Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Bảy 2011
    C H B T N S B
    « Th6   Th8 »
     12
    3456789
    10111213141516
    17181920212223
    24252627282930
    31  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Bảy 3rd, 2011

Hồ Hữu Tường – Lòng Dạ Đàn Bà – Những Ngày Cuối Đời

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2011

Lòng Dạ Đàn Bà !

Mặt trời chen lặn, ngọn gió lao rao. Dọc theo đường Cái-Tắc đi Long-Mỹ, lúa gần chín, nên trông ra ruộng có đám ửng vàng, có đám còn xanh lét.

Ngang mấy xóm, người ta thừa hứng cái cảnh trời chiều mát-mẻ, nên lăng-xăng ngoài đường, người thì chấp tay sau đít, bước chẫm-rãi, mắt ngó mông vô đồng; kẻ thì ngồi dựa bên lề, mặt tươi cười, miệng nhai nhóc-nhách; khúc thì dụm năm dụm ba hỏi nhau lúa trúng ước mấy giạ một công; chỗ thì con gái con trai trửng-giởn chạy tứ tung, nói cười inh-ỏi.

Cái cảnh vui-vẻ dường ấy, con người thảnh thơi dường ấy, mà sao trước nhà của ông Hội-Ðồng Lê-Tấn-Thành, cũng ở dựa bên khúc lộ nầy, lại vắng-hoe, trong nhà lặng-lẽ, ngoài ngõ im-lìm. Hàng rào dưới xây gạch, trên song sắt, chạy dọc theo đường bị cỏ mọc che khuất nhiều khúc, coi chẳng khác rào hư. Cái cửa ngõ sắt, một cánh mở hé, còn một cánh thì khép hoài, nên chốt bị sét đóng, xô mở không nổi.

Trong sân thì kiểng vật ê-hề, nhưng mà mấy hàng cây tây trồng dài theo đường đi, không săn sóc, không tỉa nhánh sửa lá, nên bụi rặm-rịt tàn lan, bụi ngã xiên ngã xó. Mấy chậu kiểng không tưới nước, không bắt sâu, nên chậu nứt đất bày rễ, chậu rụng lá khô gốc. Cái nhà rộng lớn đò-sộ, giá cất đến bạc muôn, mà cửa đóng bì-bịt, thềm đầy lá khô, trông ra thì đã biết đã lâu rồi chủ nhà không tiếp khách.

Thình-lình có một cái xe hơi thùng kiếng còn mới tinh, ở Long-Mỹ chạy ra đậu ngay cửa ngõ ông Hội-Ðồng Thành. Anh sớp-phơ mặc đồ tây vàng, đội kết vàng, đi giày trắng, nhảy xuống mở cửa xe rồi đứng nép một bên, bộ cung kỉnh người đi xe lắm. Trên xe thủng-thẳng bước xuống một cô, mặc áo quần lụa màu trứng gà, đầu choàng khăn sạt cũng màu trứng gà, vai mang cái choàng tơ màu xám thiếc.

Cô trạc chừng 30 tuổi, gương mặt tròn-trịa, nước da trắng trong, má bầu mà lại ửng hồng, mài vòng nguyệt mà lại nhỏ rức, răng trắng mà khít rịt, môi mỏng mà đỏ au, miệng vui vẻ tươi cười, mắt long-lanh chói sáng. Bước xuống xe rồi, cô thủng-thẳng lột cái choàng mà liệng vào xe, mùi dầu thơm bay ngọt-ngào. Con tỳ-nữ còn trong xe, chụp lấy cái choàng ngồi mà xếp. Cô đứng ngó vô cửa mà nói rằng: “Phải cái nhà nầy rồi, mà thế chủ nhà đi khỏi hay sao nên cửa đóng bì-bịt vậy kìa? Trong a! Xách cái bốp đi vô đây với cô”. Con tỳ-nữ ôm một cáp bốp da lớn leo xuống xe mà đi theo.

Cô mỹ-nữ nầy bước vô sân, thấy kiểng-vật tiều-tụy, đường-sá bịt bùng, cảnh xem vắng-hoe lòng bắt ái-ngại. Cô thủng-thẳng đi dọc theo chái nhà mà vòng vô phía sau. Có hai con chó vàng nằm lim-dim tại cửa sau, thấy dạng khách lạ thì tuôn ra mà sủa. Một ông già ở trần, lưng đen trạy, ăn trầu, miệng bô-bô, bước ra la chó. Cô mỹ-nữ hỏi có ông bà Hội-Ðồng ở nhà hay không, thì ông già đáp rằng: “Thưa, có một mình bà tôi ở nhà. Ông tôi ở trên Sài-gòn”.

Cô mỹ-nữ theo ông già mà vô nhà sau, rồi bắt đó đi thẳng ra nhà lớn. Cô vừa bước chơn lên thềm thì la lớn rằng: “Bà Hội-Ðồng ở đâu? Có khách xa tới xin cơm đây nè”. Cô vừa bước vô và nói và cười ngất.
Bà Hội-Ðồng đương nằm tại bộ ván dựa cửa, bà giựt mình lồm-cồm ngồi dậy. Cô gái lớn của bà là cô Kim-Lang, 14 tuổi, ngồi thêu một bên đó, cũng buông cây kim, ngước mặt lên ngó. Bà Hội-Ðồng vùng la: “Ủa, cô tư! Vậy mà tôi tưởng là ai đâu chớ! Cô đi đâu xuống tới dưới nầy? Mạnh giỏi há?”.

Cô mỹ-nữ ấy cười mà đáp rằng: “Ờ, tôi xuống thăm chị, chớ đi đâu. Tôi mạnh giỏi luôn-luôn. Còn chị làm giống gì mà ốm dữ vậy? Chị đau hay sao? Anh Hội-Ðồng đi đâu mà đóng cửa bì-bịt vậy?” Bà Hội-Ðồng nghe hỏi tới chồng, thì đổi sắc, bộ buồn-bực lắm và thở ra mà nói: “Từ hồi làm Hội-Ðồng tới giờ, cứ đeo ở trên Sài-gòn hoài, có ở nhà đâu”.

Bà Hội-Ðồng tên là Kim-Diệp, năm nay được 35 tuổi. Hồi còn xuân-xanh, bà là một gái vừa có sắc, vừa có hạnh, mà lại cha mẹ có tiền nhiều, bởi vậy những con nhà giàu, những người có học-thức, ai cũng trầm-trồ gấm-ghé. Lúc nhỏ cô Kim-Diệp học tại Nhà Trắng Sài-gòn, tới 19 tuổi mới thôi học mà lấy chồng. Cô ở với ông Hội-Ðồng Lê-Tấn-Thành có ba đứa con, một đứa con gáî tên Kim-Lang, 14 tuổi, đứa con trai tên Tấn-Ðức, 10 tuổi và một đứa con gái út tên Kim-Cúc, mới 4 tuổi.

Còn cô mỹ-nữ tới thăm đây tên là Thanh-Thủy, vồn là chị em bạn học với bà Hội-Ðồng. Hồi 18 tuổi, cô lấy chồng là một quan lương-y bổn-quốc có danh ở Sài-gòn, đến 25 tuổi, rủi chồng mất, cô không có con, mà có của, cô mới mua một cái nhà thiệt đẹp ở đường Mayer ( Ðinh Tiên Hoàng Cầu Bông ngày nay ), trước có sân rộng, hai bên có trồng cây mát-mẻ, mà ở với một đứa cháu gái, tên là Thanh-Bạch, 15 tuổi, rồi mua hột xoàn đi lục tỉnh bán chơi, không thèm lấy chồng khác.

Tuy hai cô Kim-Diệp và Thanh-Thủy lớn lên có chồng mỗi người ở một nơi, nhưng mà tình chị em vẫn còn thân thiết , nghĩa đồng-song vẫn còn mặn-mòi như xưa. Từ ngày cô Thanh-Thủy đi mua bán hột xoàn thì cô thường hay ghé thăm cô Kim-Diệp, duy có năm rồi, miệt Rạch-giá, Cần-thơ, Sóc-trăng, Bạc-liêu, thiên hạ bị khuẩn-bách nặng-nề, ít mua hột xoàn, cô không xuống mấy tỉnh nầy, nên cô không có ghé.

Cô Kim-Diệp thấy có khách mới sai con kêu trẻ ở nhà mà biểu đi đốt đèn, trải chiếu lăng-xăng.
Cô Thanh-Thủy ngồi nói om-sòm, hỏi lia-lịa một hồi, rồi nói rằng:

– Mới năm ngoái với năm nay tôi không xuống miệt nầy, nên không gặp chị. Bây giờ tôi coi sao vóc chị ốm nhiều, mà sắc chị lại buồn lắm vậy chị?
– Vì tôi buồn việc nhà nên tôi hư lung lắm.
– Ối, việc nhà hơi đâu mà buồn. Cuộc kinh-tế khủng-hoảng nầy lâm-nguy cho thiên-hạ hết thảy, chớ phải có một mình chị bị hay sao mà chị buồn. Ðừng có buồn giống gì hết. Lên Sài-gòn chơi, lên ở nhà tôi uống thuốc. Tôi coi chị ốm lắm đa, phải uống thuốc mới được.

Cô Kim-Diệp nghe mấy lời thì cô ứa nước mắt rồi chậm-rãi đáp rằng:
– Cái phần của cô sung-sướng, cô tưởng ai cũng như cô vậy hết, nên việc gì cô tính nghe cũng dễ như chơi được. Phải tôi mà được như cô thì nói gì!
– Trời ơi! Bây giờ chị nầy chỉ phân-bì với tôi chớ! Phận tôi góa bụa không con, ở tròi-trọ một mình. Còn chị thì có chồng, làm tới chức đại-biểu của dân, danh-giá lừng-lẫy, có con gái con trai đủ hết, lại có nhà cửa lớn, ruộng đất nhiều nữa, mà chị trở lại phần-bì với tôi chớ. Tôi biết rồi, chắc anh Hội-Ðồng chơi bời mắc nợ mắc nần, làm cho chị cực lòng chớ gì, phải vậy hay không, chị Hai?
– Chuyện nhà của tôi, nói không hết được. Ủa, mà trời đã tối rồi tôi quên biểu bầy trẻ lo cơm nước cho cô ăn chớ. Kim-Lang a, con xuống biểu bầy trẻ bắt vịt làm thịt đặng dọn cơm riết cho dì con ăn, nghe con.
– Trời ơi, tôi đói bụng, mà đợi làm vịt, rồi chừng nào mới có cơm ăn.
– Không sao đâu, làm một chút thì rồi. Lâu gặp cô, nên gặp tôi mừng quá. Tôi bắt cô ở lại đây, tôi không cho đi.
– Bắt ở lại chi vậy?
– Chị em lâu gặp nên nói chuyện chơi.

– À ạ! Tôi tưởng chị bắt ở đặng làm bé ảnh nữa chớ. Tôi nói trước cho chị biệt, cái đó không được a. Ảnh thiệt kỳ quá, từ ngày nhà tôi mất, hễ ảnh gặp tôi là ảnh theo chọc ghẹo tôi hoài.

– Cái tánh vậy đó đa, thấy ai cũng muốn hết. Chớ chi mà được cô, là chị em, thì tốt lắm, ngặt …

– É! Chị khéo nói thì thôi! Ai mà chịu vậy nà!
Cô Thanh-Thủy và nói và cười ngất.

Ăn cơm tối rồi, cô Kim-Diệp cầm cô Thanh-Thủy ở lại ngủ. Từ ngày ở Nhà Trắng hai chị em phân rẽ nhau tới nay chẳng có dịp nào mà được gần-gũi nhau cho nhiều ngày giờ. Hôm nay nhà vắng-vẻ, đêm im-lìm, ngoài sân gió bấc thổi lao-rao, trong vườn bóng trăng soi vặc-vặc. Hai chị em nằm chung một ván, to nhỏ tâm sự với nhau. Nhờ cái dịp ấy, cô Thanh-Thủy mới hiểu cô Kim-Diệp buồn-rầu đến nỗi ốm là tại ông Lê-Tấn-Thành từ ngày đắc cử làm nghị-viên Hội-Ðồng Quản-Hạt, ông giao-thiệp rộng, lên xuống Sài-gòn thường, rồi ông sa-đắm một cô mỹ-nữ, tên là Ba Huyền, 22 tuổi, nhan-sắc thiệt là xinh đẹp, mà tánh-nết thiệt là lả-lơi, mua một cái nhà tại Phú-Nhuận mà ở với cô, sắm xe hơi cho cô đi chơi, mua hột xoàn cho cô trang-điểm, ngày như đêm say-sưa mê-mẩn cùng duyên mới, không kể gì đến vợ hiền-đức, con thơ-ngây ở nhà.

Cô Kim-Diệp thuật hết mọi việc rồi cô khóc tấm-tức tấm-tưởi mà nói thêm rằng: „Tôi không dè cái đời của tôi mà phải trêu cay nuốt đắng như thế nầy. Con gái lớn đương học tại trường đầm, hôm tháng trước tôi phải rút về đặng mẹ con hủ-hỉ giải buồn. Thằng con trai đã 10 tuổi rồi, mà không có ai lo kiếm trường cho nó học. Còn ruộng đất thì lúa đã khởi sự chín, mà không ai sắp-đặt thâu góp, day trở trong ngoài chỉ có một mình tôi. Tôi nói thiệt, nếu tôi không có mấy đứa nhỏ thì tôi đã chết rồi, chết cho khuất mắt, chết cho hết cực lòng, nhọc trí lo ngày đêm nữa .

Cô Thanh-Thủy nghe những lời thảm-thiết, thấy cái sắc ưu-sầu của chị em bạn, thì cô động lòng, nên cô cũng ứa nước mắt. Cô nằm gác tay qua trán mà thở ra, rồi vùng ngồi dậy nói rằng: „Ðời nầy có chồng thì phải giữ-gìn. Tại chị hơ-hỏng quá, nên mới ra cớ đỗi như vậy. Mà thôi, chị đừng có buồn rầu nữa. Người phải, không lẽ trời hại đâu. Chị phải gượng làm vui, mà nuôi con. Tôi về ít bữa thì chị sẽ được tin tôi. Tưởng là ai lạ, chớ con Ba Huyền tôi biết nhiều“.
Sáng bữa sau, cô Thanh-Thủy từ cô Kim-Diệp mà về, cô ôm mấy đứa con của cô Kim-Diệp mà hun từ đứa và nói rằng: “Con như vầy mà bỏ đành, cái anh nầy thiệt là tệ!” Trước khi lên xe cô lại nắm tay cô Kim-Diệp mà nói rằng: “Xin chị hãy nghe lời tôi, chị đừng buồn nữa. Ở nhà cứ lo góp lúa và dạy con, nếu chị buồn mà chị đau thì tôi giận chị lắm đa”.

II

Ở Phú-nhuận Sài Gòn, gần ngã tư qua Bà-Chiểu có một cái nhà kiểu “banh ít”, nhà tuy nhỏ song kiểu đẹp-đẽ vô cùng. Trước nhà có một cái sân rộng lớn. Chính giữa sân có một cái bồn bông tròn trồng cây đủ màu, nhờ tưới nước săn-sóc mỗi ngày nên cây sum-sê, lá tươi-tốt. Từ ngoài cửa ngõ có làm một cái đường chạy vô tới gần bồn bông rồi tẻ ra làm hai ngã, đi vòng theo hai chái nhà, ngã tay mặt thì vô nhà để xe hơi, còn ngã tay trái thì vô nhà bếp. Dọc theo lề mấy đường ấy, thì lên liếp rồi trồng, khúc bông huệ trắng, khúc bông ngải tây, bởi vậy ban ngày sân chói đủ màu, ban đêm mùi thơm bát-ngát. Dựa hàng rào, hai bên thì trồng mãng-cầu xiêm xen lộn với mít tố nữ, cây trồng dày, lá rậm-rộp, nên dầu trưa nắng, cũng có khi mát-mẻ như sớm mơi.
Trong nhà thì ghế, giường, ván, đều sắm theo kiểu kim-thời. Chính giữa dọn sa-long ghế thấp thấp, mặt đều lót nệm ruột gà, có gối dựa lưng, có gối gác cẳng. Trong bốn góc phòng có để bốn chậu kiểng, lá sum-sê cho mát-mẻ. Tại bàn giữa thường có để một bình bông, bông thay hằng ngày, nên coi tươi rói. Cái phòng bên tay mặt thì dọn bàn ăn, có tranh tứ thời, có tủ đựng rượu. Cái phòng bên tay trái thì lót một cái đi-hoăn thiệt đẹp, có nệm, có gối, để nghỉ trưa, lại có ghế dựa, ghế dài, để nằm đọc sách. Phía trong một bên thì dọn phòng ngủ, một bên thì phòng văn; phòng ngủ để giường đồng, tủ áo hẳn-hòi, phòng văn để bu-rô, kệ sách rất đẹp. Cái nhà nầy là nhà của ông Lê-Tấn-Thành mua mà ở với cô Ba Huyền.

Tối thứ bảy, ăn cơm rồi, ông Lê-Tấn-Thành ngồi trên cái đi-hoăn kề vai vào một cái gối dựa gòn rất êm, vừa hút thuốc, vừa đọc nhựt-trình, cô Ba Huyền, ở trong buồng đi ra, mặt giồi phấn, môi thoa son, hai gò má ửng hồng, cặp chơn mày nhỏ rứt, tóc uốn vặn khu ốc, cổ đeo chuỗi lòng-thòng, mình mặc một bộ đồ màu khói nhang, chơn mang một đôi giày thêu cao gót, tai đeo một đôi bông xoàn thiệt lớn, tay xách một cái bốp da bọc nhung, miệng chúm-chím cười có duyên, dầu thơm bay mùi bát-ngát. Cô lại ngồi trong lòng ông Hội-đồng, lấy tay vỗ mặt ông nhẹ nhẹ, đưa năm ngón tay vừa dài, vừa trắng trong. Cô mơn-trớn rồi miệng hun ông và nói nhỏ nhỏ rằng: “Sao bữa nay coi bộ mình không vui vậy mình?”

Ông Hội-đồng buông tờ nhựt-trình rồi ngó cô mà cười và đáp rằng:
– Có gì đâu mà không vui.
– Tôi chắc mình giấu tôi. Tôi biết rồi, hồi nãy tôi rủ mình đi coi hát bóng, mình không chịu đi, tôi nói tôi đi một mình, nên mình phiền tôi chớ gì?
– Trọn một tuần nay đi luôn luôn; để tôi nhớ coi, ừ, thứ hai đi ăn cơm trên Biên-hòa, thứ ba đi coi hát cải-lương, thứ tư đi vô nhà xét, thứ năm đi coi hát bóng, thứ sáu đi Xuân-Trường nữa, đi hoài, đêm nào cũng một hai giờ khuya mới về, nên tôi mệt quá, bữa nay tôi nghỉ ở nhà đọc nhựt-trình. Mình không mệt thì mình đi chơi, chớ phiền giống gì.
– Tôi đi chơi một mình không ghen hay sao?
– Không.
– Vậy thì tôi hết muốn đi.
– Sao vậy?
– Tôi vẫn biết tánh mình ghen lắm, bữa nào tôi đi một mình, chừng về mình cũng theo hỏi đon hỏi ren sớp-phơ hoài, nhứt là tôi đi Chợ-lớn, mình ghét lắm. Bữa nay sao mình lại xúi tôi đi chơi một mình. Tôi biết rồi, chắc mình muốn cho tôi đi, đặng mình ở nhá lén viết thơ cho vợ hay cho con chớ gì. Tôi không thèm đi.
– Không có đâu, ai viết thơ làm chi. Mệt nên ở nhà nghỉ chớ. Mình muốn đi coi hát bóng thì đi hay là muốn ở nhà tự ý.
– Mình nói mình không có ý muốn viết thơ cho vợ con, thôi mình thề đi. Thề tôi mới tin.
– Thề sao?
– Thề sao đó mình thề, tôi có biết đâu.
– Tôi có bụng muốn ở nhà đặng viết thơ cho vợ thì lịnh ông Quan Ðế bẻ cổ tôi đi, mình tin chưa.

Cô Ba Huyền cười đưa hai hàm răng trắng trong và nhỏ rít, rồi ôm đầu ông Hội-đồng mà hun trơ hun trất.
Cô đứng dậy xách bốp và nói rằng: „Gần tám giờ rưỡi rồi, thôi đi đa”.
Ông Hội-đồng giặc đầu và nói: „Ði đi, vãn hát rồi về liền, nghe hôn?“.

Cô vừa bước chơn đi, mà cô nghe lời dặn như vậy thì cô đưa tay chỉ ông Hồi-đồng mà nói: „Ðó, ló mòi ghen rồi đó!” Ông Hội-đồng cười. Cô trở lại nắm tay ông và nói:
– Ờ, quên nữa, mai đi coi đua ngựa, nghe hôn mình. Người ta nói mai đua độ hội có con la Gazelle chắc về nhứt lắm. Mai mình lên coi, tôi xề kiếm vài trăm dễ như chơi.
– Ối thứ cá ngựa tôi ghét quá!
– Tại sao mà ghét. Chúa-nhựt nào họ cũng đi cá rần-rần, dưới tỉnh người ta còn lên, huống chi mình ở một bên mà không đi.
– Bày gian lận bậy bạ.
– Gian lận chỗ nào? Mình thua là tại con mắt mình coi dở chớ. Mình nói nghe hơi nhà quê quá.
– Thà tôi chịu tiếng quê, chớ tôi không ưa đánh bạc.
– Thôi mai mình cho tôi hai ba trăm tôi cá chơi nghé.

Cô Ba Huyền ra đi. Ông Hội-đồng đi theo ra cửa, đứng coi cô lên xe hơi mà đi, rồi ông thủng-thẳng đi vòng theo bồn bông mà hứng mát. Ông đương đứng ngó trời nhìn hoa, bỗng thấy một cái xe hơi ngừng ngay cửa. Ông men-men đi ra coi xe nào. Một người sớp-phơ leo xuống đi vô cửa, dở kết chào ông và nói rằng:

– Bẩm ông, phải nhà ông Hội-đồng Quản-Hạt đây hôn?
Ông gặc đầu. Người sớp-phơ hỏi tiếp:
– Không biết có ông ở nhà hay không?
– Tôi đây. Em hỏi chi vậy?
– Cô tôi biểu hỏi.
– Cô của em là ai?
– Bẩm, cô Tư thầy thuốc ở đường Mayer.

Người sớp-phơ lật-đật trở ra xe. Ông Hội-đồng ngó theo, nhờ có bóng đèn giọi, nên thấy trên xe thùng kiếng kiểu Aérodynamique có hai người ngồi, tên sớp-phơ nói nhỏ ít tiếng rồi mở cửa xe cho một người mỹ-nữ bước xuống. Tuy đứng xa xa, đèn lu-lu, nhưng mà ông Hội- đồng thấy cô mỹ-nữ ấy nước da trắng, gương mặt tròn, lại mặc một bộ đồ màu trứng sáo choàng khăn cũng màu ấy, rồi da mặt giọi khăn, khăn giọi da mặt, nên coi thiệt là đẹp. Cô mỹ-nữ tay xách bốp, chơn thủng thẳng bước dịu dàng mà vô sân, chưng lại gần tới ông Hội-đồng, cô mới nói lớn rằng: “Anh Hai! Anh ở đây mà em có dè đâu? Chị Hai mạnh giỏi há? Năm nay anh được mấy đứa cháu?”

Tiếng nói lạ hoắc, làm cho ông Hội-đồng không biết là ai, mà lời hỏi lại chồng-chập, ông không biết đâu mà đáp. Chừng ông coi kỹ-lưỡng lại, thấy rõ mặt mày, ông mới la lớn rằng: “Ủa, cô Tư! Cô đì đâu đây?”.

Cồ Tư Thanh-Thủy cười ngất rồi đáp rằng:
– Cái anh nầy thiệt là vô tình quá! Ði kiếm mà thăm ảnh, ảnh không mang ơn, lại hỏi đi đâu, ai muốn vay tiền vay bạc gì hay sao mà anh sợ, nên anh hỏi kỳ-cục vậy?
– Xin lỗi cô, vì cô trốn lánh tôi, không cho tôi gặp mặt lâu quá, nay tình-cờ tôi được gặp, tôi mừng quýnh nên hỏi bất-tử vậy mà, chớ có phải là vô-tình đâu. Tôi có tình lắm chớ, đối với cô cũng vậy hoài, có bao giờ tôi quên.
– Anh quỉ nầy, hễ gặp thì cứ nói pha-lửng hoài. Tại vậy đó, nên mấy năm nay tôi không thèm cho thấy mặt, đáng lắm.
– Nói chơi vậy mà, có hại gì đâu.
– Sao lại không hại. Người ngoài họ nghe họ đàm tiếu chớ.
– Anh em mà đàm-tiếu giống gì?
– Anh em rồi chọc nhau vậy sao? Anh nói chơi mà rủi chị Hai chỉ ghen, phải là tôi
– Mang xấu hay không?
– Chị Hai ở đâu đây mà hay.
– Uả, mà tôi tới tôi thăm anh rồi anh bắt tôi đứng hoài ngoài sân hay sao? Anh nầy vô tình thiệt không ai có! Anh sợ tốn nước, nên không dám mời vô nhà. Anh không mời tôi cũng vô đặng tôi thăm chị Hai. Ðể tôi mét với chị Hai, tôi nói anh chọc tôi đặng anh bị rầy chơi.

Cô Tư Thanh-thủy nói chưa dứt lời thì cô ngoe-ngoảy đi thẳng vô nhà. Ông Hội-đồng đi theo sau mà nói rằng: “Có ở nhà tôi trên đây đâu, nhưng mà tôi cũng mời cô vô nhà chơi chớ. Tại cô cứ nói hoài nên tôi chưa kịp mời”.

Cô Tư đứng lại ngó ông Hội-đồng mà hỏi rằng: „Không có chị Hai ở nhà sao? Anh nói thiệt hay là nói chơi? Vậy chớ ai nhắn biểu tôi đem hột xoàn vô đặng mua, lại xưng là Bà Hội-đồng Thành”.

Lúc ấy cô Tư đứng ngay yếng sáng, ngọn đèn trong nhà chói ra. Ông Hội-đồng thấy cô tỏ-rõ, mặt thiệt là xinh đẹp, mắt thật là hữu tình, miệng thiệt là hữu duyên, dóc thiệt là yểu-điệu. Ngọn lửa tình ông nhen-nhúm từ ngày trước mà không được, bây gìờ nó lại muốn phừng lên, làm cho ông quên trả lời mấy câu hỏi và ông bước lại gần mà nói nhỏ rằng: “Cô Tư … Mời cô vô nhà….Cô vô rồi tôi sẽ nói chuyện cho cô nghe”.

Cô Tư liếc mà mỉm cười rồi đi vô, mùi dầu thơm bay bát-ngát, làm cho ông Hội-đồng đi gần, ông càng thêm ngơ-ngẩn. Vô tới phòng khách, cô không đợi mời, cô để cái bốp trên cái bàn nhỏ, rồi lựa cái ghế khuất trong góc, dựa bên chậu cau vàng sum-sê mà ngồi. Ông Hội- đồng thấy vậy cũng ngồi cái ghế gần đó.

Cô Tư cười mà hỏi rằng:
– Ủa! Sao tôi hỏi, mà anh không trả lời? Anh nói chị Hai không có ở trên nầy, vậy chớ ai mạo xưng “Bà Hội-đồng Thành” mà kêu tôi đây? Thế khi anh giả-mạo đặng gài bẩy cho tôi mắc chớ gì?
– Không có đâu. Thế khi cô Ba, cổ muốn mua xoàn nên cổ nhắn cô chớ gì.
– Cô Ba nào?
– Cô Ba Huyền.
– Ủa! Con Ba Huyền sao dám xưng là Bà Hội-đồng Thành?
– Nó làm bé tôi gần một năm nay.
– Chà chà! Anh có vợ bé vợ mọn đồ nữa há! Vậy mà tôi có hay đâu! Xin anh cho trẻ mời bà Hội-đồng nhỏ ra đây đặng coi hột xoàn.
– Nó đi coi hát rồi, không có ở nhà.
– Sao nhắn tôi vô rồi lại bỏ đi coi hát?
– Xin cô đừng phiền. Chắc cô Ba cổ quên. Mà cái quên của cổ là cái may của tôi, vì nhờ cổ quên, tôi mới được gặp cô, tôi gặp một mình và có lẽ còn gặp nữa.
– Chọc nữa chớ! Có vợ lớn, vợ bé đủ hết mà còn theo chọc hoài, ngộ quá. Bộ anh muốn kiếm thêm vợ bé nữa sao?
– Tôi có vợ bé là tại cô đa.
– Tại tôi là sao?
– Tôi thương cô quá, mà cô cứ nạng tôi ra hoài, tôi buồn nên mới sanh la sự đó đa.
– Làm bậy rồi đổ tội cho tôi chớ! Anh đã có vợ có con, mà còn thương tôi nỗi gì? Anh đừng có nói vậy. Ví dầu thiệt anh có tình nặng với tôi mà tôi không chịu đi nữa, thì bất quá anh buồn rầu, anh đau tưong-tư, chớ sao anh quên tôi anh lấy con Ba Huyền rnà gọi rằng anh thương tôi? Theo con mắt tôi xem, thì anh không phải là người có tình. Anh là một người ăn chơi tầm-thường lắm.

– Tại sao cô nói vậy?
– Anh lấy con Ba Huyền mà làm vợ bé được, thì anh tầm-thường quá, dầu anh có tình thì cái tình ấy thiệt thấp lắm. Con Ba Huyền ở Sài-gòn nầy ai mà không biết nó, duy có anh là người nhà quê, ở Lục Tỉnh lên, anh mê nó mà rước về làm vợ bé, chớ có ai dám làm như vậy đâu. Ối! Mà thôi chuyện của anh, anh làm sao anh làm, tôi không căn-cớ gì mà xen miệng vô cho mích-lòng, để bán hột xoàn kiếm tiền xài.

Cô Tư ngồi cười ngất. Ông Hội-đồng xích ghế lại gần cô một chút rồi hỏi rằng:
– Cô nói đi rồi cô trở lại như vậy, thiệt tức tôi quá! Cô chê tôi nhà quê thì tôi chịu. Mà còn cô nói tôi lấy con Ba Huyền là tôi dại, xin cô cho tôi biết coi tôi dại chỗ nào?
– Tôi đâu dám nói anh dại. Ý tôi nói anh gan ruột lắm chớ.
– Gan làm sao?
– Ối thôi, đừng có hỏi dần-lân. Anh hỏi riết tôi đổ nùi ra, rồi anh oán tôi chớ ích gì.
– Không oán đâu, dầu cô nói giống gì tôi cũng không giận hết. Biết cô Ba Huyền làm sao, đâu cô nói nghe thử coi mà.
– Tôi nói ra té ra tôi nói hành người ta, mà dầu tôi nói ngay đi nữa, anh cũng không tin.
– Cô nói thì tôi tin lắm.
– Tin thiệt hay sao?

Cô Tư cười ngất rồi cô làm tỉnh lại, ngồi suy nghĩ. Ông Hội-đồng ngó chăm-chỉ, đợi cô nói ra sao. Ông sánh cô Tư với cô Ba Huyền thì cô Tư tuy lớn tuổi hơn nhưng mà dung-nhan cô xinh đẹp hơn, tướng-mạo cô thuần-hậu hơn bội phần.
Cô Tư chống tay dựa gò má mà suy nghĩ một chút, cô muốn nói mà rồi cô ngừng lại. Cách một hồi lâu, cô mới hỏi nhỏ nhỏ rằng:
– Từ hồi anh gặp con Ba Huyền tới giờ chắc anh tốn hao nhiều lắm há?
– Không bao nhiêu. Ăn xài chút đỉnh vậy thôi.
– Anh còn giấu nữa chớ. Anh giấu thôi tôì về.
– Khoan, khoan, ở nói chuyện chơi một chút mà.
– Thì nói thiệt đi.
– Thiệt, tôi lấy cô Ba Huyền hơn một năm nay tôi hao chừng vài muôn, mà trong số đó có mua cái nhà nầy hết 8.000 đồng và mua cái xe hơi 3 ngàn rưỡi.
– Tốn như vậy anh tiếc hôn?
– Không tiếc gì mấy.
– Trước khi anh lấy con Ba Huyền, anh biết gốc-gác nó hôn?
– Cổ nói thiệt cổ gốc con Triều-châu, hồi nhỏ đi vá bao mướn trong Bình-tây. Sau cổ có chồng An-nam, chồng mê vợ bé đánh đuổi cổ lưu-lạc một lúc.
– Trúng lắm, nói trúng lắm. Rồi sao nữa?
– Có sao đâu?
– Có lắm chớ. Bây giờ chồng nó làm giống gì ở đâu, nó có nói cho anh biết hay không?
– Chồng cô bỏ cô lâu rồi mà.
– Anh quê lắm! Bỏ cái gì? Chồng nó là thằng Bảy Cu, làm đầu bọn du-côn trong X… còn sờ-sờ đó, bỏ cái gì? Bảy Cu cho vợ nó đi làm nghề cám-dỗ đặng lật lưng đờn-ông lấy tiền cho nó đánh me, cá ngựa. Nhiều người bị con quỉ đó mà hết nhà hết cửa, còn ai dám ngó tới nó nữa, duy có một mình anh gan; anh dám lấy nó đây chớ.
– Có lý nào kỳ-cục như vậy!
– Anh không tin thì cứ lấy nó rồi sau anh sẽ biết. Tôi hỏi anh vậy chớ xưa rày nó có hay đi Chợ-lớn, hoặc hay lên Trường đua hay không?
– Cái đó có.
– Ờ, anh coi tôi nói trúng hay là nói bậy. Nó đi đó là đi đưa tiền của anh cho chồng nó đa.

Ông Hội-đồng biến sắc, ngồi châu mày suy nghĩ. Cô Tư Thanh-Thủy liếc ngó ông, thấy ông đã thắm thuốc rồi, cô muốn giục cho mau, bèn đứng dậy lấy cái bốp và nói rằng: “Thôi, tôi về để mai có con Ba Huyền về rồi tôi sẽ lại. Chuyện tôi mới nói với anh đó, anh đừng có học lại cho con Ba Huyền biết đa. Nếu nó hay tôi vạch, đố khỏi nó xúi chồng nó đâm tôỉ chết”.
Ông Hội-đồng cũng đứng dậy nói rằng: „Ai nói làm chi. Mà cô ở nói chuyện chơi với tôi, chớ cô về tôi buồn lắm”.

Cô Tư mắt liếc hữu tình, miệng cười chúm-chím mà đáp rằng:
– Nói chuyện gì nữa? Khuya rồi, để tôi về. Ngồi lâu quá người ta đàm-tiếu.
– Không có sao đâu mà.
– Thôi nà.
Cô Tư bỏ đi ra cửa. Ông Hội-đồng đi theo ra tới chỗ tối, ông kêu mà hỏi:
– Cô Tư, tôi đi theo cô đuợc hôn?
Ông và hỏi và vói nắm tay cô. Cô Tư giựt tay và cười mà hỏi:
– Ði theo làm chi?
– Tôi thuơng cô quá, tôi muốn tỏ hết tình của tôi cho cô biết. Tại cô phụ-rãy tôi, nên tôi mới máng con quỉ nầy đó.
Cô Tư suy nghĩ một chút rồi lắc đầu nói rằng:
– Anh đi theo bây giờ không tiện. Xe có sốp-phơ, có con nhỏ ở, nói chuyện gì được. Thôi để bữa nào anh lại nhà tôi, rồi anh muốn nói gì thì nói. Tôi ở đường Mayer,( Ðinh Tiên Hoàng ) số 563 anh biết hôn?
Ông Hội-đồng mừng quá, gặc đầu lia-lịa mà nói:
– Biết, biết. Ðể mai tôi lại. Cô phải ở nhà chờ tôi đa.
– Cồ Tư lắc đầu nói:
– Mai không được, vì tôi mắc có khách ở Vĩnh-long lên thăm.
– Thôi mốt.
– Mốt thì được. Mà tối rồi anh sẽ lại nghe hôn. Anh đừng có lại ban ngày, xóm-riềng họ thấy họ dị-nghị. Tối mốt tôi cho con cháu tôi đi coi hát và cho phép bồi bếp đi chơi, đặng nói chuyện cho dễ.
Cô nói dứt lời, rồi cô bươn-bả ra cửa ngõ, leo lên xe mà đi. Ông Hội-đồng đứng ngó theo, trong lòng ngơ-ngẩn

III

Ngày hẹn đã đến. Ông Hội-đồng Thành kiếm chước nói có mấy người bạn mời ăn cơm đặng bàn tính quốc-sự, nên vừa chạng-vạng tối thì ông rửa mặt chải đầu, thay quần đổi áo, sửa-soạn mà đi. Cô Ba Huyền có việc riêng, cô cũng muốn đi Chợ-lớn, cô nghe ông Hộ-đồng nói như vậy thì cô mừng thầm, song cô làm tỉnh mà nói rằng: “ Mình đi khuya, ở nhà buồn chết, ai chịu nổi. Thôi, mình đi hội, thì tôi đi coi hát”.

Ông Hội-đồng trong trí đầy cái hình-trạng của cô Tư Thanh-Thủy, ông không cần biết cô Ba Huyền đi đâu, nên ông hứa hễ ông xuống tới nhà hàng rồi thì ông trả xe về cho cô muốn đi đâu thì đi. Chừng hội rồi ông xe kéo cũng đươc.

Thiệt quả xuống tới nhà hàng thì ông biểu sớp-phơ đem xe về liền. Ông ăn sơ-sịa vài món rồi kêu xe kéo mà trở lên đường Mayer. Ông ngồi trên xe, đèn hai bên đường chấp-chóa, gió thổi hiu-hiu, trí quơ-quẩn nhớ cô Tư, lòng phập-phòng trông gặp mặt. Ông nghĩ những lời cô Tư châm-chích đêm nọ, ông nhớ thiệt quả cô Ba Huyền hay đi Chợ-lớn, ưa vô Trường đua, ông lại nhớ một lần kia ông đi mua đồ với cô Ba Huyền tại đường Ca-ti-na, ông vô nhà hàng, cô ngồi ngoài xe, chùng ông bước ra thì thấy cô đương nói chuyện với một người ngồi trên xe kéo, người ấy đội một cái nón đa thiệt to, mặc một bộ đồ xá-xị còn mới, mặt mày dữ-tợn, hình vóc dình-dàng, người ấy thấy ông thì biểu xe kéo đi, song còn nói vói rằng: “Mai phải có đa”. Ông hỏi người ấy là ai, thì cô nói: “Anh nầy là chồng chị Hai Cán, hồi trước chỉ có mượn tôi mười đồng bạc, tôi gặp ảnh tôi đòi, ảnh hẹn mai ảnh lãnh tiền rồi ảnh trả”.

Lúc ấy ông Hội-đồng tin như lời, bây giờ có cô Tư Thanh-Thủy châm-chích, ông lại đoán quyết người ấy là chồng của cô Ba Huyền, lời dặn “mai phải có” đó là biểu đem bạc đưa cho nó. Ông vừa giận vừa hổ thầm, giận vì chúng lấy tiền bạc của mình mà nuôi thiên-hạ, hổ vì mình có học thức, có tên tuổi, mà còn bị điếm-đàng lường gạt. Ông thầm nghĩ nếu ông được gần cô Tư Thanh-Thủy thì ông sẽ đuổi cô Ba Huyền liền, ông chẳng tiếc chút nào hết; cô Thanh-Thủy tuy lớn tuổi hơn, nhưng cô có sắc, cô có hạnh, cô hiền-đức, cô thông- minh, cô khôn-ngoan, cô thành-thiệt hơn bội phần.

Xe kéo ngừng trước cửa cô Tư Thanh-Thủy thì trong trí ông Hội-đồng Thành đương quyết-định như vậy đó. Ông trả tiền xe, miệng cườí ngỏn-ngoẻn.

Nhà ba căn, đèn khí đốt sáng trưng, nhưng mà cửa giữa với cửa bên tay mặt đóng kín, chỉ căn bên tay trái cửa còn mở một cánh mà thôi. Ông Hội-đồng thấy cảnh như vậy thì ông mừng thầm, chắc rằng cô Tư rước mình mà sợ thiên-hạ thấy, nên cô mới sắp-đặt kỹ-lưỡng dường ấy. Ông đi nhẹ-nhẹ, lóng nghe trong nhà vắng hoe. Ông vừa bước vô cửa thì cô Tư Thanh-Thủy ở trong buồng cũng vừa đi ra phía trước; cô trang điểm cũng như sửa-soạn đi chợ, hay đi coi hát vậy, mặt giồi phấn, môi thoa son, áo quần nhổn-nha, tóc tai chải-chuốt, coi còn đầm-thấm, còn mặn-mòi hơn đêm nọ nữa. Cô thấy ông thì cô cúi đầu chào rất hữu đuyên, miệng chúm-chím cười như hoa nở.

Cô chỉ một cái ghế mà mời ông ngồi, rồí nói nhỏ nhỏ rằng: „Tôi cho bày trẻ đi chơi từ hồi tối tới giờ. Sao lại khuya vậy?” Cô liền lấy cái bình trà để trên bàn mà rót một tách, rồi bưng lại mời ông uống. Cô đứng trước mặt ông, cách ông chừng vài gang, chống một cánh tay trên cái bàn, mình uốn-éo, mắt long-lanh, mùi dầu thơm bay bát-ngát, làm cho ông mê-mẩn tâm thần. Ông vói nắm tay cô mà nó rằng: “Cô Tư, đứng xít lại đây tôi nói chuyện. Thiệt tôi không dè mà có ngày nay… Tôi thương cô quá! ….”.

Cô giựt tay, đứng nghiêm-chỉnh, ngó ngay ông mà hỏi lớn rằng: “Anh làm cái gì vậy? Tôi mời anh lại nhà tôi đặng tôi nói chuyện cho anh nghe, chớ có gì khác đâu. Anh tưởng tôi tổ-chức cuộc gió trăng hay sao, mà anh nắm tay tôi? Anh đã lớn tuổi, đã có vợ con, mà cứ giữ cái tánh hồi còn con trai hoài, không chịu bỏ! Anh tưởng tôi như con Ba Huyền vậy hay sao? Không, tôi không phải thuộc về cái hạng người ấy đâu. Tôi thương anh lắm, mà tôi lại thương chị Hai còn nhiều hơn nữa. Vì tôi thương chị Hai, tôi không đành giết chỉ, nên mấy năm nay anh theo ve-vãn mà tôi kháng-cự hoài. Anh thiệt ác lắm! Anh có một người vợ hiền-đức, tối ngày lo giữ của, lo nuôi con, biết thương chồng, biết trọng chồng, anh lại không thương, đành theo con đĩ mà bỏ vợ ở nhà sầu-não vóc ốm mình gầy, bỏ sấp con dại thân-sơ thất-sở. Sao anh đành-đoạn dữ vậy, anh Hai? Chị Hai phải chết … Trong một vài tháng nữa đây chớ không lâu đâu …”.

Cô Thanh-Thủy nói tới đó, cô té ngồi trên một cái ghế úp mặt vào một bàn tay mà khóc rấm-rứt.
Ông Hội-đồng Thanh ban đầu chưng-hửng, chừng ông nghe những lời thê-thảm, thấy cái bộ bi-ai của cô Tư thì lần-lần ông cảm-động, ngồi buồn-hiu, không biết lấy lời chi mà đối-đáp.

Ðương lúc ông Hội-đồng tâm-thần bất định đó, thình-lình ba đứa con của ông là Kim-Lang, Tấn-Ðức và Kim-Cúc, ở trong buồng ào chạy ra kêu ba, rồi xúm lại ôm ông mà khóc, đứa thì hỏi: “Ba đành giết chết má hay sao ba“, đứa thì than: “Ba nỡ bỏ con hay sao ba”. Cái cảm chan-chứa đã đầy rồi, bị ba đứa con nó cho cảm thêm nữa, nên tự-nhiên phải tràn-trề. Ông Hội-đồng ngồi trân-trân như hình đá, mà hai hàng nước mắt chảy ròng-ròng.

Cô Tư Thanh-Thủy day vô buồng mà kêu: “Chị Hai, chị ra đây”. Cô Kim-Diệp bước ra thấy cái cảnh cha con líu-nhíu, cha khóc con than, thì cô động lòng, nên cũng té ngồi trên một cái ghế mà khóc, chớ hông nói tiếng chi được hết.

Cô Tư Thanh-Thủy thừa cái cơ-hội ấy, cô và lau nước mắt và nói: “Anh Hai, anh thấy chị Hai đó hay không? Ngày anh cưới chỉ có phải chỉ như vậy đâu. Tại anh mà ngày nay chỉ còn da bọc xương, anh coi cái tội của anh lơ là dường nào hử? Làm chồng thì quyết giết vợ, làm cha thì không thương con, anh ăn ở chi mà ác lắm vậy?”.

Ông Hộỉ-đồng càng khóc nhiều hơn nữa, mà vợ con ông cũng đồng khóc với ông. Ông khóc một hồi rồi ông mới nói rằng: “Tôi quấy với má bày trẻ nhiều lắm, nhờ cô Tư vén cái màn hắc-ám giùm cho tôi, thiệt tôi cám ơn không biết chừng nào. Tôi ngồi giữa nhà nầy, tôi thề quyết từ rày về sau, tôì không hề xa vợ lìa con, chẳng hề làm cho vợ con buồn rầu nữa. Tôi xin má bày trẻ cũng vậy, quên hết cái lỗi cũ của tôi đi, đặng cho tôi an lòng mà ăn-năn sám-hối”.

Cô Tư Thanh-Thủy nói: “Nếu anh biết thương vợ con anh, thì chẳng những là tôi không giận anh, mà tôi còn thương anh nữa”.

Ông Hội-đồng dã-lã với vợ, dan-díu với con tới 10 giờ rồi ông từ mà về Phú-nhuận, ông hứa khuya ông sẽ trở lại đặng rước vợ con về Cái Tắc.

Ông về nhà thì cô Ba Huyền đi chưa về. Ông ngồi viết một bức thơ mà từ cô và cho đứt cô nhà cửa cùng các tài-vật trong nhà. Ông bỏ quần áo vào hoa-ly rồi vô mùng mà ngủ. Cách một lát, cô Ba Huyền về, ông hay mà ông không thức dậy.

Ðến 4 giờ khuya ông dậy, ông để phong thơ tại đầu nằm cô Ba Huyền, xách hoa-ly ra xe, rồi kêu sớp-phơ dậy mà đi. Xuống đường Mayer, ông ghé nhà cô Tư Thanh-Thủy mà rước vợ con.

Khi dắt con lên xe mà về với chồng, cô Kim-Diệp nắm tay cô Tư Thanh-Thủy và khóc và nói rằng: “Có như vầy mới biết chỗ nào thiệt, chỗ nào giả. Chị đã nói với em từ hồi hôm tới giờ, từ rày về sau chị em mình phải ở chung với nhau một nhà. Ðể ít bữa, chị mạnh rồi chị sẽ tính. Em phải nghe lời chị, đừng có ái-ngại chi hết”.

Cô Tư Thanh-Thủy châu mày và ngó lơ, không đối-đáp chi hết. Nhưng mà xe rút chạy, cô đứng ngó theo cho tới chừng xe quẹo khuất rồi, cô mới thủng-thẳng trở vô nhà, miệng cười ngỏn-ngoẻn.

Sài-gòn, Avril 1935.

————————————————————————————————————–

Hồ Hữu Tường – Những ngày cuối đời

Tác giả Phan Chính

 

Hồ Hữu Tường với tư thế một đại thụ trên lĩnh vực báo chí và văn học còn là một nhà chính trị độc lập nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975. Cuộc đời ông có cái duyên nợ với mảnh đất La Gi – Hàm Tân (Bình Thuận) như một tình cờ, nhưng với tôi lại có những điều đáng nhớ. Tập Kể chuyện(Huệ Minh xuất bản 1965) gồm 9 câu chuyện kể, viết cùng Nguiễn Ngu Í, một nhà văn nhiều giai thoại và cách tân chữ viết, quê ở Hàm Tân.

Như một định mệnh, Hồ Hữu Tường có những ngày cuối đời sau 70 năm thăng trầm khổ ải rồi dừng lại ở đây.Trên một số websiteở nước ngoài đều ghi rằng sau những năm cải tạo, Hồ Hữu Tường được trả tự do và mất tại Gia Định. Có trang viết một cách mập mờ là “Hồ Hữu Tường – một người chết u uẩn”, có gì đó ám chỉ về chế độ lao tù.

Nhưng đều chính xác ngày mất của Hồ Hữu Tường là ngày 26.6.1980. Thời gian này tôi đang làm việc tại Bệnh viện huyện Hàm Tân (tỉnh Thuận Hải, năm 1992 trở lại tên Bình Thuận) phụ trách Phòng Y vụ, một bộ phận trực tiếp với Giám đốc về chuyên môn.

Đây là cơ sở cũ, trước ngày giải phóng 23/4/1975 là Bệnh viện Phối hợp Dân Quân y tỉnh Bình Tuy mà tôi cũng từng làm việc ở đây dưới lớp áo Quân y Việt Nam Cộng hoà.Năm 1980, bệnh viện này là tuyến huyện với 120 giường, tình trạng trang thiết bị hầu như tận dụng lại những gì đã có, tiếp tục hư hỏng ngày càng nhanh và nhếch nhác. Số bác sĩ cũ không còn, một số có trình độ trung cấp, sơ học được sử dụng lại, gọi là lưu dụng, nhưng lần lượt bị loại dần do lý lịch… bù vào số cán bộ từ khu về, từ miền Bắc chi viện.

Ngoài năm hay sáu bác sĩ còn lại, rất nhiều chức danh y sĩ (xếp ngang trình độ trung cấp y tế sau này), được quyền mang ống nghe khám bệnh kê đơn, giữ các chức vụ Bệnh viện phó, Trưởng khoa, nhưng các tên thuốc Tây trên toa thuốc chỉ viết bằng phiên âm theo cách đọc. Trong khi đó cán sự điều dưỡng học 4 năm chỉ xếp là y tá trung cấp, thực hiện chỉ định của y sĩ.

Có lúc chiếc máy X-quang làm chức năng chụp phim chẩn đoán rất hiện đại, đặt trong phòng có vách chì cản tia phóng xạ độc hại cho người, lại bị đập bỏ cho rộng và chỉ dùng bộ phận rọi (gọi là rọi kiếng), tức xem trực tiếp theo kiểu cũ cách đó trên 20 năm. Kết quả thế nào tùy thuộc do nét bút vẽ mô tả của y sĩ đứng máy, thay vì có phim như trước đây.

Thuốc men thì cũng rất khó khăn, phải phát động phong trào Đông Tây y kết hợp. Loại thuốc xuyên tâm liên trị bá bệnh, tức bệnh nào cũng uống được, mỗi lần hàng chục viên, đắng đến nỗi… hết bệnh. Trị sốt xuất huyết thì có cây cỏ mực sao tẩm nấu thành xi-rô, trị sốt rét có lá mãng cầu ta sao sắc uống… Các loại vitamine tiêm thì cao cấp hơn như B1, B6, B12 được mua hoá chất từng ký, về hòa nước cất, sản xuất tại chỗ, vào ampule hoặc lọ pénicillin đã dùng… Dịch truyền loại 5%, 10% cũng vậy.

Dây truyền, kim tiêm phải luộc đi luộc lại nhiều lần để tiết kiệm, được coi là có sáng kiến cải tiến kỹ thuật.[1] K hông có băng keo cố định kim tiêm dịch truyền cho bệnh nhân được thay bằng sợi dây nang lá buông. Bệnh dù có nặng mấy đi nữa cũng phải đi theo hệ thống tuyến xã, huyện, tỉnh, trung ương… cơ quan, đơn vị ở địa bàn nào cũng theo con đường đó.

Từ bệnh viện huyện muốn chuyển bệnh nhân lên bệnh viện tỉnh phải có biên bản tập thể do y bác sĩ các khoa hội chẩn, cho nên có truờng hợp bệnh sản đẻ khó mà bác sĩ, y sĩ khoa Nhi hoặc Đông y cũng được tham dự và cho ý kiến. Có khi phải xin ý kiến Bí thư Chi bộ, dù anh ta chỉ là cán bộ chính trị. Có sự ràng buộc đó cũng vì sự khắt khe quái ác của các chỉ tiêu tử vong, chuyển viện… Nhiều quá thì mất điểm thi đua.

Như vậy thì không thể nào có bệnh nhân được chuyển thẳng về các Bệnh viện ở Sài Gòn, dù biết bệnh tình có ra Phan Thiết cũng chào thua.Trước đó không lâu, tôi là một trong những người trực tiếp tiếp xúc với trường hợp đại sứ Đinh Bá Thi, là đại sứ đại diện Chính phủ CHXHCNVN tại Liên hợp quốc (tại Mỹ) về nước công tác tại Bộ Ngoại giao. Chuyến xe đi mua hàng thực phẩm mỗi sáng sớm của Trại giam Z30C chở 4 nạn nhân và 1 trẻ em đến bệnh viện.

Ông Thi bị vết thương ở đầu, lột cả mảng da tóc khá rộng, còn người vợ bị nhiều chấn thương đã hôn mê. Người chị vợ, anh lái xe và đứa cháu ngoại của ông Thi chỉ xây xát nhẹ. Lúc vào viện, ông Thi còn tỉnh táo và bảo cố gắng chăm sóc người khác, ông không tự giới thiệu mình là ai! May mà anh lái xe còn tỉnh táo, mới cho biết đó là ông Đinh Bá Thi trên đường công tác sau đêm ngủ tại nhà khách Uỷ ban Tỉnh ở Phan Thiết, sáng đi Thành phố Hồ Chí Minh, đến căn cứ 8 thì bị một chiếc xe tải cùng chiều ép, làm cho chiếc Comanca lật nhào mấy vòng.

Tôi nhận ra đây là một yếu nhân, biết tiếng ông từng là người cùng bà Nguyễn Thị Bình đại diện cho Chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại bàn hoà đàm Paris. Sau này biết thêm, ông trên đường đi truyền đạt chỉ thị quan trọng trước sự đe dọa can thiệp của Trung Quốc dưới chiêu bài cứu nạn kiều Sài Gòn trong chiến tranh biên giới vừa nổ ra. Sau mấy giờ cấp cứu chờ xe 05 của Bệnh viện Tỉnh đưa đội phẫu thuật vào thì ông Đinh Bá Thi tắt thở, xác quàn tạm ngay trong phòng mổ chờ ý kiến của tỉnh.

Huyện giao cho Xí nghiệp Cơ khí gấp rút làm chiếc hòm kẽm có thêm một lớp chứa được đá lạnh để giữ tươi thi hài, đem đặt tại hội trường Ủy ban Huyện. Khuya đêm đó xe của Văn phòng Đại diện Bộ Ngoại giao phía Nam ra và chuyển vào áo quan, đem về Sài Gòn. Nhắc đến sự kiện này để thấy tình trạng nghèo nàn của hệ thống y tế dù đã gần 6 năm giải phóng. Nhiều người so sánh, nếu có máy bay cấp thời chở ông Thi về Chợ Rẫy, có khả năng ông qua khỏi.

Cách bệnh viện chừng 300 mét, phía sau nhà bưu điện bây giờ, trước giải phóng có một sân bay trực thăng, bất cứ đêm ngày có bệnh nặng cần chuyển cấp cứu đều đáp xuống chở ra Hạm đội 7 hoặc Bệnh viện Long Bình.Trở lại trường hợp Hồ Hữu Tường, khoảng đầu tháng 6 năm 1980, xe của Trại giam Z30C chở đến với yêu cầu điều trị. Trên địa bàn Hàm Tân, xã Tân Minh lúc này có 2 trại giam Z30C và Z30D nằm liền kề, còn gọi là trại Thủ Đức, rộng hàng ngàn hec-ta đất rừng tiếp giáp Núi Bể và cặp đường quốc lộ I, giáp ranh đất tỉnh Đồng Nai.

Tù nhân cải tạo hầu hết là thành phần quan chức, sĩ quan tướng tá chế độ cũ và mắc tội chính trị chống đối sau này. Nay nhập một gọi là Trại Z30D thuộc Cục Quản lý Trại giam (V26) Bộ Công an, xe chạy Bắc – Nam ngang qua thấy trạm xăng Đức Khải rất bề thế với màu sắc đỏ mà chủ nhân là người có tên Anh Lâm, trước đây bị án chung thân về tội buôn lậu, cũng là tù nhân “đặc biệt” của trại này.

Trước khi đến Trại giam Z30C, từ năm 1977 Hồ Hữu Tường đã vào tù, từng qua các trại giam Phan Đăng Lưu, Chí Hoà và Long Bình… Theo cán bộ canh giữ, ông được giao chăm sóc vườn thuốc nam thuộc bệnh xá của Trại.

Hồ Hữu Tường cao lớn, cặp vành tai của tướng mạo trường thọ, tóc đậm sắc muối tiêu, còn đi đứng được. Trong hồ sơ có ghi đến chức vụ của ông tham gia tổ chức phản động là Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Trung lập Phục quốc Việt Nam gì đó, tôi nhớ chưa đầy đủ lắm!

Chẩn đoán là xơ gan cổ chướng, bụng ông to độn lên áo trông thấy rõ. Nhập vào Khoa Nội 2, bác sĩ Nguyễn Văn Thảo phụ trách. Tên tuổi của Hồ Hữu Tường từng khuấy động sân khấu chính trị miền Nam từ thời Diệm đến thời Thiệu… Mới đó, với danh nghĩa dân biểu Hạ nghị viện, ông đã cùng giới báo chí làm cuộc biểu tình “Ngày ký giả ăn mày” (10/1974) đòi tự do báo chí.

Năm 1926 sang Pháp học Đại học Marseille, đậu thạc sĩ toán Đại học Lyon… rồi làm chính trị, làm báo, viết văn…, rồi thời Pháp thuộc, đến lúc Mỹ sang và sau cùng là Thiệu, tù tội với ông đều có, Diệm từng kêu án tử hình và có văn hào Pháp Albert Camus viết thư can thiệp.

 

Trong hàng chục tác phẩm của Hồ Hữu Tường, tôi chỉ nhớ được một ít tựa sách và chỉ đọc đôi quyển như Phi lạc sang Tàu, Phi lạc đại náo Hoa Kỳ, Kể chuyện, Luận lâm, Người Mỹ ưu tư… Trong bài tựa của tập Kể chuyện, ông viết: ”Mục đích của tôi là lập một cuộc tạ ơn những vị giáo sư đã dạy tôi viết văn nhà quê, hoang đường, trào lộng và châm biếm, đặc biệt của nông dân miền Tây Nam bộ vào đầu thế kỷ XX này…

Sinh ra ở Cái Răng, Cần Thơ, thấm đậm cái chân chất Nam bộ, nhưng ông là con người có tư tưởng xuất chúng hiếm hoi.. Ông thật lòng nói, “thầy dạy là những người bạn có lúc đồng chí hướng như Phan Văn Hùm khuyến khích và chịu khó năn nỉ dạy không công cho tôi viết văn, tôi lại lười biếng“!

 

Nhiều chính khách nhận xét về Hồ Hữu Tường, rằng ông là con người của chủ nghĩa dân tộc, người đề xướng giải pháp trung lập chế v.v… Với những điều đó tôi hiểu rất lờ mờ, đơn giản chỉ thấy lay động trước tên tuổi một Hồ Hữu Tường.

Ngay chiều ấy tôi ghé nhà cậu ĐĐC – Châu Anh báo tin này vì Châu Anh là bạn Nguiễn Ngu Í, biết Hồ Hữu Tường khi làm báo ở Sài Gòn, nhưng cậu ngại không đến thăm. Là tù nhân chính trị nên trại cử một anh công an theo canh giữ, không ai dám đến gần bắt chuyện, dù là nhân viên y tá trong khoa. Tôi có lợi thế là làm công tác y vụ, tức bộ phận quản lý điều hành chuyên môn ở bệnh viện, nên có lý do tiếp xúc với ông công khai mà không bị ai dòm ngó.

Ông than với tôi rằng chiếc mùng vải xô của bệnh viện phát bị thủng rách nhiều chỗ quá, muỗi chui vào cắn không ngủ được. Thêm nữa, tôi hỏi ông thèm ăn gì. Ông nói cá, cá… Nhà tôi ở xóm Phò Trì, cách bệnh viện 2 cây số, đi làm bằng chiếc xe đạp cọc cạch thường tuột xên, nhà chỉ có một chiếc xe này, may là vợ tôi đi dạy học ở một trường nhỏ gần nhà. Vợ tôi mua mấy lát cá thu, chỉ tẩm một ít gia vị, chút nước mắm nhạt vì bệnh ông không được ăn mặn. Hai lát cá thu vừa đủ trong một hộp nhựa để mang đi kín đáo. Ông ăn một cách ngon lành và trông ông hiền từ như ông Phật. Tôi gói mấy đoạn chỉ và kim may để ông vá lại các lỗ thủng chiếc mùng. Ông cứ loay hoay vá, lại vá, tôi hỏi bác làm gì nhọc vậy. Ông cười, quen rồi đời tôi cũng thế, phải vá mãi!

Trong cái túi đồ dùng của ông có nhiều thuốc Tây ngoại và ma-gi (xì dầu) cũng ngoại, ông nói nhờ các con ở nước ngoài gởi về. Khi ông có chút tin tôi, ông mới nhờ tôi nhắn tin cho gia đình. Lúc ấy chỉ có viết thư điện tín ở bưu điện, chuyển bằng moọc tích tích te te.

Hai ngày sau vợ ông, bà Nguyễn Huệ Minh, đi xe than từ Sài Gòn ra đến bệnh viện gần cuối chiều. Hai ông bà ôm chầm lấy nhau một cách tự nhiên ở ngay hiên khoa nội, làm ai cũng thấy lạ nhưng thật bùi ngùi. Tôi lén lút đưa bà về nhà tôi để tắm rửa và bàn chuyện bệnh tình của ông vì sau mấy ngày nhập viện bệnh ông có triệu chứng nặng hơn, theo chuyên môn phải chuyển viện, mỗi ngày phải dùng bơm tiêm lớn chọc dò, rút ra cả lít dịch axit từ màng bụng ông mới dễ thở. Chỉ báo lại trại Z30C, họ sẽ mang ông ra bệnh viện Phan Thiết thôi, là xong. Nhưng ra đó là chết và coi như chết trong tù, chôn cất theo tù… Tôi nghĩ đến điều đó phải xảy ra.

Tôi không có một xu hướng chính trị nào, trước đây cũng vậy, dù cộng sản hay quốc gia, chỉ mong đợi hoà bình, bên nào cũng được… Hồi năm 1974, thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang, Tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà ký lệnh thuyên chuyển số 11075 đẩy tôi về Bệnh viện Tiểu khu An Xuyên (Cà Mau) với lý do ghi rõ: “Có tư tưởng hành động chống chánh phủ cũng như chánh quyền địa phương”, cho đến sau ngày giải phóng tuy còn tiếp tục làm việc với ngành y nhưng không phải yên ổn gì, mỗi năm không ít hơn ba bốn lần khai lại lý lịch.

Những câu hỏi của cơ quan an ninh từ một hồ sơ nào đó trong tàng thư của cơ quan Cảnh sát Việt Nam Cộng hoà để lại (sau này tôi biết có phiếu điều tra lý lịch của Ty Cảnh sát Quốc gia Bình Tuy lập 5/5/1974) ghi về mối quan hệ anh em giữa tôi với dân biểu Trần Ngọc Châu và điệp báo cộng sản Trần Ngọc Hiền (Trần Ngọc Hiền vào Nam hoạt động lúc Trần Ngọc Châu làm tỉnh trưởng Kiến Hoà tức Bến Tre và Hiền bị bắt lúc Châu là dân biểu Tổng thư ký Hạ viện).Sự thực Trần Ngọc Châu với tôi là anh em cùng mẹ khác cha, còn Trần Ngọc Hiền với Châu là anh em cùng cha khác mẹ. Nhưng lúc này Trần Ngọc Châu đã bị Tổng thống Thiệu bỏ tù, không liên quan gì.

Với Hồ Hữu Tường, tôi ngưỡng mộ ông ở văn tài, con người minh triết, chứ tôi không mê ông ở phương pháp hành động. Truyện ngắn “Con thằn lằn chọn nghiệp” trong tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta (NXB Sóng, Sài Gòn 1974), theo bà Huệ Minh là truyện ông tâm đắc nhất. Phải chăng kiếp con thằn lằn có gì đó là hình ảnh của kiếp người ông đang cưu mang? Suốt đời lầm lũi tìm đủ phương kế ngăn chặn kẻ cuồng tín, u mê, tự hủy hoại, giết hại nhau… vì một mục đích hão huyền, lại cho đó là thiên đường!

Chuyện kể trong tù, một hôm có người tù trẻ cùng phòng hỏi Hồ Hữu Tường: “Bác Tường ơi, bác biết tại sao từ thời Pháp đến Mỹ, rồi cả bây giờ bác cứ ở tù dài dài không?” – Ông nói, “Mày trả lời giùm tao đi!” Anh ta nhanh nhẩu: “Dễ quá, Bác có tên là Hữu Tường nên bác ‘hưởng tù’ dài dài thôi!” Ông trầm ngâm, “Có thể thằng này nói đúng.”

Như có cùng một suy nghĩ, bác sĩ Thảo làm rất đầy đủ bệnh án của một bệnh nhân bị đe dọa tử vong bất cứ lúc nào. Bác sĩ Thảo học y khoa Huế trước giải phóng và sau giải phóng mới tốt nghiệp, rồi xin về Hàm Tân. Sau này lấy vợ cùng ngành rồi đi theo đường bảo lãnh qua Mỹ.

Tôi nhanh chóng hoàn tất hồ sơ cho Giám đốc bệnh viện Vương Xuân Long ký với yêu cầu Z30C sớm đưa về chữa trị ở Sài Gòn, đây là một ngoại lệ. Có sự bàn bạc thế nào đó ở trại giam và họ báo với bà Huệ Minh phải làm đơn bảo lãnh xin đưa về Sài Gòn. Sau đó bà Minh về lại Sài Gòn và thay bà là người em gái của ông. Mấy ngày sau, Z30C có văn bản của Bộ Công an quyết định tạm tha Hồ Hữu Tường để đi điều trị. Có lẽ ai cũng tiên lượng được tình trạng bệnh tật của ông đã liền kề cái chết và cũng tránh dư luận xấu về cách đối xử với  một nhân vật nổi tiếng nên dễ dàng có một quyết định như thế.

Được biết trước khi ông chuyển về trại Z30C, có phái đoàn Ân xá Quốc tế đến thăm hỏi và can thiệp. Có được giấy tạm tha, nhưng người em gái của ông, tuổi ngoài 60 chân quê, không tính toán được gì và tôi phải làm một cái gì giúp ông. Tôi gặp người bạn Nguyễn Phát Minh, anh có chiếc xe tải Daihatsu chở cá ướp đá chạy đường quốc lộ 46 – La Gi, giá xăng xe 200 đồng, để gấp rút chở ông về Sài Gòn. Xe ghé nhà tôi lấy chiếc nệm giường cá nhân, lót lên sàn xe và lên bệnh viện nhận bệnh. Lúc ấy bác sĩ Nguyễn Văn Khánh, chuyên khoa răng – muốn về thăm nhà, tôi can thiệp để bác sĩ Khánh nhận làm y tá chuyển bệnh. Tôi báo lại cơ quan có việc nhà xin nghỉ phép, về nhà dắt con gái Bảo Vy 6 tuổi lên đầu dốc Tân An đón xe chở ông lên.

Xe đến Tân Minh thì trời mưa tầm tã, phải dừng lại để kiểm tra khi qua mấy trạm quản lý thị trường, vì đây là loại xe thường chở hàng hải sản. Chai dịch truyền đong đưa dưới mui xe cạn dần và tôi phải tiêm cho ông mấy mũi campho… Xe đến Gia Định khoảng 5 giờ chiều, hướng về nhà ông ở Đa Kao vì trước đây bà Huệ Minh nói nếu đưa được ông về Sài Gòn thì có mấy người bạn thân là bác sĩ Lương Phán, bác sĩ Nguyễn Thị Lợi chăm lo. Theo giấy chuyển viện, chỉ được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thôi, nhưng tôi chuẩn bị thêm một giấy chuyển viện ký khống để dự phòng, với ý định ghé nhà để hỏi ý kiến vợ ông quyết định.

Chỉ còn khoảng 100 mét quanh qua góc đường Trần Quang Khải là đến nhà, thì Hồ Hữu Tường tắt thở trên xe. Lúc này cảnh nhà trống vắng không có ai, mới biết bà Huệ Minh vừa ra Hàm Tân hồi sáng nay. Người em gái ông loay hoay cùng tôi và Minh khiêng xác ông vào nhà. Tôi chỉ kịp thấy căn nhà lầu bề thế, phòng khách có một bức tranh rất rộng treo trên tuờng. Chuyện tiền xe lúc này tôi không dám hỏi để trả cho Minh đổ xăng vòng về, nhưng có hỏi thì biết ai. Chúng tôi về Phú Thọ ngủ đêm ở nhà em tôi và sáng ghé qua nhà ông, bà Huệ Minh chưa thể về kịp, người em gái ông gởi lại tiền xăng cho Phát Minh…

Từ ngày đó tôi không còn liên lạc gì, dù nhiều lần về Sài Gòn, vì không muốn vương víu đến chuyện nghĩa ơn. Sau này bà Huệ Minh cho tôi biết, khi bà từ Hàm Tân về nhà thì tin dữ đến với gia đình. Hồ Xích Tú, người con trai đầu của ông bà, bị bắt tại Bến Tre do vượt biên. Trước giải phóng, Tú là giám đốc Nha nhân viên Hàng không, nhưng trong những ngày cuối cùng Sài Gòn sụp đổ, Tú chần chờ cùng với cha ra đi, nhưng Hồ Hữu Tường tin rằng mình là người yêu nước, quyết định ở lại.

Sau này nghe nhà báo Lê Phương Chi nói, đám ma Hồ Hữu Tường đông lắm, có nhiều người không dám nhập vào đám đưa tang mà âm thầm đi trên lề đường đưa tiễn. Anh còn gợi ý tôi viết lại chi tiết những ngày cuối của Hồ Hữu Tường, đó là một nhân vật đặc biệt kỳ tài.Khoảng tháng sau, tôi nhận được vài dòng thư của bà Huệ Minh: “Chú Chính, không biết lời nào để nói hết được lòng biết ơn của gia đình tôi đối với chú” kèm theo 30 đồng. Tôi mới nhớ lại, hôm bà ra chăm sóc ông, đến ngày phải về Sài Gòn bà lúng túng bảo rằng không còn tiền và tôi vét được 30 đồng đưa cho bà. Lương tôi lúc đó là 47 đồng, tiêu chuẩn gạo tháng 13 kg nhưng trên 60% là độn bột mì hoặc bo bo…

Nói đến chuyện cơm áo thời đó, có khi kể lại thì thế hệ trẻ bây giờ cho là cổ tích, hoang đường. Không đâu, có một gia đình, anh chồng làm nhân viên đưa thư, vợ nấu bếp cho cửa hàng thương nghiệp mà phải nuôi 6 đứa con. Tiêu chuẩn mỗi gia đình chỉ được 2 nhân khẩu lương thực ăn theo. Hai vợ chồng phải đưa nhau ra tòa ly dị (tất nhiên là giả) để có thêm tiêu chuẩn lương thực ăn theo! Thời ấy còn khổ lắm, những người trước đây sống bằng đồng lương công chức, làm lính chế độ cũ đối mặt với sự thay đổi, bị hụt hẫng nên rất sợ lao động ruộng rẫy và không có một việc làm nào để sống, lại phải đi vùng kinh tế mới âm u. Mà bám vào một tập thể cỡ hợp tác xã hay cơ quan nhà nước thì coi như một cái phao cứu sinh.

Anh bạn Đỗ Hồng Hùng là dược sĩ Đại học Y Sài Gòn, bị động viên mang lon trung úy, nay xin làm xã viên hợp tác xã phân hữu cơ, ngày 4 tiếng đồng hồ phải gầm mình xuống Bưng Ngang, đỉa bám vào da, anh trân mình móc từng vốc bùn trộn tro rơm rạ chế biến phân bón. Mãi sau này bệnh viện mới nhận anh vào để “pha chế” thuốc Đông y. Trong bản lý lịch cá nhân luôn có phần kê khai hai, ba người bạn thân nhất, bóp bụng và dẹp sĩ diện lục tìm trong trí nhớ cho được người bạn nào đó có thành tích cách mạng, nếu đương chức quyền uy thì càng hay.

Nói đến điều này, tôi lại tự hỏi mình, có những quan hệ với Hồ Hữu Tường trong tình cảnh đó có phải là “liều” lắm không? Trong lòng tôi khi ấy không có gì lưỡng lự và thật sự thấy rất nhẹ nhàng. Khi ghi lại những dòng này thì câu chuyện tưởng mới đây mà đã trôi qua 28 năm rồi, nghe đâu bà Nguyễn Huệ Minh cũng đã mất. Đời người sao ngắn ngủi quá!La Gi 10/2008© 2008 talawas

Nguồn

[1] Đây có thể là một lý do cắt nghĩa tại sao hiện nay người VN bị bệnh siêu vi gan B và C rất nhiều. Các đảng viên cộng sản trung cấp đổ thừa là do Mỹ cấm vận nên VN không có thiết bị y tế. Nhưng thật ra Mỹ muốn bang giao với VN vào đầu năm 1976, dưới thời tổng thống Jimmy Carter. Nhưng đảng đòi hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh bất chấp phải đoàn thương thuyết của TT Carter nói rằng họ sẽ viện trợ cho VN còn nhiều hơn số tiền ấy, nhưng với một tên gọi khác và với một nguồn tiền khác; không nên nhắc đến chữ bồi thường chiến tranh vì công luận Mỹ vì sau 1975, cả âu châu, và quốc hội đã chán ghét và không còn muốn nghe chữ Việt Nam nữa.

Sau hơn 2 năm thương thảo với VN về chuyện bình thường hóa ngoại giao bị bế tắc vì sự cố chấp của đảng  CSVN, sự việc nầy đã thất bại hoàn toàn khi đảng CSVN bắt đầu tranh giành nhau quyền lực, Lê Duẫn muốn làm lãnh tụ ở VN, còn Lê Đức  Thọ và Lê Đức Anh muốn chiếm Kampuchea và  Lào làm vương bên ấy vì không thể tranh chấp với Lê Duẫn. Với  chuyện tấn công vào  Kampuchea,  TT Carter biết là tuyệt vọng, nên phái đoàn  Mỹ không còn lý do nào để thương thuyết nữa. VN tìm cớ tấn công vào Kampuchea cuối năm 1978, ở lại đó trên 12 năm với tổn thất trên 100 000 bộ đội và thanh niên xung phong bị chết, và hơn 200 000 người bị thương tật nguyền vĩnh viễn.

(nhiều nhà chính trị nói rằng: Sau khi chiến tranh VN kết thúc 1975, Mỹ không muốn đảng  CSVN xuất cảng cách mạng để nhuộm đỏ Thái Lan và các nước  Đông Nam Á; còn Trung Quốc thì không muốn VN giải phóng  Kampuchea và Lào để mở rộng liên bang Đông Dương.  Vì vậy, Đặng Tiểu  Bình công du qua Mỹ vào tháng 1-1979, đàm phán với Mỹ nhờ Mỹ và âu châu đầu tư tiền bạc và kỹ thuật giúp đỡ Trung Quốc phát triển, đổi lại, TQ sẽ cung cấp súng đạn cho Polpot, chặn bộ đội VN và làm cho suy yếu, không thể xuất cảng làn sóng đỏ qua các nước vùng  Đông Nam Á. (Ngay khi Đặng Tiểu  Bình còn ở bên  Mỹ vào tháng 1/1979, Đ. T. Bình đã cảnh cáo là sẽ dạy cho VN một bài học…). Mỹ đồng ý với kế hoạch của  TQ, nên mọi chuyện tiếp diễn như sau.

Sau khi Đặng  Tiểu Bình ở Mỹ về, Trung Quốc tấn công miền Bắc VN đầu vào tháng 2/1979 để buộc VN rút quân khỏi  Kampuchea.

Suốt thời gian 12 năm nầy, Mỹ, âu châu và LHQ kêu gọi VN rút quân về, nhưng  đảng csvn không chịu. Kết quả là VN bị cấm vận cho đến 1988.

Vào thời điểm 1986-1988, đảng  CSVN chịu hết nổi vì bị cả thế giới cấm vận, còn các nước cộng sản  Đông  Âu và Liên Xô lúc nầy đều đã bị suy yếu về kinh tế nên cúp luôn viện trợ thực phẩm như lúa mì, bo bo và xăng dầu.

Ở trong nước, đảng CSVN hồ hởi bắt tất cả nông dân nộp đất đai của họ vào hợp tác xã nông nghiệp từ 1976-1986, các nông dân bị ép buộc phải giao nộp đất đai để vào nông xã. Nhưng nông xã không sản xuất được đủ gạo suốt hơn 10 năm liền như sách của Mác và Lê nin đã ghi…Do đó cả nước VN ở bên lề nạn đói, dân ở Quỳnh  Lưu, Nghệ An nổi dậy chống chính quyền. VN bị đói suốt 12 năm 1976-1988, và  nạn đói hoành hành khắp cả nước, và lúc nầy Lê Duẫn bị tiểu đường và đã chết 1986, đảng chịu hết nổi nên đã phải đồng ý với LHQ và  Mỹ để rút quân khỏi  Kampuchea.

Viện trợ y tế cho VN được Mỹ tái lập vào năm 1987-1988. Thực phầm cứu đói cũng được Âu Châu và  Mỹ mua và chở đến  VN. Xăng dầu cũng được viện trợ vào  VN vào các năm nầy. Xe chạy bằng than bắt đầu biến mất khỏi các tuyến đường dài.

Đổi lại cho việc đảng  CSVN rút quân khỏi Kampuchea, Mỹ đã bỏ hẳn cấm vận và ra hiệu cho các nước  Đài  loan, Thái  Lan, Mã Lai Á, Nhật, Nam Hàn …đầu tư vào  VN từ năm 1988 để giúp đỡ phát triển kinh tế cho VN. Vì bị ngượng về chuyện nầy, nên các cố vấn nước ngoài gợi ý cho VN dùng chữ Đổi  Mới để các đảng viên CSVN trung thành với đường lối  Mác- lê không thắc mắc, và sau đó dùng thêm chữ “nền kinh tế thị trường theo đường hướng XHCN”…để làm im tiếng những ai vẫn còn thắc mắc, chứ trong sách Mác Lê Nin, Mao,…chữ nên kinh tế thị trường theo định hướng  XHCN  không bao giờ  hiện hữu.

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Công An và Cướp cùng một phe…

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2011

Từ lâu, nhiều blogger ở VN nhận định rằng: Công an bảo kê cho bọn cướp. Chỉ khi nào bọn cướp lộng hành quá đáng, giết người quá lộ liễu, thì mới bị công an tóm. Bình thường, bọn cướp “đi ăn hàng”, và đóng góp tiền hàng tháng nuôi công an.Đổi lại, công an sẵn sàng bao che bọn cướp.

Vì lý do đó nên khi bọn cướp bị các thanh niên tình nguyện phòng chống tội phạm (TNTN PCTP) bắt về giao cho công an, thì chỉ vài giờ sau hoặc 1 ngày sau, công an lại thả bọn cướp ra, và bọn cướp kiếm các TNTN PCTP và chém trả thù.  Vào bệnh viện nằm thì bọn cướp vào tới nơi…thương lượng. Thanh niên tình nguyện PCTP quá lo sợ, bèn kêu gọi phóng viên báo  Lao Động nhờ đưa tin…kêu cứu.

Nhưng thật đáng ngạc nhiên dân chúng đi biểu tình phản đối TQ một cách ôn hòa vào đầu tháng 6 năm nay, thì công an đứng đầy đường, vây bủa khắp nơi, trà trộn vào người biểu tình để bắt bớ và hăm dọa. Họ coi bôn cướp không đáng sợ bằng người dân đi biểu tình.

“Hiệp sĩ” bắt cướp nghiệp dư: Mong manh tính mạng

Thứ Tư, 29.6.2011 | 07:22 (GMT + 7)

Nhiều “hiệp sĩ” ở Bình Dương đã làm, thậm chí quá nhiệt tình, quá tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân khi tay không, liều cả tính mạng để bắt trộm cướp giao cho công an.

Thế nhưng rất nhiều lần, những tên trộm, cướp lại “tung tăng” ngoài phố chỉ 1 – 2 ngày sau khi cơ quan công an tiếp nhận, khiến cho các “hiệp sĩ” không khỏi lo lắng đến tính mạng mình và gia đình…

Giang hồ “hỏi thăm” hiệp sĩ?

Có mặt nhiều giờ đồng hồ buổi sáng hôm qua (28.6) tại Bệnh viện Thủ Đức, TPHCM, xung quanh Tiên, vòng trong vòng ngoài, hơn chục hiệp sĩ thuộc CLB phòng, chống tội phạm (PCTP) phường Phú Hòa (thị xã Thủ Dầu Một – Bình Dương) và nhóm thanh niên tình nguyện (TNTN) PCTP phường An Bình (đồng đội của Tiên) đến bảo vệ bởi lo đám côn đồ kia tiếp tục truy sát. “Chỉ có chúng tôi bảo vệ đồng đội mình suốt từ tối hôm trước đến giờ thôi!”. “Hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải (Đội trưởng CLB PCTP phường Phú Hòa) chua chát!

Đối tượng mặc áo thun trắng được các “hiệp sĩ” xác định có “chơi” với băng Tuấn “chó” đang “hỏi thăm” anh Tiên trên giường bệnh sáng 28.6. 	Ảnh: Ngô Nguyên
Đối tượng mặc áo thun trắng được các “hiệp sĩ” xác định có “chơi” với băng Tuấn “chó” đang “hỏi thăm” anh Tiên trên giường bệnh sáng 28.6. Ảnh: Ngô Nguyên

Khoảng 9h, quan sát của PV, có 2 đối tượng vào tận giường anh Tiên đang nằm. Anh Nguyễn Văn P (thuộc nhóm TNTN PCTP phường An Bình) khẳng định trong 2 người có 1 đối tượng mặc áo thun trắng dáng cao gầy có “chơi” với băng nhóm do Tuấn “chó” cầm đầu (theo anh Tiên, Tuấn “chó” đã cầm mã tấu chém anh). Đối tượng này ngồi lên giường anh Tiên hỏi thăm sức khỏe rồi thì thào thỏa thuận gì đó, chúng tôi nghe không rõ, chỉ nghe anh Tiên lớn tiếng: “Mặc mấy anh làm gì thì làm, tôi không biết, tôi không bỏ nghề bắt cướp đâu!”.

Một “hiệp sĩ” chỉ dám “chụp lén” đối tượng này từ phía sau lưng. Đến khoảng 10h30, PV mới thấy một sắc phục công an đến yêu cầu người không có liên quan ra khỏi phòng để anh ta ghi nhận trình bày của Tiên về vụ việc.

Kẻ bắt, người tha

Tới 11h cùng ngày, anh T (chủ nhà trọ trên đường Bình Đường, phường An Bình, Bình Dương) báo tin qua điện thoại với “hiệp sĩ” Nguyễn Văn Phương: “Người phụ nữ thuê phòng trọ đã dọn đồ trốn đi từ tối hôm qua rồi. Tôi vừa làm việc với công an xong!”. Trước khi bị chém, ngày 25.6 anh Tiên cùng các “hiệp sĩ” của nhóm TNTN PCTP phường An Bình phát hiện tại phòng trọ của người phụ nữ thuê trên có nhiều đối tượng nghi vấn và hàng chục biển số xe tháo rời, giấy đăng ký xe, CMND của nhiều người, bèn báo công an.

Sau đó, Công an phường An Bình tới kiểm tra và đưa tang vật cùng 6 đối tượng cho Công an thị xã Dĩ An xử lý. Tuy nhiên, đến tối cùng ngày thì 6 người này được công an cho về.

Hai đối tượng trộm giàn giáo bị TNTN PCTP phường An Bình bắt giao cho công an, nhưng chỉ 1 ngày sau lại thấy chúng “dạo phố”.

Anh Tiên cho biết, đêm hôm sau (26.6) nhóm giang hồ do Tuấn “chó” cầm đầu từng muốn gặp anh để “thương lượng”, nhưng anh từ chối. Tuấn “chó” giận dữ vì cho rằng anh phá “nồi cơm” của chúng và tuyên bố sẽ xử anh.

Theo các hiệp sĩ, đây không phải lần đầu tiên họ phát hiện tố giác bắt trộm, cướp và giao cho công an để rồi sang ngày sau lại thấy chúng “tung tăng” ngoài phố. Anh Nguyễn Văn P cho hay, vào ngày 17.6, nhóm TNTN PCTP phường An Bình bắt được 2 đối tượng từng nhiều lần ăn trộm giàn giáo ở kho của một công trình xây dựng tại khu phố Bình Đường 3 và giao cho Công an phường An Bình. Vài giờ sau, các anh sững người khi thấy 1 trong 2 đối tượng trên phanh ngực áo khoe hình xăm chằng chịt trên người, nghênh ngang ngoài đường.

Trước đó, vào tháng 5.2011 thành viên CLB PCTP phường Phú Hòa phải đuổi gần 10km mới bắt được 2 đối tượng khi bọn chúng lẻn vào cửa hàng điện thoại ở phường Định Hòa “đá” chiếc xe Novo nhưng bị chủ nhà giằng lại được. Hai đối tượng trên được giao cho Công an thị xã Thủ Dầu Một và đích thân chủ tài sản lên nhận mặt khẳng định. Ấy nhưng, các “hiệp sĩ” đã “lạnh sống lưng” khi sang ngày hôm sau thấy bọn chúng đang… dạo phố!

Ngô Nguyên

báo Lao Động

 

———–

Nguồn báo  TiềnPhong

08/07/2011

Về nơi lâm tặc lộng hành:

Trùm lâm tặc là em trai Hạt trưởng Kiểm lâm

> Tàn sát rừng phòng hộ

TP – Việc rừng phòng hộ Long Đại bị tàn phá đã 3 năm nay, người dân ai cũng biết, song những người có trách nhiệm giữ rừng không biết hay làm ngơ? Nhiều người khẳng định, có sự bắt tay, bao che cho lâm tặc phá rừng.

 

Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km Khu vực rừng bị phá chỉ cách Trạm KSLS Hang Chuồn chừng 7km.

Không biết hay làm ngơ?

Rừng phòng hộ Long Đại nằm trên địa phận 2 xã Trường Sơn và Trường Xuân, địa điểm phá rừng nằm ở bản Nà Lâm, giáp ranh 2 xã. Để vào hoặc ra khu vực bản Nà Lâm chỉ duy nhất một con đường độc đạo. Con đường này mới được mở cách đây đúng 3 năm khi Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân thành lập và Cty TNHH Hồng Đức vào khai hoang trồng cao su.

Hàng chục cư dân của làng Trường Xuân và công nhân của Hồng Đức khi được hỏi về lâm tặc đều lắc đầu. Duy chỉ có một nữ công nhân đã luống tuổi rỉ tai PV: “Lâm tặc ở đây gớm lắm chú ơi, không ai dám nói mô. Chú coi, để đưa gỗ ra là họ phải đi qua vườn cao su của bọn tui. Hai đầu vườn đều có cổng gỗ kiên cố rứa mà họ ngang nhiên húc đổ để cho xe chạy qua. Làm căng thì sợ họ trả thù, hai cái cổng ni phải làm đi làm lại không biết mấy lần rồi”.

Trạm Kiểm soát lâm sản (KSLS) Hang Chuồn, thuộc BQL Rừng phòng hộ (BQLRPH) Long Đại nằm ngay trên con đường độc đạo này và chỉ cách địa điểm phá rừng chừng 5km. Ông Dương Công Luyện, Phó Giám đốc BQLRPH Long Đại tức tốc có mặt tại trạm khi được tin báo PV đến làm việc. “Ở đây không có chuyện phá rừng quy mô và nghiêm trọng mà người dân chỉ lén lút vào rừng khai thác thủ công, chặt vài cây gỗ về làm nhà thôi” – ông Luyện nói như đinh đóng cột.

Khi PV đưa ra những bức ảnh chứng minh rừng phòng hộ Long Đại đang bị tàn phá nặng nề, ông Luyện lại kêu khó: “Nói thật với anh, rừng thì rộng mà quân số của ban thì ít nên không thể nắm hết được, có chi anh em thông cảm, tạo điều kiện cho ban với. Ban cũng thường xuyên chỉ đạo, giám sát anh em nhưng đôi lúc cũng có gỗ lọt qua trạm”.

Được biết, khi được báo về vụ phá rừng ở Nà Lâm, BQLRPH Long Đại đã truy quét và thu gom được hơn 5m3 gỗ của lâm tặc để lại. Trong đó, bao gồm cả số gỗ trên một chiếc xe của lâm tặc bị lật, nhưng chỉ thu gỗ mà không thu xe. Đặc biệt có nguồn tin cho rằng, BQLRPH Long Đại đã thuê trâu và xe của lâm tặc để thu gom gỗ với cách ăn chia 50/50 số gỗ thu được.

 

Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo
Trạm KSLS Hang Chuồn nằm trên con đường độc đạo.

“Dư luận nói bậy đó”

Một số người dân Nà Lâm cho biết, chủ chòm trong vụ phá rừng phòng hộ Long Đại là người có tên Vinh, em trai Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Quảng Ninh – ông Võ Văn Thanh. Chị Hồ Thị Phúc (SN 1975, ở bản Nà Lâm) cho biết, cách đây 3 năm ông Vinh vào Nà Lâm quản lí vườn bạch đàn cho ông Thanh. Ông Vinh đã cưới chị Phúc, dù lúc đó ông Vinh đã có vợ ở quê Quảng Trạch. Khi cưới được chị rồi ông Vinh vào ra làm quen với dân bản và bắt đầu tổ chức đưa người vào khai thác gỗ lậu cho đến nay. “Con người ấy (chỉ ông Vinh – PV) bạc tình, bạc nghĩa lắm. Khi mới vào lạ nước, lạ cái thì phỉnh phờ lấy em làm vợ, khi làm ăn giàu có rồi là hắt hủi em” – chị Phúc nói.

Khi được hỏi về ông Vinh, ông Võ Văn Thanh cho rằng: Em trai ông chỉ vào Nà Lâm để trông giữ vườn bạch đàn, chứ không có chuyện phá rừng. Sau khi vườn bạch đàn, được Làng thanh niên lập nghiệp Trường Xuân đền bù, lấy đất, em trai ông Thanh đã về quê, không ở Nà Lâm nữa. Tuy nhiên, ông Thanh thừa nhận ông Vinh có một chiếc ô tô hiệu IFA đang còn nằm ở Nà Lâm. “Nó mua chiếc xe ấy dùng để chở bạch đàn, chứ không phải chở gỗ lậu như người ta nói. Tôi sao mà bao che cho em mình phá rừng được. Còn có bao nhiêu lực lượng có chức năng bắt gỗ lậu nữa chứ, tôi làm sao mà bao hết được. Dư luận họ nói bậy đó” – Ông Thanh nói.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, vườn bạch đàn của ông Thanh và em trai đang còn nhỏ, chưa hề khai thác và nay do Làng Thanh niên lập nghiệp Trường Xuân quản lý. Chiếc ô tô của ông Vinh chưa một lần chở bạch đàn như ông Thanh nói, mà chuyên chở gỗ lậu.

 

Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu
Con đường bị hằn sâu do lâm tặc dùng ô tô chở gỗ lậu .

“Chính em trai ông Hạt trưởng phá rừng”

Thượng tá Đặng Huy Chương – Chính trị viên Đồn Biên phòng 597 – Làng Mô cho biết: Mặc dù bản Nà Lâm nằm cách đồn chỉ vài km nhưng do núi non cách trở nên muốn đến đó phải đi vòng mất hơn 40km. Việc phá rừng ở Nà Lâm, Đồn biết từ lâu và đã nhiều lần báo cho BQLRPH để có biện pháp ngăn chặn. Việc lâm tặc nổ mìn làm đường mới đây là do chiến sỹ của Đồn phát hiện. Đồn đã báo cho phía BQLRPH và yêu cầu cùng phối hợp đẩy đuổi lâm tặc.

Theo thượng tá Chương, đây là vụ phá rừng quy mô lớn nhất từ trước tới nay trên địa bàn Đồn quản lí. “Chủ chòm trong vụ này là ông Vinh em ông Thanh và nhóm người từ xã Xuân Ninh lên. Chúng tôi đã báo cáo lên Biên phòng tỉnh, UBND huyện Quảng Ninh và đang phối hợp với Công an huyện để nắm rõ những đối tượng tham gia. Theo tôi, cần khởi tố vụ án để điều tra, làm rõ đối tượng phá rừng” – thượng tá Chương nói.

Hoàng Nam

 

Posted in Công An, Đảng CSVN | 1 Comment »