Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 23rd, 2011

►Hồi Ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh viết về cuộc sống thuyền nhân di tản qua Hồng Kong, qua Anh, và đặc biệt cuộc sống ở miền Bắc trước 1979

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Bác sĩ Lâm Hoàng  Mạnh tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Hà Nội trước năm 1972. Ông hành nghề ở  ngoài Bắc cho đến năm 1979 thì phải nghĩ việc vì vụ trục xuất người gốc  Hoa ra khỏi Việt Nam.

Ông đi vượt biên qua Hồng  Kong, và sau đó được định cư ở Anh…Tác giả thường viết và đăng bài trên Talawas.org, với lối hành văn sáng sủa và câu văn rất ngắn gọn đã làm độc giả đọc say mê các bài hồi ký của ông. Các bạn có thể vào google.com và viết chữ “Bác sĩ Lâm  Hoàng  Mạnh” và search để tìm các bài viết về miền Bắc trước năm 1979.

Hồi ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh là tuyển tập đầy đủ của nhiều bài  được đăng trên talawas.

Đọc “Buồn Vui Đời Thuyền Nhân” của Lâm Hoàng Mạnh (I)

Uyên Thao

Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.”

Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.

Nhưng Lâm Hoàng Mạnh có ưu thế trải nghiệm thực tế Việt Nam, kể cả chịu dập vùi giữa biển cả để không chỉ cất lên tiếng nói chứng nhân mà còn là tiếng nói nạn nhân. Vì thế, qua Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, ngưởi đọc không chỉ tới với các cảnh đời lưu lạc mà còn nhiều lần đối diện với đời sống Việt Nam — cũng chính là lời minh giải trực tiếp một phần nguồn cội đưa đến tấn thảm kịch thuyền nhân không riêng trong lịch sử Việt Nam mà là lịch sử chung của nhân loại.

Tác phẩm của Lâm Hoàng Mạnh đã đưa người đọc về với nhiều cảnh sống mà chỉ người từng sống tại Việt Nam mới tin nổi là chuyện thực. Chẳng hạn chuyện rất nhỏ xẩy ra tại các cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh:

“… Ở thị xã Thái Bình, cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh rất khang trang. Một Chủ Nhật hè năm 1963, sau khi dạo chơi, hai thằng chúng tôi rẽ vào, mua mỗi thằng một tô phở 5 hào.
Tôi vừa bưng ra đặt xuống bàn, một lỏi tỳ khoảng 6 hay 7 tuổi nhổ ngay bãi nước bọt vào bát phở.Tát nó à? Nó bé quá, không nỡ. Thôi, xin biếu bố trẻ.Thằng bạn tôi, số phận chẳng hơn gì.Vừa lấy thìa húp tí nước dùng, ba ngón tay đen ngòm, toàn đất cát thò ngay vào, bốc luôn miếng thịt bò trong bát, bỏ mồm.Cũng đành đứng dậy, thôi nhường bố trẻ luôn.Chiêu này diễn lại đều đều, các chị các cô phục vụ đuổi không xuể vì chúng khá đông…
Cửa hàng ăn phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định cũng có lũ lỏi tỳ kiếm ăn… Chúng tụ tập trước cửa, mỗi đứa một cái vung nồi đất, vừa làm bát xin ăn vừa chơi trò xoay vung coi vung nồi đứa nào xoay lâu nhất…Khách mua bát phở, hai đứa kèm hai bên, chìa hai vung nồi, “anh ơi, chú ơi, ông ơi, chị ơi… cho cháu xin một tí, nước không cũng được.”

Làm thế, bố ai nuốt nổi. Thôi nhường cho mấy bố trẻ.

Kiếp trước chắc nợ các bố, vừa bảnh mắt đã bị ám.”

Thực tế khó tin này đã là chuyện bình thường và phổ biến vì toàn xã hội bị kiểm soát nghiệt ngã về cả chuyện ăn uống hàng ngày của mọi người với tên gọi chế độ tem phiếu.

“Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 hay 1960. Hè năm ấy, bọn học sinh Hải Phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo …Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính phường trả công 6 hào, ăn bữa cơm trưa tập thể mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng, mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói. Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lý lịch sẽ ghi: Có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền!”
Lâm Hoàng Mạnh kể lại chế độ tem phiếu chia người dân làm ba loại tuyệt đối tuân theo các tiêu chuẩn quy định.
Loại 1 gồm cán bộ, viên chức có tiêu chuẩn mua mỗi năm 5 mét vải, mỗi tháng từ 13 ký rưỡi gạo tới 25 ký và từ nửa ký thịt tới 2 ký rưỡi tuỳ chức vụ.
Loại 2 gồm người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng … có tiêu chuẩn mua đồng đều mỗi năm 4 mét vải, mỗi tháng 13 ký rưỡi gạo và 100 gram thịt.
Tiêu chuẩn dành cho cán bộ cao cấp được giữ kín,
còn nông dân và người dân tại các thị trấn được xếp vào loại 3 không có tiêu chuẩn, kể cả trẻ em.

“Tất cả những người này là con số không tròn trĩnh.
Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội …Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt trong 7 chữ vàng:
Đóng thuế – Đi lính – Câm cái mồm!Không tem phiếu, kể cả phiếu vải — động vật nên không cần quần áo?Mỗi xã có một cửa hàng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp … chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng, bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét. Thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến lượt. Đôi khi có nước mắm loại khắm và mặn chát, thỉnh thoảng có cá khô … mua về muối nhiều hơn cá vì nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá …Năm 1967, chúng tôi sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa — loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái — với canh rau muống nấu muối …”
Với cảnh sống đó, không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện khắp nơi những đám trẻ nhỏ 5, 7 tuổi đã có mọi mánh khoé trộm cắp để kiếm miếng ăn. Thực ra, người lớn cũng không thể giữ nếp sống bình thường và ngay các thành phần được ưu đãi như giáo viên, bác sĩ … cũng phải tìm đủ cách kiếm thêm tiền để có thể mua chui một số thực phẩm:

“Thị xã tôi, Hoà Bình, thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:
1– Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chít (làm chổi quét), kiếm củi…
2 – Trồng rau, nuôi lợn.
3 – Đan cót.
4 – Cạo nứa.
Chủ nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chít. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất …
Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần các bố cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Có anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái Bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư…”
Sự ngột ngạt không chỉ ở mức cùng cực của đời sống áo cơm mà trùm phủ đời sống tinh thần và tình cảm mọi người, ngay giữa các đồng nghiệp trong cùng một cơ quan:

“Năm 2004, chúng tôi về Việt Nam … nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ … Bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón Tiếp khu Đa Khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, giấu ở xà ngang. Mọi người tán “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen giấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 1978, 1979. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc…
Thắng cười, tiếp:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ – Trung Quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên Nhà Trẻ, cô Thoan bên Kế Toán, cô Lan bên Dược kể nhiều đêm trước đó đã nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.”
Cùng với chuyện nghe qua lời kể đó là chuyện đã xẩy ra với bản thân mà Lâm Hoàng Mạnh còn nhớ cả ngày giờ:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên …
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi:– Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.Vợ tôi bàng hoàng … Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:– Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:Chị nghĩ kỹ đi, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.”
Tôi bỗng nhớ tới một cô gái thuyền nhân Việt Nam đã có 30 năm định cư tại Đức qua nhắc nhở của tạp chí Del Spiegel nhân dịp kỷ niệm ngày các thuyền nhân Việt Nam xuất hiện tại đất nước này — ngày 3 tháng 12 năm 1978.
Vào một ngày tháng 10 năm 1978, cô gái vừa tròn 18 tuổi phải gạt nước mắt rời cha mẹ, rời thành phố Sài Gòn bước lên chiếc thuyền cũ nát không biết sẽ đưa mình tới đâu. Dù vậy, nếu không kể nỗi buồn gia đình chia lìa do cha mẹ phải hy sinh ở lại thì cô gái vẫn gặp nhiều may mắn. Trước hết, cô may mắn ra đi trong tư thế hợp pháp do có gốc người Hoa và cha mẹ gom nổi số vàng 60 lượng theo đòi hỏi để cô có bốn anh chị em cùng đi. May mắn hơn là vào lúc con thuyền bị nghiêng ngả giữa biển cả lại gặp một con tàu tỵ nạn lớn hơn. Nhờ thế anh chị em cô thoát chết và tìm được một góc trú ẩn, dù thêm số người từ con thuyền nhỏ, con tàu phải chở tới 2054 người.
May mắn lớn nhất là khi hơn hai ngàn thuyền nhân trở thành tù nhân trong căn nhà tù nổi ngoài cảng Kelang Mã Lai đang chờ chết do đói khát và đã chịu đựng quá dài cảnh ban ngày nắng như đổ lửa, ban đêm lạnh buốt thấu xương thì cảnh ngộ của họ được loan truyền qua nửa địa cầu.
Một chính khách Đức đã vận động chính quyền gấp rút chấp thuận đưa họ tới Đức định cư, đồng thời gấp rút chuyển cho họ các điều kiện tối thiểu để duy trì hơi thở.
Do đó, 7 giờ sáng ngày 3-12-1978, cô gái có mặt trong số 163 thuyền nhân Việt Nam đầu tiên bay tới Hanover. Khi cô run rẩy đặt chân xuống sân bay Langenhagen giữa cái lạnh mùa Đông, nhân viên tiếp cứu choàng lên vai cô tấm mền dạ cũ màu nâu của Hội Hồng Thập Tự Đức có in 3 chữ DRK. Tấm mền mỏng sờn cũ này kể từ ngày 3-12-1978 trở thành vật bất ly thân của cô và có thể sẽ ở bên cô tới phút cuối đời. Vì cho tới năm 2008, khi kỷ niệm 30 năm định cư tại Đức với cuộc sống vững vàng và đang bước qua tuổi về chiều, cô vẫn không rời tấm mền đã thực sự mòn cũ. Cô không bao giờ giải thích, nhưng tôi nghĩ tới làn hơi ấm từ tấm mền thấm vào cơ thể cô và cảm giác bình an dấy lên giữa phút giây đầu tiên đối diện với cuộc sống chan chứa yêu thương. Có lẽ suốt 45 ngày dài quằn quại thoi thóp vì nắng mưa đói khát trên biển cả lạnh lùng, cô đã triền miên ước có một phút giây êm ả nồng đượm tình người. Ao ước đó trở thành hiện thực khi một bàn tay xa lạ choàng lên vai cô tấm mền sờn cũ. Tấm mền với làn hơi ấm đã là biểu tượng cụ thể của tình người nên cô không dám từ bỏ. Bởi thực tế đã cho cô thấy cuộc sống tàn khốc ra sao khi tình người vắng thiếu.
Tự nhiên tôi gặp lại cảm giác từng có khi đón nhận vòng tay, nụ cười của bằng hữu, của người thân vào những lần tôi rời khỏi nhà tù. Kể cả khi đặt hai bàn chân trần trên mặt đường nhựa nóng cháy, tôi vẫn thấy toàn thân mát dịu với một cảm giác êm ả tuyệt vời trùm phủ. Những lúc đó, tôi không thể nào lên tiếng, chỉ có nổi nụ cười lặng lẽ trước mọi cử chỉ, mọi lời chia vui, trong khi một ý nghĩ luôn hiện đến là đoá hoa tình người đang toả hương cực độ và trấn áp hết thẩy mọi lo buồn, mọi hiểm hoạ vẫn hiện diện đầy rẫy khắp nơi. Từ đây, một ước mong và một nỗi ray rứt đã hiện hình để trở thành gánh nặng triền miên. Tôi ước mong có thể kéo dài được thời gian toả hương cực độ của những đoá hoa kia, đồng thời không thể ngừng thắc mắc về những cảnh sống cay nghiệt đang tiếp diễn.
Quyết định không bỏ tấm mền cũ của cô gái khiến tôi nghĩ cô cũng có cùng ước mong tôi đã có và lập tức khơi dậy thắc mắc đã trở thành gánh nặng của tôi.Đã nhiều đêm, tôi không chợp mắt nổi vì tấm bia tại Jakarta tưởng niệm các nạn nhân vùi thây giữa biển cả bị đục vỡ. Tấm bia không còn là tấm bia mà hiện ra trong hình vóc một con người với phần bia bị đục vỡ trở thành cặp mắt mở lớn hướng về phía trước trống rỗng mịt mù. Cặp mắt như hố thẳm với cái nhìn khẩn nài đau đớn từ một chiều sâu vô tận đặt tôi vào giữa vùng âm vang thảm thiết của những tiếng gào tuyệt vọng.
Tôi không dập xoá nổi âm vang những lời cuối trong một lá thư tuyệt mệnh gửi cho người chị gái: “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tỵ nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.” Người viết là Nguyễn Văn Hai 27 tuổi, treo cổ tại Trại Cấm Whitehead Hong Kong đêm 16 tháng 2 năm 1990.Âm vang những lời cuối ấy trở thành dòng suối cuồn cuộn dồn lên không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu nấc nghẹn, bao nhiêu con người đột ngột hiện ra … Đây là Lâm Văn Hoàng với hình vóc còn chưa hết nét trẻ thơ vì chỉ vừa 22 tuổi. Cái hình vóc ấy đã từ đỉnh cao một vách đá trại Pulau Bidong, Mã Lai lao thẳng xuống biển khơi vào tháng 1-1991. Ngọn sóng cuốn trôi thân xác chàng trai lại bùng lên ngọn lửa cuồng loạn thiêu đốt những thân xác quằn quại với những cái tên Trịnh Thị Kim Hương, Lưu Thị Hồng Hạnh … Kim Hương 28 tuổi tự thiêu tại Trại Galang, Nam Dương ngày 30-8-1991. Hồng Hạnh 16 tuổi tự thiêu tháng 2-1993 với chi tiết “không có ai là thân thích” nên Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ không cho hưởng quy chế tỵ nạn. Ngay cạnh trường hợp Hồng Hạnh là trường hợp Hoàng Thị Thu Cúc hoàn toàn trái ngược. Thu Cúc có cha bị chết trong trại tù, gia đình bị tịch thu nhà cửa, cưỡng bách đi Khu Kinh Tế Mới nên 5 anh chị em phải tìm đường vượt biên. Các chi tiết cụ thể đó vẫn bị gạt bỏ khiến Thu Cúc đã tự treo cổ tại trại Sikiew Thái Lan tháng 12-1992 khi vừa 26 tuổi.

Cảm giác đến với tôi vào những đêm khuya đối diện tấm bia bị đục vỡ luôn là cảm giác ngộp thở. Vì dòng suối âm vang cuồn cuộn khiến tôi bị vây nghẹt giữa không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu tiếng gọi cất lên từ nhiều địa phương Thái Lan, Mã Lai qua Nam Dương đến Hong Kong …

Tôi không thể nhớ hết những cái tên, những trường hợp xẩy ra, nhưng luôn dừng lại với mấy lời cuối của người thanh niên 25 tuổi tên Nguyễn Ngọc Dũng. Ngày 3-5-1993, Nguyễn Ngọc Dũng tới trước văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ trại Sungei Mã Lai tự tay đâm mũi dao nhọn vào giữa trái tim mình và gục chết bên dòng chữ: “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng mà vì muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Nguyễn Ngọc Dũng tự huỷ mình để tạo một tiếng gào kêu gọi sự cảm thông với cảnh ngộ bị đoạ đày của đồng loại trong cảnh sống vắng thiếu tình người.

Lời kêu gào vẫn cất lên, nhưng được đáp ứng ra sao?

Ngày 22-8-2007, tại đại hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Kansas Missouri, tổng thống Bush nhắc đến cuộc chiến Việt Nam qua một câu tóm gọn: “Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam đã hỉển lộ vẫn chính là cái giá phải trả cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…(1)

Phát biểu ngắn gọn gợi nhắc thực tế Việt Nam sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ nỗi tiếc xót về hậu quả một hành động sai lầm di hoạ cho những con người nhỏ bé vô tội, và ý muốn cảnh báo về một sai lầm tương tự. Dù là người xa lạ, ông Bush cho thấy không hoàn toàn vô cảm trước những thống khổ mà người dân Việt Nam gánh chịu quanh hai tiếng “thuyền nhân” — bao gồm cảnh ngộ buộc mọi người phải rời bỏ quê hương và những thảm nạn trên biển cả mênh mông luôn chứa đầy tai hoạ bão táp, hải tặc và cả thái độ lạnh lùng của những người ngoại cuộc nhẫn tâm…

Nhưng sự bày tỏ một chút tình đồng loại ấy đã lập tức bị phản bác bởi những người đang ở vị thế quyết định số phận mọi con dân Việt Nam. Ngay sau ngày 22-8 cho tới cuối tháng 9-2007, báo chí Việt Nam liên tiếp phổ biến nhiều bài viết và phát biểu chê bai ông Bush sai lầm và xuyên tạc. Trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 31-8-2007, tướng Nguyễn Đình Ước viện trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam phát biểu “nạn thuyền nhân là chuyện có thật” nhưng nguyên nhân vì “sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề mà Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.” Viên tướng này diễn tả xã hội Việt Nam hoàn toàn tốt đẹp, không có chuyện bức chế bất kỳ ai, không có nỗi thống khổ nào và khẳng định nạn thuyền nhân là “âm mưu hậu chiến của Mỹ”, bởi sau khi cấm vận gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam, “họ lại kích động, đưa ra viễn cảnh thiên đường ở bên ngoài gây nên tình trạng có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Nguyễn Đình Ước và những cây bút cuồng nhiệt đả kích lời phát biểu của ông Bush đã cho thấy họ không hề động tâm trước sự việc xẩy ra cho chính đồng bào của mình mà ngược lại còn kết buộc các nạn nhân tự chuốc tai hoạ bởi nghe lời ngoại nhân kích động, bỏ đất nước ra đi. Nếu cứ giả dụ những người này nói đúng thì phải biện giải ra sao về lý do Việt Nam viện dẫn để đòi phá bỏ tấm bia tưởng niệm tại Jakarta, khi tờ Jakarta Post ngày 20-6-2005 loan báo Chủ Tịch Nước CHXHCNVN (CSVN) Trần Đức Lương yêu cầu Nam Dương “khẩn cấp đập tượng đài” trên vì “nó xúc phạm tới Việt Nam.” Tấm bia xúc phạm Việt Nam như thế nào khi chính quyền Việt Nam khẳng định các nạn nhân chết thảm chỉ vì “chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài?” Vả lại, bày tỏ tình cảm xót thương nhớ tiếc những người cùng huyết mạch đã khuất có thể là hành vi gây tổn hại uy danh dân tộc chăng?

Mọi nguyên tắc đạo lý trên trái đất này đều không chứng minh cho kiểu suy diễn đó, nhất là khi hết thẩy người đã khuất đều là nạn nhân vô tội đáng thương, trong số có không ít trẻ thơ và những người vợ, người mẹ chân yếu tay mềm. Bằng cách nhìn nào thì cũng phải khẳng định tấm bia đó chỉ gợi nhắc tội ác của những kẻ đã biến hàng loạt người vô tội thành nạn nhân trong tấn thảm kịch thuyền nhân, và bất kể là ai, nếu còn mang trái tim con người sẽ không bao giờ tránh khỏi xót xa trước cảnh tượng ngọn lửa điên cuồng trùm phủ thân hình nhỏ nhoi yếu đuối của một cô bé mới 16 tuổi như ngọn lửa hoả thiêu thân xác cô bé có tên Lưu Thị Hồng Hạnh.

Bỏ qua mọi lý lẽ để chỉ nhìn vào thực tế xảy ra quanh hai tiếng “thuyền nhân” sẽ không thể quên trường hợp con thuyền mắc cạn tại một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa và trường hợp chấm dứt binh nghiệp của một hạm trưởng hải quân Mỹ.

Theo Washington Post ngày 29-03-1989, hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque cho biết sẽ rời Hải Quân sau 26 năm phục vụ, dù ước nguyện của ông là được sống trọn đời với biển cả. Ông phải chọn điều này vì ngày 24-02-1989, toà án quân sự Mỹ đã tuyên xử ông thiếu xót trách nhiệm và ông tin rằng bản án thực sự chấm dứt binh nghiệp của ông. Trên thực tế, ông bị ngưng chức hạm trưởng, bị truy tố ra toà từ ngày 27-08-1988, và các phiên xử kéo dài 2 tuần lễ khởi từ trung tuần tháng 2-1989 đã kết thúc với bản án trên. Lý do là ngày 9-06-1988, hải vận hạm USS Dubuque gặp một thuyền tỵ nạn Việt Nam lênh đênh giữa biển. Các thuyền nhân cho biết thuyền bị hư máy trôi giạt đã 18 ngày khiến có hơn 20 người bị chết. Còn lại trên thuyền lúc đó có 83 người gồm nhiều phụ nữ, trẻ em, hết thẩy đều kiệt sức. Nhưng lời khẩn cầu hải vận hạm USS Dubuque cứu vớt bị từ chối. Vị hạm trưởng chỉ hạ lệnh chuyển qua con thuyền một số thực phẩm và nước uống đủ dùng mấy ngày rồi tiếp tục ra đi, bỏ mặc con thuyền bập bềnh tại chỗ.

19 ngày sau, ngày 28-06-1988, con thuyền được một tàu đánh cá Phillipines cứu đưa vào bờ thì đã có thêm 31 người bị chết và số người sống sót kể lại phải qua những ngày khủng khiếp là duy trì hơi thở bằng cách nhai nuốt chính thân xác các bạn đồng thuyền đã chết. Tin về cảnh ngộ 52 thuyền nhân sống sót loan truyền khắp mặt báo chí và Bộ Quốc Phòng Mỹ tức khắc ra lệnh truy tố vị hạm trưởng.

Trước toà, vị hạm trưởng viện lý do cần hoàn tất nhiệm vụ nên không dám bỏ thời gian cho việc tiếp cứu. Nhưng quan điểm của toà là không có lý do nào biện giải cho hành vi làm ngơ trước cảnh lâm nguy của đồng loại.

Bản án đã khẳng định vị thế tột cùng của tình người và gợi nhắc một trường hợp từng xẩy ra 10 năm trước đó. Một ngày tháng 4-1979, con tàu là chiếc ghe đi biển mà ngư dân gọi là “3 lốc đầu bạc” chở 130 thuyền nhân rời đảo Hòn Tre ngoài khơi Nha Trang vượt Biển Đông. Sau ba ngày êm ả, một cơn bão bất ngờ ập tới giữa đêm. Cơn bão khiến con tàu điên đảo quay cuồng, sau đó hoàn toàn mất phương hướng. Giữa lúc nguy cấp, người trên tàu bỗng thấy có ánh đèn loé lên từ một khoảng không xa. Tài công lập tức hướng về phía đó với hy vọng là một hòn đảo Philippines.

Không may, con tàu mắc kẹt đá ngầm lúc tới cách hòn đảo chỉ hơn trăm thước. Lâm cảnh vô phương tiến thoái, một nhóm người quyết định lội vào đảo tìm sự tiếp cứu. Vừa đặt được chân lên bãi cát, nhóm người bỗng nghe tiếng loa phóng thanh bằng tiếng Việt ra lệnh: “Tất cả đứng lại!”

Cả nhóm chết sững đứng im, nhưng thầm an ủi nhau nếu bị bắt trở về đất liền thì dù phải đi tù vẫn bình yên, khỏi vùi xác giữa biển cả. Ý nghĩ đó không thành thực tế. Vì nhóm người đứng thẳng hàng với hai tay đưa lên trời đã lập tức trở thành những tấm bia cho hàng loạt đạn từ trong bờ xối xả bắn tới. Gần 20 mạng người gục ngã trong chớp mắt, chỉ còn ba người thoát chạy trở lại được con tàu.

Do mắc kẹt đá ngầm, con tàu không thể nhúc nhích nên đành đưa hết đàn bà trẻ nít lên mui, hướng vào đảo quỳ khóc xin tha mạng. Cảnh tượng đó diễn ra lúc trời đã rạng sáng giúp mọi người thấy rõ trên đảo nhiều toán bộ đội tới lui nhộn nhịp và vợ con họ đứng chen lấn nhìn ra con tàu.

Đám đàn bà trẻ nít trên tàu la khóc lớn hơn xin cứu giúp. Nhưng đó cũng là lúc mà đủ loại súng nối nhau nhả đạn vào đám đàn bà trẻ nít đang uốn mình cúi lạy trên mui tàu…

Các chi tiết về giây phút cuối cùng của con tàu do một nhân chứng sống sót kể lại:

– “Chúa ơi cứu con với!”
Tiếng thét đau đớn, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt khiến tôi phải lấy tay vuốt mặt và bàng hoàng nhận ra toàn là máu. Máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng đầu lên một chút để nhìn. Người phụ nữ oằn oại với vết thương bên đùi vỡ toác, máu tuôn xối xả …Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng la hét, kêu gào của những người bị trúng đạn quyện thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người … Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt … Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn thúc tôi phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu.”

Kẻ may mắn được sóng cuốn đi, sau đó được xô tới bên một chiếc thuyền câu cũng đang dật dờ trên mặt biển:

“Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ, tôi nhận ra chiếc thuyền hoàn toàn im lặng, không có sự di động của bất cứ người nào trên thuyền. Tôi hơi vững tâm, cố bơi lại gần. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên, họ sụp lạy, xin tha mạng. Tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động …Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau, tôi mới vỡ ra họ cũng trôi giạt vào đây và cũng bị bắn. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, có 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị 9 tuổi, cậu em 6 tuổi. Cha của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát phần vai hai bên, đang nằm thoi thóp dưới hầm máy.”

Con thuyền là một thuyền câu dài vỏn vẹn 6 thước, rộng 2 thước cứ dật dờ trôi nhưng tiếp đó đã nhận thêm 4 người khác thoát chết từ con tàu bị mắc cạn để ấp ủ 16 mạng người, sau khi anh thanh niên bị thương trút hơi thở cuối. Điều kỳ lạ là 16 người trong số có hai đứa trẻ đều còn thoi thóp tới ngày thứ 30 lênh đênh trên biển khi được một tàu buôn Nhật Bản phát hiện. Vị thuyền trưởng người Đại Hàn từng được nhắc nhở sẽ bị đuổi việc nếu vớt người vượt biên. Nhưng trước chiếc thuyền câu nhỏ với 16 túi da bọc xương đang hấp hối, ông đã chọn chấp nhận mọi hậu quả, lệnh cho thủy thủ đưa họ lên thuyền cấp cứu rồi chở họ tới cảng Okinawa.Hơn 30 ngày trước, hai con thuyền chở 143 người lúc này chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Nỗi gian khổ của họ được báo chí Nhật Bản và quốc tế kể lại nhiều ngày kèm theo hình ảnh những con người chỉ là những bộ xương với hộp sọ nhô cao.

Hành động quay lưng không cứu người lâm nạn của vị hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque gây ra cái chết cho 31 người đã khiến Bộ Quốc Phòng Mỹ lập tức quyết định đưa ra toà xét xử ngay sau khi báo chí loan tin. Trong khi đó, những kẻ nhẫn tâm tàn sát 120 mạng người vô tội gồm nhiều phụ nữ và trẻ thơ đang khốn đốn giữa sóng gió cho tới nay hơn 30 năm sau vẫn hoàn toàn thoải mái.

Không biết bao nhiêu thắc mắc đã được đưa ra nhưng đều rơi vào hư vô. Nhưng, những thắc mắc đó chắc chắn vẫn sẽ vang lên mỗi khi có ai nhắc đến hai tiếng “thuyền nhân” để gom lại thành một thắc mắc cuối cùng: Những kẻ đã ra lệnh bắn giết người ra đi và những kẻ thản nhiên thi hành lệnh bắn giết đó còn có thể gọi là con người được không?

Trong Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Lâm Hoàng Mạnh lập lại cùng thắc mắc khi kể về một tai hoạ tương tự đe doạ con thuyền trên đó có gia đình tác giả:

“Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữ và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang. Tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.

Tất cả mọi người choàng tỉnh. Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao. Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang dần dần áp sát thuyền chúng tôi. Trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền. Một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:

– Yêu cầu thuyền không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi không thể tin được tai mình.

Đây là đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư?

Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo “Hoa kiều yêu nước” với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương. Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải.
Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.

Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền. Tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.

Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn. Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc, họ không cứu giúp lại tìm cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.

Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?”

Thắc mắc mà Lâm Hoàng Mạnh lập lại có lẽ không còn cần trả lời. Nhưng từ đây lại dấy lên một thắc mắc rất cần được trả lời: Tại sao loài mãnh thú có thể tồn tại lâu như vậy ở vị thế đè đầu cưỡi cổ con người?Tôi không tin có một loài thú nào dù hung dữ tới đâu lại đủ sức khống chế một cộng đồng dân tộc từng đạp bằng mọi hiểm hoạ gian nguy cùng cực để tồn tại suốt hơn bốn ngàn năm. Quá trình đó đã biểu hiện cụ thể một ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống gọi là cuộc sống con người. Ý chí và truyền thống đó chắc chắn không bao giờ tàn lụi. Vậy do đâu cả một cộng đồng dân tộc đã phải khoanh tay gục đầu trước nanh vuốt của chỉ một bày ác thú?

Hàng loạt dấu hỏi quay cuồng với hàng loạt giải đáp nhưng mỗi giải đáp lại khơi thêm nỗi hoang mang ngờ vực khiến trước mắt tôi bỗng hiển hiện một rừng dấu hỏi nhảy múa điên loạn và chập chờn chuyển hoá thành đủ thứ hình thù. Dù chưa từng vượt biển, chưa từng đặt chân đến một hòn đảo nào, tôi bỗng thấy mình đang đứng giữa quần đảo Trường Sa và những dấu hỏi mịt mù đã biến thành một đám người say mê nhả đạn với nét mặt hả hê trước những thân hình nạn nhân gục ngã. Rồi tôi lại nghe vẳng lên giọng kể trĩu nặng ưu tư của Lâm Hoàng Mạnh về vài cảnh sống của một số thuyền nhân khi đã rời xa hẳn những con thuyền:

“Chuyện ly hôn của người Việt trở thành đề tài nóng bỏng. Tôi quen một số gia đình cũng bị hút vào vòng xoáy này. Đến chơi, khi hỏi chuyện thật hư, có gia đình, không những không ngượng, cô vợ còn cười tươi, bảo “quanh đây ai cũng đều thế cả, chỉ có gia đình anh chị chưa làm thôi. Em á, không những làm, em còn xúi người ta. Tội gì không làm, chết ai đâu? Đây này, chúng em ra tòa ly dị. Có giấy ly hôn hẳn hoi, ông xã lấy cớ thăm con, vẫn ngủ ở nhà đấy chứ. Chỉ khi nào council cho người đến kiểm tra mới “tạm sơ tán” thôi…Đấy, ông xã nhà này vẫn đi làm đều, chỉ phải đóng thêm chút thuế, theo diện độc thân, còn em và tụi trẻ bây giờ khỏe re, lĩnh tiền trợ cấp single parent cao, tiền nhà khỏi phải đóng, các cháu được miễn phí bữa trưa. Sướng chưa! Anh chị còn chần chừ gì nữa mà không làm….”

Tôi ngán ngẩm ra về và từ đó ít giao lưu. Chỉ vì một chút lợi ích vật chất, họ đã cắt luôn dây thần kinh xấu hổ, làm những điều không thể chấp nhận đối với lương tâm, đạo đức của người bình thường …”

Lâm Hoàng Mạnh không chỉ ưu tư trước cảnh sống này mà còn đưa người đọc tới nhiều vùng đất Việt Nam cũng như Anh quốc cùng nỗi trăn trở về khoảng thời gian tồn tại khó biết ra sao của những câu ca dao đã có từ hàng ngàn năm như:Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con …

Tôi không còn theo kịp mức chuyển hoá của khu rừng dấu hỏi nữa, dù vẫn tin chắc ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống con người chẳng bao giờ rời xa tim óc mọi người Việt Nam ở bất kỳ nơi đâu. Mọi nguyên do thống khổ dẫn tới hai chữ “thuyền nhân”, mọi tai ương thảm nạn khắc hoạ thành hai chữ đó có thể ghi dấu mãi một đoạn đường ngập tràn những não bộ tối tăm, những con tim dã thú, nhưng trong diễn trình lịch sử, mọi đoạn đường luôn chỉ là một bước thăng trầm không thể kéo dài mãi mãi.

Tôi bỗng nhớ tới giọng ca từng là thần tượng một thời của lớp tuổi chúng tôi từ thập niên 1950, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri. Nana Mouskouri cuốn hút không chỉ do giọng ca mà còn qua nhiều lời ca vẫn thường bất ngờ vẳng lại:

Quand tu chantes je chante avec toi, liberté
Dans la joie ou les larmes je t’aime
Les chansons de l’espoir ont ton nom et ta voix
La chemin de l’histoire nous conduira vers toi
Liberté, liberté …
(2)

Tôi rời những trang hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh trong ước mong được nghe lời ca trên vang dội mọi nẻo đường Việt Nam qua một dàn đồng ca, dù dư âm giọng ca của Nana Mouskouri vẫn ngọt ngào quyến rũ.

Virginia May 20, 2011.

© DCVOnline

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản. Phát hành tháng 7/2011. Địa chỉ liên lạc: Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044


(1) “… Whatever your position is on that debate, one unmistakable legacy of Vietnam is that the price of America’s withdrawal was paid by millions of innocent citizens whose agonies would add to our vocabulary new terms like ‘boat people,’ ‘re-education camps,’ and ‘killing fields’.” President Bush’s speech to the Veterans of Foreign Wars National Convention in Kansas City, August 22, 2007.
“Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam để lại mà ta không thể nhầm lẫn được là: cái giá  cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ đã được trả bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi bi kịch và thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…
(HT dịch)

Advertisements

Posted in Hồi Ký | Leave a Comment »

Đọc lại bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại Học DeAnza, California

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã chết trong bệnh viện ở  Malaysia vì khó thở vào ngày 22-7-2011. Nguyên nhân chính xác của cái chết đang được tìm hiểu.

——-

Mời các bạn đọc lại

Bài nói chuyện của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại

Học DeAnza, Cupertino, California

LTS: Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang ấm dần lên qua vấn đề Biển Đông, ĐCV đăng tải lại bài phát biểu của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tại Đại học DeAnza, trong cố gắng thuyết phục Hoa Kỳ bắt tay với CSVN ngăn chặn Trung Quốc, gây nhiều tranh cãi trước đây.

Lời người dịch: Ngày 13 tháng 6 năm 2003, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ được giáo sư John K. Swensson, Khoa truởng Khoa Ngôn Ngữ của trường Đại Học DeAnza, Cupertino, California mời nói chuyện về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhân cuộc hành trình của Tướng Kỳ gây nhiều sôi nổi trong cộng đồng, tôi phiên dịch bài diễn văn này ra quốc ngữ để cống hiến bạn đọc. Hy vọng các bạn đọc sẽ chia sẻ đuợc tâm ưu của Người Lính Già Nguyễn Cao Kỳ, có cái nhìn xa về thời cuộc mà phải hứng chịu nhiều hiểu nhầm của dư luận ngày hôm nay. Ông ta đã chiến đấu và đã không ngừng mưu cầu cho dân tộc có một tương lại tươi sáng hơn.

Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trước tiên, tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên và quý trường đã cho tôi có dịp để chia sẻ vài cảm nghĩ của tôi. Đặc biệt xin cảm tạ bà Martha Kanter và ông Khoa truởng John Swenson đã có nhã ý mời tôi đến nói chuyện hôm nay.

Vào tháng Tư của 27 năm truớc, sau 20 năm chống trả anh dũng, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay kẻ thù. Bao biến đổi từ đó. Nhiều nguời trong số các bạn chưa ra đời; với những người nào còn nhớ lại ngày đen tối đó, những nguời mà sau bao năm tháng, thời gian đã in hằn trên khuôn mặt những nếp nhăn và tóc đã điểm mầu sương khói, đã bảo toàn danh dự trong những giờ phút khó khăn, không làm mất đi lý tưởng mà các bạn theo đuổi. Các bạn đã trưởng thành, sự hy sinh và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã mang lại sự thành công và trách nhiệm ở những địa vị xứng đáng trong xã hội Mỹ. Còn đối với tôi, như các bạn thấy, tôi không còn khoác khăn quàng tím, mặc áo bay đen, lưng đeo súng lục. Tôi đã chôn tất cả dưới đáy rương, kỷ vật của một thời quá khứ. Cuộc chiến đã lùi dần vào lịch sử, sự thất bại về dân chủ ở Việt Nam đã để lại những dấu ấn trong lương tâm của hai quốc gia. Những câu hỏi đặt ra từ năm 1975 vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Làm sao với một đồng minh Mỹ vô địch về kinh tế, chính trị và quân sự cộng thêm sự hỗ trợ của các nước đồng minh khác mà Nam Việt Nam lại bị đánh bại bởi một quân đội lạc hậu, nghèo đói của Bắc Việt?  Hôm nay tôi xin đưa ra những câu trả lời về vấn đề này.

Thưa qúy vị,

Sử liệu của Hoa Kỳ thường cho rằng sự thất trận xảy ra vì cuộc chiến thiếu chính danh, vì chính phủ và quân đội Miền Nam tham nhũng, vì lính Nam Việt hèn nhát, vì Mỹ bỏ rơi Nam Việt vv… Tuy nhiên, không một điều kể trên được chấp nhận như một định nghĩa đúng. Tôi muốn nói: “Chúng ta thất trận vì hai lý do. Vì bang giao giữa Mỹ và Nam Việt không đồng nhất, không quân bình, đôi khi trịch thượng. Và cũng bởi vì chiến lược của chúng ta là chiến tranh tự vệ, một chiến thuật tự nó đã đưa đến sự thất bại và sau cùng là sự thất trận”. Làm sao điều này đã thật sự xảy ra? Là một nguời sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến, một nguời đã từng tham dự và chỉ huy, đã chứng kiến và chia sẻ sự khổ đau của dân tộc và nhân dân tôi, tôi sẽ cố trình bày một cách khách quan về những sự kiện và những nhận xét đã đưa tới câu tuyên bố táo bạo này.  Đêm nay, thật là khó khăn khi phải trực diện nó, các bạn sẽ nghe được những sự thật mà các bạn chưa bao giờ nghe và tôi tin là các bạn sẽ đồng ý với lời kết luận của tôi.

Sau hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia đôi. Trên giấy tờ, Bắc và Nam Việt Nam là hai quốc gia song sinh được sinh ra cùng một thời điểm. So sánh với Miền Bắc qủy quyệt, thì Miền Nam chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Có nghĩa là từ nhiều năm, trước khi có sự chia đôi đất nước, Hà Nội đã chứng tỏ là một thực thể chính trị đáng nể sau khi đã tham dự hàng loạt các hội nghị quốc tế và theo đuổi cuộc chiến tranh du kích chống Pháp. Hồ Chí Minh đã có tiếng vang trên chính truờng quốc tế qua sự lãnh đạo cuộc chiến chống thực dân Pháp. Chính quyền Hà Nội nắm quyền lực với một thành tích là đánh đuổi ngoại xâm và tranh đấu cho quốc gia độc lập. Họ tự cho họ là những nguời giải phóng nhân dân. Lúc đầu, họ nhận được sự ngưỡng mộ và thiện cảm của đa số các nuớc “bị trị” thuộc Khối Không Liên Kết của Thế Giới Thứ Ba, dĩ nhiên sẽ đối nghịch với những nước giàu có như Pháp và Hoa Kỳ. Bắc Việt còn được sự yểm trợ tối đa của hai siêu cường cộng sản là Nga Sô và Trung Cộng. Điều này đã làm họ tuyệt đối tin tưởng là cuối cùng họ sẽ thắng. Tôi muốn đào sâu vấn đề hơn.

Ai cũng hiểu là nếu không có sự giúp đỡ vĩ đại của các siêu cường Cộng Sản, Bắc Việt không thể kéo dài cuộc chiến xâm lăng trong nhiều năm được. Nga Sô và Trung Cộng rất kín đáo về sự trợ giúp của họ. Trong suốt cuộc chiến, không một viên chức Nga hay Trung Cộng nào có lời tuyên bố can thiệp lộ liễu vào nội bộ của Bắc Việt. Trái lại, những nhà lãnh đạo Bắc Việt luôn luôn đuợc đẩy ra ngoài ánh sáng quốc tế, đuợc trình diện như những người theo chủ nghĩa Dân Tộc, những nhà ái quốc, những nhà tranh đấu cho chính nghĩa, lật đổ đế quốc thực dân và tư bản hầu giải phóng nhân dân Việt ra khỏi ách thống trị. Chẳng bao lâu bộ mặt Mác-Lê bị lật tẩy, Hà Nội cũng bị mất cảm tình chút ít trên thế giới, nhưng sự ngưỡng mộ vẫn còn. Nếu họ không còn có chính nghĩa là đánh đuổi thực dân nữa, đối tượng để tranh đấu chính trị sẽ không còn, thì họ chẳng còn gì để mà tranh đấu.

Về phía Miền Nam, sự việc khác hẳn. Nam Việt phải xây dựng từ số không, và ngay từ đầu đã lệ thuộc quá nhiều vào các siêu cường Tây Phương. Thí dụ như một người sống nhờ vào tiền an sinh xã hội, càng ngày càng lệ thuộc vào sẽ khó dứt bỏ đuợc. Trong những năm của thập niên 50, những hoạt động chính trị và quân sự ở Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp, một ông chủ thực dân, về tất cả những quyết định quan trọng. Nguời Pháp đưa ông Bảo Đại ra làm Quốc Trưởng, vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn dưới thời bảo hộ Pháp. Tất cả nội các của ông Bảo Đại đều là những người có thời liên hệ với Pháp. Họ không được sự ủng hộ của quần chúng trong nuớc. Chỉ khi ông Ngô Đinh Diệm xuất hiện thì Nam Việt mới có một thể chế và lãnh đạo xứng đáng. Rất tiếc là sau vài năm ngắn ngủi, chính quyền Nam Việt Nam bị băng hoại vì sự áp dụng độc tài gia đình trị. Nhưng so với sự độc tài đảng trị của cộng sản Việt Nam thì sự độc tài ở Miền Nam không thể nào sánh bằng. Khi ảnh hưởng của Pháp bắt đầu mờ dần, sự xuất hiện của Mỹ đã trực tiếp ảnh hưởng hàng ngày vào những quyết định của Nam Việt Nam, thì một vị Tổng Thống có tinh thần quốc gia cấp tiến mà cứng đầu như ông Diệm bắt buộc phải bị lật đổ.

Thưa các bạn,Bang giao giữa Mỹ và Nam Việt Nam chưa bao giờ thể hiện được bình đẳng trong sự hợp tác. Cuộc chiến trở thành “cuộc chiến tranh của Johnson” thay vì chúng ta chiến đấu cho tự do và độc lập. Từ quan niệm trên mà Nam Việt Nam chỉ được xem như là một tiền đồn để chống chủ nghĩa cộng sản. Cuộc chiến đấu giành tự do của chúng ta là một việc cao qúy nhưng chúng ta không cho đó là vấn đề chủ yếu để giải thích cho dân chúng Mỹ và Việt Nam hiểu rằng đây không phải là một cuộc nội chiến giữa chính quyền và quân phản loạn ở Nam Việt Nam, mà là một sự xâm lăng trắng trợn một quốc gia Nam Việt Nam bởi một quốc gia khác có tên gọi là Bắc Việt Nam. Vào giữa thập niên 60, Hoa Kỳ đã đổ nửa triệu quân vào Miền Nam. Mười tỷ đô la đã đổ vào để sử dụng cho quân đội và viện trợ kinh tế, và còn nhiều số tiền lớn khác được chi ra. Sự hiện diện của Hoa Kỳ được thấy rõ trong nhiều lãnh vực hoạt động, ở bất cứ một giai tầng nào trong chính phủ. Ngay cả trong giai cấp lãnh đạo, kể cả Tổng Thống, cũng được chỉ định một vị cố vấn đặc biệt. Sự có mặt và ảnh huởng của Mỹ thật là quá rõ rệt. Nhiều đến nỗi một nguời dân Việt ở ngoài phố đã thốt lên rằng “Ông Đại sứ Mỹ là Quan Toàn Quyền giống như dưới thời Pháp thuộc”. Ảnh hưởng của báo chí và chính giới Mỹ còn tệ hại hơn nữa, luôn luôn muốn nhấn mạnh vai trò của người Mỹ tại Việt Nam, họ đã biến chiến tranh Việt Nam thành một sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, đẩy nhân dân, chính phủ và quân đội của Nam Việt vào vai trò phụ. Điều này càng được khuyếch đại bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản quốc tế. Vì thế chính quyền Nam Việt Nam dưới con mắt nguời dân trong nuớc và cả thế giới đã trở thành một chế độ bù nhìn được dùng cho quyền lợi của tư bản Mỹ. Hậu quả là mặc dù chúng ta có chính nghĩa, nhưng chúng ta không bao giờ có được một chính danh cần thiết để được lòng nhân dân, một yếu tố tối cần thiết cho sự chiến thắng.

Thưa các bạn,

Chúng ta đều hiểu rằng trong chiến tranh, yếu tố chính trị và quân sự phải hỗ tương. Điều này rất đúng tại Việt Nam. Không những chúng ta bị thất lợi về chính trị mà chúng ta còn áp dụng một căn bản sai lầm trong binh pháp khi chúng ta chọn chiến đấu trong một trận chiến giới hạn và tự vệ. Hải Quân và Không Quân hùng mạnh của Hoa Kỳ đã không được dùng để tấn công vũ bão vào lực luợng địch, buộc họ phải qui hàng, như đã xảy ra trong cuộc chiến Vùng Vịnh và Afghanistan. Hoa Kỳ đã không thi triển sự chớp nhoáng của Không Quân chiến luợc hay sự hùng hậu của Đệ Thất Hạm Đội để tiêu diệt những căn cứ địch, để ngăn cản đường tiếp tế trên bộ cũng như trên biển, để phong tỏa những hải cảng của địch.

Vì phải chiến đấu trong một cuộc chiến giới hạn và tự vệ, Hoa Kỳ đã cho phép kẻ thù liên tục tiếp tế cho quân lính họ ở chiến truờng. Những chính trị gia của Hoa Kỳ vì e ngại Trung Cộng sẽ can thiệp và gây ra một cuộc chiến Triều Tiên khác. Nước Mỹ đã và đang có một Hải Quân hùng mạnh nhất thế giới, nhưng vì sợ mích lòng Nga, đã không chịu phong tỏa Hải Phòng. Hàng tấn vũ khí đã đưa qua hải cảng này để chuyển vào đánh Nam Việt và các đồng minh.

Đã từ lâu, trước khi Hoa Kỳ quyết định ngưng chiến, tôi đã nhận thấy sự thất bại là một kết quả không thể tránh được khi mà Hoa Kỳ thiếu quyết tâm chiến thắng. Tôi đã yêu cầu tình nguyện lãnh đạo một cuộc “Bắc Tiến”. Tôi chỉ đòi hỏi Hoa Kỳ một điều kiện duy nhất là họ sẽ yểm trợ về Không Lực vì quân đội Hoa Kỳ cũng đã có mặt ở Miền Nam để bảo vệ những nơi đông dân cư. Mục đích của tôi không phải là để xâm lăng Miền Bắc, mà chỉ để ép buộc Hà Nội phải rút quân từ phía Nam về để chống đỡ và từ đó sẽ đưa đến thương thuyết hòa bình.

Các bạn cũng như tôi có thể không phải là nhà chiến lược giỏi, nhưng chúng ta cũng phải biết là “Tiên hạ thủ vi thượng sách”, ngay cả lúc chúng ta ở thế bị động. Cái được gọi là chiến dịch “truy kích và tiêu diệt” cũng chỉ được dùng trong ranh giới của chúng ta. Căn cứ địa của địch vẫn luôn luôn là hậu cứ an toàn. Địch đã dùng các nước lân bang như Lào và Campuchia để làm trạm giao liên, căn cứ tiếp liệu và trung tâm dưỡng quân của họ.

Những tuớng lãnh của địch đã áp dụng một kế hoạch hành động là luôn luôn chủ động mở cuộc tấn công. Khi quân mạnh thì họ tấn công, khi họ suy yếu hay mệt mỏi thì họ rút lui về hậu cần để nghỉ ngơi, để an dưỡng và tái phối trí.

Bên phía chúng ta, dân chúng Mỹ đã chờ đợi quá lâu mà không thấy ánh sáng cuối đường hầm, họ đã mất kiên nhẫn. Họ đòi hỏi phải có chiến thắng huy hoàng, một điều không thể nào thực hiện được trong tư thế hoàn toàn bị động của chúng ta. Tinh thần quân lính xuống thấp vì họ bị buộc phải chiến đấu với đôi tay bị trói sau lưng. Mặc dù sự thật là địch đã bị đánh bại và tổn thất nặng nề, cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã là một chiến thắng vẻ vang cho phe địch. Dù thua trên trận địa chiến, họ đã thành công trong việc chia rẽ chính quyền và quần chúng Hoa Kỳ, một yếu tố quan trọng trong chiến lược và đem lại khích động tối đa cho các phong trào phản chiến.

Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài đã trực tiếp điều khiển cuộc chiến qua hàng ngàn dặm đường, đã chỉ thị những chính sách mâu thuẫn với những quyết định không ngừng đưa đến sự lúng túng của các đơn vị trưởng ngoài mặt trận. Việc ra lệnh trải bom B-52 của Tổng Thống Nixon lúc gần cuối cuộc chiến đã quá trễ và quá ít. Điều này chỉ dùng vào một mục đích duy nhất là ép buộc cộng sản phải ngồi vào bàn hội nghị tại Paris để Hoa Kỳ có thể sửa soạn một cuộc rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự. Sau vụ Watergate, Hoa Kỳ như con thuyền không lái. Việt Nam đã bị bỏ rơi, trôi theo dòng định mệnh. Sự rã ngũ của Tháng Tư năm 1975 là một kết thúc không thể tránh đuợc. Điều chúng ta tiếc nuối nhất là nó đã kết thúc trong nhục nhã và bi đát.

Thưa các bạn,

Các sỹ quan QK5, Vùng 3 Hải Quân và Không quân tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp Mỹ trên tàu USS George Washington. Ảnh: nhận được từ thân hữu ĐCV

Tham nhũng và khả năng chiến đấu của quân đội Nam Việt Nam là một trong những lý do được lý giải đưa đến sự thất trận. Dĩ nhiên là có sự tham nhũng ở Việt Nam. Nhưng xin các bạn hãy nêu lên tên của một quốc gia nào mà không có tham nhũng, kể cả những quốc gia dân chủ và xã hội tân tiến nhất. Vẫn biết rằng vì chiến tranh và nghèo đói, mức độ tham nhũng ở Nam Việt Nam có cao hơn mức độ trung bình của quốc tế, nhưng hãy cho phép tôi mở một dấu ngoặc ở đây để thông báo rằng cũng từ ngày làm chủ lãnh thổ Việt Nam thì cộng sản đã tự biểu lộ cho thấy họ cũng hăng hái trong trò chơi tham nhũng này. Ý chí chiến đấu của quân đội Nam Việt nếu các bạn nhìn vào đời binh nghiệp của tôi như một điển hình, các bạn sẽ thấy rằng những chiến công của tôi cũng không thua gì những quân nhân của các nước khác. Phải nói rằng đa số chiến hữu của tôi đều có một tinh thần chiến đấu cũng cao như tôi. Hãy nhìn vào con số thống kê các quân nhân tử trận, những người lính chiến đấu đã hy sinh trong suốt 25 năm chiến tranh, các bạn phải công nhận họ là những người xuất chúng nhất của chúng ta. Rất tiếc là họ đã không được dùng và được yểm trợ đúng mức, và họ đã bị bỏ rơi một cách nhục nhã.

Một vài nhà trí thức tự do thường chỉ trích chế độ Nam Việt là một chế độ độc tài quân phiệt. Thế kỷ vừa qua là một thế kỷ của quyền lực thực sự cai trị. Tất cả sự khác biệt về chủ thuyết và kinh tế  đều được giải quyết bằng vũ lực. Sức mạnh của quân đội là một điều cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền, tự do, độc lập của một quốc gia. Ngoại trừ những nước tiên tiến đã có một quá trình dân chủ lâu dài, một đời sống hòa bình và thịnh vuợng, tất cả những nước nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá của Thế Giới Thứ Ba đều sống dưới một chế độ ảnh hưởng bởi quân đội cả.

Nam Việt Nam cũng không đi ra ngoài biệt lệ đó. Muốn Việt Nam vừa chống chiến tranh xâm luợc vừa xây dựng Dân Chủ là một điều không thực tế. Xây dựng dân chủ ở Tây phương, Anh quốc và Hoa Kỳ cần phải tranh đấu đến hàng trăm năm. Nhưng người Việt Nam chúng tôi chỉ có thể xây dựng dân chủ sau khi hoàn tất hòa bình và độc lập. Cho dù có hoàn tất đi chăng nữa thì dân chủ cũng không thể có ngay lập tức, mà phải xây dựng từng giai đoạn một để hòa nhịp với nếp sống văn hóa, xã hội và kinh tế của mỗi nguời dân. Chỉ trích Nam Việt Nam đã không xây dựng được một chế độ dân chủ để rồi lấy đó làm cái cớ để bỏ rơi Nam Việt Nam là một sự phản bội phũ phàng đối với một đồng minh đã đặt niềm tin vào lời nói của Hoa Kỳ.

Năm 1968, khi lực lượng cộng sản chọn ngày Tết để tổng tấn công vào những thành phố chính của Miền Nam, khi mà những nguời lính Nam Việt Nam bị bao vây và bị tràn ngập, họ đã kêu gọi các lực lượng đồng minh Hoa Kỳ đến yểm trợ hỏa pháo và phi pháo, thì những người Việt Nam chúng tôi chỉ gặp phải những lời giải thích bí ẩn bảo rằng không có một phi cơ hay trọng pháo nào sẵn sàng, hoặc là đơn vị cần phải chờ lệnh của thượng cấp. Khi đó tôi có thể nhìn ra từ phía nhà tôi, và thấy rằng hàng dãy phi cơ khu trục của Hoa Kỳ nằm án binh bất động. Tại sao đồng minh chúng tôi lại không tiếp cứu chúng tôi tức khắc khi chúng tôi kêu cứu? Chỉ có một điều để giải thích cho sự việc này là, có một nhân vật cao cấp nào đó trong chính phủ của Hoa Kỳ đã can thiệp vào vụ tấn công này, muốn nó sẽ thành công đến một mức độ mà nhà cầm quyền Nam Việt phải nhượng đất cho “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, một cánh tay của quân xâm lăng Bắc Việt.

Trong thời gian Hòa Đàm Paris, ông Đại Sứ Mỹ Averell Harriman đã nhấn mạnh rằng “Mặt Trận Giải Phóng” phải được ngồi ngang hàng với Nam và Bắc Việt Nam. Ông ta đã từ chối không nghe lời phản đối của chính quyền chúng tôi.

Thưa các bạn,

Khuôn mẫu của Hoa Kỳ là tự do, cơ hội học vấn và kinh tế tài chính, là lối sống, là sự giàu sang và hoàn mỹ của một quốc gia và dân tộc đã đưa đến sự ganh tị trong các nước văn minh. Ngày nay, ở Việt Nam, con cháu của những người đã một thời chống Mỹ cách đây hai thập niên, tất cả đều yêu chuộng mọi điều thuộc Mỹ quốc. Cách đây vài năm, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã viếng thăm Việt Nam, đã được quần chúng đón chào và ngưỡng mộ. Khi Tổng thống Bill Clinton viếng thăm Việt Nam cách đây hai năm, mọi nguời dân từ Nam chí Bắc đều chen chúc nhau để được nhìn thấy ông. Bởi vì cho dù những nhà lãnh đạo ở Việt Nam có tuyên bố gì trong quá khứ đi chăng nữa thì đại đa số nguời dân Việt Nam (hiện giờ là 83 triệu) đều theo Mỹ cả. Hoa Kỳ tượng trưng cho một đời sống tốt đẹp hơn, cơ hội và hy vọng. Điều mà tất cả những nguời lính Hoa Kỳ và Nam Việt Nam trước kia đã chiến đấu để mang lại cho đất nước chúng tôi. Sự niềm nở đón tiếp ông Clinton hay những người Mỹ khác cũng vậy, là một bằng chứng cụ thể rằng những người chiến đấu cho dân chủ và tự do đã đứng ở phía chính danh.

Vì thế tôi muốn nói hôm nay với những cựu chiến binh Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Thái, Nam Hàn và tất cả những người đã ủng hộ cho cuộc chiến vì tự do của chúng tôi, chúng ta không có gì để mà xấu hổ. Với ba mươi năm dưới sự cai trị tồi tệ của Đảng Cộng Sản đã chứng tỏ là chúng ta chống chế độ cộng sản là đúng. Do đó, chúng ta hãy bỏ qua mặc cảm tội lỗi, cái gọi là “Hội Chứng Chiến Tranh Việt Nam” và tự hãnh diện về chúng ta và những cố gắng của chúng ta. Thế giới đã thay đổi rất nhiều trong thập niên vừa qua. Những nước theo cộng sản ở Đông Âu đã từ bỏ chủ thuyết Mác-Lê và du nhập những nguyên tắc kinh tế thị trường vào kinh tế của quốc gia mình.

Tập đoàn cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam đã qui tiên rồi:  “Hồ Chí Minh đã mất, Phạm văn Đồng đã đi, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Chí Công đã mất. Ngay cả những nhà lãnh đạo cuộc chiến chống họ như ông Richard Nixon và ông Lyndon Johnson đều đã mất. Những nhà lãnh đạo Miền Nam như ông Ngô Ðình Diệm đã qua đời. Ông Nguyễn văn Thiệu đã chết. Ông Dương văn Minh cũng đã chết. Riêng chỉ còn mình tôi. Tôi là người cuối cùng. Và tôi muốn nói rằng đây là lúc mà thế hệ của tôi gọi là “nguời Việt chống Cộng” hãy bỏ quên đau buồn và thù hận để nhường buớc cho thế hệ trẻ hơn, những con em của chúng ta, có cơ hội mang người Việt Nam xích lại với nhau. Đây là thời điểm mà thế hệ của tôi nên chấm dứt kêu gọi hận thù.

Giống như hầu hết những người Việt chống Cộng khác, tôi là một chiến sĩ. Tôi chiến đấu hết mình và tôi rất hãnh diện về những điều mà tôi đã hoàn thành trong thời chiến. Tôi rất thương tiếc những đồng đội can đảm của tôi đã chết cho chính nghĩa tự do. Và tôi cũng thấu hiểu những anh chị em đã chịu đựng sự đau khổ dưới chế độ cộng sản. Tôi hiểu rằng họ đã chịu đựng nỗi khổ đau của cái gọi là trại tù cải tạo, rằng họ đã mất đi người thân, mất đi tự do cá nhân, mất đi cả nhà cửa và tài sản.  Điều này thật bất công và đau đớn. Nhưng quá khứ đã qua. Chúng ta giờ đã quá già, tương lai Việt Nam không còn trông cậy vào chúng ta nữa. Hãy để cho thế hệ trẻ tự tìm ra hướng đi về tương lai mà không phải mang gánh nặng tạo ra bởi cha ông chúng. Đây là thời điểm để cho thế hệ chúng ta ngưng rao giảng sự thù hận và cay đắng. Có lợi gì để tranh cãi ai đúng, ai sai?

Do đó hôm nay tôi muốn nói, chúng ta, những người đã già, hãy bỏ qua một bên những sự thù hận. Nếu chúng ta không thể tha thứ thì chúng ta hãy quên đi. Chúng ta hãy để cho một thế hệ mới tự đi tìm con đường của họ, bởi vì Việt Nam sẽ chỉ phát triển khi có sự đoàn kết. Việt Nam đã đến lúc cần phải có những quyết định dứt khoát. Trung Hoa dường như muốn biến đất nước chúng ta thành một thuộc địa về kinh tế, một nguồn cung cấp tài nguyên, một thị truờng cho các hàng tiêu thụ. Việt Nam sẽ phải quay sang Trung Hoa vì đó là nguồn gốc của đa số di sản văn hóa hay là thiết lập một bang giao bền vững với Hoa Kỳ dựa trên mô thức của sự tương kính và hỗ tương quyền lợi kinh tế mà vẫn giữ được độc lập? Điều mà những thường dân mong muốn rất rõ ràng qua sự đón chào thân thiện với du khách Mỹ. Bây giờ mọi nguời đã biết là nguời Cộng Sản Việt Nam đã chết.

Đồng bào chúng tôi muốn bắt chước như Nam Hàn, Singapore, Đài Loan và Hồng kông. Họ muốn biến Việt Nam thành một tiểu long th̗ứ năm. Điều đó không phải dễ. Việt Nam phần lớn vẫn là một quốc gia nông nghiệp, vẫn cần sự giúp đỡ phát triển hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Vấn đề tham nhũng vẫn tồn tại, mặc dầu cuối cùng thì chính quyền Hà Nội cũng đã nhận thức đuợc điều gì phải làm để thanh lọc và giảm thiểu tham nhũng đến mức bình thường được quốc tế chấp nhận. Tôi tin tưởng rằng sự thay đổi của nền kinh tế và cơ chế của Việt Nam đã bắt đầu.

Sự hồi sinh kinh tế Việt Nam đã bắt đầu để có thể khuyến khích những người tị nạn trở về. Hơn ba triệu người trong chúng ta, hai phần ba ở Bắc Mỹ. Nếu so sánh với một người Việt Nam trung bình ở quê nhà thì chúng ta có kiến thức và nhiều khả năng chuyên môn hơn. Có nguời cho rằng giới trẻ sinh ra ở đây hay đã rời xa quê hương lúc còn nhỏ sẽ không muốn từ bỏ nếp sống thoải mái ở Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp hay Úc. Nhưng tôi tin rằng có rất nhiều bạn trẻ mong muốn giúp nuớc nhà phát triển. Bao năm qua, tôi đã đi tới nhiều nơi trên đất Mỹ, gặp gỡ và thăm hỏi nhiều bạn trẻ, đã cho họ biết rằng họ là rường cột của tương lai Việt Nam, rằng đất nuớc cần đến khối óc và bàn tay của họ. Và tôi cũng vui mừng thông báo cùng các bạn là trong số những nguời trẻ mà tôi có dịp nói chuyện, nhiều người cũng có lòng yêu nuớc không kém ước vọng cá nhân, họ sẽ trở về quê nhà khi thấy có cơ hội để áp dụng sở trường của họ.

Những nguời Hoa Kỳ đến Việt Nam để tìm môi trường buôn bán sẽ nhận thấy một tình thế khác hẳn thời gian những quân lính đến vì chiến tranh. Họ sẽ không còn là những “Anh Hai” đến để giúp chiến đấu. Họ sẽ là những cổ phần viên, những nhà thầu. Nhưng để xây dựng cây cầu nối lại những hiểu lầm không thể tránh được giữa Đông và Tây sẽ là những người trẻ Việt Nam sinh trưởng hay theo Đại Học tại Hoa Kỳ. Trong vòng mười, mười lăm năm nữa, hầu hết những công ty thương mại thành công sẽ được quản trị bởi những người có kiến thức và tư duy theo kiểu Mỹ.

Tôi rất lạc quan về thế hệ lãnh đạo Việt Nam kế tiếp. Bây giờ thì Hiệp Uớc Thương Mại đã được phê chuẩn. Sự giao thiệp giữa hai quốc gia đã gia tăng. Những viên chức của Đảng Cộng Sản đã viếng thăm Mỹ quốc, tiếp xúc với nhiều người Mỹ, tôi tin tưởng rằng họ sẽ sớm thay đổi những điều luật kinh tế đã hạn chế Việt Nam mấy chục năm nay. Vì thể chế chính trị được xây dựng trên nền tảng luật lệ kinh tế, thay đổi luật lệ chính trị sẽ theo sau, việc quốc doanh nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản. Hậu quả sẽ lung lay tới mọi giai tầng xã hội, kể cả tư pháp và lập pháp. Hiện giờ đã có những chuyên gia và doanh gia hăng hái tham dự vào những quyết định hàng ngày của chính phủ. Một khi Việt Nam đã theo đường hướng tư bản, thì dân chủ và luật lệ sẽ đi theo. Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam kéo dài chưa đầy năm mươi năm, nhưng khi chúng ta nhìn lại Việt Nam với bốn ngàn năm văn hiến thì sẽ thấy năm mươi năm chỉ là một nháy mắt. Tuy tôi không còn là một thanh niên, nhưng sức khỏe vẫn còn tráng kiện, hy vọng sẽ sống thêm nhiều năm nữa. Tôi muốn sống để nhìn thấy một nước Việt Nam tái sinh. Xin tất cả cá bạn giúp một bàn tay để điều này thành sự thật.

Thưa các bạn,

Để kết luận, cho phép tôi được nói là tôi rất sung sướng được hiện diện ở đây. Tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Tôi đã chiến đấu bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ và đã cùng đổ mồ hôi, máu và nuớc mắt với nhau. Tôi lấy làm vinh dự được chia sẻ những nỗi vui, buồn của những nhà lãnh đạo đáng kính của quí quốc. Trong suốt hai mươi bảy năm sống đời tị nạn, tôi đã từng làm việc mười bốn tiếng một ngày trong một tiệm rượu, và tôi cũng đã từng là một ngư phủ sống trên biển hàng tuần để câu tôm cá. Tôi đã thấy các con tôi trưởng thành và tự lập và tôi cũng đã qua bao thăng trầm của cuộc sống. Điều an ủi lớn nhất trong đời tôi là lần đầu tiên ở nơi đất khách, dù trong hoàn cảnh nào, tôi luôn luôn được người Mỹ đón tiếp nồng nàn. Nước Mỹ đã cưu mang tôi và gia đình tôi trong suốt hai mươi bảy năm yên lành trên một đất nước thịnh vượng và hoàn mỹ nhất thế giới. Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của tôi. Tuy nhiên, tôi quyết định một ngày không xa, tôi sẽ trở về chôn nhau cắt rốn, được sống và chết nơi quê nhà. Xin cảm ơn lòng tốt và bao dung của các bạn và nhân dân Hoa Kỳ. Thay mặt tất cả những người Việt Nam, tôi xin đa tạ 58 ngàn người Mỹ đã hy sinh bỏ mình cho tự do của dân tộc tôi. Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn hàng triệu người đã quên thân mình cho dân tộc tôi, những người đã gác bỏ ước vọng riêng tư để giúp đỡ những người khốn cùng mà không mong được trả ơn. Cảm ơn lòng can đảm, lòng vị tha và bao hy sinh đau đớn của các bạn.

Năm nay tôi đã 72 tuổi (năm 2003), một người lính già. Và như Douglas McAthur, một trong những danh tuớng của các bạn đã nói: “Người lính già không bao giờ chết, họ sẽ dần dần mờ nhạt đi thôi”. Trong những năm tháng còn lại, người lính già này luôn hướng về Việt Nam, quê cha đất tổ. Tôi xin dâng hiến phần đời còn lại để phụng sự cho quê mẹ và cho dân tộc tôi mà không có một tham vọng nào và không đòi hỏi một sự báo đáp nào. Tôi kêu gọi các bạn, nhất là các chiến hữu Hoa Kỳ của tôi, hãy giúp sức xây dựng một nhịp cầu thân hữu nối lại giữa hai quốc gia. Sự yêu thương hay thù hận hãy quên đi. Thù hận phải được thay thế bằng tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Cám ơn sự theo dõi của các bạn. Và bây giờ tôi xin trả lời các câu hỏi.

Người dịch:  Nguyễn Lệ Hà

Speech by Gen Nguyen Cao Ky, 13 Jun 2003

Students, faculty, administrators and staff, I thank you for this opportunity to share a few thoughts. I am particularly indebted to President Martha Kanter and to Dean John Swensson for your kind invitation to speak today.
Twenty-seven years ago last April, after 20 years of heroic resistance, South Vietnam fell to the enemy. Much has happened since. Many of you were not yet born-but those who still recall that dark day, those to whom over the years time has added lines to your faces and gray to your heads, who served through those difficult times with honor-you have not lost the dedication to liberty inspired by your high ideals. You have matured, and the sacrifices and passions of your youth have given way to the rewards and responsibilities that accompany your positions of esteem in American society. As for me, as you can see, I am no longer wearing my purple scarf, my flight suit, my six-shooter. I have put them all away at the bottom of my trunk, memorabilia of a time past.
If the war has faded into history, democracy’s defeat in Vietnam has left deep marks in the consciousness of both nations. The questions asked since 1975 have yet to bring satisfactory answers. How could an alliance of the 25 million people and armed forces of South Vietnam with the colossal American political, economic and military apparatus, along with the forces of other allied nations, have been defeated by the small, impoverished people and army of North Vietnam?
Today I will offer my own answers to those questions.

LADIES AND GENTLEMEN:

American history books postulate that the war was lost because it lacked legitimacy, because of corruption in the government and armed forces of South Vietnam, because of the cowardliness of South Vietnamese troops, because America abandoned South Vietnam, and so forth. None of these, however, is accepted as definitive.
I say to you now: We lost the war for two reasons: Because of the ill-conceived, unequal, and often condescending relationship between the United States and South Vietnam.
And because our overall strategy was defensive war, a strategy that by itself would have led to failure and eventual defeat.
And how did this happen, exactly? As someone born and raised during that war, one who participated in and led it, who has witnessed and shared in the sufferings of his country and of his people, I will attempt to present as objectively as I can the facts and observations that lead me to such a bold statement. Tonight, as difficult as it may be to face them, you will hear facts that you have not heard before, and I trust you will share my conclusions.
LADIES AND GENTLEMEN:

After the 1954 Geneva international conference, Vietnam was divided into two parts. On paper, North and South Vietnam were twin countries born at the same moment. Compared to the sophisticated North, however, the government of South Vietnam was a very young and innocent sibling. To explain: Many years prior to the partition, through participation in a series of international conferences, and by pursuing a guerrilla war against a European power, the Hanoi leadership had demonstrated that they were a formidable political reality.

Through leadership of the fight against French colonialism, Ho Chi Minh had made a name for himself in the international political arena. The Hanoi government took power with a record of resistance against the colonialists and of struggle for national independence.
Claiming to be the liberators of the people, the North Vietnamese enjoyed from the beginning the admiration and sympathy of the majority of the Third World’s non-aligned nations, which suffers from “oppressed peoples’ complex” and are naturally against such mighty and wealthy countries as France and the United States.

Furthermore, the North Vietnamese had the full support of the two communist superpowers-the Soviet Union and Communist China-and this gave them absolute confidence in their final victory.
I would like to dwell a little on that support. We all know that without the massive assistance of the communist superpowers, North Vietnam could not have prolonged its war of invasion for so many years. But the Soviet Union and Communist China were very quiet about their aid. Indeed, during the entire war, no Soviet or Chinese official made any statement that sounded like instructions or smacked of interference in the internal affairs of North Vietnam. Quite the contrary.  North Vietnamese leaders were always pushed into the international limelight, presented as nationalists, as patriots, as fighters in a noble cause, seeking to overthrow colonialists and imperialists, and to liberate the oppressed people of Vietnam.
When they were later revealed as Marxist-Leninists, the Hanoi regime lost some sympathy around the world, but continued to benefit from lingering admiration. If they no longer had a just cause-the expulsion of a colonial power-they maintained the appearance of legitimacy because they had no significant political opposition. They had none, because they had taken great pains to eliminate it.
In the South, however, things were very different. South Vietnam had to be built from scratch and, from the very beginning, depended far too much on the Western superpowers. As in the case of a person on public welfare, this dependency, which became greater with each day, was quite difficult to shake.
During the Fifties, political and military activities in Vietnam were heavily influenced by the French, who as recent colonial masters, made all-important decisions. The French installed as the first head of state Bao Dai, last emperor of the Nguyen dynasty that ruled  Vietnam when it was under French domination. All the men selected to assist Bao Dai had a past that was closely linked with the French colonial era. They had no support among those they governed.
Only with the advent of Mr. Ngo Dinh Diem did South Vietnam have a worthy regime and a dignified leadership. It is regrettable that within a few short years, as power corrupts, the South Vietnamese regime deteriorated into a family dictatorship. But it was no match for the dictatorship of the communist party in the North. At a time when the French influence was fading and when the American presence was directly affecting even day-to-day decisions in South Vietnam, a stubborn radical nationalist like Mr. Diem was bound to be overthrown.
LADIES AND GENTLEMEN:

The relationship between the US and South Vietnam never appeared to be a partnership between equals. Instead, our struggle for freedom and independence became “Mr. Johnson’s War.”
From its inception, South Vietnam was only considered to be an outpost in the war against communism. Our fight for freedom was a noble undertaking, but we committed a major political blunder because we did not give top priority to explaining to the American and Vietnamese people that this was not a civil war between the government and rebels in South Vietnam, but a blatant invasion of the country of South Vietnam by another country, a country called North Vietnam.
By the mid-sixties, the United States had poured more than half a million troops into South Vietnam.  Tens of billions of dollars had been spent for military expenditures and economic assistance, and even larger sums were earmarked. The American presence was felt in every field activity, at every level of government. Even the top leaders of South Vietnam, including the President, were each assigned a special advisor. The American presence and influence were strikingly blatant. So much so that the Vietnamese man in the street referred to the US Ambassador as the Governor General, as the French had called their top colonial official.

The influence of the American media and politicians was even more devastating. Always emphasizing the role of the Americans in Vietnam, they transformed the Vietnam war into a conflict between the United States and North Vietnam, relegating the people, the government and the armed forces of South Vietnam to a subordinate role. This situation was further misrepresented by the propaganda machine of international communists. The government of South Vietnam thus became, in the eyes of the peoples of Vietnam and of the world, a puppet regime serving the interests of American imperialists.
Consequently, although our cause was just, we never acquired the appearance of legitimacy necessary to win the hearts and minds of the people, an essential ingredient of victory.
LADIES AND GENTLEMEN:

We all know that in war the political and military factors have to complement each other.  This was particularly true in Vietnam. We were not only politically at a disadvantage, but we also committed a basic blunder in military strategy when we chose to fight a limited and defensive war.
The might of the US Air Force and US Navy was not used in lightning attacks to  force the enemy to his knees, as it was in Afghanistan and in the Gulf War. America did not unleash its vaunted Strategic Air Force or its massive Seventh Fleet to destroy enemy bases, to interdict their lines of supply on land and sea, to blockade enemy ports.
By fighting a limited, defensive war, America permitted the enemy to endlessly re-supply their field armies. American politicians were afraid that the Chinese might intervene and create another Korean war.  The US was and is the world’s leading naval power, but, fearing to offend the Soviets, failed to blockade Haiphong.  A river of munitions flowed through that port to be used against South Vietnam and its allies.
Long before America decided to quit the war, I realized that this would be the inevitable result of America’s lack of commitment to victory. I offered to lead a South Vietnamese attack on North Vietnam, which was defended by a single division of regular troops. All I required from the US was air support, and that US troops already in my country would defend population centers. My purpose was not to conquer, but to force Hanoi to withdraw its divisions from the South in order to defend the North, and thus to bring about genuine peace negotiations.
You and I may not be brilliant strategists, but we should all know that the best defense is a good offense. Moreover, even our defense was passive. So-called “Search and Destroy” operations were kept within our borders. Enemy territory was always a safe rear base. The enemy also used neighboring Laos and Cambodia to establish lines of communication, supply bases, recuperation centers for their troops. The enemy general staff had adopted a plan of action calling on them to always take the initiative. When their troops are strong, they would attack, but when they were tired and weak they would withdraw to their rear bases to rest, recuperate and regroup.
On our side, because the American people had waited too long without seeing the light at the end of the tunnel, they became impatient. They demanded glorious military victories, an impossible achievement in view of our totally defensive posture. Troop morale plunged because they were asked to fight with their hands tied behind their backs. In spite of the fact that they were beaten back and suffered great losses, the Tet offensive of 1968 was a major enemy victory.  Even though they lost on the battlefield, they accomplished an essential strategic objective by breaking the resolve of the U.S. government and American people, and giving maximum impetus to the anti-war movements.
The White House and the Pentagon directly conducted the war from thousands of miles away, issuing contradicting policies with ever- changing directives that created confusion in commanders at the front. The B-52 carpet bombings ordered by President Nixon toward the end came too late and were too short-lived. They served only to pressure the Communists to come to the Paris peace talks so that America could prepare for an honorable withdrawal from Vietnam.   After Watergate, America was a ship without a rudder. Vietnam was left to its own devices, drifting along towards its fate. The disintegration of April 1975 was an unavoidable conclusion. Our only regret and sorrow was that that ending was shameful and tragic.

LADIES AND GENTLEMEN:

Among the reasons apologies have advanced to explain the defeat was the corruption and the fighting capability of the troops in South Vietnam. Of course there was corruption in Vietnam. But please name one country, including the most democratic and the most advanced societies, where there is no corruption to take its toll. I recognize, however, that due to the war and poverty, the degree of corruption in South Vietnam was somewhat above the international average.  But allow me to open a parenthesis here and report that, since taking over the control of all Vietnam, the Communists have shown themselves quite adept at the game of corruption.
Concerning the will to fight of the South Vietnamese troops, if you take my military career as typical for most of the fighting men of South Vietnam, you will find that my achievements will compare favorably to those of any other military man in any other country.   I must say that the majority of my comrades-in-arms have the same spirit and the same fighting capability as I do. Look at the number of our soldiers killed in action. Consider the privations and the sacrifices of these South Vietnamese fighting men during 25 years of war, and you will have to recognize that they were our best and brightest. It’s too bad that they were not used and supported adequately, and that they were shamelessly abandoned.
LADIES AND GENTLEMEN:

Some liberal intellectuals used to criticize the South Vietnamese regime as a military dictatorship. The century just past is one in which sheer force always ruled. Every economic or doctrinal difference had to be resolved by force. Military strength is necessary to protect sovereignty, the freedom and independence of a country. With the exception of those advanced countries that had a long democratic tradition and were lucky to live in peace and prosperity, all the poor, backward, war-torn countries of the Third World lived under the direct influence of the army.
South Vietnam was no exception. To insist that Vietnam fight a war while at the same time building democracy was impractical. Building democracy in the West, in England and then in the United States, took centuries of struggle. We Vietnamese could only begin to build democracy after achieving peace and independence. And even then, democracy could not be achieved overnight, but must be built in stages and in harmony with the cultural, social and economic traditions of each people. To accuse South Vietnam of not establishing a democratic regime and to use that as an excuse for abandoning South Vietnam was a blatant betrayal of a trusting ally that had put all his faith in the word of America.
In 1968, when the communist forces chose the Lunar New Year, known as Tet, to launch a coordinated attack against major South Vietnamese cities, beleaguered and outnumbered South Vietnamese defenders called upon neighboring US forces for fire support, for air support, for troop support. We Vietnamese were met with cryptic explanations that no aircraft or artillery were available, or that the unit had to wait for instructions from high headquarters. I could look out of my house at this time and see rows of US fighter-bombers parked in revetments. Why did our allies not come to our aid immediately? There can be only one explanation, and that is that someone, high in the US Government, anticipated this attack, and wanted it to succeed to the degree where South Vietnam would have to cede territory to the NLF, which, as history has shown, was merely an arm of the North Vietnamese invasion force.
Nevertheless, during the Paris Peace Talks US Ambassador Averill Harriman insisted that the NLF be seated at the negotiating table as an equal to South Vietnam and North Vietnam. He refused to listen to my government’s pleas.
LADIES AND GENTLEMEN:

The idea of America – its freedom, its financial and educational opportunities, the lifestyle, wealth and beauty of the country and its people, remains the envy of the civilized world. In Vietnam today the sons and daughters of those who fought against American soldiers for two decades love everything American. Over the last few years, tens of thousands of American veterans have visited Vietnam and encountered a populace that welcomes and admires them.

When President Bill Clinton visited Vietnam two years ago, Vietnamese from Hanoi in the north to Saigon in the south turned out in droves, eager for even a glimpse of him. Because whatever Vietnam’s leadership may have said in the past, the great masses of Vietnamese people, now numbering 83 million, are for America. The US represents a better life, opportunity, hope – everything that American and South Vietnamese soldiers fought to bring to our country so many years ago. The tremendous outpouring of affection for Mr. Clinton, no less than for all Americans, is proof that those who fought for freedom and democracy were on the right side.
Therefore I say today that the veterans of that lost war, Vietnamese and Americans, Australians and New Zealanders, Thais and South Koreans and all the others who supported our fight for freedom – we have no cause for shame. Thirty years of misrule prove conclusively that we who opposed the Communist regime were right!
So, let us each now put aside our feelings of guilt, the so-called “Vietnam War Syndrome,” and be proud of ourselves and our efforts.
The world has changed a lot in the last dozen years. The formerly Communist nations of Eastern Europe have renounced Marxist dogma and adopted free market principles in their national economies.  And the communist cadres who ran Vietnam for decades now sleep with their ancestors.  Ho Chi Minh is gone. Pham Van Dong is gone. Truong Chinh, Le Duan, Vo Chi Cong – all dead.
And so are the American leaders who fought them: Mr. Richard Nixon and Mr. Lyndon Johnson – both gone.   Of the leaders of the South, Ngo Dinh Diem is gone. Nguyen Van Thieu passed from this world. Duong Van Minh is gone.

Only I remain. I am the last.
And I say that it is now time for the so-called anti-Communist Vietnamese, my generation, to let go of our pain and anger, to allow the younger generation, our sons and daughters, to have their chance to bring Vietnam together. It is time for my generation to stop preaching hate and bitterness.
Like most of the old Anti-Communists, I am a fighter. I fought hard, and I take pride in what I was able to accomplish during the war.

I still mourn my brave comrades who died fighting for freedom. And so I understand how my brothers and sisters suffered under Communism. I know that they endured the agonies of the so-called re-education camps, that they lost loved ones, lost their personal liberty, lost their homes and property.  It was unjust. It was humiliating. It was painful.
But our time has passed. We are now too old; the future of Vietnam no longer depends on us. It is only right that the new generation find their path to the future without having to carry the heavy burdens created by their parents. So it is time for my generation to stop preaching hate and bitterness. What is the point in arguing now about who was right and who was wrong?
So I say today, let us older people put aside our own feelings of pain and anger. If we cannot forgive, then let us forget.  Let us allow the new generation to find its own way, because Vietnam will realize its potential only through unity.
Vietnam now approaches a crossroads. China seems to want to turn my country into an economic colony, a source of raw materials, a market for its manufactured goods. Should Vietnam turn toward China, source of much of its cultural heritage, or, by establishing an enduring partnership with America based on a new paradigm of mutual respect and shared interests, remain independent?
What most ordinary Vietnamese want is very clear from the friendly reception given to visiting Americans.
Now everyone knows that Vietnamese Communism is dead. The business of Vietnam is now business. My countrymen want to emulate South Korea and Singapore, Taiwan and Hong Kong. They want to turn Vietnam into the fifth Small Dragon.
This is not an easy task. Vietnam remains a largely agrarian nation that still needs to develop a modern infrastructure. The problem of corruption remains, though it appears that at long last the Hanoi government realizes what must be done to clean its house and reduces corruption to internationally accepted norms. I am confident that the transformation of Vietnam’s economy and institutions have already begun.

Vietnam’s economic rebirth has already begun to encourage many exiles to return. There are more than three million of us, two-thirds in North America, and compared to the average Vietnamese we are better educated and have superior skills.
While some worry that the younger generation, those born in exile or who left Vietnam as small children, may not want to give up comparatively easy lives in the US, Canada, France and Australia, I believe that many will want to help develop the land of their fathers. I have crisscrossed America for years, meeting and spending time with this younger generation, telling them that they are important to the future of Vietnam, that the country needs their brains and their hard work. And I am happy to report that among those with whom I have spoken, many young Vietnamese, motivated by patriotism no less than personal ambition, will return to their homeland when they see ways to employ their skills.

Americans who come to Vietnam to pursue business opportunities will find a much different situation than the soldiers who came during the war. They will not be big brothers come to help fight. They will be partners, contractors. Helping to bridge the inevitable misunderstandings between East and West will be the generation of Vietnamese born or educated in America.  In ten or fifteen years, most successful Vietnamese enterprises will be run by those who have learned American techniques and American thinking.
I am optimistic about the next generation of Vietnamese leaders. Now that the trade agreement is ratified, there has been a sharp increase in contacts between the two countries.  As Communist Party officials see more of America and meet more Americans,  I am confident that they will see the wisdom of moving Vietnam toward the West. I believe that they will soon change the economic rules that have limited Vietnam for decades.
Because political systems are built on a foundation of economic rules, changes in political rule will follow as state ownership gives way to private capitalism. The effects will ripple through every corner of society, including the courts and the legislature. Already, bright technocrats and entrepreneurs have begun to make the day-to-day decisions of government and business. Once Vietnam embraces capitalism, democracy and the rule of law will follow.
Communism in Vietnam lasted less than 50 years. When you consider that Vietnamese culture is thousands of years old, that half-century is really not much more than a temporary pause, the blink of an eye. If I am no longer a young man, my health is good and I expect to live many more years. And so I believe that with the help of America, I will live to see Vietnam reinvent itself.  I invite you to all to find ways to make that possible.

LADIES AND GENTLEMEN:

In conclusion, allow me to say that I am very happy to be here meeting with you. I was born and grew up during war. I have fought alongside American fighting men and women, and together with them I have shed blood, sweat and tears. I have been privileged to share many joys and sorrows with the remarkable men who were the leaders of your country. During my 27 years living in exile, I have worked years of 14-hour days in a liquor store, and I have been a fisherman who spent weeks at a time on the open sea to catch fish and shrimp. I have watched my children grow up and start their own families, and I have experienced enough ups and downs to last a lifetime.
My biggest consolation is that in what were at first alien surroundings, and under any circumstance, I have always been welcomed by Americans. You have accepted me and given me and my family 27 peaceful years in the wealthiest and most beautiful country in the world. Although I am determined to someday return to my homeland, and when my time comes, to return to the soil where my ancestors sleep, I accept America as my second home. I thank each of you for the abundance of kindness and courtesy that you and your countryman have extended.
And, on behalf of all Vietnamese, I thank the 58,000 Americans who so many years ago made the ultimate sacrifice in defense of my country’s liberty. I am equally grateful to the millions of others who risked life and limb for my country, who put aside careers and personal aspirations to come to the aid of desperate people that they did not even know. Thank you for your courage, your compassion, your many painful sacrifices.

I am 72 years old now, an old soldier, and as Douglas MacArthur, one of your most celebrated generals, has said, “Old soldiers never die, they just fade away.” In his fading years, this old soldier still yearns for Vietnam, the land of his ancestors. I offer the remaining years of my life to the service of my motherland and to my people without any ambition and without asking for anything in return. I am appealing to you and especially to my American comrades-in-arms, to try and build this bridge of friendship between our two countries. This love and hate affair has to end. Hate needs to be replaced with a new deep sympathy between our two people.
Thank you for your kind attention, and I will now take a few questions.

THE END

 

Former South Vietnam leader Nguyen Cao Ky dies

Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

By DAISY NGUYEN and SEAN YOONG; Associated Press
Published: 07/22/11 6:12 pm | Updated: 07/23/11
KUALA LUMPUR, Malaysia — Nguyen Cao Ky, the flamboyant former air force general who ruled South Vietnam with an iron fist for two years during the Vietnam War, died Saturday. He was 80.

Ky died at a hospital in Kuala Lumpur, Malaysia, where he was being treated for a respiratory complication, his nephew in Southern California told The Associated Press.

“He was in good health, but in the last couple of weeks he had been weak,” Peter Phan said. He said Ky split his time between his home in California and Vietnam.

One of Ky’s daughters, a prominent Vietnamese-American entertainer, told the AP in an email message that she was flying from Los Angeles to Malaysia to find out the exact cause of death.

One of his nation’s most colorful leaders, Ky served as prime minister of U.S.-backed South Vietnam in the mid- 1960s. He had been commander of South Vietnam’s air force when he assumed the post in 1965, the same year U.S. involvement in the war escalated.

He was known as a playboy partial to purple scarves, chic nightclubs and beautiful women. In power during some of the war’s most tumultuous times, he was a low-key but sometimes ruthless leader.

“It’s true that I did have absolute power when I was made premier,” he said in a 1989 Associated Press interview. “You may recall there was no congressional body in South Vietnam at that time. For more than two years, my word was the absolute law.”

From 1967 to 1971, he was vice president under his frequent rival, Gen. Nguyen Van Thieu.

When Thieu’s government in Saigon fell to North Vietnamese troops in 1975, Ky fled by piloting a helicopter to a U.S. Navy ship. He and his family eventually settled in the United States, where he led a quiet life largely away from politics. He made headlines in 2004 when he made a controversial visit back to his homeland, praising the communists, his former enemies.

Born in Son Tay province west of Hanoi in 1930, Ky grew up under French colonialist rule and became involved as a youth in the national liberation movement led by Ho Chi Minh.

He left the movement, however, when he fell ill with malaria. He eventually enlisted in the army, where he trained as a pilot and rose through the ranks during the French fight against the insurgency. He was one of the roughly 1 million who fled south following France’s defeat at Dien Bien Phu in 1954. The French withdrawal divided the country into the communist North and noncommunist South.

Ky rose steadily in South Vietnam’s fledgling air force and was chosen as prime minister by a junta of generals even though he had no political experience.

He was able to end a disruptive cycle of coups and countercoups that followed the assassination of Ngo Dinh Diem, whose repressive regime was overthrown by military generals in 1963.

But Ky proved overly optimistic about the U.S. prospects for victory.

In a New York Times interview in 1966, Ky said U.S. air strikes would “very soon” force the North to request a cease fire and said of U.S. Senate war critics: “They know nothing about Vietnam. … They just represent the minority.”

Saying he wanted to end corruption, Ky threatened to shoot merchants manipulating the country’s rice market. A businessman convicted of war profiteering was executed by a firing squad in March 1966; Ky attended the trial’s opening session.

During a Buddhist-led uprising in Da Nang that same year, Ky moved troops in and suppressed the demonstrators. He then placed the country’s leading Buddhist cleric and his most vocal critic, Thich Tri Quang, under house arrest.

In his memoir, Ky said he did not regret taking action in Da Nang despite efforts by Americans to use diplomacy. By crushing the revolt, he said, he helped prolong South Vietnam’s stability for a few more years, something he considered his biggest achievement.

“While I served as prime minister, I gave no American cause to suppose that I was their puppet,” Ky wrote in his 2002 book “Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam.”

But when it came time for the country’s presidential election in 1967, Ky yielded power to his longtime rival, Thieu, who at the time held the ceremonial post of chief of state. Ky served as Thieu’s vice president until 1971, when he was briefly a rival candidate to Thieu’s re-election as president.

He went on to watch Thieu preside over the fall of Saigon. Thieu was forced to step down as North Vietnamese troops closed in. He eventually left the country and died in Boston in 2001 at age 78.

“My biggest mistake was allowing the wrong man the opportunity to lead a guaranty of defeat,” Ky said in his book. “For this I beg forgiveness of those who fled into exile, of those who remained, and from those then unborn.”

Author Neil Sheehan, who won a Pulitzer Prize for his book on Vietnam, “A Bright Shining Lie,” told the AP in 1989 that Ky and Thieu were “corrupt Young Turks” who rose to power as U.S. involvement dramatically increased.

Ky flatly denied the characterization, saying, “If I had stolen millions of dollars I could live like a king in this country, but obviously I don’t live like a king. Believe me, I was a soldier fighting for freedom, not a politician interested in power and money.”

Ky made headlines in 2004 when, after 29 years in exile, he made a homecoming trip to Vietnam, dropping his vitriolic anti-communist rhetoric and calling for peace and reconciliation.

His decision to return was angrily condemned by some Vietnamese immigrant activists, who said the visit bestowed legitimacy on a corrupt government.

“What I’m trying to do now is help my country. I only have a duty to my country,” Ky told the AP when he visited Hanoi. “I have my record. No one can say I’m not patriotic.”

Ky, who was married three times, is survived by six children and, according to his memoir, 14 grandchildren. He had five children by his first wife, a French woman. He and his second wife, a Vietnamese woman, had a daughter, Nguyen Cao Ky Duyen, a prominent Vietnamese-American entertainer. He met his third wife while living temporarily in Bangkok.

Funeral plans were pending, according to family members.

https://hoangtran204.wordpress.com/2010/08/15/bai-noi-chuy%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-t%C6%B0%E1%BB%9Bng-nguy%E1%BB%85n-cao-k%E1%BB%B3-t%E1%BA%A1i-d%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-deanza-cupertino-california/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Bút Ký Đêm Cao Miên

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tưởng Năng Tiến

Lời thưa đầu: Cách đây đúng 13 năm (TNT viết bài này năm 2001), vào tháng 7 năm 1988, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái-Miên.

Mới đây, vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là V. H.) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã hy sinh, nhưng – vì hoàn cảnh – họ đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất.

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lại là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của «mìn hộp gỗ» -một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là «sân banh cộng sản». Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của «cầu thủ bộ đội» phải để lại nơi đây. Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửi thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị Phan Thị Trọng Tuyến: «…vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…»

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với «những mương tôm đầy tăm mặt nước…» – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều «kỳ diệu» là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc- tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Xô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự «không thể nào tin nổi» của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:
– Đây là bộ chỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt «tỉnh như ruồi» cùng với thái độ «ai tới đâu tui tới đó» và «muốn tới đâu thì tới». Hiện tại thì tôi đã «tới» Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa? Tôi vẫn giữ lập trường «ai tới đâu tui tới đó» nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng… Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchia có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

– Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi, trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắc chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:
– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Đất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện «bên chùa có chợ» được kìa? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ «nước đá». Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:
– Em sinh năm mấy ?
– 68.
– Như vậy là em vừa đúng hai mươi há?
– Dạ, tháng tới anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước.

Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là «chợ trời» nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và… lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giới hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ «chợ», chỉ thêm được chữ «trời», để mô tả một cách gắng gượng về cảnh “thị tứ” nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và… chấm hết!

Câu «trăm người bán vạn người mua» xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini mà tôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên.Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần «tham quan» hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá… đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai «lemonade» với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:
– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.
– Mắc là bao nhiêu ?
Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:
– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai «baht» lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền «tical» mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em… tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:
– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.
– Để em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tất cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:
– Để anh xin phép cho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên, cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng «cửa thiền luôn rộng mở».

Khi đi qua mặt ba vị sãi, hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người… Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ, chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện «xâm nhập chùa chiền» khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã sập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lại có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:
– Hồi 85 tụi nó mang tăng vô tới tận đây đó anh.
– T 54 hả?
– Dạ.
– Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.
– Tụi nó pháo mà.
– Em nói ai? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng?
– Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.
Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy «vững lắm» kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.
– Ông vô trong này lễ Phật không?
Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.
Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng… ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài, trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây, tôi nghe rõ có tiếng… muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:
– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.
Sự thực thì anh bạn không chỉ «tỏ ra» mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Được miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.
Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt «hiền hậu» và «dễ mến», bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa -cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchia thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ, tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lại nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng «trời đất ơi» đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, «những chuyện tình không may», và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có «accent», tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
– Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện «vu vơ» đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:
– Em nói anh từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:
– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.
– Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
– Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ tức thì.
Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:
– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim «The Killing Field» bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng quá, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn «âm thầm» gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng… rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc… những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi, các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn «không» là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:
– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không?
– Không.
Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả «đại diện» của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:
– Em ở với Heng Samrin bao lâu rồi?
– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.
– Sao bỏ đi ?
– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là «tay sai» của Việt Nam mà.

– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa?
– Cực lắm, chịu không nổi.
– Rồi hai em có tính ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?
– Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

– Mấy em tính đi Mỹ hả ?
– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.
– Vậy vô đó làm chi ?
– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.
– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không?
– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không?
– Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?
– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
– Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy?
– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
– Nếu bây giờ được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?
Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
– Lấy vợ nữa chớ ?
– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
– Còn không về được thì sao ?
– Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi mgười trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:
– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi «hóc» lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng «tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.» Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến

——————————————————–

Mời các đọc giả qua đây đọc thêm một bài khác để nhìn thấy chính quyền ta tươi đẹp, khoan hồng và nhân đạo ra sao:

Cảm Nghĩ về Người  tù Bất Tử , bài của nữ  sinh viên Trần Mỹ Hạnh, tưởng niệm về một người vừa mới khuất.

Đây

———

Và nhân vật Võ Hoàng, người mà tác giả TNT đi tìm ở Cao Miên, được một người khác viết bài tưởng niệm như sau:

Võ Hoàng, kẻ dám sống trước nhân vật

Đêm 10/8/2001
tac_gia_le_thi_hue.jpg
tác giả Lê Thị Huệ
…Đi đi anh
nào phải chúng ta là kẻ ra đi một mình
sa trường đã ngập lụt
máu và nước mắt
triệu triệu tiếng chân người đồng hành
hoặc tất cả chúng ta cùng sống
hoặc tất cả chúng ta cùng chết
Đi đi anh
có em sẽ chờ anh nơi bờ đê
mùa gió lên rơm rạ nở đầy trời
mảnh đất đã thấm đẫm oan khiên
vẫn thơm mùi lúa khoai mới gặt
em sẽ vốc lấy một nhúm và buộc chặt
vào bâu áo
làm bùa chú tặng anh
có anh linh của người nằm xuống
có bóng hình của kẻ đang sống
chỉ còn niềm tin này
là bùa hộ mệnh của đôi ta
những lân tinh hào sảng của nó
sẽ thổi hết đài đài búa liềm
sẽ bẻ cong quặp hết những gọng súng
thắt nơ đỏ
chúng ta phải tin và phải tin
vào mặt đất
đầy bùa phép của chính nó
thổi dạt hết thảm hoạ này
kế tiếp thảm hoạ nọ…
    Lúc đó, tôi vào độ tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi mà tri thức và cảm tình đòi hỏi phải được phát biểu một cách độc lập. Cái tuổi đủ chững chạc để lên tiếng về một lập trường của đời sống mình. Cái tuổi khoẻ mạnh nhất để suy xét, ta và tha nhân cuộc đời nên hỗ trợ nhau như thế nào, đặng còn chung vốn làm ăn những năm tháng trước mặt. Nói tóm lại, những năm đầu ba mươi là những năm những chàng và những nàng tuổi trẻ mới thực sự dấn thân hành động trong cái ý thức sáng tỏ có chọn lựa nhất.
    Tôi đã gặp Võ Hoàng trong những năm đầu tuổi ba mươi xuân sắc ấy.
    Thật sự chúng tôi chạm mặt và nhìn sâu vào mắt nhau chỉ một lần. Đó là lần ở tiệm in của Vũ Tiến Thủy góc đường The Amaden lộng gió. Tôi nhớ tối hôm ấy tôi đến trao cho Vũ Tiến Thủy tâp truyện ngắn Bụi Hồng để anh ấy đưa lên bàn in.
     Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra trong một buổi tối hoàng hôn, ngày hè êm dịu ở San Jose. Tôi mặc một chiếc váy hái hoa mỏng manh phất phơ, trang điểm điệu nghệ nhởn nhơ xuân thì, lái xe một mình, đến địa chỉ của một nhà in nho nhỏ rất văn nghệ Việt Nam, dưới phố San Jose.
     Khi tôi mở cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng, về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii; năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động. Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt, ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra, có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng, đấy là Võ Hoàng.
   Dĩ nhiên cố nhân của tôi thì cười mỉm rạng ngời, vì biết trước sau gì cũng sẽ bắt chẹt được tôi sau khi tôi công tác với ông chủ nhà in về quyển sách. Còn người chào hỏi tôi vồn vã nhất lúc đó là Tưởng Năng Tiến. Rất ư là lịch sự và nhẹ nhàng, Tưởng Năng Tiến một chị Huệ hai chị Huệ ngọt ơi là ngọt. Đó là cái cảm tưởng lần đầu tiên tôi gặp Tưởng Năng Tiến. Y nhìn thì biết mình làm sao là chị Hai của y được. Nhưng Tưởng Năng Tiến có cái khí hậu trò chuyện khéo léo nghệ thuật thiệt là trớ trêu, với tướng mạo ngang tàng, và một giọng văn sòng phẳng sắc sảo chinh phục độc giả. Đúng là điển hình một thứ đàn ông văn nghệ sĩ có nhiều bẫy ngầm.
     Và trong cái buổi tối đáng nhớ ấy tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Võ Hoàng mỗi lúc nhìn qua vai những người bạn trai trẻ ấy để thăm hỏi tôi. Suốt khoảng ba mươi phút tối mùa hè đáng nhớ đó, Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối. Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chọc ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.
     Sự im lặng và tia mắt nhìn rất vui mừng thân mật của Võ Hoàng dành cho tôi tối hôm ấy là điều gì rất mạnh mẽ mà tôi không bao giờ quên được. Tôi không bao giờ quên ánh mắt như chợt loé lên một gửi trao dường như đã là một thoả thuận ngầm, chúng ta sẽ cùng chiến đấu nhé. Điều này là một xác tín đã trở lại với tôi trong một chiều sau đó, khi ngồi với cố nhân ở một quán nước, hắn đã nhẹ nhàng báo cho tôi hay hắn đang ở trong cùng một tổ chức với Võ Hoàng. Và sau đó trong một tờ báo rất đầu tiên của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam của tướng Hoàng Cơ Minh, lúc Lê Thiệp còn làm chủ báo Kháng Chiến, tôi đã ký tên khác viết một tâm bút “Thư Gửi Người Đi” cảm động lắm đi lận
Trong tập truyện Bụi Hồng tôi giao cho nhà in của Vũ Tiến Thủy tối hôm ấy, có chuyện ngắn “Cơn Sốt” của tôi. Chuyện đã được đăng trước đấy trên báo Văn của ông Mai Thảo vào năm 1981. Chuyện ngắn lấy bối cảnh cơn ốm nhớ thương đất nước của một cặp tình nhân trẻ ở khung trời náo nhiệt New York. Đoạn cuối của chuyện mô tả người tình nam ám ảnh bởi một công cuộc giải phóng đất nước, cách mạng quốc gia đã đặt lên môi người tình nữ một nụ hôn nồng nàn hứa hẹn.
     “Cho đến khuya khi Ngữ tỉnh dậy, chàng trở người sang và gặp nàng đang nằm cạnh.
      -Anh biết em đã nằm cạnh anh rất lâu.
       Mồ hôi toát  ra ướt đẫm trán chàng và nhỏ từng giọt xuống ngực nàng. Ngữ hất tung đống chăn cuộn trên mình. Tấm biểu ngữ rơi xuống đất.
      Thoa trăn trở.
      -Em nhớ nhà quá.
      Ngữ đặt lên môi nàng một nụ hôn, nụ hôn nóng của hai bờ môi ốm sốt.
    -Anh sẽ đi. Mai một anh sẽ đưa em về. Chàng nói.”
    Thuở ấy, Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đang là một đôi văn sáng như sao trên vòm trời văn học hải ngoại. Tập chuyện Măng Đầu Mùa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng là một ngọn hải đăng trong đám những nhà văn trẻ hải ngoại đầu thập niên 1980. Không biết ở đâu ra mà có một đôi bạn văn sáng sủa như vậy. Tự nhiên xuất hiện đôi song ca có một lối viết hết sức thân mật với đời sống. Đó là cách viết rất văn chương di truyền lớn lên trong nước Việt Nam Cọng Hoà của hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cách viết của những con người yêu văn chương, phơi phới tình người, và rất hào sảng cho văn chương và đời sống những tiếng nói róc rách trong tác phẩm. Cái cõi văn chương rất thoải mái chia sớt tận tình với đời đó không thể nào kiếm thấy ở những con người lớn lên ngoài Miền Bắc áp bức nghẹt cầu nghẹt đường đời Cọng Sản của Bác Hồ Chí Minh và bác Lê Duẩn.
Lật những trang chữ của Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đọc sẽ thấy khác những trang viết của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Huy Thiệp. Chữ nghĩa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng chân hơn, sáng hơn, tự tin hơn, gần với con người quanh ta hơn. Trong khi chữ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp và Trần Đăng Khoa mánh hơn, đểu hơn, vẹo hơn, để luồn lèn lớn lên trong một xã hội mà cứ bốn người là có một anh công an dòm ngó. Hai cõi tác phẩm xiển dương hai thế sống khác từ nhừng xã hội mà hắn được nuôi dưỡng. Tuyên dương cõi này mà bỏ lơ cõi khác là hội chứng chậm tiến của hành trình tiêu hoá những tác phẩm.
     Cái điều sáng tỏ của Võ Hoàng, nhà văn vào thời điểm đó, chính là thái độ chọn lựa. Võ Hoàng không chỉ viết. Võ Hoàng dám hiện thực điều chàng viết bằng hành động.
      Sau một trận lột xác và lột hồn vì cơn địa chấn bị vứt ra khỏi quê hương, là một kẻ mẫn cảm, thông minh, tràn đầy nghị lực, có tất cả thời gian của tuổi trẻ vào thời điểm sau 1975 ấy, Võ Hoàng dám xông xáo đi tìm một phương hướng giải quyết những thôi thúc trong người.  Cái thôi thúc lãng mạn phục vụ quê hương có thể là thừa kế của người quân nhân lính thủy Võ Hoàng Oanh của mấy năm binh nghiệp trước đó; nhưng cái bi kịch hùng tráng của Võ Hoàng ở đây chính là chính hành động lựa chọn sứ mệnh chiến đấu để chứng nghiệm đời sống, thay vì tưởng tượng đời sống qua ngòi bút.
       Cái chân dung mà tôi không thể nào không bị khích động, là lúc ấy Võ Hoàng đang ở vào một vị trí ăn ảnh đời người nhất. Võ Hoàng có tuổi trẻ, y chỉ là tên đàn ông vừa ngoài ba mươi. Võ Hoàng có tự do, y vừa mới đến xứ sở Hoa Kỳ nơi mà Nữ Thần Tự Do đã ban tặng cho y một quyền tự do sống hoàn toàn thảnh thơi theo bất cứ cách thế nào y muốn nhất. Võ Hoàng có mái ấm, vợ con vừa sang đoàn tụ. Võ Hoàng có danh vọng, y vừa mới là nhà văn nổi tiếng. Một trang thanh niên tài hoa hiểu ra mình đang ở vào một vị thế có hào sảng, tư trang của cải, căn cước tuổi trẻ, sinh lực, tài năng nhất. Thế mà trong cái huy hoàng của thời thế tuổi trẻ rực rỡ ấy, y đã chọn một con đường chiến đấu cho một siêu hình niềm tin vào danh tự có tên gọi là Quê Hương.
      Nỗi đau bị bứng vứt ra khỏi quê hương như một thứ nha phiến làm cho giấc mơ trở về quê hương là một mời gọi vô cùng hấp dẫn. Tình yêu quê hương là một nguồn sống còn mãnh liệt hơn cả chính tình yêu. Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz trong chuyện dài Sugar Street đã viết một câu bất hủ “Perhaps patriotism, like love, is a force to which we surrender, whether or not we believe in it.” Mặt đất này đã thấm đẫm những giòng máu nuôi danh tự Quê Hương. Ngày đó chúng tôi ra đi từ những địa danh Rạch Giá, Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên. Điểm xuất phát trở thành điểm trở về. Chúng tôi cũng chỉ là những đứa con mọn của một thứ mặt đất tham lam luôn luôn đòi chúng tôi trở về phục vụ nó. Mặt đất hay Quê Hương như một bà mẹ khắc nghiệt không muốn bứt rời đứa con của bà. Võ Hoàng ra đi từ Phú Quốc, chắc là chàng cũng bị cái tiếng gọi của bà mẹ Phú Quốc kêu riết nên chàng mới tìm đường trở về.
Con đường trở về bằng ngôn ngữ Phú Quốc của một nhà văn Võ Hoàng hình như chưa đủ. Những sáng tác của Võ Hoàng trong mấy năm ngắn ngủi lìa xứ, 1979-1984, là những chuyện tràn đầy tính chất Nam Bộ. Giọng văn Nam Kỳ là một nét đặc sắc của văn chương Việt Nam khởi đi từ những cái tên như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An…Với tôi, chỉ trong vài truyện ngắn đầu tay, Võ Hoàng đã lấp lánh một tài năng lớn của văn chương Nam Kỳ. Lối dựng chuyện của anh không thừa thãi, lấy chữ đè chuyện. Văn vẻ của Võ Hoàng rất tươi rói như vừa mới vốc ra từ Phú Quốc. Đọc chuyện của Võ Hoàng cứ như thấy những con người Nam Kỳ dẻo miệng của anh đang gõ gàng trước mặt mình.
Thế nhưng cõi viết không thôi hình như không đủ chỗ để dung chứa sức sống tràn trề của một đứa con trai yêu của quê hương là Võ Hoàng Oanh. Cho nên chàng thanh niên tên là Võ Hoàng Oanh đã vứt bỏ danh vọng đang lên của nhà văn trẻ Võ Hoàng, ném trả cho xứ người lạ hoắc chút tài sản văn chương mà chàng vừa cắm dùi được . Chàng chọn lựa phiêu lưu vào lịch sử, thách thức lịch sử, với ước muốn giành lại và chiến đấu cho quê hương mà người ta đã chiếm đoạt mất của chàng.
Có thể nói đứa con yêu của tổ quốc Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa vai trò kẻ chiến đấu để thí nghiệm con người văn chương tên là Võ Hoàng. Võ Hoàng Oanh đã ra sa trường chiến đấu dũng cảm với mặt trận đất đá súng đạn và kẻ thù ở Nam Lào, vào cái lúc mà tên tuổi nhà văn Võ Hoàng đang lên cao rực rỡ nhất. Sự chiến đấu bằng võ lực là một cách chiến đấu chẳng đặng đừng vào thời điểm ấy. Lúc mà khối Cọng Sản còn chắc nịch như một thứ đế quốc không ai xuyên phá được. Sự chọn lựa con đường đi sang Lào để về chiếm lại quê hương vào bối cảnh đó là một hình ảnh đẹp tuyệt vời trong lòng mọi người Việt lưu vong. Võ Hoàng Oanh con chim trống cũng chỉ muốn khoe đôi cánh vạm vỡ của mình để biểu dương sự chiến đấu bảo vệ lấy quê hương của nhiều người đang bị bọ hung, chuột, dán, bọ chét hút máu. Một nhóm đàn ông con trai đã đi làm anh hùng, lịch sử. Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Trần Thiện Khải, Lê Hồng… là những anh hùng của chúng tôi vào thời điểm đấy. Nhất là trước đấy đã có vị anh hùng trí thức dấn thân như sinh viên Trần Văn Bá đã cũng xuống xuồng đi về phía Quê Hương và đã gục ngã.
Cái chết của Trần Văn Bá (Đường Trần Văn Bá, thơ Lê Thị Huệ) đã càng bồi đắp cái hình tượng cái chết nào của những đứa con của Quê Hương cũng đều là những cái chết đẹp và hiển hách hơn cái chết bệnh tật già lụm khụm nơi quê người. Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa theo con đường xuống xuồng chèo về phía Quê Hương dù biết là phía trước mình có người anh sinh viên trí thức Trần Văn Bá vừa ngã gục. Một thái độ chọn lựa hết sức ngạo mạn, lãng mạn, phiêu lưu, thách đố chỉ xảy ra cho những con người dám sống theo tính cách huyền thoại trên bia đá, trong lịch sử, trong truyện và trong kịch. Con người nhỏ nhẻ im im, nghiêng nghiêng nụ mỉm cười thân mật ấy lại chọn lựa một cách chiến đấu bão bùng khốc liệt.
Hoặc tất cả chúng ta cùng sống hoặc tất cả chúng ta cùng chết (thơ Lê Thị Huệ) thì đúng là con người nhà văn Võ Hoàng đã muốn bảo vệ, đã muốn chiến đấu dùm cho những nhân vật huyền thoại. Cái dũng của con người nhà văn Võ Hoàng là muốn chứng minh và chiến đấu điều mình tin bằng chính hành động chèo xuồng đi về phía Quê Hương trước khi cầm bút mô tả lại sự việc. Cái hách của nhà văn Võ Hoàng là trước khi y vung bút múa cho đời một điệu văn thì y đã dám thử nghiệm bằng chính con người và cuộc đời y trước. Thật là khác xa với những tay sống thì không dám sống nhưng chỉ mơ ước vẽ vời rồi để cho kẻ lạ sống dùm hoặc mời gọi người khác sống theo sự tưởng tượng của tác phẩm bày ra. Với tất cả những nét đặc biệt nêu trên, con người này đã thiết lập được một huyền thoại cao ngạo, quyến rũ, tài hoa của riêng danh tiếng Võ Hoàng.
LTH
Đêm 10/8/2001

nguồn

Posted in Hồi Ký, Kampuchea | Leave a Comment »

Ráng sống tiết kiệm…Kinh tế Âu Châu và thế giới sẽ còn tiếp tục xấu trong 3-4 năm tới…

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Điều gì sẽ xảy ra nếu một trong các quốc gia dưới đây bị vỡ nợ?

Chính phủ Hy lạp đang nợ 495 tỉ đô la. Chủ nợ là các ngân hàng nước ngoài, các cơ sở tín dụng và tài chánh, và các chính quyền ngoại quốc.

Chính phủ Ý đang nợ 2 200 tỉ đô la. Chủ nợ cũng là các thành phần nói trên, trong đó Pháp có 393 tỷ và Đức có 162 tỷ.

Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ý sẽ có nguy cơ vỡ nợ rất lớn. Mặc dù trong 2 năm qua, châu âu đã cố gắng giúp đỡ bằng cách gánh vác mua lại một phần các món nợ, nhưng xem ra, độ lớn, tầm lan tỏa, và sự  liên hệ của các ngân hàng, các quỷ bảo hiểm và hưu trí dính dáng vào việc cho 3 quốc gia nầy vay mượn trong nhiều năm qua… hết sức lớn lao và phức tạp. Chỉ cần một sự sụp đổ nhỏ của một ngân hàng, của một công ty lớn ở Âu châu, một quỹ hưu trí…là sẽ kéo theo sự  sụp đổ của các công ty khác và sụp đổ tài chánh của các quốc gia kể trên.

Mấy hôm nay có tin Pháp và Đức đang họp với nhau để  đề ra thêm các biện pháp cứu 3 nước nầy. Vì chỉ  một trong các quốc gia nầy bị sụp đổ kinh tế, thì  nhiều công ty liên quan sẽ vỡ  nợ,  sụp đổ, sẽ có nhiều người thất nghiệp, và nền xuất nhập khẩu sẽ sa sút trầm trọng, nhiều nước sẽ  không còn đủ tiền để nhập các hàng hóa từ  Á Châu.

Các hãng ở Á châu sẽ đóng cửa giảm bớt số công nhân. Tình trạng xã hội của các nước á châu sẽ rối loạn vì các quốc gia ở á châu  mới giàu lên trong 20 năm gần đây không có các bảo hiểm xã hội lâu dài và chặt chẻ để cứu trợ người dân. Chiến tranh có thể xảy ra giữa các quốc gia và các cuộc cách mạng đòi hỏi cơm no áo ấm,  dân chủ, tự  do sẽ bùng nổ ở các quốc gia nầy.

Khi Mỹ bị khủng hoảng tài chánh vào năm 2008, cảthế giới đều bị anh hưởng như thế nào trong 3 năm qua, thì khi châu âu rơi vào khủng hoảng tài chánh trong 2-3 năm tới, tất cả các nước còn lại sẽ chịu đựng gian khổ thêm một khoảng thời gian giống như  sau năm 2008, vì dân số và độ lớn của toàn thể nền kinh tế của châu âu tương đương với Mỹ.

Tóm lại,  với tình hình kinh tế khó khăn sẽ còn kéo dài,  cố gắng sống tiết kiệm, đầu tư  vào giáo dục và sức khỏe để chờ cơ hội làm việc sau khi cơn khủng hoảng qua đi; có thể là sau năm 2016 thì tình hình kinh tế và tài chánh mới bắt đầu hồi sinh.

What happens if a country goes bust?

July 20, 2011

If Greece, Portugal or Italy fails, America should watch out.

BERLIN, Germany — Let’s say Greece declared tomorrow that it was bust. The government took a look at the estimated $495 billion it owes to banks, other institutional investors and foreign governments and decided it simply couldn’t pay.

Who would actually lose their money? The answer, not surprisingly, is complicated.

Much of the focus has been on the debt owned by European banks and fear that a Greek default could spark a “contagion” — in which banks losing money owed by Greece would cut back their lending, causing the financial system to seize up as it did in 2008 after the collapse of Lehman Brothers.

But beyond the focus on banks, there are all kinds of pension funds and other institutional investors that hold large amounts of Greek debt. These debt holders are much harder to identify because, unlike banks, the investors don’t reveal it in annual reports and through stress tests.

The other mystery factor is credit default swaps, a derivative that creditors buy to effectively insure themselves against a default by a debtor. These are what draws the United States into the fraught euro zone web. While the United States has little direct exposure to Greek debt, it owns a lot of these CDSs on Greek debt — meaning Americans fear a Greek default for a good reason.

So who owns Greek debt?

French and German banks are the biggest foreign holders, according to last week’s “stress tests,” in which banks had to report, among other numbers, their sovereign debt holdings. French banks have more than $50 billion exposure, German banks about $34 billion.

BNP Paribas (France) — $7.4 billion

Dexia (Belgium) — $5 billion

Commerzbank (Germany) — $4.2 billion

Societe Generale (France) — $4 billion

ING Groep (The Netherlands) — $3.4 billion

Deutsche Bank (Germany) — $2.5 billion

Groupe BPCE (France) — $1.8 billion

That obviously leaves a lot unaccounted for. Greek banks own about $85 billion of the country’s debt, according to a research note from Goldman Sachs. The European Central Bank owns about $71 billion worth of Greek debt, which it began buying up more than a year ago — much of it from banks — through its Securities Market Program, to shore up investor confidence. U.S. banks don’t have much direct exposure to Greek debt, just $7.3 billion, according to CNN.

But the lurking danger is with the unknown amounts held by pension funds and insurers. Debt is held all over the place. For instance, the German state of North Rhine-Westphalia has about $311 million of Greek debt held in pension funds, according to business weekly Wirtschaftswoche.

“If you work backwards and look at Greek public debt and try to understand who owns what, you have a hole of $198 billion held by asset managers, pension funds and the like, but there is very little information on the details of those holdings,” Gilles Moec, an economist at Deutsche Bank in London, recently told the New York Times. “It’s a much bigger pot than what is actually held by banks, but we don’t know who owns how much, or in which country.”

Of those other countries, Portugal could be next to default if Greece fails.

So who owns Portuguese debt?

The same European banks would hit by a Portuguese default, the stress tests show.

BNP Paribas (France) — $3.3 billion

Dexia (Belgium) — $2.8 billion

Commerzbank (Germany) — $1.4 billion

Credit Agricole (France) — $1.7 billion

Societe Generale (France) — $1.3 billion

So what about Italy?

Italy is the big kahuna in the debt crisis. It is Europe’s third largest economy. It owes $2.2 trillion, or 120 percent of its GDP, making it one of the most indebted nations on Earth. Worse, much of its debt is coming to maturity soon — $500 billion in the next three years. About half the total is held domestically but that still leaves huge amounts owned by banks around the world.

French banks are exposed to Italian debt to the staggering tune of $393 billion, German banks of $162 billion. The stress tests show:

BNP Paribas (France) — $40 billion

Dexia (Belgium) — $22.3 billion

Commerzbank (Germany) — $15.7 billion

Credit Agricole (France) — $15.3 billion

Societe Generale (France) — $12.4 billion

Deutsche Bank (Germany) — $10.9 billion

Hypo Real Estate (Germany) — $10 billion

British banks, who don’t have a lot of Greek or Portuguese debt, would be heavily affected by an Italian default. They have $77 billion in Italian debt, according to the Financial Times.

So what about credit default swaps?

As Stefan Homburg, director of the Institute for Public Finance at Hannover’s Leibniz University, explains: “The simple answer is, there is no easy way to say how exposed banks are, because in order to find out the risk expositions, you have to know the respective [credit default swap] positions.”

Credit default swaps, which banks buy to offset their risk, are a murky area that banks and insurance companies don’t have to report on in detail. However it is clear that they make U.S. institutions vulnerable.

“The immediate problem is that with a lot of the bank debt … they’ve bought insurance for this debt and a lot of the insurance is from American companies. If the debt was defaulted … it would be a hit on the American insurance industry, so there’d be that knock-on effect,” said Bruce Stokes, senior transatlantic fellow at the German Marshall Fund of the United States.

According to the Bank for International Settlements, while U.S. creditors have just 5 percent of the direct exposure to Greek debt, they have 56 percent of the indirect exposure through CDSs. Similarly, the United States has 25 percent of indirect exposure to Ireland and 44 percent to Portugal. That equals about $33.6 billion for Greece, $54 billion for Ireland and $41 billion for Portugal.

Unfortunately, the market for CDSs is notoriously opaque. They are known as “over the counter” securities, meaning they can be bought and sold without anyone having to declare much information. Kash Mansori, an economist who writes the respected blog The Street Light, recently wrote that there were two serious concerns for the United States:

“First, I fear that this may have the potential consequence of exacerbating the flight to safety that will happen in the event of Greece’s default; if you have no idea who is really going to be on the hook and ultimately liable for CDS payments, your best strategy may be to trust no one.

“Second, I wonder if there’s a public relations disaster just lying in wait for the big US banks. After all, how will you feel (assuming you don’t work on Wall Street) when you read the headline that Big Bank X lost money because it sold billions of dollars of credit default insurance while it was on taxpayer life-support? Rightly or wrongly, I’m guessing that Big Bank X will not be very popular for a while.”

The “Winner”

The banks detailed above hold more than $165 billion in Greek, Portugese and Italian debt. But there is one clearly more exposed than the others: France’s BNP Paribas, with more than $50 billion in the troubled European countries’ debt. The next most exposed is Belgium’s Dexia, with more than $30 billion owed. The most exposed German bank, Commerzbank, holds more than $21 billion.

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »