Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười 10th, 2011

Ngân hàng VN: nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2011

Sau gần một năm đổ thừa cho các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là nguồn gốc gây ra bất ổn nền kinh tế, làm xáo trộn bất động sản, gây việc tăng lãi suất từ 14-22%, gây lạm phát (đồng tiền mất giá, vật giá leo thang)…để rồi có kế hoạch dẹp bớt các ngân hàng này.

(Trong thời gian qua, các ngân hàng TMCP tăng lãi suất lên 22% để thu hút người dân bỏ tiền vào ngân hàng, vì các ngân hàng cần có vốn đạt đủ mức 3000 tỉ để tiếp tục đăng ký hoạt động chiếu theo nghị định của chính phủ  141/2006. )

Nay có tin:

Nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã lên đến 75.000 tỷ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước” – ông Nghĩa nói.

Ngân hàng Việt Nam chỉ bảo hiểm 50 triệu đồng. Ai gởi vào ngân hàng dưới số tiền nầy (thí dụ gởi 30 triệu đồng) và sau đó nếu ngân hàng có bị sụp đổ, thì người ấy chỉ được bồi hoàn 30 triệu đồng. Có người khác gởi vào ngân hàng 80 triệu đồng, nếu ngân hàng này bị phá sản, thì người này chỉ được bồi hoàn 50 triệu, và mất trắng tay 30 triệu đồng. Có dư tiền, cứ  mua đô la Mỹ và vàng để giữ là an toàn.

********************************************

Sẽ mở sàn vàng quốc gia

Thứ Sáu, 07/10/2011

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng giải pháp kinh doanh vàng tài khoản sẽ rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá

Ngày 7-10 tại Hà Nội, đã diễn ra hội thảo về triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Liên thông với thị trường quốc tế

Quan điểm chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là chỉ cho phép một số NH có lựa chọn huy động vốn bằng vàng và NHNN sẽ quản lý số vàng này. NHNN cho phép các NH trên phát hành chứng chỉ vàng, chứng chỉ này được mua bán trên thị trường. NHNN cũng có thể trả phí nhất định để sử dụng vàng của các NH thương mại nhằm phục vụ mục đích dự trữ, can thiệp thị trường khi cần thiết.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết cơ quan này đang mắc kẹt với nhiệm vụ cân bằng giá vàng trong nước với quốc tế, trong khi không có nguồn vàng sản xuất trong nước.

Theo ông Nghĩa, giải pháp cho kinh doanh vàng tài khoản sẽ có hiệu ứng tốt, phù hợp xu thế hiện nay vì tạo được sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước với thế giới một cách nhanh nhất, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá.
Bên cạnh đó, cho mở lại vàng tài khoản cũng có nhiều lợi ích như không tốn thêm ngoại tệ cho việc nhập vàng nhưng vẫn có thể đáp ứng nhu cầu của dân; tiết kiệm được chi phí xã hội khi tận dụng nguồn lực vàng trong dân; triệt tiêu cơ hội làm giá, đầu cơ của giới kinh doanh vàng; hạn chế tình trạng nhập lậu vàng; kiểm soát được số lượng vàng xuất, nhập thông qua hạn mức giao dịch trên tài khoản…

“Lãnh đạo của NHNN đã trình bày các giải pháp trong đề án quản lý, kinh doanh vàng với Chính phủ. Theo đó, sẽ cho mở sàn vàng quốc gia để mua bán vàng chứng chỉ và vàng tài khoản” – ông Nghĩa nói.

Thanh lọc ngân hàng: Không dọa!

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia về việc lập kế hoạch tái cấu trúc hệ thống NH để có thể triển khai ngay trong những tháng cuối năm.
Nhiệm vụ này được xem là cấp thiết vì nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước. Hiện nay, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đang gấp rút xây dựng đề án này” – ông Nghĩa nói.
Đây là đợt tái cấu trúc lần thứ 2 của hệ thống NH Việt Nam. Theo đề án của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, tái cấu trúc NH lần này vẫn như trước nhưng nhấn mạnh vấn đề giám sát và quản trị rủi ro.
Đây là điểm yếu nhất của hệ thống NH vì hiện nay, nhiều hệ thống giám sát rủi ro của các NH thương mại chỉ là “hàng mã”, lập ra để đối phó với quy định của NHNN.
NHNN chủ trương tăng trưởng tín dụng trong những năm tới không quá 20%, tổng phương tiện thanh toán không quá 16% nên chắc chắn các NH nhỏ sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ lặp lại hiện tượng xé rào đi đêm lãi suất.
“Tôi đã đề nghị Chính phủ phải làm thật chứ không dọa. Muốn kinh tế đi lên vững chắc, dứt khoát phải có hệ thống NH sạch. Giai đoạn trước đã loại bỏ 16 NH yếu kém, lần này số lượng chắc chắn sẽ không dừng ở con số đó” – ông Nghĩa nói.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một NH trong khi luật chỉ cho phép 5%. “Việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra” – ông Nghĩa nói.

*

Khu vực ngân hàng đang yếu đi

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết khu vực NH đang yếu đi với tỉ lệ nợ xấu tính đến hết tháng 6-2011 là 75.000 tỉ đồng, ở mức 3,13%, cao hơn nhiều so với mức 2,16% vào cuối năm 2010 và đang tiếp tục tăng nhanh.

Đáng lo ngại là nợ nhóm 5 (nợ mất vốn) chiếm tới 47%. Gần đây, NH có tổng tài sản lớn là NN-PTNT đã công bố số nợ xấu 6,7%, các NH lớn khác cũng đều báo cáo con số nợ xấu cao.*

                                                                          ***********************************************

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

29-7-2011

*TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng “các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống“. Hóa ra, lãi suất ngân hàng gia tăng tới 14% rồi 20% là do các ngân hàng thượng mại không có vốn( hay vốn ảo) đã cần tiền của người dân, nên đã nâng cao lãi suất.

Khi được hỏi: * Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay? ông Khiêm trả lời như sau

_Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm, hay làm nửa vời.

*Vốn ảo: vào tháng 10, 2011, “Ông (Nghĩa) cũng cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một ngân hàng trong khi luật chỉ cho phép 5%. Theo ông Nghĩa, việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra.”

*hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 2010

—————

Không “nuông chiều” các ngân hàng yếu kém

Nguyễn Hoài

20-4-2010

Một chuyên gia nhận định, nếu thực hiện nghiêm Nghị định 141/CP thì qua 2010, chỉ còn 20 ngân hàng thương mại cổ phần được phép tồn tại với mức vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng.

Đó là cơ hội tốt để gạt bỏ những cơ thể ốm yếu, nhưng liệu Nhà nước có “làm nghiêm”?

Tại hội thảo “Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng – Xu  thế thế giới và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phối hợp với Thời báo Ngân hàng tổ chức tuần trước, các chuyên gia đã gióng lên những cảnh báo về nguy cơ gây mất an toàn hệ thống của những ngân hàng nhỏ, tiềm lực yếu nhưng không chịu sáp nhập hoặc mua bán lại (M&A).

Chỉ thích “riêng một góc trời”

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho biết, tính đến tháng 3/2010, trong số 39 ngân hàng thương mại cổ phần, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có 21/39 ngân hàng thương mại cổ phần dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Đứng đầu “câu lạc bộ trên 3.000 tỷ đồng” là Vietcombank với 12.100 tỷ đồng (650 triệu USD) nhưng có thể bị VietinBank “qua mặt” vì vốn điều lệ của ngân hàng này đang là 11.252 tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lên mức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng. Tiếp theo là Eximbank (8.800 tỷ đồng), ACB (7.814 tỷ đồng), Sacombank (6.700 tỷ đồng), LienVietBank (3.300 tỷ đồng)…

Tuy nhiên, nếu theo quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 thì cả Vietcombank lẫn VietinBank không được xếp vào “nhóm cổ phần” vì nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và số ngân hàng có mức vốn trên 3.000 tỷ đồng rất ít. “Rõ ràng, quy mô các ngân hàng thương mại cổ phần quá nhỏ bé trong khi số lượng lại tương đối nhiều so với quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 100 tỷ USD của năm 2009”, ông Ánh nhận xét.

Trở lại với Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngay từ 2006, Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngân hàng quy mô nhỏ.

Theo đó, hết năm 2008, các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141.

Ngân hàng Nhà nước nói gì?

Đáng lẽ, về nguyên tắc, nếu không đảm bảo mức vốn này thì phải giải thể, hoặc thực hiện các thương vụ M&A, nhưng xem ra, điều này là chưa thể và cội nguồn của vấn đề lại xuất phát từ cả hai phía: ngân hàng và cơ quan quản lý.

Trước hết, quan điểm “riêng một góc trời” vẫn còn ngự trị rất lớn trong cách hành xử của nhiều ngân hàng. Điều này được nhận thấy rất rõ, hiện có gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần nhưng yếu tố “ngoại” mới chỉ có ở một số ngân hàng như Techcombank, ABBank, SeABank…, trong khi chưa hề có một vụ M&A nào trong ngành ngân hàng trong nhiều năm gần đây.

Thứ hai là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan quản lý. Mặc dù gần 10 ngân hàng bị chậm trễ tăng vốn điều lệ theo lộ trình gần một năm như nói trên, nhưng cơ quan quản lý vẫn nương tay và liệu điều này có tiếp tục đối với mức vốn 3.000 tỷ đồng hay không thì vẫn là dấu hỏi.

Đem vấn đề này trao đổi với Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập ngân hàng, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Một điểm đáng lưu ý khác, theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là 10% và 20% vốn điều lệ. Từ 2010, vốn điều lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng và có ý kiến rằng, nếu chất lượng hoạt động của một ngân hàng nào kém cỏi thì mức độ ảnh hưởng đến hệ thống sẽ rất khó lường.

Đã có một tình huống được giả định rằng, một “đại gia” nào đó gửi vốn cho các thể nhân đứng tên ở vài ba ngân hàng. Sau đó, “đại gia” này dùng các cổ đông “hờ” gây áp lực cho hội đồng quản trị và ban điều hành phải giải ngân cho các dự án của mình. Trong điều kiện thị trường ổn định thì có thể “chưa làm sao” nhưng chẳng may “đại gia” mất thanh khoản thì thử hỏi hậu họa sẽ như thế nào?

Cũng theo Thống đốc thì mức vốn góp theo Nghị định 59 sẽ giảm còn một nửa khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được thực thi. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp, thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.

Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu trong hệ thống ngân hàng.

Nhưng giả sử, hết năm 2010, có ngân hàng không đủ khả năng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng thì cơ quan quản lý có thêm một lần “nới tay” như năm ngoái?

———-

Ngân hàng yếu kém, xử lý thế nào?

4-10-2011

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, để tái cấu trúc ngân hàng nên được bắt đầu từ việc thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

– Thưa ông, thực tế cho thấy hiện nay số lượng ngân hàng trong nước quá nhiều, trong đó nhiều ngân hàng năng lực yếu kém làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế?

Theo báo cáo của NHNN sau khi họp với 12 ngân hàng lớn cho biết, 12 ngân hàng này chiếm 85% tổng số tín dụng ở Việt Nam. Như vậy, còn khoảng hơn 30 ngân hàng Việt Nam và gần 50 ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chỉ chiếm có 15% tổng dư nợ trên thị trường. Do vậy, có thể thấy, hơn 30 ngân hàng trong nước của chúng ta ở quy mô rất nhỏ.

Các ngân hàng nhỏ này do không huy động được nhiều vốn trong dân, buộc phải tìm cách đẩy lãi suất huy động lên để thu hút người gửi tiền. Vì ngân hàng này không có dịch vụ đặc biệt, không có phương pháp quản lý tốt cho khách hàng, nên đem lãi suất ra để làm dụng cụ huy động vốn. Do vậy, chính những ngân hàng nhỏ khởi động cho cuộc đua tăng lãi suất huy động. Ngân hàng lớn do lo sợ khách hàng rút vốn để gửi sang nơi có lãi suất cao hơn nên cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng.

Việc cạnh tranh bằng lãi suất thế này sẽ khiến dòng vốn chạy vòng quanh, từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao rồi lại tiếp tục chạy sang nơi có lãi suất cao hơn nữa… chứ không có tác dụng huy động thêm được nguồn vốn trong nhân dân. Hậu quả là lãi suất cao đẩy chi phí, giá tiêu dùng lên, đẩy lạm phát lên… Đó là vấn đề ở Việt Nam, nó trái ngược với một số chuyên gia nước ngoài cho rằng, ở Việt Nam lạm phát cao nên phải đẩy lãi suất cao để kìm chế lạm phát. Theo tôi, chính lãi suất cao đã góp phần đẩy giá tiêu dùng tăng lên, làm tăng lạm phát.

– Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nên được xem xét bắt đầu từ đâu?

Trong số hơn 30 ngân hàng nhỏ cần sàng lọc ra ngân hàng nào quản lý tốt, ngân hàng nào quản lý không tốt. Nếu ngân hàng quản lý tốt, phải giúp đỡ cho họ lớn mạnh hơn về công nghệ, con người, năng lực quản lý… Vấn đề còn lại là những ngân hàng quản lý không tốt, cần phân tích xem không tốt chỗ nào? Ví dụ như cho vay bất động sản quá nhiều, gây rủi ro cao, thu hồi tiền không được, thiếu thanh khoản thanh toán cho các chủ tài khoản…

Ngay cả trường hợp một số ngân hàng chưa thể tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng cũng cần lưu ý, nếu như vận động ít rủi ro, thanh khoản tốt thì vẫn là ngân hàng hoạt động tốt, nhưng cho dù ngân hàng có vốn điều lệ 5.000 hay 6.000 tỷ đồng mà hoạt động nhiều rủi ro có thể đi đến tình trạng không đủ thanh khoản để giải quyết hoạt động thì vẫn nguy hiểm như thường. Cho nên cần phải thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

Vậy với những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, quản lý rủi ro không tốt nên tái cấu trúc lại theo hướng nào?

NHNN cần phải tăng cường thanh kiểm tra xem ngân hàng nào khó khăn đến đâu để có hướng giải quyết đến đó.

Trước hết, cần giải quyết với những ngân hàng không có khả năng để thu hồi nợ. Tôi được biết, các nước trên thế giới, trong khi thanh tra, kiểm tra phát hiện ngân hàng đang đứng trên bờ phá sản, không đủ thanh khoản để giải quyết vấn đề hoạt động hàng ngày, ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng trung ương đến đóng cửa ngân hàng và cơ quan bảo hiểm tài khoản sẽ trả cho mỗi chủ tài khoản 200.000 USD. Ở Việt Nam thì mỗi chủ tài khoản được chi trả 50 triệu đồng. Trường hợp này, NHNN là cơ quan quản lý nhà nước áp dụng luật bảo hiểm ngân hàng để thanh toán cho các chủ tài khoản được bảo hiểm theo luật pháp.

Nếu ngân hàng nhỏ cho những nhà vay nợ có đủ tài sản và có khả năng thanh toán được, nhưng tạm thời không có tiền mặt thì NHNN có thể cho ngân hàng nhỏ này vay tiền để giải quyết thanh khoản. Sau này, những khoản nợ thu lại được đem trả lại cho Nhà nước.

Để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, giải pháp cho ngân hàng nhỏ sát nhập với các ngân hàng lớn có là giải pháp khả thi?

Việc để các ngân hàng nhỏ sát nhập vào ngân hàng lớn không phải là điều dễ làm. Các ngân hàng lớn nếu muốn sát nhập các ngân hàng nhỏ thì cũng sẽ lựa chọn những ngân hàng đang hoạt động tốt để sát nhập. Họ không việc gì phải sát nhập những ngân hàng đang ở mức nguy hiểm để mang cục nợ vào mình. Bởi sát nhập những ngân hàng này nghĩa là ngân hàng lớn phải lãnh cả những khoản nợ khó đòi và nợ xấu của ngân hàng nhỏ. Cho nên, rất khó để nói đến vấn đề sát nhập đối với các ngân hàng đang ở mức nguy hiểm vào ngân hàng lớn đang hoạt động tốt.

Trường hợp phải sát nhập là các ngân hàng nhỏ không còn con đường nào khác, nếu không sát nhập thì cũng tự chết. Lúc đó, các ngân hàng đang hoạt động xấu thương lượng với các ngân hàng lớn khác, nhưng sẽ là với mức giá thực chất hiện tại. Ví dụ như ngân hàng này có vốn là 5.000 tỷ nhưng cho vay không đòi được, nợ xấu… chỉ còn đáng giá vài tỷ đồng thôi. Hoặc không muốn bị hậu quả về hình sự trong khi hoạt động có sai phạm…  lúc đó thương lượng với ngân hàng lớn, nếu có lợi thì có thể các ngân hàng lớn có thể sát nhập theo hướng có lợi cho mình.

Thưa ông, vậy thì có nên để các ngân hàng nhỏ sát nhập lại với nhau?

Hiện nay, chúng ta đang có hơn 30 ngân hàng nhỏ, nếu ngân hàng nào tự đứng một mình phát triển được thì cứ tự đứng mà phát triển. Còn nếu các ngân hàng nhỏ, mặc dù hoạt động còn tốt nhưng lường trước những khó khăn sắp tới có thể hội nhau lại tạo thành lực lượng mạnh hơn thì cũng nên sát nhập với nhau.

Tuy nhiên, những ngân hàng đang khó khăn, ốm yếu như nhau mà lại sát nhập với nhau thì lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, vấn đề này, NHNN cần phải có sự thanh tra, giám sát khách quan, nếu ngân hàng nào không thể hoạt động được nữa thì không nên để tồn tại làm ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Còn những trường hợp ngân hàng sát nhập lại mà có thể mạnh hơn thì NHNN cần có sự tư vấn, giúp đỡ cho các ngân hàng này sát nhập.

Theo tôi, có một số ngân hàng cần phải ngồi với nhau bàn bạc xem nợ xấu, nợ tốt sau khi cân đối có còn sống được hay không? NHNN sẽ là người tư vấn cho nhóm ngân hàng đó nhập lại với nhau, xem xét xem nhiều chi nhánh quá thì bỏ bớt, nhiều nhân viên quá thì giảm bớt nhân viên, nhiều nợ xấu quá thì tìm cách đòi. Trong lộ trình 5 năm, 10 năm, nếu ngân hàng mới này thiếu thanh khoản nhưng vấn có nợ tốt thì NHNN có thể cho vay thanh khoản để hoạt động…

Có ý kiến cho rằng, NHNN có thể bỏ vốn mua cổ phần của ngân hàng nhỏ đang trong tình trạng nguy hiểm để nắm quyền quản lý?

Tôi cho rằng, NHNN không nên mua lại các ngân hàng kiểu này. Bởi không việc gì NHNN phải bỏ vốn ra để mua ngân hàng yếu. NHNN nên đi giám sát “sức khỏe” của các ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng nào yếu kém thì NHNN có biện pháp xử lý  theo luật định để giúp các ngân hàng trở nên mạnh khỏe. Còn nếu ngân hàng quá yếu kém không “cứu chữa” được thì NHNN xử lý theo theo cách cho phá sản, đóng cửa…

Xin cảm ơn ông!

————————

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

Thứ Sáu, 29/07/2011

TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống

* Phóng viên: Ông bình luận gì trước đánh giá rằng hệ thống ngân hàng (NH) thương mại đang đối diện với nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo… trong 10 kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô mà Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) khóa XII gửi QH khóa XIII?– TS Cao Sỹ Kiêm: Đúng là có hiện tượng này nhưng không phải tất cả các NH đều như vậy. Những rủi ro này chủ yếu rơi vào các NH mới, phát triển nghiệp vụ chưa cao và công nghệ kém, chất lượng và nguồn lực thấp… Khả năng huy động và sử dụng vốn kém sẽ làm cho thanh khoản luôn báo động và khi ra thị trường vốn sẽ làm rối loạn thị trường này. Những rủi ro trên chưa tới mức báo động nhưng đối với một số NH thương mại là thật sự khó khăn. Hiện có khoảng 7-8 NH luôn trong tình trạng khó khăn, nếu không được củng cố kịp thời sẽ rất phức tạp.

Kiến nghị mạnh tay loại bỏ những NH thương mại yếu kém của Ủy ban Kinh tế của QH khóa XII là chuẩn xác. Trong kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế cũng có nội dung sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, đặc biệt là với những NH thương mại thời gian vừa qua đã bộc lộ khả năng yếu kém. Việc sắp xếp lại này vừa bảo đảm sự lành mạnh của từng NH, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa NH với các lĩnh vực trong thị trường vốn như thị trường bất động sản, chứng khoán, các nghiệp vụ tiền gửi… để bảo đảm sự an toàn của hoạt động hệ thống.

* Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay?

– Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu loại bỏ những NH thương mại yếu kém có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền?

– Mỗi NH yếu kém phải có cách xử lý khác nhau. Như vậy sẽ không xảy ra phản ứng dây chuyền mà còn làm cho hệ thống NH lành mạnh hơn. Muốn vậy, cần tiến hành rà soát lại toàn hệ thống, để nếu NH nào yếu thì có sự trợ giúp; NH nào yếu kém quá, mất khả năng thanh toán lâu dài thì cũng cần sắp xếp lại, thậm chí phải xóa sổ.

* Ông nghĩ sao trước ý kiến cho rằng quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ nhưng có quá nhiều NH thương mại ?

– Số lượng NH hiện nay so với yêu cầu nền kinh tế và sự phát triển chưa phải là nhiều. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất lượng phục vụ, như chất lượng tín dụng, chất lượng thanh toán và tính an toàn chưa cao, vốn cũng chưa lớn. Cần sắp xếp lại hệ thống NH để giảm thiểu tối đa rủi ro và đủ sức cạnh tranh.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm hay làm nửa vời.

Phạm Dương (thực hiện)

—————–

trích bài báo dưới đây:

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của DNNN còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

 

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước (tác giả Vũ Thành Tự An) Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

 

 

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

 

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »