Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 16th, 2011

Vì sao tội ác lên ngôi ?

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2011

Tống Văn Công

Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc “rung chuông về giáo dục nhân cách”. Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. TS Thạch Ngọc Yến có bài viết Thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung là: Họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi…”. PGS-TS Lê Trọng Ân có bài Người lớn hãy làm gương, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình…”. Nhà báo Cao Tuấn có bài Sức mạnh kháng thể, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm “quái gỡ” (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên – các yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình… Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thấy thuốc chớ chẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi, chạy nhảy!

Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân – tác giả Sống như anh) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cúi đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!”. Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán năm 2009, Hà Nội xảy ra vụ hằng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài Vì sao đạo đức băng hoại tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi?

I. Đoạn tuyệt với đạo đức truyền thống!

Xin đọc Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx – Engels, Phần 2, “Những người vô sản và những người cộng sản” (Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, năm 1974, trang 77):

Có người sẽ bảo: “Cố nhiên những quan điểm tôn giáo, đạo đức, triết hoc, chính trị, pháp quyền, v.v. đã biến đổi trong tiến trình phát triển lịch sử. Nhưng tôn giáo, đạo đức, triết học, chính trị, pháp quyền vẫn luôn được bảo tồn qua những biến đổi ấy.Vả lại, còn có những chân lý vĩnh cửu như tự do, công lý, v.v. chung cho mọi chế độ xã hội. Thế mà chủ nghĩa cộng sản lại xóa bỏ những chân lý vĩnh cửu, nó xóa bỏ tôn giáo và đạo đức chứ không đổi mới tôn giáo và đạo đức; làm như thế là trái ngược với tất cả sự phát triển lịch sử trước kia?”.Lời buộc tội ấy rốt cuộc là gì? Lịch sử của tiến bộ xã hội từ trước tới nay đều diễn ra trong đối kháng giai cấp, những đối kháng mang những hình thức khác nhau tùy thời đại. Nhưng dù những đối kháng mang hình thức gì đi nữa, hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ mặc dù có muôn màu muôn vẻvà hết sức khác nhau vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thái ý thức chỉ hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa.Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với tư tưởng cổ truyền…”.

Từ những năm 50 của thế kỷ 20, người Việt Nam bắt đầu được nghe, “nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á”. Nhà nước này sắp xếp thứ tự của “tứ dân” từ sĩ, nông, công, thương phải thay đổi: Giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng; Giai cấp nông dân là quân chủ lực cách mạng, nhưng lại chia thành: cố nông, bần nông, trung nông. Cố nông, bần nông là cốt cán tin cậy. Trung nông kém tin cậy hơn, chia ra trung nông lớp dưới và trung nông lớp trên. Phú nông vừa lao động vừa bóc lột, phải tước bỏ tính bóc lột của họ. Địa chủ không còn nằm trong lực lượng yêu nước mà là đối tượng phải tiêu diệt. Tầng lớp trí thức có cái đuôi là tiểu tư sản, được gọi đùa là “tạch tạch xè”, bị xem là có lập trường bấp bênh, dễ bị dao động, cần được theo dõi, uốn nắn. Thương nhân là hạng người xấu xa nhất. Giai cấp tư sản là đối tượng phải tiêu diệt, nhưng tư sản thương nghiệp, gọi là bọn mại bản phải tiêu diệt đầu tiên. Nhiều người cho rằng sự sắp xếp lại “tứ dân” như trên là đem tay chân thay thế cho bộ não của xã hội! (Đến nay, ở thời đại kinh tế tri thức việc gọi giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thì sự vô lý càng trở nên bức xúc!). Từ lúc ấy, “Đại đoàn kết” đã nhường bước cho “đấu tranh giai cấp”, đạo đức bắt đầu đảo lộn, chữ “tố” lên ngôi thành một loại hoạt động xã hội được tôn vinh, đẻ ra thành ngữ mới “con tố cha, vợ tố chồng”!

Đạo đức cao nhất là trung thành với chủ nghĩa Marx – Lénin. Với nguyên tắc dân chủ tập trung, lãnh tụ Đảng cộng sản trở thành Thượng đế. Lãnh tụ quốc tế cộng sản đáng kính yêu hơn cả cha mẹ mình: “Vui biết mấy khi con học nói. Tiếng đầu đời con gọi Stalin” (Tố Hữu). Chữ trung, chữ hiếu truyền thống cũng thay đổi. Lời Cụ Hồ “trung với nước” bị đổi thành “trung với Đảng”. Trong cuộc chỉnh Đảng Trung ương khóa 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có người nói, người cộng sản là vô tình, là bất hiếu. Con làm cộng sản có khi phải bỏ cả bố mẹ. Cái đó có hay không? Có! Người cách mạng nhất, là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hằng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến dày vò. Mình chẳng những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước nữa. Phải hiểu chữ hiếu theo tinh thần cách mạng rộng rãi như vậy… Gia đình to là cả nước và gia đình nhỏ: Cái nào nặng? Cái nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to! Đó là cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái riêng cho cái chung” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, trang 389).

Sách Đại học (Tập 1 trong Tứ thư) viết: “Có hiếu là phải biết phụng sự vua. Có đễ là biết phụng sự người lớn”, tức là có ý dạy rằng, phụng sự vua cũng có nghĩa là có hiếu với cha mẹ, chứ không phải đòi hỏi chọn việc phụng sự vua mà bỏ cha mẹ.

Có lẽ, vì “cách mạng chọn gia đình to, hy sinh gia đình nhỏ” thể hiện triệt để tư tưởng của chủ nghĩa tập thể, cho nên “5 điều Bác Hồ dạy” không có điều nào dạy con cái phải hiếu thảo, kính yêu cha mẹ, ông bà. Bởi vì cha mẹ, ông bà của gia đình nhỏ đã được đặt trong gia đình lớn là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”.

Trong hồi ký Chuyện làng ngày ấy nhà thơ Võ Văn Trực đã kể khá sinh động chuyện làng của ông phá bỏ chùa chiền, miếu mạo, tập thể hóa cả mồ mả ông bà. Tiếp theo đó, hồi ký Cọng rêu dưới đáy ao, Võ Văn Trực kể chuyện chính quyền, đoàn thể buộc người ta phải hy sinh mọi lợi ích riêng tư, dành tất cả cho tập thể. Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối (lý lịch gia đình, các mối quan hệ xã hội, báo cáo láo thành tích, những lo toan cho cá nhân, gia đình mình…). Do đó, Từ điển có thêm từ “khai man”, “tố điêu”.

II. Xây dựng đạo đức cách mạng

Từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lề lối làm việc đã đề ra việc chống các bệnh chủ quan, ích kỷ hẹp hòi, cá nhân, bản vị, cục bộ và xây dựng đạo đức cách mạng. Từ đó cho tới năm qua đời, Cụ viết rất nhiều bài mở rộng tư tưởng này, tiêu biểu là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, viết ngày 3-2-1969, và trong Di chúc đoạn nói về Đảng cầm quyền. Cụ chỉ ra 10 bệnh của chủ nghĩa cá nhân cần phải xóa bỏ và đề ra nội dung đạo đức cách mạng gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Chí công vô tư vốn là một khái niệm đạo đức cũ. Chí công nghĩa là rất công bằng; vô tư là không có lòng riêng khi làm việc chung. Khái niệm này vốn dành cho quan lại, chứ không phải cho dân thường. Với quan chức, nó cũng chỉ đòi hỏi họ chí công vô tư khi hành xử công việc, chứ không phải trong cuộc sống riêng tư. Bởi vì trong cuộc sống riêng tư, họ cũng muốn lên chức, có lương cao, bổng hậu, vợ đẹp con khôn, thành đạt.

Cụ Hồ biến ý nghĩa cụm từ này thành đạo đức cách mạng, đòi hỏi mọi người đều phải thực hiện. Thậm chí Cụ cho rằng, nhiều đảng viên không thâm nhuần tư tưởng chí công, vô tư cho nên mắc chủ nghĩa cá nhân; và phải chí công, vô tư thì mới có cần, kiệm, liêm, chính. Theo cách hiểu phổ biến thì các nội dung trên đòi hỏi con người phải triệt tiêu cái riêng, đưa cái chung, cái tập thể lên địa vị độc tôn. Trong thời chiến (mà nước ta thời chiến quá dài!), mọi người dân dễ chấp nhận tư tưởng ấy, nhất là khi đặt mình giữa cái sống, cái chết ở chiến trường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Kiến Giang “trước sự hy sinh, con người thật ra phải có ý thức rất cao về cá nhân mình… Đó là phút thăng hoa của con người cá nhân”.

Tuy nhiên, nếu cho rằng chủ nghĩa tập thể giúp cho Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì không đúng. Chính chủ nghĩa yêu nước mới là động lực chiến thắng, còn chủ nghĩa tập thể chỉ hạn chế động lực ấy. Có thể đưa ông Kim Nhật Thành của Triều Tiên làm ví dụ. Ông Kim được cả triệu quân Trung Quốc chi viện, nhưng vẫn không thắng nổi Hàn Quốc. Bởi ông ta không có Cách mạng Tháng 8, không có Hiến pháp 1946, không có Mặt trận dân tộc giải phóng ở miền Nam với lá cờ Hòa bình, Độc lập, Trung lập.

Nước Mỹ giàu mạnh, nhờ có dân chủ mà người dân có quyền ngăn chặn chiến tranh Việt Nam chỉ trong 5 năm, khi họ thấy chính phủ sai lầm. Việt Nam nghèo, lại bị cấm vận, nhưng đã kéo dài sự có mặt ở Campuchia đến 10 năm, chịu biết bao hậu quả không đáng có!

Chủ nghĩa tập thể vô hiệu hóa trách nhiệm cá nhân và tước mất lực lượng đại đoàn kết dân tộc ngay trong thời chiến.

Những ai từng tham gia kháng chiến chống Pháp đều biết giai thoại này: Các ông Năm Lửa, Ba Gà Mổ bảo nhau: “Bọn Việt Minh hội họp liên miên, cho nên còn rất ít thì giờ tìm đánh mình. Nếu họ bớt hội họp thì nguy cho mình đó!”.Từ những năm 50, do lo sợ bị loại vì chủ trương chấn chỉnh tổ chức, nhiều cán bộ chỉ huy cấp khu đã rời bỏ kháng chiến như Bảy Viễn, Trịnh Khánh Vàng… Trong thời chống Mỹ, rất nhiều nhân tài bị cách chức (như Kim Ngọc), hoặc giam cầm (Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, Nguyễn Kiến Giang…).

Hơn 60 năm qua, năm nào cũng có chỉ thị, nghị quyết giảm hội họp, nhưng không thể giảm được. Bởi vì, cả hệ thống chính trị đều theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, rất cần có một quyết định tập thể để khi công việc thất bại chẳng có ai phải giơ đầu chịu báng! Vinashin nuốt tiền thuế của dân trung bình mỗi đầu người hơn một triệu đồng, nhưng đâu có ai bị kỷ luật. Bauxite Tây Nguyên, dự án lớn của Đảng, nhà nước đang băm nát đường vận chuyển ở hai tỉnh, gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, và nếu mai kia xảy ra tai họa trút bùn độc lên đầu 20 triệu nhân dân thì cũng sẽ không có ai phải hầu tòa!

Sau giải phóng miền Bắc, chủ nghĩa tập thể bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có giới văn nghệ sĩ phản ứng bằng vụ Nhân văn – Giai phẩm. Bởi vì đặc thù của lao động nghệ thuật đòi hỏi phải có không gian tự do cá nhân tuyệt đối mới có thể sáng tạo.

Không chấp nhận cạnh tranh, chủ nghĩa xã hội tổ chức phong trào thi đua tập thể để thúc đẩy lao động sản xuất. Đó là hình thức làm tăng dối trá theo cấp số nhân. Ở miền Bắc ai cũng đã nghe chuyện Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm trại lợn hợp tác xã. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy lợn cắn nhau quá dữ dội. Thì ra, Chủ nhiệm trại lợn đã có “sáng kiến” mượn lợn nuôi cá thể của các gia đình, đem nhốt chung vào chuồng hợp tác xã, để báo cáo Thủ tướng về tốc độ phát triển thần kỳ của chăn nuôi tập thể, chứng minh tính ưu việt không thể chối cãi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sa sút, lụn bại ngành giáo dục cũng là phong trào thi đua tập thể “hai tốt”. Dù ông Nguyễn Thiện Nhân gào lên “nói không” thì phong trào thi đua với mục đích tối cao là thành tích rất lặng lẽ cãi lại ”nói có”!

Không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, chủ nghĩa xã hội kêu gọi phê bình, tự phê bình để khắc phục khuyết điểm. Nhưng thực tế cho thấy chả có ai chịu “vạch áo cho người xem lưng”. Đã có giai thoại: “Xin nghiêm khắc phê bình anh Hai luôn làm việc quá sức. Xin chân thành góp ý với anh Hai rằng, sức khỏe của anh Hai không phải là của riêng anh mà là tài sản quý báu của tập thể, của Đảng”. Cho đến nay, những nơi bị phát hiện tham nhũng lớn đều là nơi đang có phong trào thi đua sôi nổi, có tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, đã nhiều năm đạt danh hiệu “trong sạch, vững mạnh”, như Đại lộ Đông Tây của Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói nổi tiếng “Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” (Câu này trái với Marx, theo Marx vật chất có trước ý thức). Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cách mạng, là con người của giai cấp vô sản, mọi tính người hình thành trong lịch sử bị coi là của giai cấp tư sản, phải xóa bỏ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đặt khuôn mẫu cho con người xã hội chủ nghĩa, giống như kiểu dùng chiếc giường Procuste đặt con người lên đó, ai dài hơn giường thì chặt bớt cho vừa, ai ngắn hơn thì kéo cho dài ra. Cho đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ cũng vẫn chưa có con người xã hội chủ nghĩa! Trong nhật ký ngày 18-3-1958, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết: “Bây giờ đã đến cảnh không ai dám nói thật với ai”. Năm mươi năm sau, nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh, lặp lại lời Nguyễn Huy Tưởng như một tổng kết bản chất của chế độ trong bút ký chính trị cuối cùng: “Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật”. Như vậy có thể nói, tất cả những người ưu tú nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có một ai thực hiện được đạo đức cách mạng. Nói dối, nghĩ một đằng, nói một nẻo chính là nguyên nhân đầu tiên, từ đó đẻ ra những tệ nạn khác làm sa đọa xã hội.

III. Đạo đức cách mạng xung khắc với Đổi mới!

Cuối thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, nổi bật là kinh tế và chính trị.

Ở thành phố Hồ Chí Minh, ông Võ Văn Kiệt lắng nghe nhân dân, đã dám làm một việc tày đình là “xé rào”, thực hiện “hài hòa 3 lợi ích”: lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân người lao động. Lợi ích cá nhân người lao động là điều chỏi với chủ nghĩa tập thể! Năm 1982, khi bị ra khỏi Bộ Chính trị, trở về làm Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh tiếp tục “xé rào” làm cho kinh tế, đời sống dễ chịu so với cả nước.

Năm 1983, trong đợt học tập Nghị quyết Trung ương (khóa 5), tôi được xếp vào tổ thảo luận của khối Dân vận Trung ương do Trưởng ban Vũ Quang làm tổ trưởng. Ông Vũ Quang hướng dẫn tổ phê phán “chủ nghĩa tự do kinh tế ở Sài Gòn” đang vi phạm nghiêm trọng các nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, năm 1986 Đại hội 6 đã chọn “xé rào” làm tiền đề của Đổi mới, lấy đổi mới kinh tế làm khâu đột phá. Đổi mới kinh tế tức là trả lại tự do, dân chủ cho nhân dân, nông dân được ra khỏi hợp tác xã để nhận khoán hộ, người có vốn được đứng ra kinh doanh sản xuất và mua bán. Đổi mới kinh tế xóa bỏ những nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, tức là chọc thủng một mảng lớn chế độ toàn trị, nhưng được gọi tránh né là “chế độ quan liêu, bao cấp”.

Thật đáng tiếc, ông Nguyễn Văn Linh không ý thức được rằng “ba lợi ích” mà ông là đồng tác giả với Võ Văn Kiệt đã làm bật dậy sức sáng tạo của toàn dân, chính vì nó rời bỏ chủ nghĩa tập thể lỗi thời, trả lại tự do cá nhân cho người lao động. Ông khư khư định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đổi mới chính trị tương ứng với kinh tế. Ông vừa mới nghe Trần Độ để cho ra Nghị quyết 05 “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, ngay sau đó đã giật mình, vội quy tội Trần Độ chệch hướng xã hội chủ nghĩa! Ông diệt sinh mệnh chính trị Trần Xuân Bách, chọn Đỗ Mười, người có “thành tích” trong một tuần đánh tan giai cấp tư sản dân tộc, làm người kế nhiệm. Ông chủ động cúi mình cầu thân với Bắc Kinh, vì cho rằng “dù có tư tưởng bành trướng, nhưng cùng là xã hội chủ nghĩa với nhau”. Đổi mới vì thế bị dẫm chân tại chỗ, đất nước bỏ lỡ nhiều cơ hội: không sớm bình thường quan hệ với Mỹ, chậm vào WTO, không dân chủ hóa xã hội, làm cho hệ thống chính trị thoái hóa, cản trở phát triển kinh tế, hiện nay có nguy cõ không thể thực hiện ðýợc mục tiêu ”ðến nãm 2020 nýớc ta cõ bản trở thành nýớc công nghiệp theo hýớng hiện ðại” (Nghị quyết Ðại hội 11), không tạo ðýợc ðiều kiện hòa giải, hòa hợp, phát huy sức mạnh dân tộc. Không đổi mới chính trị tương thích với kinh tế đã đưa tới khủng hoảng toàn diện mà nổi bật là hai tình trạng sau đây:

1- Một là, quyền lực nhà nước không bị kiểm soát, hạn chế, không có nền tư pháp độc lập; không có báo chí tự do, đã khiến cho đảng viên, cán bộ lợi dụng chức quyền làm giàu bất chính, nổi bật là tình trạng chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, ghê gớm hơn là hình thành những “nhóm lợi ích” lũng đoạn chính sách nhà nước. Nhìn từng làng xã, nhìn rộng ra cả nước, ai cũng thấy những kẻ tự xưng là đầy tớ của nhân dân, mở miệng là rao giảng đạo đức cách mạng, chí công vô tư, chính là những “tư sản đỏ”, sống trên luật pháp, tham nhũng từ to đến nhỏ, ăn cả tiền từ thiện cứu trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt. Những người cơ cực, những dân đen thấp cổ bé họng, uất ức tìm mọi cách giành quyền sống trong một xã hội bất minh, bằng mọi cách ”loạn cương” như lừa lọc, cướp giật, giết người. Thế là hình ảnh một xã hội trung cổ được tái hiện: “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Có thể xếp song song hai dòng người sa đọa, nhưng đối chọi nhau trong bức tranh xã hội Việt Nam: Một bên là Đinh Văn Hùng Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình buôn bình cổ, trống đồng trị giá hàng triệu USD, đã “hạ cánh an toàn, đang sống trong cơ ngơi như đế vương; Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh Hà Giang mua trinh học sinh vị thành niên, bị gái điếm chụp ảnh khỏa thân… đã “hạ cánh an toàn,” đang sống trong biệt thự sang trọng. Và tiếp theo chúng là hằng ngàn, hằng vạn “đồng chí chưa bị lộ”! Bọn này ngày càng đông nối nhau theo đà sa đọa của hệ thống chính trị. Chính chúng nó là nguyên nhân làm nảy sinh những kẻ thủ ác trong danh sách thứ hai, gồm những Lê Văn Luyện đang mọc lên như nấm!

2- Hai là, tự do kinh tế giải phóng sức lao động sáng tạo của cá nhân, đồng thời đánh thức cho họ biết rằng mình còn có những quyền của con người vẫn còn bị tước đoạt: Đó là quyền làm chủ nhà nước, quyền được mở mồm ra nói, quyền được hội họp và lập hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp… Những ông Vua Lốp mới (nhân dân Hà Nội gọi ông Nguyễn Văn Chẩn là “vua lốp”, người tự chế ra dép lốp, tái sinh lốp xe cũ như mới, bị chính quyền Hà Nội xử tù 3 lần và tịch biên tài sản) của tự do chính trị liên tục xuất hiện từ Trần Xuân Bách đến Nguyễn Văn An, rồi Cù Huy Hà Vũ…

Chân lý đang chia đôi thành hai trận tuyến hết sức gay gắt: Yêu nước và Phản động!

Báo chí lề trái cùng với đông đảo nhân dân gọi Cù Huy Hà Vũ là nhà yêu nước vĩ đại. Giáo sư Ngô Bảo Châu viết blog so sánh Hà Vũ với các vị anh hùng Hector, Tumus, Kinh Kha, “Những nhân vật huyền thoại này đã làm mọi thứ để được đối mặt với số phận, để hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc đời này”. Hậu thuẫn Hà Vũ là hằng ngàn người ký tên kiến nghị đòi trả tự do cho ông, gồm nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và nhân dân trong, ngoài nước, kể cả những người đã tham gia hằng chục cuộc biểu tình khắp cả nước từ tháng 6 đến nay. Tiếp sau đó, là hàng triệu nông dân mất đất, bị “giải phóng mặt bằng” bởi các “nhà đầu tư” cấu kết với đảng viên, cán bộ địa phương ép họ chịu đền bù đất đai với giá rẻ mạt, khiến họ hết đường sinh sống. Bên cạnh đó là hàng triệu công nhân tham gia hơn 4000 cuộc đình công bị coi là trái pháp luật, vì không có quyền chọn cho mình một tổ chức công đoàn dám bảo vệ quyền lợi đoàn viên.

Ngược lại, phía nhà cầm quyền, báo chí lề phải gọi những người kể trên là bọn phản động, nghe theo xúi giục của các thế lực thù địch chống Đảng, chống nhà nước và có âm mưu chia rẽ tình hữu nghị Việt – Trung. Nông dân bị Luật đất đai tước quyền sở hữu cá nhân (vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân), bị chặn lại với lệnh cấm khiếu kiện tập thể. Công nhân bị cấm không được phép cử Ban đại diện công nhân ở những nơi chưa có công đoàn do Đảng lập ra.

Qua hai bức tranh xã hội miêu tả khái quát, có thể nói: Tội ác tràn lan hiện nay không phải do “thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, không phải “con dại, cái mang”, càng không phải “yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn”, nó là sản phẩm mới đang sinh sôi hằng ngày do khủng hoảng văn hóa, đạo đức, nằm trong cuộc khủng hoảng toàn diện của xã hội Việt Nam, nguyên nhân chính là hệ thống chính trị không phù hợp với nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Bài thuốc chữa duy nhất cho nó là dân chủ hóa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập.

Ngày 9-9-2011
T.V.C

—-

*Với dân chúng vùng nông thôn kém hiểu biết, thiếu thông tin, bị nhồi sọ bịt mắt bịt tai thì không nhận ra nguyên nhân của cái ác lên ngôi ở VN; chứ đối với dân chúng có hiểu biết thì cái nguyên nhân ấy đã hiển hiện từ lâu: Đảng cộng sản VN là hiện thân của cái Ác, phi nhân và phi nghĩa. Nó đã lên ngôi từ lâu rồi.

*

Bài viết thực lòng. rất đáng trân trọng!
Ước gì nó được đăng trang trọng trên báo chí lề phải nhỉ!
Đây là một bài đập thẳng vào mặt chính quyền, vào chủ nghĩa xã hội của một người đảng viên kỳ cựu chứ không phải từ thành phần “phản động” nên các bác ghét dân chủ đừng ném đá nhé! Whitebear 81 đâu vào đây cảnh caó ông TỐng Văn Công ngay!

*

“Qua hai bức tranh xã hội miêu tả khái quát, có thể nói: Tội ác tràn lan hiện nay không phải do “thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng”, không phải “con dại, cái mang”, càng không phải “yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn”, ”

Bác T.V.C biết rõ là các tác giả khác cũng biết thừa lý do vì sao tội ác lên ngôi. Chẳng qua họ cũng “Con người muốn cho riêng mình thì buộc phải che giấu, nói dối”.

Tội ác bắt nguồn từ Nói Dối. Người CS trước kia còn tin vào lý tưởng. Chứ người CS ngày nay ư, có còn là người CS nữa không? Các bác đảng viên CS tự biết. Hãy ra ngoài quán bia mà nghe anh em đảng viên nói chuyện. Có lẽ, đó là lúc họ nói thật!

*

Bác Tống Văn Công nói quá đúng rồi! Cảm ơn bác vì sự tỉnh táo và dũng cảm đó.

Bác Công đã chỉ rõ:
Tội ác lên ngôi bởi vì đạo đức xã hội xuống cấp.
Đạo đức xã hội xuống cấp bởi đạo đức cộng sản lên ngôi.

Mà, không con lưu luyến nữa, bác Công cũng đã nhận ra:
Đạo đức cộng sản có bản chất giả dối, mạo danh, bạo lực và thấp hèn, chống lại tính người lại được đảng CS chọn là đạo đức mẫu mực áp đặt cho cả xã hội từ 1945 và 1975…

Nhưng bài thuốc bác TVC bốc cho xã hội tội ác VN là dân chủ xã hội tôi chưa tin lắm, vì nó nhẹ hều? Liệu có thể dân chủ hoá xã hội cộng sản?

Bác Công biết rõ rằng cộng sản không đợi trời chung cùng dân chủ, như màn đêm và ánh sáng vậy. Trong đêm đen của nhân loại, cộng sản đã sinh ra. Trong đêm đen của nhân dân VN cộng sản VN mới có thể làm những điều họ muốn và sang sảng đổ tội cho bè lũ thù địch hay các thế lực phản động (ý là cũng đang trốn trong đêm den đó!).

Nay bác Công đòi chinh quyền cộng sản tự ánh sáng hoá đêm đen, hay bác muốn nhân dân làm ánh sáng hoá đêm đen? Nhân dân không phải tác giả của đêm đen đang bao trùm hiện nay nên họ sẽ không thể ánh sáng hoá nó, mà sẽ phá bỏ nó và thay nó bàng ánh sáng.

Dù sao, tôi cũng trân trọng, đánh giá rất cao cái tâm và cái nhìn của bác TVC. Dù sao giải pháp của bác cũng là giải pháp dũng cảm nhất hiện nay của những người cựu cách mạng vẫn có tấm lòng vì dân nước.

Cảm ơn bác Tống Văn Công.

*Thật sự là đổi mới chăng? theo tôi nếu chính xác phải sử dụng từ sửa sai mới phải. Có đổi được gì chẳng qua là có nới ra 1 chút thôi, chuyện làm ăn, phát triển kinh tế thì miền Nam đã làm từ thời cụ Ngô kia kìa, CS năm quyền trói hết các mặt phát triển, thấy ko xong nới ra tý thì ngạo mạn gọi là “đổi mới”, các cụ trong Nam nói rằng: “đổi mới cái con khỉ mốc, sửa sai còn chưa xong!”. Đảng có bao giờ nhận là sai bao giờ đâu nên chơi chữ chút vậy.
Tôi nhớ vào năm 1972 – 73 là SG đã có xe hơi thương hiệu VN là La Datlat mặc dù là sản phẩm sản xuất trên nền của Citroen (Pháp) nhưng quan trọng là có thương hiệu Việt, còn bây giờ sau mấy chục năm “giải phóng” thì các nhà CS có được cái gì là riêng chưa? vậy là đổi mới sao?
Đã vậy con bướng bỉnh thòng thêm cái đuôi “theo định hướng XHCN”, nói xin lỗi bản thân các nhà CS có biết cái XHCN có mấy đầu mấy tay chưa hoặc giả là cái con ngáo ộp gì chưa?
Toàn những lời đao to – búa lớn nhưng nội dung thì rỗng tếch, làm xiếc với ngôn từ để lừa bịp người dân.

*tôi là người may mắn đã trãi qua hai chế độ và đã thụ hưởng được hai nền giáo dục khác nhau;minh hoạ qua chương trình giáo dục tiểu học dưới hai thời kỳ:
Nền giáo dục trước 1975: Một nền giáo dục nhân bản, bắt buộc và hoàn toàn miễn phí.
Chương trình bậc tiểu học nếu tóm gọn các kiến thức phổ cập tiểu học chỉ trong vòng #2,5 năm. Thời gian còn lại của bậc tiểu học chú trọng đến việc xây dựng nhân cách con người. Học bổn phận công dân, học những gương về tình yêu thương,lòng nhân ái,tính trung thực, gương danh nhân, qua các bài học qua thơ văn , nôm na, dể hiểu(gia huấn ca, những tâm hồn cao thượng…) tuổi thơ chúng tôi dù còn non nớt nhưng những dòng chử mô tả ngày khai trường của Thanh Tịnh đã theo tôi suốt quãng đời ấu thơ và có lẽ sẽ theo tôi đến hết cuộc đời: Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc….Giáo dục nhân cách chúng tôi chỉ học có hai câu:Cám ơn; xin lỗi và những hệ quả của nó.
Nhìn lại chương trình tiểu học dưới mái trường XHCN: sau 1975 chúng tôi tiếp nhận một nền giáo dục Mác xít giáo dục những suy nghĩ non nớt của trẻ thơ về lòng căm thù, thuộc tính cách mạng triệt để và tính ỹ lại.(dạy tính toán vót được bao nhiêu chông; giết được bao nhiêu giặc; Ong còn biết chống giặc Mỹ; đất nước ta rừng vàng biển bạc…) chính nền giáo dục Mác xít ấy là khởi nguồn cho việc gieo mầm tội ác. Trẻ thường thơ ngây, tâm hồn như tờ giấy trắng. Các nền giáo dục như những cây viết màu . Các nhà giáo dục đã tô lên bức tranh màu xám cho trẻ thơ ngay từ đầu cấp tiểu học cơ sở. Trẻ thơ lớn lên, người lớn (các bậc cha mẹ) là những gương điển hình nhất cho việc phát triển nhân cách.Tôi đã chứng kiến một học sinh tự tử khi người cha của mình(thần tượng của em về các đức tính cao thượng) bị vạch trần các tội ác mà mình sai phạm :sỹ quan công an cao cấp- lại toa rập với trùm xã hội đen(Năm Cam)…
Yếu tố thứ 3 là xãhội đã tác động lớn đến việc phát triển nhân cách. Những gương thành đạt( thường xuất phát tại các gia đình nghèo khó , hiếu học miền Trung) thường là những bài học lớn về đào tạo con người. Bách niên chi kế mạc như thụ nhân. Bài học về rèn người(một cách đúng đắn nhất) đã dược những bàn tay của những ông bố, bà mẹ nghèo khó miền Trung, khổ nhọc chắt chiu tạo nên.Những người trưởng thành trong gian khổ, họ thấu hiểu được nổi hy sinh của cha mẹ, họ thu mình trong một không gian nhỏ gồm những người cùngcảnh ngộ, phấn đấu học tập để rồi như một lò xo sự dồn nén được giải phóng và đưa họ đến thành công. Tôi nghĩ cái ác không (hoặc tồn tại rất ít trong các môi trường trên).Cuối cùng-«Người ta có thể nói láo một lần, hai lần; nhưng người ta không thể nói láo mãi mãi.
Người ta có thể lừa gạt một người, hai người ; nhưng người ta không thể lừa gạt cả một dân tộc.»(Abraham Lincoln) Các bạn nhớ những điều trên và nên ứng xử phù hợp nhằm tránh sai lầm, tránh tạo ra và phát triển cái ác.

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

Nguyễn Ái Quốc là Bút hiệu của một Nhóm Người hay của một Người [2]

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2011

Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quấc/Quốc[2]

Tác giả Thụy Khê

Sự khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc dẫn tới sự xác định vai trò lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước (1912-1927) của Phan Văn Trường trong những năm đầu (1911-1920) và của Nguyễn Thế Truyền trong những năm cuối (1921-1927). Đó là cơ sở đầu tiên của những ngòi bút chống thực dân trên đất Pháp.

Từ 1927, khi Nguyễn Thế Truyền về nước, phong trào Việt kiều yêu nước sẽ do nhóm Trốt-kít tiếp tục lãnh đạo với Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch… Những nhà ái quốc này, tới năm 1945, sẽ bị Việt minh thủ tiêu, trừ Hồ Hữu Tường sống sót vì trốn ở Hà Nội.  (Sau năm 1975, ông cũng vào tù và chết trong tay của đảng  CSVN vào năm 1980  (Đọc thêm về Hồ Hữu Tường ở đây).

Từ trước đến nay, Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh được chính thức coi là người lãnh đạo và xây dựng phong trào Việt kiều yêu nước.

Trong giới thông thạo lịch sử và giới nghiên cứu, Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường được nêu ra như những người mở đường, hai nhà lãnh đạo; nhưng vai trò lãnh đạo chính được dành cho Phan Châu Trinh. Phan Văn Trường ít ai biết, hoặc có biết, cũng chỉ coi ông là người phiên dịch tư tưởng Phan Châu Trinh ra tiếng Pháp (cả Hồ Hữu Tường cũng lầm như thế).

Nhưng sự thật có lẽ khác hẳn: Trong thời kỳ đấu tranh ở Pháp, Phan Châu Trinh, với một quá khứ can trường, tuy được dân tộc quý mến, nhưng ông không phải là người lãnh đạo phong trào. Lý do: ông không cùng tư tưởng với những người viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Là nhà nho, không hiểu tiếng Pháp và văn hoá Pháp, cho nên biện pháp đấu tranh của ông trên đất Pháp, trở thành lạc hậu, so với những người Tây học.

1. Phan Châu Trinh dưới mắt Phan Văn Trường

Sự bất đồng ý kiến giữa Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh đã nhiều nơi đề cập, nhất là qua những bức thư Phan Châu Trinh viết cho Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc, đã được công bố.

Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc đến ý kiến của Phan Văn Trường trong cuốn hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris (Chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris), bắt đầu đăng trên báo Chuông Rè từ cuối năm 1925. Sử gia Ngô Văn, người in lại cuốn hồi ký này ở Paris năm 2003 (nxb L’insomniaque) cho biết: Ở thời điểm xuất hiện trên báo Chuông Rè, tác phẩm gây chấn động trong lòng người dân nô lệ như một luồng điện giật.

Sau khi Phan Văn Trường mất (ngày 21/4/1933), bà Phạm Vân Anh có viết loạt bài tựa đề Cái đời gian truân lưu lạc của Phan Văn Trường, ký VA [PNTV từ số 211 (10/8/1933) đến số 218 (28/9/1933), đăng lại trên cuốn Phụ Nữ Tân Văn Phấn son tô điểm sơn hà của Thiện Mộc Lan, Văn Hoá Sài Gòn, 2010]. Loạt bài của VA, phỏng theo hồi ký của Phan Văn Trường nhưng đã lược bỏ tất cả những chi tiết liên quan đến chính trị và tinh thần chống thực dân trong bản Pháp văn, vì dưới thời Pháp thuộc, báo tiếng Việt không tự do bằng báo tiếng Pháp.

Cuốn hồi ký này, viết xong tại Paris, tháng 10/1923. Tháng 12/1923, Phan Văn Trường xuống tàu về nước, tới Sài Gòn cuối tháng giêng 1924. Sau đó ông ra Bắc khoảng một năm, thăm gia đình sau 16 năm xa cách, đến 1925, ông mới trở lại Sài Gòn và lo việc lập văn phòng luật sư và làm báo. Vì vậy, hồi ký chỉ bắt đầu đăng trên báo Chuông Rè từ ngày 30/11/1925.

Nội dung tác phẩm trình bày hành trình tư tưởng và con đường tranh đấu của Phan Văn Trường. Kêu gọi người dân nô lệ phải đứng lên làm người. Đừng sợ kẻ khác. Dù phải trả giá thế nào đi chăng nữa. Ông thuật lại vụ án mà ông và Phan Châu Trinh bị thực dân dàn dựng để ghép hai người vào tội âm mưu lật đổ chính quyền Pháp.

Phan Văn Trường đã dành nhiều trang hồi ký cho Phan Châu Trinh, người bạn đồng hành của mình. Ông viết theo lối Tây học, có gì nói thẳng, cả cái hay lẫn cái dở của bạn. Một nhận xét: Phan Văn Trường không hề nhắc đến tên Nguyễn Tất Thành, mặc dù Nguyễn Tất Thành ở nhà Phan Văn Trường trong 2 năm (từ tháng 6/1919 đến tháng 7/1921).

Sự ngây thơ của Phan Châu Trinh, được phân tích khá cặn kẽ, trong chương X. Phan Văn Trường mô tả Tây Hồ như sau:

Ông Phan Châu Trinh là người thông minh thiên bẩm, uyên bác và có kinh nghiệm sống, nói chuyện hay, nhưng dường như những ưu điểm trên đây bị sự khinh suất khó mường tượng và sự ngây thơ lạ lùng phá vỡ. Những lời lẽ hạ mình đối với chính quyền thực dân trong Đầu Pháp chính phủ thư, thực vô ích, vì ông không hiểu rõ thâm ý của chính quyền thuộc địa, mà hậu quả còn bị bọn quan lại thâm thù và kết án tử hình nếu hội nhân quyền Pháp không kịp thời can thiệp. Phan Châu Trinh đến Pháp với con trai là Phan Châu Dật, 12 tuổi, để lại nhà vợ và 2 con gái. Chính phủ Pháp trợ cấp mỗi tháng 420 francs. Hai cha con ở một nhà trọ, có vài công chức cao cấp của chính quyền thuộc địa thỉnh thoảng đến thăm. Ông được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng, người Việt ở Paris đến thăm và nghe ông nói chuyện, để thoả lòng nhớ nước, Phan Văn Trường viết: “vị nhân sĩ này tượng trưng xã hội An Nam xưa. Ông ra vào văn phòng của bộ Thuộc địa như một nhân vật được ưu ái tín nhiệm (personna grata), ông trình bày những quan điểm chính trị, đặc biệt yêu cầu ân xá cho những người bạn cùng cảnh ngộ còn ở trong tù, nhưng không bao giờ ông nhận được trả lời ngoài sự im lặng khinh bỉ.

Sự chăm sóc hời hợt của chính quyền thuộc địa lúc đầu, lạnh dần để cuối cùng chuyển sang ác cảm và thù nghịch.” (Hồi ký PVT, trang 72).

Vẫn theo Phan Văn Trường, sự chăm sóc hời hợt này chỉ là cái cớ để dễ bề trừng phạt khi Phan Châu Trinh dám bàn (phiếm) đến chính sách chính trị ở Đông Dương, và đã cùng Phan Văn Trường, làm một bản Thỉnh nguyện gửi hội Nhân Quyền, nhờ can thiệp cho những người bạn còn bị tù Côn đảo vì biến cố 1908. Thế là một loạt báo Pháp ở Đông dương (được lệnh) phát triển phong trào bôi nhọ, viết bài ngụ ý tiếc, rằng chính quyền Đông Dương đã không để xử tử (Trinh) cho rồi, và quy kết hai người (Trinh và Trường) vào tội tổ chức cuộc nổi dậy chống Pháp tại Đông Dương.

Sau vụ này, Phan Châu Trinh vẫn còn được trợ cấp, ông sống rất chật vật, phải gửi con vào nội trú tỉnh nhỏ và ông ở khách sạn, ăn cơm rẻ tiền. Mặc dù ở trong tình trạng khốn đốn, Phan Châu Trinh là người bền chí, ông vẫn còn tin vào chính quyền thực dân, ông đến Bộ Thuộc địa thường xuyên, tìm gặp những công chức cao cấp phụ trách vần đề Đông Dương để bày tỏ lòng trung thực của mình.

Nhưng sau những hớ hênh của ông (Phan Văn Trường muốn nói đến việc Phan Châu Trinh tin cậy mật thám Nguyễn Như Chuyên, coi như môn sinh), ông và tôi bị bắt, bị giam 11 tháng. Tháng 7/1915, ra tù, đang trong chiến tranh, chính quyền thuộc địa cúp hết trợ cấp, hy vọng, không biết tiếng Pháp, không có nghề, bắt buộc ông phải về xứ. Nhưng Phan Châu Trinh không về, ông ở lại, học nghề rửa ảnh và sống ung dung.

Sau những bài học đắng cay như thế, tưởng Phan Châu Trinh sẽ hết lạc quan, nhưng không, ông vẫn tiếp tục thái độ triết nhân của mình, coi như không có chuyện gì xẩy ra, vẫn đến Bộ thuộc địa, tìm gặp những kẻ đã đày đọa mình, và xin hội kiến Albert Sarraut hết lần này đến lần khác.

Phan Văn Trường viết: “Tạm nói mà không hề có ý miệt thị rằng, người này -vẫn bám vào chính quyền thuộc địa, bị đuổi cửa trước thì luồn vào cửa sau- người mà chính quyền thuộc địa hai lần buộc tội âm mưu chống Pháp!

Phan Châu Trinh là một người thông minh, một người tử tế, một người bạn tốt; nhưng những đức tính này không đủ để làm nên một người cách mạng” (PVT, trang 73-74-75).

So với lời Phan Châu Trinh phê phán Phan Bội Châu, trong bài “Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp”, thì lời Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh cũng chưa nặng bằng.

Đọc những lời Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh, thấy, tuy họ bất đồng ý kiến ngay từ đầu, nhưng vẫn làm việc với nhau. Ngoài ra, dù bất đồng ý kiến, vẫn không có sự phân hóa giữa bốn người Trinh, Trường, Ninh và Truyền, vì họ hoạt động liên đới cùng nhau cho tới khi người thì chết, người thì đi tù.

Chân dung này, Phan văn Trường viết năm 1923, mục đích bênh vực Phan Châu Trinh, bị Pháp kết tội oan, vì không hiểu rõ chủ trương Pháp Việt đề huề của ông.

Nhưng đồng thời cũng nói lên sự khác biệt trong chủ trương tranh đấu của Phan Văn Trường với Phan Châu Trinh, đó cũng là sự khác biệt sâu xa giữa những người Nho học và Tây học.

Tinh thần Tây học này, lại được xác định một lần nữa trong nhận định của Hoàng Xuân Hãn.

Về “Đầu Pháp chính phủ thư” của Phan Châu Trinh, Hoàng Xuân Hãn viết: “Lời lẽ trong thư kịch liệt, có thể kích thích sĩ khí, nhưng lại vô tình hay hữu ý ngoa ngoắt bôi nhọ quốc dân và quan lại, dường như để nhử chính quyền tin mình mà nhận lời mình. Kết quả là không những ý mình không toại, mà thực dân đã dùng quan lại để trừ khử ông: ông bị kết án tử hình; rồi may nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, chỉ bị đầy ra Côn Đảo. Giả sử thực dân bấy giờ khôn ngoan hơn, biết thấy lợi xa mà nghe lời ông, thì lập trường của ông trong giai đoạn nầy có lẽ sẽ có lợi cho dân ta trong quá trình tìm giải phóng. Trái lại, sự thất bại của ông đã làm cho người ngày nay, khi đọc lại thư ông, chỉ có cảm tưởng ông ngây thơ về chính trị và cảm thấy tức tối khi ông mạt sát quá đáng đồng bào, mà tâng bốc vượt mức thực dân. Tuy vậy, ta không thể không nhận rằng ông có óc hiện thực, biết quan sát, phân tích và có thái độ can đảm và thẳng thắn.” (Hoàng Xuân Hãn, Tựa cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp của Thu Trang, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 8).

2. Con đường tư tưởng của nhóm Tây học

Khảo sát các tư liệu, chúng ta có thể xác định Phan Văn Trường mới thực sự là thủ lãnh phong trào Việt kiều yêu nước, chính ông đã xây dựng nền móng, rồi cùng với Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh hình thành đường lối chính trị và tư tưởng chống Pháp:

– Bằng ngòi bút, đả kích trực tiếp thực dân bằng cách trình bày những tội ác của thực dân trên báo chí Pháp. Đối lập nước Pháp cộng hoà với nước Pháp thực dân: Nói rõ tội trạng của bọn thực dân để người Pháp phải xấu hổ mà bác bỏ chính sách dã man đó đi.

– Liên kết với các nhà văn và nhà chính trị phái tả, và các báo L’Humanité (Nhân loại) và Le Populaire (Người bình dân) của đảng Xã Hội; La vie ouvrière (Đời sống thợ thuyền), La revue communiste (Tạp chí Cộng sản), Le Paria (Người cùng khổ) của đảng Cộng sản, Le libertaire (Người tự do tuyệt đối) của nhóm anarchiste…

– Từ 1922 trở đi, nhóm Ngũ long, nhất là Nguyễn Thế Truyền, đã sử dụng Hội Liên Hiệp thuộc địa và báo Le Paria (Người cùng khổ) của đảng Cộng sản, làm bàn đạp để kết giao với các nhà hoạt động cách mạng trên các thuộc địa Châu Phi, Madagascar, tạo thành phong trào chống thuộc địa toàn cầu.

– Tác phẩm Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp) là thành quả của sự hợp tác này. Và cũng từ cuối năm 1923, khi mọi người đã rời khỏi Paris, một mình Nguyễn Thế Truyền đứng mũi chịu sào (với sự giúp sức của chú ruột Nguyễn Thế Phu, em ruột Nguyễn Thế Song, người cùng làng Nguyễn Thế Thạch, và các đồng chí và môn đệ như Nguyễn Văn Luận, Tạ Thu Thâu…) đã mở rộng cuộc đấu tranh, không những về phía Châu Phi, Madagascar, mà còn viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo Inprekorr của Nga, ấn bản tiếng Pháp. Tham vọng “toàn cầu hoá” cuộc tranh đấu chống thực dân là của Nguyễn Thế Truyền.

Phan Châu Trinh là nhà nho, không biết tiếng Pháp, nên ông không thể hiểu được con đường chính trị này. Vì vậy, không những ông không tha thiết, mà còn chống lại việc viết báo tiếng Pháp cho người Pháp đọc. Những đề tài viết về một người boxeur da đen như Siki của Nguyễn Thế Truyền có thể là vô bổ đối với Phan Châu Trinh, nhưng đối với cuộc tranh đấu chung, đó là một cái nhìn thấu suốt tình hình thế giới.

Ngoài niềm tự hào dân tộc mãnh liệt, ba cây bút Tây học ký tên Nguyễn Ái Quốc luôn luôn đề cao tư tưởng phương Đông: Phan Văn Trường nghiêng về văn minh Trung Hoa, Nguyễn An Ninh nghiêng về văn minh Ấn Độ, và Nguyễn Thế Truyền nghiêng về lịch sử và văn hoá dân tộc. Đó là điểm khác biệt giữa ba người. Tinh thần này không thấy ở các nhà nho, dường như họ bị choáng ngợp trước nền văn minh Tây phương, mà Phan Châu Trinh là tiêu biểu: chống Pháp nhưng luôn luôn hạ mình một cách quá đáng trước người Pháp. Sau này Hồ Chi Minh tôn Mác-Lê nin làm thày, ngoài cái nhục chư hầu, còn là sự hạ mình cố hữu của nhà nho, và cũng nói lên nội dung khác biệt sâu xa giữa những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và những điều Hồ Chí Minh nói và viết sau này.

Trí thức ở Pháp có truyền thống theo cánh tả. Trong bối cảnh chính trị đầu thế kỷ XX, các trí thức Việt nam như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền… muốn tranh đấu cho đất nước, chỉ có thể dựa vào trí thức cánh tả, trong các đảng xã hội, đảng cộng sản, nhóm anarchiste… nhờ họ làm hậu thuẫn để chống lại chính sách thực dân… Tuy vậy, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh không vào đảng nào, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành vào đảng Xã hội, rồi đảng Cộng sản.

Bản Tuyên ngôn Cộng sản của Marx – Engels viết cho một xã hội Tây phương đã công nghiệp hoá, không có điểm gì chung với một xã hội Việt Nam chưa có kỹ nghệ, 80% là nông dân “tay làm hàm nhai”. Vậy tại sao Phan Văn Trường lại cho in bản Tuyên ngôn của đảng cộng sản trên báo La cloche fêlée, Ngô Văn giải thích:

“Vào thời kỳ này [thập niên 1920] ở Pháp, bản tuyên ngôn của Các Mác và Ăng ghen được phổ biến rộng rãi, in ra sách nhỏ rẻ tiền. Nó không chứa đựng điều gì làm choáng váng đầu óc của tầng lớp thanh niên trí thức An Nam”, nhưng “chương trình quá độ sơ thảo trong bản tuyên ngôn có thể làm cho thanh niên suy nghĩ” (Ngô Văn, trang 63-63).

3. Phan Văn Trường

Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường như sau:

“Tôi ở chung với cụ Phan Văn Trường được hơn tuần thì cụ về xứ [tháng 2/1930, sau khi Phan Văn Trường ra tù lần thứ nhì, ba năm trước khi ông mất]. Trong thời gian đó, ngày nào tôi cũng quấn quýt theo bên cụ, mà nghe cụ kể những mẩu chuyện thăng trầm của đời tranh đấu mình. Cụ rất vui tính, cười hề hề, dầu cho chuyện bi đát, cụ cũng tìm thấy vài nét ngộ nghĩnh để mà trào lộng. Cụ là một bực học giả uyên thâm, các sách hay của Đông phương lẫn Tây phương cụ đều đọc cả. Cụ nói:

“Tôi đọc được nhiều là nhờ nghèo. Mùa lạnh ở nhà rét quá chịu không nổi, mà mình không đủ tiền mua than củi để sưởi. Đành vào thơ viện từ chín giờ sáng đến mười giờ tối. Gián đoạn bằng hai lượt đi ăn. Vào thơ viện, phải im phăng phắc, thì đọc sách là việc bắt buộc.

Triết học, kinh tế học, xã hội học, tôn giáo… sách nào căn bản, cụ đều có nghiên cứu kỹ. Luận án thi tiến sĩ luật của cụ bàn về chủ nghiã Bôn-sê-vích ở Nga [Hồ Hữu Tường ghi nhầm có lẽ đây là luận văn cử nhân, còn luận án tiến sĩ của Phan Văn Trường về Luật Gia Long] đem áp dụng vừa được cuộc cách mạng. Nhưng mà trong thâm tâm, cụ chê tất cả các triết gia Tây phương, ngay cả Marx nữa:

Bọn nó vì tự cao ám thị mà chẳng chịu ngó đến văn hóa Đông phương, thành chui rút vào tháp ngà, không có một cái nhìn thống quản. Riêng có anh chàng Schopenhauer khiêm tốn, đọc sách Phật, nên tác phẩm của y đọc dễ chịu hơn”. (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, trang 20).

Những điều Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường được thể hiện rõ ràng trên bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam.

Tháng 6/1919, bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam được đưa đến Versailles và gửi cho báo chí. Ngày 18/6/1919 L’Humanité đăng bản Thỉnh nguyện dưới tựa đề: Les droits des peuples (Quyền của các dân tộc). Điện tín từ phủ toàn quyền ở Hà nội gửi sang, cho biết bản Thỉnh nguyện cũng đã đến tay báo chí ở Việt nam. Từ đó, chính quyền thuộc địa mới chú ý đến tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc, ra lệnh theo dõi, điều tra, xem Nguyễn Ái Quốc là ai?

Đọc bản Thỉnh nguyện của người An Nam, trên báo L’Humamité, độc giả Pháp phải chú ý vì giá trị độc đáo của văn bản: Lời lẽ nhũn nhặn mà kiêu kỳ: tự xưng nước mình là Đế Quốc (L’Empire d’Annam), ngụ ý coi kẻ xâm lăng là tiểu quốc. Xin Pháp trả tự do và dân chủ cho dân mình, nhưng lại bảo họ phải làm điều đó vì bổn phận của họ đối với dân tộc họ và đối với nhân loại, nếu họ không làm thì ô nhục cho quốc thể của họ. Bút pháp Phan Văn Trường có lý lẽ của một luật sư, có kiến thức của một học giả, có sự xử dụng chữ nghiã của một văn tài. Văn bản đã được gửi về Việt nam qua nhiều ngả. Nhờ vậy, mà người Việt lấy lại niềm tự hào dân tộc. Bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam trở thành bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của người Việt.

Và bọn thực dân bắt đầu lên tiếng phản bác trên báo chí. Phan Văn Trường bắt buộc phải trả lời. L’Humanité ngày 2/8/1919 đăng bài La question des indigènes en Indochine (Vấn đề người bản xứ tại Đông Dương) của Phan Văn Trường, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sau bài viết này, vấn đề Nguyễn Ái Quốc và nhóm An Nam Yêu nước được đem ra Hạ viện bàn cãi.

Quả bom Phan Văn Trường đã ném trúng đích: lần đầu tiên một kẻ indigène dám lên tiếng ngạo nghễ đòi tự do dân chủ.

4. Xác định hai bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết

Dưới đây chúng tôi trình bày phương pháp xác định văn bản, bắt đầu bằng 2 văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết:

1- Tại sao chúng ta có thể xác định La question des indigènes en Indochine (Vấn đề dân bản xứ ở Đông dương), là do Phan Văn Trường viết?

Nhờ những chi tiết sau đây trong bài viết:

– Tác giả coi những yêu cầu trong bản Thỉnh nguyện tám điểm năm 1919 là của chính mình. Thuật lại lập luận của đối phương cho rằng các yêu sách của mình, đã gây chấn động trong giới thực dân. Đây là hiện tượng sự thực toát ra từ vô thức của ngòi bút: chỉ Phan Văn Trường mới viết như vậy, những người khác không thể và không dám nhận bản Thỉnh nguyện thư là của mình vì không do họ viết ra.

– Tác giả nhắc đến bản Thỉnh nguyện năm 1912, đòi trả tự do cho các sĩ phu bị tù Côn đảo, đăng trong Bulletin officiel de la Ligue des droits de l’homme ngày 31/10/1912. Văn bản này do Phan Văn Trường viết dùm Phan Châu Trinh. Ngoài Phan Văn Trường, dường như không ai biết đến việc này. Hiện nay, những tài liệu đã in đều không nhắc đến công của Phan Văn Trường và cho là văn bản này đã mất.

– Tác giả biết đích xác việc một sĩ quan cao cấp trong quân đội được lệnh tịch thu các bản Thỉnh nguyện 1919 trong tay lính thợ Việt nam. Chỉ có Phan Văn Trường, cựu quân nhân, có đường dây trong quân đội mới dám cam đoan biết đích xác việc này.

2- Bài Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương đăng trên La revue communiste, số 15, tháng 5/1921, thường được trích dẫn trong các bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, và được coi là “nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”, cũng có những dấu ấn cho thấy đây là bài viết của Phan Văn Trường, căn cứ vào nội dung đề cao văn minh phương Đông một cách ngạo nghễ:

– 5000 năm trước, Hoàng Đế đã áp dụng chính sách phân phối ruộng đất.

– 2205 năm trước Công Nguyên, nhà Hạ đã đặt ra chế độ cưỡng bức lao động.

– 551 năm trước Công Nguyên: Khổng Tử đã khởi xướng thuyết Đại đồng và nguyên tắc: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Phan Văn Trường sẽ ghi câu này dưới tên báo La Cloche fêlée (từ số 52) thay thế câu Organe de propagande démocratique (Cơ quan truyền bá dân chủ) của Nguyễn An Ninh, để chứng minh rằng dân chủ phát xuất từ phương Đông.

Năm 1921, khi Phan Văn Trường viết bài báo này, chủ nghiã cộng sản mới bắt đầu phát triển ở châu Âu, và được một phần trí thức ngưỡng mộ, ông đưa ra ý kiến: nên phát triển chủ nghiã cộng sản ở Á Châu (để đuổi thực dân), nhưng vẫn ngụ ý cao kỳ: những nguyên tắc mà chủ nghiã cộng sản ở phương Tây của các anh đưa ra, phương Đông chúng tôi đã áp dụng từ bốn, năm ngàn năm nay rồi! Chúng tôi hiện đang mắc vào hiểm hoạ thực dân, hãy đợi khi nào chúng tôi đuổi được bọn thực dân, chúng tôi sẽ giúp các anh “tự giải phóng”. Đó là cái ý thâm trầm sâu sắc của Phan Văn Trường trong bài Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương.

5. Bút pháp Nguyễn Thế Truyền, qua hai bài trên cùng tờ Le Paria, ra ngày 1/12/1922

Trong ngày 1/12/1922, Trên báo Le Paria có hai bài, một bài ký tên Nguyễn Thế Truyền, một bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Khảo sát hai văn bản này, chúng ta có thể xác định Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc là một.

Nguyên văn bài Un Bolchevick jaune (Một người Bôn-sơ-vich da vàng) ký tên Nguyễn Thế Truyền, in trên Le Paria ngày 1/12/1922, xin tạm dịch như sau:

“Nguyễn Ái Quốc có phải là một “kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai”, như ý kiến của La Dépêche [Điện văn] rất coloniale [thực dân] kia. Những lời phỉ báng như thế, hiển nhiên phản ảnh sự nghiêng mình [hommage] của cái thấp hèn trước cái cao cả. Vì thế, đáng được trả lời.

Tham vọng? Hẳn thế, Nguyễn Ái Quốc đầy tham vọng. Nhưng tham vọng gì? Tham vọng giải phóng anh em rơi vào vòng nô lệ, bị bọn “diều hâu thực dân” bóc lột dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn?

Kẻ viết bài giấu tên trên báo La Dépêche Coloniale kia, vì ngươi không biết đến nhân cách của Nguyễn Ái Quốc, nên ta cho ngươi biết.

Trong xứ, Nguyễn Ái Quốc sống hạnh phúc bên cạnh người thân. Khi còn rất trẻ, một hôm thấy Pháp chặt đầu đồng bào. Quốc không hiểu tại sao. Phẫn uất, Quốc ra đi, xa lánh bất công, để có thể kêu gào: “Công lý!” ở nơi khác. (…) Hôm nay, anh cương cường tranh đấu cùng những người anh em châu Phi, châu Âu. Với nghề khiêm tốn “sửa ảnh”, vất vả để kiếm sống, nhưng anh trong sạch hơn bao nhiêu quan chức, quá quan cách, ở các Thuộc địa, kia.

Ồ! Không! Quốc không hề như họ. Chẳng tiền hô hậu ủng, không diêm dúa mề đai, không cồng kềnh “ấn trát”, nhưng anh mang nguyện ước của đồng bào, kỳ vọng của Dân tộc bị áp bức. Năm ngoái, trở lại Đông Dương, tôi được nghe những lời cảm động về anh, bí mật truyền miệng mọi người. Một cụ bà kể: tôi có hai đứa cháu bị Pháp bắt đi đầy (vì tư tưởng); cụ hỏi tôi: “Cậu ơi, Cậu có biết Nguyễn Ái Quốc không?” – Một em bé dễ thương nhớ lại người cha, nhân sĩ nổi tiếng, bị tình nghi vì tư tưởng, một ngày kia bị cảnh sát Tây lôi đi như con chó; trong đầu đầy hình ảnh anh hùng huyền thoại, đứa nhỏ hỏi tôi: “Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương, bằng thịt không?”

– Này, người của La Dépêche Coloniale, ngươi không hiểu gì hết, ngươi đang phỉ báng một chân lý lớn lao, một sự hy sinh cao cả, hãy câm đi!” Nguyễn Thế Truyền.

Bài này, không nói lên lòng “tôn thờ” Nguyễn Ái Quốc (Tất Thành) của Nguyễn Thế Truyền, như Thu Trang nhận xét, mà Nguyễn Thế Truyền vinh danh một người anh hùng vô hình, nói khác đi, một người anh hùng huyền thoại, vì thế ông đặt vào miệng bà cụ câu: Có ai gặp Nguyễn Ái Quốc không? Đặt vào miệng đứa nhỏ câu: Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương bằng thịt không? Đó là ý chính của Nguyễn Thế Truyền: hóm hỉnh xác định Nguyễn Ái Quốc là một huyền thoại.

– Là người chống Pháp không khoan nhượng, Nguyễn Thế Truyền mạnh tay (tát tổng đốc Vi Văn Định), mạnh bút, luôn luôn đánh thẳng vào thực dân với lời lẽ quyết liệt. Bài này tát kẻ viết bài trên báo La Dépêche Coloniale, hèn, giấu tên (có thể là người Việt), không hiểu thế nào là sự hy sinh cao cả cho một chân lý.

– Bài báo còn cho thấy văn phong sắc, gọn, của Nguyễn Thế Truyền, sự kiêu kỳ, lối chơi chữ của ông và xác định một thông tin: khi Nguyễn Thế Truyền về nước, giữa năm 1920, cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được mọi người truyền tụng.

– Lối viết của Nguyễn Thế Truyền khác Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh: Câu ngắn, giọng khiêu khích, châm biếm và hay chơi chữ.

Trên cùng số báo Le Paria, ra ngày 1/12/1922, có bài A propos de Siki, (Về vụ Siki), ký tên Nguyễn Ái Quốc, viết về sự kiện Siki, boxeur da đen hạ Carpentier, boxeur da trắng:

Chúng tôi trích một đoạn, phần tiếng Pháp trước, để độc giả thấy bút pháp của Nguyễn Thế Truyền:

“Depuis que le colonialisme existe, des blancs ont été payés pour casser la g… aux noirs. Pour une fois, un noir a été payé pour en faire autant à un blanc. Adversaire de toute violence, nous désapprouvons l’un et l’autre procédé. Mais le fait est là, nous n’avons qu’à le constater. Constatons.

D’un coup de poing – sinon scientifiquement envoyé, du moins formidablement placé – Siki déplaca proprement Carpentier de son piédestal pour grimper dessus lui-même.

Le championnat de la boxe a changé de mains, mais la gloire sportive nationale n’a pas souffert, puisque Siki, enfant du Sénégal, est parconséquent, fils de France, donc Français.

Malgré cela, il arrive que chaque fois que Carpentier triomphe, c’est naturellement par son adresse et par sa science. Mais toutes les fois qu’il est battu, c’est toujours par la force brutale d’un Dempsey ou la mauvaise jambe d’un Siki. C’est pourquoi, au match de Buffalo, on a voulu déclarer – on a même fait déjà la déclaration – que Siki, bienque gagnant, était vaincu “quand même”.

Dịch:

“Từ khi có chế độ thuộc địa, người da trắng được trả tiền để đánh bể mặt người da đen. Bận này, một anh da đen lại được trả tiền để nện anh da trắng. Chống mọi bạo lực, chúng tôi không tán thành cả hai cách này. Nhưng sự kiện sờ sờ ra đó, chúng ta chỉ việc ngó qua. Xem nào.

Một cú đấm -nếu không được gọi là khoa học, thì ít ra thì cũng trúng boong- Siki rành rành hạ bệ Carpentier và leo lên thế chỗ.

Giải vô địch đánh bốc đã đổi chủ, nhưng hào quang thể tháo quốc gia không hề hấn gì, vì Siki, đứa con Sénégal, tức, con Pháp, vậy, là người Pháp.

Ấy thế mà mỗi khi Carpentier thắng thì tất nhiên là nhờ tài trí và phương pháp khoa học của anh. Còn lần nào thua thì y như rằng là vì một tên Dempsey nào đó, đánh ác hay một tên Siki nào đó, đá hiểm. Vì vậy, trong trận đấu Buffalo, người ta những muốn tuyên bố – người ta đã tuyên bố rồi – rằng Siki dù thắng, “vưỡn” bại!” (trích dịch bài A propos de Siki (Về vụ Siki), ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Rất khó xác định những lời này của Nguyễn Tất Thành, vì một người mới học tiếng Pháp vài năm mà viết được như thế thì quả là phép lạ, nhất là tính cách hóm hỉnh, cũng không hề tìm thấy trong các văn bản sau này của Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn An Ninh

Nguyễn An Ninh có hai lối viết, một lối viết tranh luận, đôi khi cũng sát phạt không kém gì Nguyễn Thế Truyền, một lối viết hoà nhã, gần với văn phong Phan Văn Trường.

Bài Lettre à Monsieur Outrey (Thư gửi ông Outrey) đăng trên Le populaire ngày 14/10/1919, là lối văn tranh luận, với những chi tiết nói lên sự đụng độ kịch liệt giữa Outrey và Nguyễn An Ninh:

Sự việc phát xuất từ bài L’Indochine et la Corée; une intéressante comparaison (Đông dương và Triều tiên) in trên báo Le populaire ngày 4/9/1919. Trong bài này Nguyễn An Ninh so sánh sự bảo hộ Triều tiên của Nhật bản với sự bảo hộ Đông dương của Pháp. Ông buộc tội Pháp đã đầu độc người da vàng bằng những lời hứa hão và dùng bọn bồi bút để ca tụng chính quyền thuộc địa. Ernest Outrey, từng làm Thống đốc Nam Kỳ. Năm 1914, đắc cử dân biểu, đại diện cho người Pháp ở Sàigòn tại quốc hội Pháp.

Ngày 18/9/1919, tại Hạ viện, Outrey đánh thẳng vào “bè lũ” Nguyễn Ái Quấc và đồng bọn An Nam yêu nước. Được tin, Nguyễn An Ninh đang nghỉ ở Biarritz viết lá thư ngỏ cho Outrey, gửi đăng trên báo Le Populaire, phản pháo mãnh liệt, đồng thời xác định mình là Nguyễn Ái Quốc, ông viết:

“Ông đã nói đi nói lại [ở hạ viện] rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương vì âm mưu chống Pháp. Vậy hãy nói cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì?”

Outrey và Nguyễn An Ninh cùng ở Nam Kỳ nên biết rõ hành tung của nhau: Outrey biết rõ gốc gác và hành động của Nguyễn An Ninh. Nguyễn An Ninh cũng biết rõ âm mưu của Outrey ở Nam Kỳ. Nhưng tới năm 1919, Nguyễn An Ninh chưa hề bị bắt, vì vậy Ninh mới thách Outrey tìm ra chứng cớ ông bị bắt năm nào, ở đâu? Về phần Outrey, khi đọc văn, y đoán chắc Nguyễn Ái Quấc là Nguyễn An Ninh, nên trong lời buộc tội ở hạ viện, Outrey đã mô tả Nguyễn Ái Quốc như Nguyễn An Ninh. Cuối cùng Nguyễn An Ninh cũng đã “đáp lễ” Outrey tới nơi tới chốn.

Nguyễn An Ninh và Outrey

Đối với những độc giả không biết rõ lịch sử Nguyễn An Ninh, chúng tôi xin nói thêm:

Nguyễn An Ninh viết báo tiếng Pháp và đánh lộn với Tây từ thời niên thiếu (học Taberd, rồi Chasseloup Laubat), các bạn ông là Bùi Thế Mỹ và Lê Văn Thử đều ghi lại trong hai cuốn chân dung Nguyễn An Ninh. Gia đình ông là gia đình chống Pháp hàng đầu ở Nam Kỳ: cha (Nguyễn An Khương), chú (Nguyễn An Cư) và cô ruột, đều là những nhà cách mạng. Khách sạn Chiêu Nam lầu của gia đình là nguồn tài trợ cho phong trào Đông Du. Còn là nơi tá túc của hội viên các hội kín Đông kinh nghiã thục và Cường Để (Vương Hồng Sển, Sàigòn năm xưa, trang 250).

Dựa trên các cơ sở đó, ngày 18/9/1919, tại quốc hội Pháp, Ernest Outrey tố cáo Nguyễn Ái Quốc là người đã bị truy nã về tội chống Pháp ở Nam kỳ.

Xin nhắc lại: Trong suốt thời gian từ 1911 đến 1919, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành đều không có mặt tại Nam Kỳ.

Sở dĩ Nguyễn An Ninh không bị bắt vì tuổi vị thành niên. Vì thế, Ninh mới viết Lá thư gửi ông Outrey, thách Outrey, phải nói rõ rằng tôi (Nguyễn Ái Quốc) bị bắt ở Nam Kỳ lúc nào, ra toà nào?

Vì câu thách thức này mà ta xác định được tác giả Lá thư gửi ông Outrey là Nguyễn An Ninh. Khi xác định được Nguyễn An Ninh là tác giả Lá thư gửi ông Outrey thì tự nhiên ông là tác giả bài Đông dương và Triều tiên, vì bài này là đầu mối cho việc Outrey đem Nguyễn Ái Quốc ra luận tội tại quốc hội.

Người viết nào cũng để lại căn cước của mình qua văn bản.

Cho nên dù ký tên như thế nào đi nữa, người đọc tinh ý luôn luôn tìm ra bản chất và lai lịch của người viết.

Sự xác định tác giả một số bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi ghi danh sách trong phần chú thích ở cuối bài, dựa trên cơ sở của những chi tiết đó.

La France et L’Indochine

Khía cạnh thứ hai: Nguyễn An Ninh là ngòi bút của văn chương và tư tưởng.

Trong La France et L’Indochine, (Nước Pháp và Đông Dương), Nguyễn An Ninh viết, xin dịch:

“Trong nhưng năm gần đây, mặc dù thực dân hết sức tìm cách giam hãm người An Nam, nhưng dưới lực đẩy của phong trào thanh niên Tây du, một vài người đã có thể đến Pháp, quan sát đời sống hàng ngày và tìm hiểu bí quyết về sức mạnh vật chất của Âu Châu. Họ mang về nước tư tưởng dân chủ, tinh thần phê phán của Châu Âu; hơi thở Tây phương đã làm sống lại niềm tin và nghị lực của họ. Họ đã nhận tận tay người Pháp bản án chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Thực dân không thể ngăn cấm người An nam biết tiếng Pháp đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire.

Và, cùng một lúc, tinh thần phê phán Tây phương, giúp thanh niên An nam, mang trong tâm hồn giống nòi họ, giải thoát triết học Khổng Tử và Mạnh Tử khỏi lớp bụi dầy của đạo lý Khổng Mạnh suy đồi. Đã có một số xu hướng nổi lên và xác định, tìm cách cổ động quần chúng bỏ khát vọng phục thù bằng bạo lực và dấn thân vào con đường tranh đấu mới: Đòi hỏi những tự do căn bản để bảo tồn phẩm giá con người, đòi hỏi những cải cách, trùng hợp tinh thần dân chủ của dân tộc An nam với tư tưởng Tây Phương. Họ không còn chấp nhận, như quần chúng đã phải chấp nhận, như kẻ bại trận trên chiến trường đã phải chấp nhận, cái luật chiến tranh, cái đắc ý thô bạo của kẻ thắng và cái nhục nhã của người thua. Họ cũng không còn chiến đấu bí mật với lòng yêu nước thuần tuý nữa mà họ tranh đấu công khai, nhân danh nguyên tắc nhân quyền 1789. Và bọn thực dân không còn dám dựa trên cớ “chủ quyền nước Pháp bị đe doạ” để bắt họ đi đày hoặc xử tử.

Như thế, chính sách người bóc lột người ở Đông Dương đã được báo trước sự phá sản không thể tránh khỏi.

Hoặc là, biện pháp đán áp, điên cuồng vì thất bại, vẫn cố chấp, mặc kệ dấu hiệu báo trước những biến cố sắp tới, vẫn tiếp tục đè nặng trên con mồi đang vùng vẫy; như thế thảm họa chung sẽ xẩy ra: nước Pháp mất hết thanh danh và lợi ích -”sứ mệnh giáo hoá” của châu Âu sẽ lộ bộ mặt thật của nó- và nước An Nam, sau những kinh hoàng, thống khổ, sẽ được tự do hơn để hoàn tất sứ mệnh của mình.

Hoặc là, nước cộng hoà Pháp đến Đông Dương để thay thế bè lũ thực dân; như thế, không những, thanh danh và lợi ích của Pháp sẽ được bảo toàn, mà Pháp còn được hưởng sự tri ân của một dân tộc sẽ ủng hộ uy danh của họ ở châu Á.

Cách đây khoảng 15 năm, để trả lời tiếng kêu của những người bị họ đán áp, những kẻ thực dân, đã viết trên báo của họ như sau: “Nước Pháp không đến đây với (đoản) Kiếm và Luật (pháp). Chỉ có Kiếm”. Hình như rằng, sau sáu mươi năm bị đô hộ và chịu ảnh hưởng Pháp, ngày nay, đất Nam kỳ đã được công bố là đất Pháp, người An nam có quyền đòi hỏi nước Pháp phải mang sang Đông Dương, không những Luật, mà cả thanh Kiếm để bảo vệ Luật. Sự hoà hợp giữa lý tưởng cộng hoà Pháp và tư tưởng dân chủ của một xã hội xây dựng trên nền móng tư tưởng Khổng Mạnh, không vượt trên sự tiến hoá tự nhiên, như thực dân vẫn muốn cho người ta tưởng. Phong trào giải phóng ở Á châu không đi theo những quy luật chi phối sự tiến hoá chậm rãi từ xã hội dã man lên xã hội Âu châu tân tiến.

Phải là thực dân trong nghĩa ngu xuẩn nhất mới có có thể tin được “nghiã vụ giáo hoá” của những người Âu châu sang “thuộc địa hoá” Đông Dương. Ở Ấn Độ, sự tuyên ngôn về “nghiã vụ giáo hoá” Tây phương gợi trong lòng một Tagore ý thức giáo hoá Đông phương. Ở Trung hoa, giới thanh niên đã đi học ở Âu châu, đặt câu hỏi trên báo chí như một thách đố với châu Âu: “Bạn có thể nói cho chúng tôi biết, nước bạn đã có văn minh chưa? (…)

Về chính sách thực dân mà nước Pháp áp dụng ở Đông Dương, chúng tôi nhận thấy:

1- Rằng, ở Đông Dương, nước Pháp chẳng những không áp dụng những nguyên tắc lớn mà họ đã tuyên thệ, mà còn tiêu diệt tư tưởng dân chủ của xã hội An Nam.

2- Rằng, nước Pháp, thừa nhận tự do và quyền công dân Pháp cho những người, hôm qua, vẫn còn là nô lệ, nhưng lại áp đặt chế độ nô lệ ở Đông Dương cho một dân tộc tự do, đã có một nền văn minh, từ khi cư dân sống trên đất Pháp vẫn còn ăn lông ở lỗ (vivait dans des cités lacustres)”. (Trích và dịch La France et L’Indochine, Europe, số 31, ra ngày 15/7/1925)

Bút pháp thứ hai này, có thể hiện diện trong cuốn “La France en Indochine” nay không còn văn bản gốc. Nhưng bài viết La France et L’Indochine mà chúng tôi vừa trích dịch một đoạn trên đây, có thể tóm gọn tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh.

Theo Đặng Hữu Thụ, cuốn “La France en Indochine” tháng 4/1925, in 2000 bản tại nhà A et F Debeaufauve Tournefort Paris. Nguyễn An Ninh trao cho Nguyễn Thế Truyền 150 bản. Nguyễn Thế Truyền nhờ các thủy thủ Việt nam đem về phổ biến trong nước. Ngoài ra, sách cũng được gửi tặng một số dân biểu, nghị sĩ Pháp, hội Nhân quyền và báo chí viết về thuộc địa.

Khi đáp tàu về nước ngày 28/5/1925 cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh mang theo một số cuốn. Nhưng Bộ thuộc địa biết, đánh điện về Phủ toàn quyền, và sách đã bị tịch thu khi tàu cập bến. (ĐHT, trang 64).

Trong bài viết trên RFI, chúng tôi đặt nghi vấn sau đây:

“Một cuốn sách, mang tên Đông dương (1923-1924) được dịch và đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, phải chăng, đây chính là tác phẩm La France en Indochine mà Nguyễn An Ninh đã cho in năm 1925?”

Nhưng hiện tại, nhờ có cuốn Nguyễn An Ninh tác phẩm (nxb Văn Học, 2009) trong tay, chúng tôi so sánh bản dịch Đông dương (1923-1924) in trong Hồ Chí Minh toàn tập với bản dịch Nước Pháp ở Đông Dương (La France en Indochine), in trong cuốn Nguyễn An Ninh, thì thấy là hai tác phẩm khác nhau.

6. Le procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp) và Đông Dương (1923-1924)

“Bản án chế độ thực dân Pháp” có thể được coi là một sáng tác tập thể, mà Nguyễn Thế Truyền làm “chủ biên” và viết lời giới thiệu. Cuốn sách in năm 1925, sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga hai năm. 1946, in lại lần đầu ở Hà Nội.

Trong hồi ký Trần Dân Tiên, viết khoảng 1948, Hồ Chí Minh không nói gì đến cuốn Đông dương (1923-1924), chắc ông không biết có cuốn sách này. Đông Dương cùng bố cục như Bản Án chế độ thực dân Pháp, nhưng lời văn điềm đạm hơn, gần với lối viết của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Điểm chung của hai tác phẩm là cùng dùng những mẩu chuyện, những nhân chứng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đông dương nói đến tình trạng ở nước ta, còn Bản Án chế độ thực dân Pháp viết chung cho nhiều dân tộc.

Về “Bản án chế độ thực dân Pháp” Hồ Chí Minh chỉ nói một câu: ““Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: “Bản án chế độ thực dân Pháp”; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”. (Trần Dân Tiên, trang 37).

Việc ông cho rằng: “quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”, chứng tỏ ông chưa đọc “Bản án chế độ thực dân Pháp” khi ông viết dòng chữ này, và ông đã vô tình hạ giá tác phẩm: chẳng có cuốn sách nào của người Pháp lại viết về tội ác của một thành phần dân tộc mình, như thế, lưu trong thư viện, để cho ông chép lại. Hầu như trọn phần nhân chứng đều do lính thợ Việt Nam cung cấp, họ kể lại những tội ác của quân đội viễn chinh mà họ đã mục kích: hãm hiếp phụ nữ, tra tấn, giết người… những lời chứng này được Phan Văn Trường thu lượm trong thời kỳ làm việc tại Công binh xưởng Toulouse.

Ngòi bút Nguyễn Ái Quốc xuất hiện đều đặn trên các báo từ tháng 8/1919 đến đầu năm 1920: thời gian này chủ yếu là Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh chấp bút. Trong năm 1920, rất ít văn bản, có thể vì Phan Văn Trường bận việc toà án, đi về giữa Paris và Mayence, Nguyễn An Ninh về Sàigòn (2 lần, để cưới vợ và ly dị người vợ đầu) và Nguyễn Thế Truyền về Việt Nam một năm (8/1920-8/1921).

Thời điểm tung hoành mạnh mẽ nhất là khoảng 1921-1922, khi Nguyễn Thế Truyền chính thức bước vào “nghề báo” và Nguyễn An Ninh còn ở Paris: bút hiệu Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên nhiều tờ báo một lúc, vậy hai người viết chính trong thời kỳ này là Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh. Phan Văn Trường làm việc ở Mayence từ đầu năm 1921 đến năm 1922, ít tham dự. Mùa thu 1922, Nguyễn An Ninh về Sàigòn. Cuối năm 1923, Phan Văn Trường về nước. Còn lại Nguyễn Thế Truyền, một mình, ký cả tên Nguyễn Ái Quốc và tên thật Nguyễn Thế Truyền.

Về sự xuất hiện trên mặt báo: Có thể nói, những bài trên Le Paria (Người cùng khổ) và L’humanité (Nhân loại), phần lớn của Nguyễn Thế Truyền. Những bài trên Le Libertaire (Người tự do tuyệt đối) của nhóm Vô chính phủ, phần lớn của Nguyễn An Ninh. Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên Le Paria và trên Inprekorr, báo Nga ấn bản pháp ngữ, của Nguyễn Thế Truyền.

Bản án chế độ thực dân Pháp, được viết và soạn vào khoảng 1923, từ những thông tin, những đoạn, những ý tưởng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và những thông tin khác đến từ các thuộc địa châu Phi. Tác phẩm không chỉ đưa ra bộ mặt lầm than, thống khổ của một dân tộc Việt Nam mà còn của tất cả những người dân da màu khác đang bị đô hộ. Vì vậy nó có tính chất nhân loại. Khó có thể xác định ai là tác giả, vì nội dung cho thấy bàn tay của nhiều người: Nguyễn Thế Truyền, trước tiên, vì ông đã có công soạn thảo, chỉnh đốn, viết tựa. Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, viết về luật pháp. Phan Văn Trường viết về công binh. Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường đều có thể khắc họa những chân dung toàn quyền và viết về các chính sách dã man của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nhưng còn có những đóng góp khác của các nhà văn châu Phi, và thư từ độc giả từ các nơi gửi về… do đó Nguyễn Thế Truyền đã giữ tên tác giả chung là Nguyễn Ái Quốc.

*

III- Kết luận

Georges Pompidou, tổng thống Pháp, lúc còn sống có lần khuyên một môn sinh: muốn làm chính trị, phải biết lịch sử. Ông có thể nói: Làm người phải biết lịch sử. Bởi lịch sử một dân tộc, được xây dựng bằng lịch sử của mỗi con người. Và lịch sử nhân loại xây trên nền lịch sử mỗi dân tộc. Nếu lịch sử nhỏ của mỗi cá nhân bị xoá bỏ, bị bôi nhọ, hay bị man trá đi, thì, lịch sử dân tộc ấy sẽ như thế nào? Lịch sử của một người gồm thâu tất cả những hành động thể xác và tinh thần của người ấy trong đời. Nếu ta thấy lịch sử của chính mình bị đánh tráo cho người khác, thì phản ứng của ta ra sao? Vậy sống, không chỉ là tồn tại, mà còn là hình thành và bảo vệ lịch sử của chính mình và của người khác. Vì thế, cần phải biết rõ hành trình sống của dân tộc mình, biết rõ công việc những người đi trước đã làm, tìm hiểu những thành công và thất bại của họ, để rút kinh nghiệm cho tương lai.

Vì thế, không thể để cho lớp trẻ học mãi những điều mạo nhận: Bất cứ một người có suy nghĩ nào, khi đọc cuốn Hồ Chí minh toàn tập cũng phải hồ nghi về xuất xứ các văn bản in trong tập sách nhiều nghìn trang này. Vậy sự vơ vét liều lĩnh các văn bản khác nhau của những người viết khác nhau vào trong một toàn tập của một tác giả mà học sinh phải học như kinh điển, là không thể chấp nhận được.

Bởi giáo dục quần chúng với những “toàn tập” ngụy tạo như thế có khác gì tiêu diệt giáo dục ngay từ đầu. Cho nên, vấn đề tái tạo lại các tác giả, đối với dân tộc Việt Nam, là cốt tử. Bởi nền giáo dục của chúng ta cần được xây dựng trên một nền tảng lành mạnh không ngụy tạo.

Dạy cho học sinh sự ngụy tạo lịch sử từ lúc mới đến trường, có khác nào dạy trẻ nói dối từ bé?

Dường như thanh niên ngày nay vẫn còn loay hoay với những khẩu hiệu vô nghiã: nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng, vì họ được/bị đào tạo trong một môi trường ngụy tạo lịch sử. Nói như George Orwel: Khi sự ngụy tạo được lập đi lập lại không ngừng, nó sẽ trở thành sự thực vĩnh viễn. Hãy còn kịp, nếu chúng ta muốn viết lại lịch sử của Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường… và bao nhiêu người khác đã hy sinh cuộc đời cho hai chữ tự do, dân chủ. Hãy còn kịp để nói lại với thanh niên ngày nay rằng tên tuổi những nhà cách mạng đích thực ấy sẽ không bị chôn vùi hoặc bức tử mãi mãi, mà bổn phận của tuổi trẻ là phải tìm tòi, để viết lại lịch sử, một lịch sử không ngụy tạo.

Việc nghiên cứu văn bản Nguyễn Ái Quốc, để xác định ai là tác giả, cũng nằm trong chiều hướng đó: Tái tạo sự thật lịch sử để góp phần xây dựng một nền giáo dục chân chính.

Nguồn: http://thuykhue.free.fr/stt/n/nhanvan15-3.html

————————————————-

Chú thích:

Sự xác định văn bản mà chúng tôi nêu ra một số tên sau đây, dựa vào lối hành văn và tư tưởng khác nhau của mỗi tác giả; nhưng cũng có khi, chỉ dựa vào một vài chi tiết rất nhỏ:

Phan Văn Trường: Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ (L’Humanité 2/8/1919), Những kẻ bại trận ở Đông dương (La vie ouvrière số 101, ngày 8/4/1921), Quyền của những người lính (La vie ouvrière số 105, ngày 7/5/1921), Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương (La revue communiste, số 15, tháng 5/1921), Vụ âm mưu ở Đông Dương (17/8/1921)…

Nguyễn An Ninh: Đông dương và Triều tiên (Le populaire, 4/9/1919), Thư gửi ông Outrey (Le populaire, 14/10/1919), Phong trào cách mạng ở Ấn Độ (La revue communiste, số 18-19 tháng 8-9/1921). La civilisation supérieure (Nền văn minh thượng đẳng) (Le Libertaire, 23/9/1921), Tội ác của chủ nghiã thực dân (La vie ouvrière, số 126, ngày 30/9/1921), Sự quái đản của công cuộc khai hoá (Le Libertaire, ngày 30/9 và 7/10/1921). Aimez la France qui vous protège (Hãy yêu Pháp, nước bảo hộ bạn) (Le Libertaire, ngày 14/10/1921)…

Nguyễn Thế Truyền: Zoologie (Thú vật học) (Le Paria số 2, ngày 1/5/1922) Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa (L’humanité ngày 25/5/1922), Paris (L’humanité, 30 -31/5/1922), Lời than của bà Trưng Trắc (L’humanité, 24/6/1922), Les cilivisateurs (Những kẻ đi khai hoá) (Le Paria số 4, ngày 1/7/1922), La haine des races (Hận thù chủng tộc) (Le paria số 4, ngày 1/7/1922) 1/7/1922, Lettre ouverte à M. Albert Sarraut (Thư ngỏ gửi ông Albert Sarraut), (Le journal du peuple, 25/7/1922), Khai hoá giết người (Le paria số 5, 1/8/1922), La femme annamite et la dominatinon française (Phụ nữ An nam và sự đô hộ của Pháp) (Le Paria số 5 ngày 1/8/1922), Nhân đạo thực dân (Le paria, số 6-7 (tháng 9 và 10/1922), Le martyre d’Amdouni et Ben Belkhir (Amdouni và Ben Belkhir chịu nhục hình) (Le Paria, số 8, 11/1922), A propos de Siki (Về vụ Siki) (Le Paria, số 9, 12/1922), Indigène à la mode (Le Paria số 10, 15/1/1922)…

nguồn

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Nguyễn Ái Quốc là Bút hiệu của một Nhóm Người hay của một Người [1]

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2011

Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quấc/ Quốc[1]

Lời nói đầu: Khi khảo sát về Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt Phan Khôi, chúng tôi phải tìm hiểu tại sao, sau khi ở Pháp về, Tây Hồ tìm gọi và trao lại “di sản tinh thần” cho Phan Khôi. Sự tìm hiểu này dẫn đến giai đoạn Phan Châu Trinh ở Pháp, và vai trò của ông trong nhóm Ngũ Long.

Đi sâu hơn nữa, đọc những bài báo tiếng Pháp ký tên Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi khám phá ra một sự thật: những bài báo này phải do những người rất am tường tiếng Pháp, thâm hiểu văn hoá và triết học Tây Phương, lại có văn tài, mới có thể viết được.

Tác giả Thụy Khê

Về mặt ngữ văn, bất luận những ai không học trường Pháp từ nhỏ, cả những người học trường Việt (như chúng tôi) dù có ở Pháp đến 50 năm, cũng không thể viết được như thế; bởi không có cái nền cơ bản về tiếng Pháp, không nắm bắt được lịch sử và sắc thái (nuances) của mỗi từ, của các thì (temps, modes) trong cách chia động từ, và nhất là lối chơi chữ của người Pháp. Đại để cũng giống như: một người mới học tiếng Việt vài năm không thể viết được như Phan Khôi.

Sự ngạc nhiên này dẫn đến việc khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc. Loạt bài này đã đăng trên RFI, ở đây chúng tôi bổ sung thêm một số điểm. – Paris 20/2/2011Thụy Khuê

———————————————-
Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, 12 cuốn (nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000), 8410 trang, gồm:

– 80% diễn văn, công văn chính thức, do các bí thư viết, văn phong thay đổi tùy theo sách lược chính trị mỗi thời và bút pháp từng người.

– 5% chú thích.

– 15% còn lại là văn bản (gần 1000 trang), có thể chia làm hai phần: Phần dịch từ tiếng Pháp những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và phần tiếng Việt gồm những bài ký bút hiệu khác.

1- Phần tiếng Việt, gồm những bài đăng trên báo ở Việt Nam, ký C.B (tập 7 và 8; C.B là viết tắt của Của Bác, theo Bùi Tín), Trần Lực (tập 9 và 10) và Chiến Sĩ (tập 11). Loạt bài tiếng Việt phản ảnh một tư chất: thực tiễn, ngắn gọn, dễ hiểu, không lý thuyết, không lý luận, không khôi hài, có lẽ đó mới đích thực là văn viết của Hồ Chí Minh.

Bài Việt Nam yêu cầu ca, có thể xem là bài thơ đầu tay, phản ánh lối làm thơ nôm na của ông. Sau này, còn có nhiều bài khác, cùng một phong cách như thơ chúc Tết, thơ Trung thu và thơ ngâm vịnh. Lối thơ này được in lại trong tập 3.

Nguyễn Tất Thành (1890-1969)

2- Phần ký Nguyễn Ái Quốc gồm 735 trang (469 trang tập 1 và và 239 trang tập 2) là bản dịch những bài viết trên báo Pháp, từ 1919 đến 1927. Bản dịch, đôi khi chưa lột hết cá tính của nguyên văn, nhưng cũng làm lộ phẩm chất, tư tưởng, lòng ái quốc và chí khí của người viết.

Chính loạt bài này đã “thành danh” Nguyễn Ái Quốc, xác định “tư tưởng Hồ Chí Minh”, làm cho ông trở thành thần tượng ngay từ thập niên 1920-1930 của thế kỷ trước.

Nguyên bản tiếng Pháp trên báo, được ký dưới hai dạng: Nguyễn Ái Quấc, trong thời gian đầu, sau này có lẽ Nguyễn Thế Truyền đổi lại là Nguyễn Ái Quốc. Chúng tôi dùng cả hai cách viết. Phần nghiên cứu này có hai mục đích:

– Truy nguyên lai lịch bút hiệu Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

– Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc.
**
Muốn truy nguyên lai lịch Nguyễn Ái Quốc, chúng ta phải trở lại sự thành lập nhóm Người An Nam yêu nước.

1- Sự thành lập nhóm Người An Nam yêu nước

Xin tóm tắt một số dữ kiện chính:

Phan Văn Trường sang Pháp cuối 1908 (nghị định ngày 8/11/1908), dạy tiếng Việt ở trường Sinh ngữ Đông phương và học Luật. Đầu năm 1912, ông lập hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes). Đậu cử nhân luật. Nhập tịch Pháp, chuẩn bị nghề luật sư. Khoảng 1913-1916, Phan Văn Trường có appartement nhỏ ở rue Berthollet, Paris 5e, ông giữ địa chỉ này trong thời gian nhập ngũ và bị tù.

Phan Châu trinh (1872- 1926)

Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu Dật, rời Sàigòn tháng 5/1911. Đến Paris, thời gian đầu ở nhà trọ (pension de famille) sau đổi sang khách sạn (hôtel). Phan Châu Dật học một trường ở khu Montparnasse. Tới tháng 4/1913, Phan Châu Trinh còn ở hôtel phố l’Abbé-de-l’Epée, Paris 5e. Tháng 10/1913, ông dọn sang khách sạn phố Cujas, Paris 5e.
Tháng 10/1912 Phan Châu Trinh gửi bản thỉnh nguyện lên hội Nhân quyền (với sự giúp đỡ của Phan Văn Trường: dịch hoặc viết sang tiếng Pháp), nhờ can thiệp vào việc trả tự do cho các nhân sĩ bị bắt cùng với Phan Châu Trinh, năm 1908, trong vụ Trung Kỳ dân biến (tài liệu đăng trong Bulletin Officiel de la Ligue des droits de l’homme et du citoyen, số 20, ngày 31/10/1912). Hai người bị buộc tội chống Pháp, lần đầu.

Vì hoạt động của hội Đồng bào thân ái, Phan Văn Trường bị mất việc dạy học, Phan Tuấn Phong và Phan Văn Kiên, anh và em của ông ở Hà Nội bị bắt, bị đầy sang Nouvelle-Calédonie.

Ngày 13/3/1914, Phan Văn Trường diễn thuyết về đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tại trường Cao Đẳng Xã Hội (Ecole des Hautes Études Sociales), bài nói chuyện này là nguồn cội của bản Thỉnh nguyện của Dân tộc An Nam (Revendications du Peuple Annamite), gửi Hội nghị hoà bình thế giới ở Versailles, năm 1919.

Đại chiến thứ nhất bùng nổ, tháng 7/1914 Phan Văn Trường bị gọi đi lính (vì có quốc tịch Pháp), đóng ở trung đoàn 102 bộ binh, tại Chartres. Giữa tháng 8/1914, appartement của ông ở rue Berthollet, Paris bị an ninh lục soát, nhiều giấy tờ và tài liệu bị tịch thu, trong đó có bài diễn văn đọc tại trường Cao đẳng xã hội. Ngày 12/9/1914, ông bị hiến binh bắt, giam vào nhà tù Chartres. Cùng thời gian này, Phan Châu Trinh bị bắt ở Paris, tại khách sạn phố Cujas.

Phan Văn Trường (1876-1933): Luật sư, nhà báo yêu nước, tiến sĩ luật đầu tiên của VN

Ngày 13/9/1914, Phan Văn Trường bị giải lên Toà án binh Paris, bị giam vào binh ngục Cherche-Midi, Paris 6e. Phan Châu Trinh bị giam vào ngục Santé, Paris 13e. Tội danh: Xúi giục sinh viên du học căm thù chính phủ Pháp, tụ tập thành hội, gieo mầm nổi loạn. Cả hai bị giam đến tháng 7/1915 mới được thả. Trong thời gian này Thiếu Tá Roux hết sức bênh vực Phan Châu Trinh và luật sư Marius Moutet, vận động cho Phan Văn Trường được tại ngoại.

Hội Đồng Bào Thân Ái phải giải tán.

Ra tù, Phan Châu Trinh bị cắt trợ cấp, phải học nghề rửa ảnh, sống ở Paris và Pons (vùng Charente-Maritine, gần Đại Tây Dương). Phan Văn Trường bị chuyển xuống Công binh xưởng Toulouse (Arsenal de Toulouse) làm việc văn phòng và thông ngôn cho lính và thợ Việt. (Trong thế chiến có khoảng 80.000 người Việt sang Pháp làm lính thợ).

Từ 1916 đến 1920, Nguyễn Thế Truyền học kỹ sư ở Toulouse. Rất có thể Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền đã bí mật lập hội Người An Nam yêu nước trong thời gian này. Nhiều thông tin đồng quy là hội Người An Nam yêu nước được thành lập năm 1917.

1918, Nguyễn An Ninh sang Pháp học luật tại Sorbonne.

Tháng 6/1919, Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn qua Paris.

2- Hoạt động của Phan Văn Trường tại Công binh xưởng Toulouse

Ra tù, Phan Văn Trường tiếp tục là phần tử “nguy hiểm”, luôn luôn bị theo dõi. Mật thám dò hỏi người concierge (người giữ nhà) về mọi hoạt động, giao du của ông. Trong thời gian ở Toulouse, ông không ở trong trại lính mà thuê nhà ở riêng, đổi nhà 2 lần, đều ở Phố Taur (Rue du Taur). Trong thời gian ở Toulouse, ông gặp và chung sống với một phụ nữ Pháp, sau này có một con trai, tên là Robert Phan Văn Trường (sinh năm 1921).

Tháng 9/1917, vì việc ông dịch đơn xin hồi hương cho một người thợ, bộ thuộc địa mở cuộc điều tra. Viên sĩ quan phụ trách tìm cách ép những người lính thợ phải khai rằng chính Phan Văn Trường đã “chủ mưu xúi giục” họ viết đơn xin giải ngũ. Thực ra, Phan chỉ dựa trên sự kiện: chính quyền thuộc địa dán áp-phích quảng cáo khắp nơi, rằng đi chỉ một năm rồi về, để khuyến dụ mọi người “tình nguyện” đi lính cho Tây. Nhưng lần này Phan Văn Trường không bị bắt, một phần vì Thiếu tá chỉ huy trưởng Malacamp có thiện cảm với ông, và nhất là nhờ những người lính thợ, không những không khai mà còn nói chính ông Phan đã ngăn cản chúng tôi nộp đơn xin giải ngũ! [Theo Une histoire de conspirateurs annamites à Paris (Chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris), hồi ký Phan Văn Trường, L’insomniaque, 2003, trang 170-171].

Sự kiện này cho thấy tinh thần tương trợ của đồng bào và nói lên bộ mặt chìm của an ninh: Bộ thuộc địa vẫn nghi ngờ hoạt động bí mật của Phan Văn Trường tại Công binh xưởng Toulouse, họ theo dõi để diệt trừ.

Vậy hoạt động của Phan Văn Trường tại đây là gì?

Một mật báo, không ghi rõ ngày, viết:

“Hội những người An Nam yêu nước đã được thành lập từ nhiều năm nay do hai nhà cách mạng chống Pháp là Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Đó là một nhóm hoạt động rất tích cực. Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực. Từ hồi hai người trên, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt vì tội chống an ninh quốc gia. Vào năm 1915, tuy Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn giữ vai trò lãnh đạo hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã là do chính Nguyễn Ái Quốc.” (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 44)

Nội dung mật báo này có 2 câu đáng chú ý:

– Câu “Vào năm 1915, tuy Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường vẫn giữ vai trò lãnh đạo hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã là do chính Nguyễn Ái Quốc”, có chỗ sai, vì 1915 Nguyễn Tất Thành chưa sang Paris, và chưa chắc đã có tên Nguyễn Ái Quốc. Nhưng cũng có thể đúng, nếu thám tử coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thế Truyền hay một người nào khác.

– Câu: “Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực”, có lẽ đúng. Nếu đúng, nó xác định hoạt động và mối liên lạc giữa Phan Văn Trường với binh lính, sĩ quan Việt, từ tháng 7/1915 đến tháng 5/1919, tại Toulouse. Trụ sở hội ở đâu, không thấy nói rõ, có thể là nhà Phan Văn Trường, phố Taur, hoặc một nơi nào khác.

Họ gặp nhau để làm gì?

Phan Văn Trường trong hồi ký chỉ viết về việc ông bị theo dõi, bị nghi “oan” vì đã dịch thư xin hồi hương cho một đồng bào, mà không hở chút gì về hoạt động của ông tại Toulouse. Lý do dễ hiểu: hồi ký Phan Văn Trường đăng từng kỳ trên báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè), từ 30/11/1925 đến 15/3/1926, chủ đích để “vạch trần chính sách thực dân” nên không phải việc gì cũng “công bố” được.

Về tội xúi giục binh lính Việt xin hồi hương, chắc không oan, vì đó là chiến lược của Phan Văn Trường: vận động một phong trào phản chiến trong lòng những sĩ quan và binh lính Việt. Và ông luôn luôn khôn khéo, không ra ngoài khuôn khổ của luật pháp: Việc họ đòi hồi hương, theo đúng hạn kỳ một năm mà chính phủ Pháp đã hứa hẹn, là đúng luật. Việc này Phan còn làm lại lần thứ nhì, trên báo L’Annam ở Sài Gòn năm 1926, kêu gọi lính Việt ở Trung Hoa, ngừng chiến đấu cho Pháp, và lần thứ hai này ông bị bắt, bị kết án cùng với một số tội trạng khác, phải sang Pháp tự biện hộ, nhưng vẫn bị tù (1929).

3- Nội dung các văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc

Một mặt khác, khi đọc toàn bộ những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và hai tác phẩm Bản Án chế độ thực dân và Đông Dương (1923-1924), chúng ta có thể hiểu được hoạt động của nhóm Người An Nam Yêu Nước tại Toulouse: Nội dung tố cáo tội ác thực dân một cách xác thực, toàn diện và ghê gớm, chứa đựng trong toàn bộ các văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc này, cho chúng thấy đây là công trình dài hơi đã được thu thập tài liệu một cách quy mô trong một thời gian dài, trước khi các tác giả chấp bút.

Vì vậy thời gian Phan Văn Trường ở Toulouse là thời gian hình thành cuộc cách mạng bằng ngòi bút trên báo chí Pháp từ 1919 trở về sau.

Từ 1915 đến 1919, tại Toulouse, nhóm Yêu Nước đã tập hợp tài liệu và nhân chứng để chuẩn bị cho cuộc tranh đấu công khai bằng ngòi bút:

1- Hàng ngày tiếp xúc với lính thợ và sĩ quan Việt, Phan Văn Trường đã thu thập những nhân chứng quan trọng về chính sách dã man của thực dân. Đó là kho lưu trữ lớn nhất, gồm những thông tin từ hai phía: phía chính quyền, qua hồ sơ quân đội Pháp mà Phan tiếp cận được và phía nạn nhân, qua những điều mà người lính thợ Việt Nam kể lại với ông, có những trường hợp cá nhân cụ thể.

3- Phan Châu Trinh có thông tin từ những người Việt sang Pháp, đem lại.

5- 1918, Nguyễn An Ninh từ Sài Gòn sang (trước khi đi Pháp, Ninh đã ra Hà Nội học hai năm). Ông biết rõ tình hình cả Nam lẫn Bắc. Sau này, ông còn về nước nhiều lần.

6- Nguyễn Thế Truyền sau khi học xong ở Toulouse, cũng về Bắc một năm, từ tháng 8/1920 đến tháng 8/1921, trong thời gian này, ông quan sát thấy hiệu lực của phong trào: tên Nguyễn Ái Quốc được người trong nước coi như một vị anh hùng (Nguyễn Thế Truyền kể lại trong bài “Một người Bôn-Sê-Víc da vàng”).

Khi trở lại Paris, Nguyễn Thế Truyền mở rộng địa bàn tranh đấu trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) của hội Liên hiệp thuộc địa, cùng các nhà văn, nhà báo Châu Phi, Madagascar.

Tại trụ sở báo Le Paria, Nguyễn Thế Truyền thu thập thêm thông tin, qua nhân chứng của các nhà báo Châu Phi và bạn đọc ở các thuộc địa gửi về toàn soạn.

Tất cả những dữ kiện đó, tạo ra một ngân hàng thông tin, mà các tác giả sử dụng để viết những bài báo, đúng ra là những bản cáo trạng, phơi bày sự thật về chính sách thực dân tại Đông Dương, dưới một bút danh bí mật Nguyễn Ố Pháp, rồi Nguyễn Ái Quấc/Quốc. Nguyễn Tất Thành là người đứng ra nhận tên Nguyễn Ái Quốc.

Khi viết về thời kỳ lịch sử này, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết các nhà nghiên cứu Pháp-Việt đều coi Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc là ba nhân vật chính. Điều đó không sai. Nhưng sự sai lầm đến từ sự kiện Nguyễn Tất Thành/Hồ Chí Minh không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sở dĩ đến ngày nay, vẫn chưa có ai soi tỏ những sai lầm này, vì ba nguyên do sau đây:

1- Hồ Chí Minh “chính thức” nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và khi viết hồi ký, ông đã tạo ra các bằng chứng để biện minh điều đó.

2- Sau khi thua trận, người Pháp có mặc cảm tự ti đối với Hồ Chí Minh. Mặc cảm này dường như đã thấm vào vô thức của nhiều người, kể cả các nhà nghiên cứu đứng đắn.Vì vậy, dù họ có đặt ra một số nghi vấn về tác giả Nguyễn Ái Quốc nhưng rồi vẫn mặc nhiên coi Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Trường hợp Thu Trang-Gaspard trong cuốn Hồ Chí Minh à Paris, cũng tương tự. Riêng đối với một số đảng viên cộng sản Pháp (như sử gia Alain Ruscio, hay Léo Poldès, trách nhiệm Câu lạc bộ Faubourg), thì việc tung hô lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng mọi giá còn có mục đích tuyên truyền cho đảng Cộng sản.

Một lẽ khác: Nhiều người Pháp, một mặt, không biết rõ những khó khăn của một người ngoại quốc học tiếng Pháp; một mặt, tưởng rằng Nguyễn Tất Thành cũng như hầu hết những thanh niên Việt sang Pháp thời ấy, đều rành tiếng Pháp; sử gia Daniel Hémery còn tin rằng Hồ Chí Minh đã có bằng Certificat d’études primaires. Ngoài ra, có người cho rằng ai viết thì cũng thế thôi, nhưng nếu lãnh tụ vĩ đại viết thì mới đáng kể.

Nhưng đối với người Việt, dưới vấn đề văn bản, còn cả một sự ngụy trang lịch sử không thể bỏ qua.

3- Sự nhầm lẫn của các nhà nghiên cứu, còn đến từ một sự kiện khác: việc sử dụng những báo cáo sai lầm của mật thám. Yếu tố sau cùng này là rường mối của các sai lầm mà chúng tôi gọi là sai lầm của những nhà nghiên cứu đứng đắn và sự kiện này cần được mổ xẻ, phân tích kỹ càng.

4- Sự nhầm lẫn của mật thám

1- Chính quyền thuộc địa dùng nhiều mật thám người Việt, để dễ len lỏi vào môi trường Việt kiều. Những người có bí danh như Jean (chuyên theo dõi Nguyễn Tất Thành) hay Désiré (theo dõi Nguyễn Thế Truyền) đều là người Việt. Trong số mật thám có cả các quan: Đốc Phủ Bảy là một trường hợp.

Mật thám Nguyễn Như Chuyên là “sinh viên”, gần gụi Phan Châu Trinh, làm thông dịch cho ông, trao đổi thư từ “tâm huyết” với ông trong nhiều năm, được ông coi như đồ đệ.

Chuyên cũng mon men đến với Phan Văn Trường. Nhưng ông Trường là người cực kỳ thận trọng, đã cảnh cáo ông Trinh, nhưng ông Trinh không nghe. Trong hồi ký, ông Trường trách ông Trinh “khinh xuất” là như thế. Chính Nguyễn Như Chuyên đã mạo khai để Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt về tội “phiến loạn”, bị đi tù 11 tháng (1914-1915). Và Nguyễn Như Chuyên còn được Pháp trao cho nhiệm vụ vào tù chung với Phan Văn Trường và giả điên, để thuyết phục Phan Văn Trường viết đơn xin ân xá, nhưng không thành.

Pháp dùng mật thám theo dõi các thân chủ của Phan Văn Trường, đe dọa họ, nếu cứ tiếp tục mượn Phan Văn Trường, một kẻ phiến loạn, chống nhà nước Pháp, biện hộ, thì có ngày sẽ mang họa. Phan Văn Trường nêu những vụ việc này trên bức thư ngỏ gửi Bộ Trưởng Nội Vụ và Thuộc Điạ, đăng trên báo Le Paria. (Hồi ký Phan Văn Trường).

2- Mật thám có thể đưa những thông tin sai lầm:

Cuốn Cochinchine (Nam Kỳ) (Rieder, 1926, Viviane Hamy, 1997) của Léon Werth, là một tác phẩm văn học giá trị, nói lên sự khâm phục kín đáo của tác giả đối với Nguyễn An Ninh và mô tả tỷ mỷ đời sống hàng ngày ở Nam kỳ dưới sự áp bức của bọn thực dân vô giáo dục trên một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời nhưng cam chịu.

Léon Werth kể lại câu chuyện sau đây: hai mật thám người Việt có nhiệm vụ theo dõi Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn, nhưng thay vì theo Ninh, họ lại đi theo Dejean de la Bâtie (Chủ nhiệm báo La cloche fêlée, người Pháp lai, đồng chí của Nguyễn An Ninh). Khi Werth và Ninh rời Sài Gòn đi Lục tỉnh, họ vẫn tiếp tục theo dõi la Bâtie và làm báo cáo hàng ngày. Đến lúc cơ quan an ninh ở Rạch giá đánh điện lên, Sài Gòn mới biết là nhầm, hình như hai người này bị đuổi! (Cochinchine, trang 156)

3- Theo dõi Nguyễn Ái Quốc:

Vấn đề theo dõi Nguyễn Ái Quốc, còn phức tạp hơn nhiều. Vì những lý do sau đây:

a- Người Pháp (và người Tây phương nói chung) thường dùng Họ thay Tên. Vì vậy, đối với người Pháp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Ái Quấc, đều là M. Nguyễn.

b- Thời gian đầu, mật thám chưa phân biệt được 3 người họ Nguyễn: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành. Vì vậy, có một số mật báo hoàn toàn trái ngược nhau, ví dụ tả Nguyễn Ái Quốc là người miền Nam (Nguyễn An Ninh), học ở Pháp từ nhỏ (Nguyễn Thế Truyền), có mật báo còn nhầm Nguyễn Ái Quốc với Nguyễn Như Chuyên (là kẻ theo dõi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường)… Đến khi chụp được ảnh Nguyễn Tất Thành, đưa cho những người đã đi theo những Nguyễn khác, xem. Lúc đó mới vỡ lẽ.

c- Chính bộ ba Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành cũng tung hoả mù: Truyền và Ninh cố tình giao các văn bản họ đã viết cho Thành đem khoe với mật thám rằng mình vừa viết xong. Vì thế, từ cuối năm 1919, đã có những bản mật báo ghi rõ:

Nguyễn Ái Quốc vừa viết xong cuốn sách này, dịch cuốn sách kia… Daniel Hémery đã dựa vào những báo cáo này, để viết: “Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã “sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés (Những kẻ bị đàn áp), có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation (Bản án Chế độ thực dân) và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm tây phương, như L’Esprit des lois (Vạn pháp tinh lý) sang Quốc ngữ.” (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, 1990, trang 45). Điều này không thể tin được vì Nguyễn Tất Thành mới sang Pháp từ tháng 6/1919.

Việc vở kịch Le dragon de bambou (Rồng tre), là một ví dụ, có thể Truyền (hay Ninh) viết, rồi đưa Thành đem đến cho Léo Poldès, đảng viên cộng sản, người điều khiển các buổi nói chuyện ở Câu lạc bộ Ngoại ô (Club du Faubourg), nơi mà Nguyễn Tất Thành, từ khi ở ngõ Compoint, Paris 17e, hay đến để tập nói tiếng Pháp giữa công chúng. Léo Poldès đọc thích quá, và ông đã giúp việc dựng vở kịch (được trình diễn một lần ở lễ hội L’Humanité năm 1922). Léo Poldès nhận xét về vở kịch này: “Hoàn chỉnh, hóm hỉnh, đối thoại hài hước quất vun vút như roi, sống động như lối khôi hài của Aristophane [Kịch tác gia danh tiếng của Hy Lạp]” (Trích bài của Léo Poldès, trên báo Ici Paris Hebdo ngày 11/6/1946, in lại trong Hồ Chí Minh Le procès de la Colonisation française, L’Harmattan, 2007, trang 195).

d- Mật báo ngày 28/11/1919, mô tả khá đúng chân dung Nguyễn Tất Thành như sau:

Chúng tôi thấy ở Paris có một người An Nam hình như gốc Bắc, tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hắn giấu kỹ danh tánh thật. Chính hắn đã ký những bản truyền đơn đòi tự trị ở Đông Dương. Hắn ở số 6, villa des Gobelins, nhà luật sư Phan Văn Trường, hắn chuyên về vấn đề chính trị và cả ngày ở thư viện Quốc gia, phố Richelieu, thư viện Sainte-Geneviève, Place du Panthéon, ở văn phòng Hội Nhân Quyền, phố L’Université, hoặc nậm nọa với bọn khả nghi cùng chủng loại.

Hắn thư từ với Phan Châu Trinh ở Pons, Phan Văn Trường và Khánh Ký hiện đang ở Mayence. Tình báo cho biết tại nhà số 6 Villa des Gobelins bọn An Nam có khi tụ họp tới 1 giờ sáng, cãi nhau ỏm tỏi đến nỗi láng giềng phải than phiền. (…) Các thám tử của ta theo dõi rất sát tên được gọi là Nguyễn Ái Quốc, một người đã kết thân được với hắn, sớm muộn gì rồi hắn cũng sẽ thổ lộ cho biết danh tánh thật”. (Thu Trang- Gaspard, Hồ Chí Minh à Paris, trang 82-83)

Theo Phan Văn Trường, nhà ông lúc nào cũng có vài người canh gác bên kia đường (villa des Gobelins là một ngõ cụt nhỏ, immeuble khang trang). Vậy thám tử “tìm thấy” Nguyễn Tất Thành ở số 6 villa des Gobelins là đương nhiên, và Thành nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, cũng đương nhiên. Sự tranh luận sôi nổi có thể về đề tài những bài báo sẽ viết. Thời điểm ấy, theo Phan Văn Trường, mọi người đều đến thư viện, đọc và học, vì không có tiền mua than củi để sưởi nhà, rất dễ nhầm người này với người kia, nhất là những người cùng tên Nguyễn.

e- Ngày 12/10/1920, Tổng Thanh Tra Pierre Guesde viết bài tổng kết gửi lên Bộ trưởng, tình hình còn hết sức lộn xộn: Cơ quan an ninh Pháp vẫn chưa xác định được ai là người viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, vì họ không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc. Điều này có thể phát xuất từ sự so sánh khả năng nói tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành trong lúc hỏi cung với tiếng Pháp của các bài báo (viết như người Pháp). Đứng trước tình trạng: Có một “bóng ma” tên Nguyễn (Nguyễn Ái Quốc) được mô tả trong các bản mật báo: diễn thuyết, có mặt trong các thư viện, là tác giả các bài báo. Và một “người thật” là Nguyễn Tất Thành tự xưng mình là Nguyễn Ái Quốc.

Pierre Guesde, tường trình về sự hoang mang của mật vụ Pháp như sau:

Paris ngày 12 tháng 10 năm 1920
Thưa ông Bộ trưởng,
(…) Trước hết, Nguyễn Ái Quốc, giấu danh tánh thật của y. Y không muốn bị lộ tung tích; y đã đổi tên nhiều lần khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác, cái tên Nguyễn Ái Quốc hiện nay chỉ đánh lừa được kẻ không biết tiếng An nam; Nguyễn Ái Quốc có nghiã đơn thuần là “Nguyễn yêu nước”.

Tất cả mọi cố gắng đều dồn vào việc điều tra hộ tịch của Quốc. Những người chỉ điểm An Nam và các thanh tra an ninh đều bắt tay vào việc và trao đổi thường xuyên với Đông Dương.

Những thông tin do Cảnh Sát Cuộc (Préfecture de Police) cung cấp chẳng có gì chính xác (…) Trong buổi nói chuyện với ông Thanh Tra Cảnh Sát Trưởng, tôi đã thông báo là ông Toàn quyền Đông dương rất có lý khi nhấn mạnh đến việc cần xác định danh tánh Quốc. Tôi còn nói thêm: “Nguyễn Ái Quốc tự nhận mình là người An Nam. Có thật thế không? Ai chứng tỏ điều đó? Y nói rằng y không có giấy tờ nào do nhà cầm quyền Đông Dương cung cấp. Y xen vào chính trị, trà trộn vào những nhóm chính trị, phát biểu trong những buổi hội họp cách mạng, và chúng ta không biết rõ đối thủ là ai! (…)”

Sau buổi tôi nói chuyện cùng ông Thanh Tra, Nguyễn Ái Quốc bị gọi đến Cảnh Sát Cuộc. Người ta đã chụp hình và hỏi cung y. Việc này xẩy ra ngày 20 tháng 9 [1920]. Những câu trả lời của Quốc được lưu trữ trong biên bản đính kèm. Y vẫn khăng khăng nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Chúng ta chắc chắn đó là lời mạo nhận“.

Nhưng ngay sau đó, Pierre Guesde lại viết những lời gần như ngược lại:

Trong tình trạng hiện nay của ăng-kết, với những thông tin tiếp được từ Đông Dương, tôi nghĩ có thể xác định rằng Nguyễn Ái Quốc chẳng qua là tên Nguyễn Tất Thành, kẻ đã ở An Nam năm 1908, trong khi xẩy ra bạo loạn, và đã ở Anh trước khi đến Pháp. Mà Nguyễn Tất Thành được coi là kẻ phiến động nguy hiểm.

Ngay từ ngày 25/7/1919, qua điện tín số 1791, chính phủ Đông Dương đã thông báo rằng một bản thỉnh nguyện có ẩn ý, gửi từ Paris, hôm 18/6, cho nhiều tờ báo ở Thuộc địa, dưới cái tựa “Những thỉnh nguyện của dân tộc An nam”. Bản thỉnh nguyện này, trước tên ký, có ghi: Thay mặt nhóm người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc” (…)

Nguyễn Ái Quốc đã liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung hoa, Triều tiên, Nga, Ái nhĩ lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua [1/5/1920] và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này. Tài liệu đính kèm.
Đoạn văn trên đây chứng tỏ sự bối rối của cơ quan an ninh Pháp: Một mặt cho rằng có một Nguyễn Ái Quốc giả, tức là kẻ đến trình diện, tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Một mặt lại tin rằng có một Nguyễn Tất Thành (thật), người ấy mới chính là Nguyễn Ái Quốc, đi diễn thuyết và là tác giả các văn bản.

Nhưng theo Hồ Hữu Tường, thì người lên trình diện chính là Nguyễn Tất Thành, chứ không phải ai khác. Hồ kể lại giai thoại: trát đòi Nguyễn Ái Quốc lên trình diện, nhưng lại gửi về địa chỉ Phan Châu Trinh và Phan đã giao cho Nguyễn Tất Thành lên trình diện (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang19).

Nguyễn Ái Quốc được an ninh Pháp mô tả trong thời gian từ 1919 đến tháng 5/1920, là người đã “liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung hoa, Triều tiên, Nga, Ái nhĩ lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua [1/5/1920] và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này”.

Nguyễn An Ninh (1890- 1943)

Chân dung này chính là Nguyễn An Ninh, nhờ ba yếu tố: vô chính phủ, diễn thuyết liên miên và viết sách đòi độc lập cho Đông Dương. Nguyễn Thế Truyền lúc đó còn ở Toulouse và Nguyễn Tất Thành, mới sang, không rành tiếng Pháp, không thể diễn thuyết và viết sách tiếng Pháp được.

Pierre Guesde viết tiếp:

 ”Những bài báo phát xuất từ Nguyễn Ái Quốc và đồng bọn được đón nhận khá tốt trong một loại báo (đặc biệt báo L’Humanité). Chúng ta thấy những bài ký tên y trong những báo khác nhau, đặc biệt trong tờ L’Humanité ngày 2/8/1919, và trong tờ Le Populaire ngày 4 và 14/10/1919. Y ở số 6, villa des Gobelins, Paris, trong một nhà lầu (immeuble) do Phan Văn Trường thuê (Phan Văn Trường là một trong những tay phiến động nguy hiểm nhất hiện đang ở Đức cùng với Khánh Ký và François Albert, tất cả đều là bạn Nguyễn Ái Quốc cũng như Phan Châu Trinh thường trực ở nhà Nguyễn Ái Quốc và hiện đang ở đây luôn). Kèm đây là lá thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho M. Outrey, từ Biarritz, ngày 16/10/1919, cho thấy ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về chính phủ ta như thế nào. Nhóm cách mệnh bao gồm những phần tử chính người An Nam mà tên vừa kể trên đây, tuyên bố rằng muốn ở lại Âu Châu để gặp dịp, sẽ hoàn toàn tự do vạch ra, những sai lầm của nhà cầm quyền Pháp và phụng sự lợi ích An Nam ngõ hầu đạt được càng sớm càng tốt: Sự tự chủ của Đông Dương (…) Ta có thể xác định rằng Phan Văn Trường là kẻ thông minh nhất và quỷ quyệt nhất trong nhóm. Nguyễn Ái Quốc là thư ký và là người cho Phan Văn Trường mượn tên”(…) (Carton 87, S. III, Thu Trang – Gaspard, Hồ Chí Minh à Paris, trang 107-108).
Tóm lại, bản tường trình của Pierre Guesde bị rối loạn vì những báo cáo sai lầm của thám tử. Gọi là lầm mà không lầm vì vô tình, họ đã xác định được 1/3 sự thực: Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh.

Tóm lại, người mà thám tử thấy viết sách, giao thiệp với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ và diễn thuyết liên miên, năm 1919-1920, chính là Nguyễn An Ninh. Người “vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương” cũng là Nguyễn An Ninh, có thể đó là cuốn La France en Indochine. Người viết Lá thư gửi từ Biarritz cho M. Outrey cũng là Nguyễn An Ninh (sẽ giải thích sau).

Trong bản báo cáo, viên Tổng Thanh Tra Pierre Guesde rất tinh tường qua những nhận xét khác của ông:

– Một mực không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc.

– Đọc các văn bản Nguyễn Ái Quốc, ông đoán đây là người Pháp viết tiếng Pháp. Đặc biệt ông chú ý đến những bài quan trọng như La question des indigènes en Indochine (Vấn đề dân bản xứ ở Đông dương) do Phan Văn Trường viết. Và hai bài L’Indochine et la Corée; une intéressante comparaison (Đông dương và Triều tiên, một sự so sánh lý thú) và Lettre à Monsieur Outrey (Thư gửi ông Outrey), do Nguyễn An Ninh viết.

– Ông xác định Phan Văn Trường là người nguy hiểm nhất.

Tóm lại, tới ngày 12/10/1920, Pierre Guesde vẫn đinh ninh rằng Nguyễn Tất Thành là người “gánh” cái tên Nguyễn Ái Quốc cho Phan Văn Trường. Điều này cũng lại không sai, nhưng Guesde cũng mới chỉ nhìn được 1/3 sự thật: Phan Văn Trường cũng là Nguyễn Ái Quốc. Và khi Nguyễn Tất Thành đã đi Nga, Tổng Thanh Tra Pierre Guesde vẫn tiếp tục xác định Nguyễn Ái Quốc không phải là Nguyễn Tất Thành, nhưng ông không tìm ra được Nguyễn Ái Quốc là ai.

5- Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn Ái Quốc và xin vào hội Tam Điểm

Khi Nguyễn Tất Thành đến Paris tháng 6/1919, thì Hội nghị Hoà bình đã khai mạc từ ngày 18/1/1919 ở Versailles. Mục đích của hội nghị là xây dựng những quốc gia Âu Châu mới sau thế chiến. Nhóm Người An Nam yêu nước muốn lợi dụng tình hình quốc tế thuận lợi, để xác định sự hiện diện của Việt nam, một đất nước đã mất chủ quyền và có thể nhóm người Việt cũng đã thảo luận với đại biểu các nước khác trong hậu trường của Hội nghị, trước khi tung ra bản Thỉnh Nguyện của dân tộc An Nam.

Bản Thỉnh nguyện hoàn tất. Tại sao Phan Văn Trường giao cho Nguyễn Tất Thành đem đến Versailles, mà không giao cho một người khác? Lý do đơn giản: Nguyễn Tất Thành là khuôn mặt mới, vừa chân ướt chân ráo đến Paris, chưa bị mật thám bao vây, dễ vào hội nghị. Lần xuất hiện đầu tiên này, chưa ai biết Nguyễn Tất Thành là ai.

Nguyễn Tất Thành, xa nước từ năm 1911, sống vất vả ở trên tàu, rồi biệt lập ở Luân đôn, vừa sang Pháp, chưa thể biết rõ những thông tin về tình hình trong nước, cũng không đủ kiến thức và không rành tiếng Pháp, nên chỉ có thể giữ những vai trò khiêm tốn: học Pháp văn, giữ sổ sách chi thu, tập viết những mẩu tin, phụ trách việc in và phát truyền đơn. Ông không thể viết được những bài xã luận ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc. Nhưng vì muốn trở thành chính khách, Nguyễn Tất Thành xung phong nhận tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

Việc đưa bản Thỉnh nguyện đến Versailles là chặng đầu.

Xin vào hội Tam Điểm, là chặng thứ nhì. Việc này chắc chắn phải do sự sắp đặt của Phan Văn Trường (có thể Phan Văn Trường cũng có chân trong Hội Tam Điểm), vì Nguyễn Tất Thành mới tới Paris, không thể biết rõ về hội Tam Điểm.

– “Tháng 8/1919, Quốc đệ đơn xin vào nhóm Ernest Renan trong hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie), 16 Rue Cadet, nhưng không được.” (Brocheux, Ho Chi Minh, trang 110)
– Ngày 14/6/1922, Nguyễn Ái Quốc được kết nạp vào hội Tam Điểm. (Thu Trang, Phan Châu Trinh, trang 193).

Tháng 8/1919, người ta chưa biết Nguyễn Tất Thành là ai. Hội Tam Điểm từ chối.
Nhưng đến tháng 6/1922, (ba năm sau), Nguyễn Tất Thành đã “chính thức” trở thành Nguyễn Ái Quốc, một tên tuổi trong làng báo chống thực dân. Hội Tam Điểm mới chấp nhận.

Nhưng chỉ được vài tháng, Nguyễn Ái Quốc bỏ Tam Điểm, vì sao?

Tam điểm là một hội kín, có truyền thống lâu đời trên thế giới, dựa trên nguyên tắc cao quý “Thân ái (Fraternité) giữa người và người”. Nhưng trên thực tế, hội quy tụ những phần tử ưu tú của xã hội, có thể nắm vận mệnh các dân tộc. Người làm chính trị vào hội Tam điểm để được bảo vệ khi gặp bất trắc. Trần Trọng Kim cũng ở trong hội Tam Điểm vì vậy khi làm chính trị, ông có thể nói thẳng mà không sợ chính quyền thuộc địa đàn áp.
Có thể Phan Văn Trường đã tìm cách đưa Nguyễn Tất Thành vào hội Tam Điểm khi Thành mới tới Paris, vì ông tin tưởng ở tương lai người thanh niên nhiệt tình này, và muốn có một thế lực hậu thuẫn cho Tất Thành. Nhưng khi được vào hội rồi, Nguyễn Ái Quốc/Tất Thành không chịu nổi không khí trí thức trưởng giả của hội và có thể còn bị áp lực của đảng Cộng sản, nên ít lâu sau Nguyễn Tất Thành đã bỏ hội Tam Điểm.

Nguyễn Thế Truyền (1898- 1969). Ông mất năm 1969 tại Sài Gòn

Về việc Nguyễn Ái Quốc có giấy mời đi dự hội nghị Tours của đảng Xã hội Pháp, cuối năm 1920, Hoàng Văn Chí cho rằng do Nguyễn Thế Truyền sắp đặt. Có lẽ không đúng, mà vẫn do Phan Văn Trường lo liệu, vì lúc đó Nguyễn Thế Truyền đang ở Việt Nam.

Giới chính khách và trí thức Pháp không dễ thâm nhập, phải là bạn ngồi cùng ghế đại học với họ, hoặc có danh, hoặc có tài. Họ có thể tranh đấu cho cần lao, nhưng họ không làm bạn với những người cần lao, ít học. Một nghịch lý nhưng là sự thật. Vừa đến Paris, đang làm thợ rửa ảnh, tiếng Pháp chưa thông, làm sao Nguyễn Tất Thành có thể gặp người này, người kia, trong chính giới của Pháp? Nếu không được một trí thức (như Phan Văn Trường hay Nguyễn Thế Truyền) giới thiệu, và phải “có tên tuổi” trong làng báo như Nguyễn Ái Quốc. Nhờ những yếu tố này, Tất Thành/Ái Quốc mới có thể được chấp nhận trong môi trường chính trị cánh tả của Pháp.

© Thụy Khê

(Còn tiếp)

nguồn

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »