỷ USD), lên 54,2% (50 tỷ USD);  2008 đến 2009.

Nợ công, hay nợ của chính phủ từ 36,2% (38 tỷ USD), lên 44.75%  (41 tỷ USD)

——————————————————————————————————–

Tổng cộng nợ trong năm 2008 là 58 tỷ USD  và qua đến  2009 là    91 tỷ USD
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro.

Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này.

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Trong bài báo gốc có 18 nước có khả năng vỡ nợ, sau khi VNExpress  xào nấu, thì chỉ còn 17 quốc gia có khả năng vỡ nợ;  nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó!

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

  2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

 

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng
(Dân trí) – Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý, đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn.

Cũng theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại,  đơn vị này đã và đang chủ động nghiên cứu để xây dựng khuôn khổ pháp lý, có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước ngoài một cách hiệu quả.

Sơn Ngọc

—————————————————————————————————————————————–

Thứ Hai, 24/10/2011, 14:31 (GMT+7)

Cuối năm 2011, nợ nước ngoài khoảng 41,5% GDP

* Cần đầu tư vùng kinh tế động lực

TTO – Sáng 24-10, 2011,  Quốc hội thảo luận ở tổ về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2012.

>> Quốc hội thảo luận về kinh tế – xã hội

Miền Trung được xem là một trong những vùng kinh tế động lực. Trong ảnh: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi – Ảnh: KH.NGỌC

Tại đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, nhiều ý kiến đề nghị bên cạnh việc bảo đảm chi cho an sinh xã hội, cần quan tâm đầu tư cho các vùng kinh tế động lực có khả năng thu ngân sách lớn. Đại biểu Trần Hoàng Ngân nói: “Các đô thị lớn là nơi có khả năng đóng góp cho GDP, vì vậy cần có sự đầu tư thỏa đáng, từ đây mới có nguồn thu để thực hiện các nhu cầu chi khác”.

Đại biểu Đỗ Văn Đương cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của chi tiêu ngân sách là “bỏ đồng tiền đúng địa chỉ để phát huy hiệu quả”.

Theo ông Đương, vừa qua có tình trạng nhiều sân bay, bến cảng rất ít máy bay, tàu thuyền qua lại, chợ xây xong không có người mua bán, làm đường rộng lớn nhưng không có người qua lại, trong khi đó “có những nút giao thông nhỏ ở thành phố gây ùn tắc lâu nay thì không được tháo gỡ, tạo nên điểm nghẽn trong phát triển”.

Đại biểu Trần Du Lịch đề nghị nên tránh cách phân bố ngân sách giống như: “Tôi có từng đó dầu, nếu cấp cho một chiếc tàu thì đủ chạy ra Côn Đảo, nhưng vì tôi có ba chiếc tàu nên phải cấp cho ba chiếc. Tàu nào cũng chạy nhưng không ra được đến Côn Đảo mà phải chờ năm sau được cấp dầu để chạy tiếp”.

Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải đặt vấn đề chi ngân sách năm 2012 cũng như năm năm 2011-2015 cần quán triệt và thể hiện được nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, trong đó có việc tái cấu trúc nền kinh tế. Trong cơ cấu chi ngân sách thì chi cho tái cấu trúc nền kinh tế chưa được làm rõ. “Chúng ta nêu quan điểm, chủ trương nhưng không thể hiện trong chi đầu tư này thì không ra vấn đề được. Muốn tái cấu trúc nền kinh tế thì phải có đầu tư và cơ chế chính sách đi kèm” – ông Lê Thanh Hải nói.

Chính phủ dự kiến mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2012 là 140.200 tỉ đồng (bằng 4,8% GDP), tuy nhiên ông Trần Hoàng Ngân cho rằng cần quyết liệt cắt giảm bội chi hơn nữa. Ông Ngân nói: “Bội chi ngân sách liên tục nhiều năm đã dẫn đến nợ công, trong đó có nợ nước ngoài ở mức báo động. Ước tính đến cuối năm 2011 nợ công54,6% GDP, nợ nước ngoài 41,5% GDP.

Nếu so với dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay thì nợ nước ngoài lớn hơn nhiều. Nhìn sang các nước trong khu vực, ví dụ như Thái Lan nợ công là 44,1% GDP, nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan là 176 tỉ USD. Nhiều nước xuất siêu, nghĩa là có dư để trả nợ, còn mình nhập siêu liên tục. Do đó, Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục các chính sách để đảm bảo ổn định vĩ mô thật bền vững”.

V.V.THÀNH

Tập trung vào chất lượng đầu tư

Phát biểu tại tổ (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định), Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói: “Sở dĩ trong các năm 2010, 2011 nợ công tăng nhanh như vậy thì ngoài nhu cầu phải huy động vốn để phát triển kinh tế – xã hội còn có yếu tố về chênh lệch tỉ giá. Ví dụ năm 2011 khi chúng ta điều chỉnh tỉ giá thì có nghĩa là nợ nước ngoài cũng tăng lên như thế. Tức là không có một đồng ngoại tệ nào vay thêm thì bản thân tổng nợ công đã tăng.

Thứ hai nữa là bản thân mức GDP của chúng ta trong mấy năm vừa rồi không được như mong muốn. Nếu tổng GDP tăng khá thì tổng nợ trên GDP sẽ giảm. Nợ công của chúng ta hoàn toàn là để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta vay để tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng, ví dụ như quốc lộ 1A… Nhờ các khoản vay để đầu tư như vậy nên GDP năm năm vừa rồi chúng ta tăng cao. Tất nhiên là chúng ta nói tăng trưởng GDP dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư.

Thế nên từ năm 2012 chúng ta mới xác định tập trung vào chất lượng đầu tư, năng suất lao động. Không phải là mình tự khen mình đâu, các tổ chức quốc tế như WB, IMF… họ nói riêng với mình, rồi nói trên các diễn đàn thông tin đại chúng rằng VN là một trong những nước sử dụng ODA tốt nhất thế giới.

Theo tính toán của Chính phủ thì nợ nước ngoài sau năm 2015 sẽ xuống mức 64 hoặc 63,5% GDP”.

L.KIÊN ghi

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/461911/Cuoi-nam-2011-no-nuoc-ngoai-khoang-415-GDP.html

                              —————————————————————————————

Ngân Sách

Duyệt chi 59.000 tỷ đồng để tăng lương năm 2012

Trích:

Cùng với việc nâng lương tối thiểu hơn 200.000 đồng theo đề xuất của Chính phủ, Quốc hội cũng chốt việc nâng phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức lên 25%. Lương hưutrợ cấp ưu đãi người có công cũng tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu.

Ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng/903.100 tỷ đồng tổng chi ngân sách được duyệt cho năm sau. Tổng số thu cân đối ngân sách Quốc hội giao ở mức 740.500 tỷ đồng.

Hết trích.

-Tăng 200.000 đồng, làm gia tăng ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng. Vậy số người nhận được sự tăng lương là khoảng  24.708.334 người (?), bao gồm những  công nhân viên nhà nước có mức lương ít hơn 830 000 đồng tháng, những người lãnh lương hưu, và diện trợ cấp ưu đãi người có công) sẽ được hưởng thêm 200 000 đồng/ 1 tháng, hay 2.400.000 đồng/ 1 năm.

-Ngân sách 903.100 tỷ đồng cho năm 2012, với hối suất năm 2012 sẽ là 22000 đồng/ 1 đô la, ngân sách chính phủ là 41 tỷ đô la Mỹ.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | 1 Comment »