Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 30th, 2011

►Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2011

Chú ý! Các nước khác nên học hỏi. Sau 36 năm giải phóng miền Nam, và hơn 60 năm miền  Bắc trải qua chủ nghĩa xã hôi, các đỉnh cao trí tuệ của loài người đã đưa tiền Đồng VN đạt được các danh hiệu cao quí nầy: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Mời các bạn thưởng thức bài dịch sau đây.

Tiền Đồng  Việt Nam có giá trị ra sao trong 5 năm vừa qua

Vào ngày 1 Tháng tám 2006, tiền Đồng Việt Nam đã trở thành đơn vị tiền tệ trị giá thấp nhất trong nhiều tháng của năm 2006 sau khi Zimbabue đánh giá lại  tiền của họ.

Tiếp đó, vào ngày 21 tháng 3 năm 2007,  Zimbabwe đánh giá lại tiền tệ của họ, và trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất trên thị trường trao đổi tiền tệ (ở thị trường chợ đen); đến ngày  07 tháng 9 năm 2007 tiền Zimbabue  có giá trị thấp nhất về tỷ giá trao đổi chính thức so với tiền đô la Mỹ.

Nhưng rồi trong khoảng thời gian từ 1-8-2008  đến ngày 11 tháng 9 năm 2008, tiền Đồng Việt Nam lại một lần nữa trở thành đơn vị tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Zimbabwe định giá lại của tiền Zimbabwe,  tiền Zimbabwe lại một lần nữa vượt qua mặt tiền Đồng VN và vào khoảng ngày 20 tháng 10, 2008, tiền Zimbabwe  trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Ngày 17 tháng 11 năm 2008, tỷ giá chính thức của tiền Zimbabwe đã giảm xuống thấp hơn tiền Đồng VN.

Ngày 03-2-2009, tiền Đồng VN đã dành lại danh hiệu (khỏi tay Zimbabue) và trở thành đồng tiền có ít giá trị nhất trên thế giới một lần nữa khi tiền Zimbabwe tái đánh giá lại; mặc dù vào tháng ba năm 2009, tiền Đồng VN đã mất danh hiệu nầy trong một thời gian ngắn vào tay 2 đảo quốc São Tomé và Príncipe dobra.

Tính đến 02 -1- 2011, các shilling Somali chiếm danh hiệu tiền có giá trị thấp nhất thế giới, và tiền Đồng Việt Nam hiện nay đứng hạng nhì sau Zimbabue.

nguồn 1

nguồn 2    Lịch sử tiền Đồng Việt Nam, bao nhiêu lần đổi tiền, đổi theo tỉ giá nào…tài liệu rất quí và chính xác.
After the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2006,[12] the đồng became the least valued currency unit for months. Around 21 March 2007, the revalued Zimbabwean dollar regained least valued currency status (in terms of black market exchange rate), and on 7 September 2007 in terms of official exchange rate. Since the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2008 the đồng was again the least valued currency unit until 11 September 2008, when the Zimbabwean dollar once again surpassed it and on about 20 October in terms of cash rate. On 17 November 2008, the official rate of the Zimbabwean dollar fell below the đồng.

On 3 February 2009, the đồng had this title again as Zimbabwean dollar redenominated, although in March 2009 the title was briefly held by São Tomé and Príncipe dobra.

As of January 2, 2011, the Somali shilling holds the title of least valued currency, with the đồng being the second least valued.

Cập nhật 14-8-2013,

Tờ Telegraph của Anh đưa tin:  Tiền tệ có giá trị thấp nhất thế giới – The world’s least valuable currencies.  Tiền đồng VN có ít giá trị ; bạn cần có khoảng 33.000 đồng tiền Việt để đổi một đồng bảng Anh
http://www.telegraph.co.uk/finance/personalfinance/9672926/The-worlds-least-valuable-currencies.html

———-

Các vụ đổi tiền ở Việt Nam sau 30-4-1975. 

Dean Nguyen

Nguồn Vietlandnews.net

Lần 1:

Sau khi xâm chiếm miền nam tháng 4, 1975 thì chỉ sau 4 tháng, bọn Việt cộng đã ăn cướp và tàn sát nền kinh tế miền Nam bằng cách gọi là đổi tiền. Chính xác là vào ngày 21 tháng 9, 1975.

Ngày 6/6/1975. Năm tuần sau ngày xâm lăng, Bọn được gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT – 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, CP Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của Việt cộng đã cho phát hành loại tiền gọi là tiền Ngân hàng VN(còn gọi là “tiền giải phóng”) dùng để đổi toàn bộ tiền của miền nam VNCH.

Thông báo đổi tiền có thể tóm tắt như dưới đây:

1. 500 đồng tiền VNCH Sàigon cũ lấy 1 đồng mới Ngân hàng Việt Nam.

2. Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.

3. Những gia đình có buôn bán được phép làm đơn xin đổi thêm 100.000 đồng cũ

4. Những nhà buôn lớn có thể làm đơn xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 (tối đa) đồng cũ nếu có nhu cầu thực sự.

5. Tất cả số tiền còn lại từ 100.000 đến 1 triệu đồng cũ phải đến nhà băng đổi và gởi vào trương mục.

6. Cuộc đổi tiền sẽ chấm dứt vào 11 giờ đêm ngày 22 tháng Chín.

7. Vi phạm những điều nêu trên sẽ bị truy tố trước pháp luật.

“Với lý luận ngu xuẩn hàng hóa làm ra ít, kinh tế sẽ không tăng trưởng nhưng nếu in tiền sẽ bị lạm phát. Vì tiền tệ nằm trong tay dân chúng quá nhiều không phải do sản xuất thì ngân sách nhà nước thất thu. Vì thất thu nên buộc phải in thêm tiền để tiêu dùng nhưng sẽ gây lạm phát (vòng lẫn quẫn). Cho nên đổi tiền là cách giải quyết hoàn hão nhứt vì sẽ phân chia đồng tiền của toàn bộ người dân trong xã hội bằng nhau sẽ làm cân bằng ngân sách nhà nước”.

Điều buồn cười là nhà nước Việt cộng “quên” in tiền lẻ nên phải “xài ké” tiền lẻ của miền nam VNCH cho đến đợt II vào tháng 5 hay tháng 6 năm 1978.

Trước tin đổi tiền bị lộ, người dân đã đổ xô đi mua tất cả những gì …có thể mua để tích trữ đã làm giá cả leo thang vô cùng khũng khiếp. Hậu quả cuộc đổi tiền này đã giết chết nền kinh tế miền nam, và toàn bộ người dân miền nam đã rơi vào thãm cảnh vô cùng nghèo khổ một cách tức tưỡi, vô lý đầy uất ức của bao nhiêu năm trời cực khổ làm ăn để dành nay chỉ là 200 đồng.

Việt cộng đã thành công trong công cuộc “vô sãn miền nam 100%” như đúng chủ nghĩa Cộng sản giãng dạy.

Lần 2:
Đổi tiền toàn quốc (thống nhứt tiền tệ) vào ngày 2 tháng 5, 1978.

Mặc dù gọi là đổi tiền toàn quốc nhưng đã có sự khác nhau giữa 2 miền bắc và nam.
Miền bắc đổi 1 đồng tiền củ bằng 1 đồng tiền mới, miền nam đổi 80 xu bằng 1 đồng tiền mới.

Cũng như sự khác nhau về đổi tiền giữa thành thị và nông thôn. Dân thành thị được đổi tối đa:

– 100 đồng cho gia đình 1 người.

– 200 đồng cho gia đình 2 người.

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình trong thành thị bất kể số người là 500 đồng.

Dân vùng nông thôn được phép đổi tối đa:

– 100 đồng cho mỗi gia đình 2 người (50 đồng mỗi người).

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình vùng nông thôn bất kể số người là 300 đồng.

Cứ sau mỗi lần đổi tiền là tất cả các loại hàng hóa đều tăng giá ghê gớm, dân đã chết nay càng chết khỏi…đầu thai.

Cả xã hội VN đến TẬN CÙNG của sự bần cùng, tận cùng của nghèo đói đến nỗi nước Nga phải viện trợ thức ăn của ngựa cho người dân Việtnam đếm ăn từng bửa.
Gạo biến mất tiêu, khan hiếm…như vàng. Dân phải ăn cơm độn với khoai mì, khoai lang…hoặc chỉ có ăn…khoai, củ và cây cỏ…

Việt cộng đã “giải phóng” miền Nam từ con người ăn cơm ăn thịt, nay chuyển sang trâu ngựa ăn cỏ, ăn bobo.

Sự “thành công” của cuộc đổi tiền lần này là đám lãnh đạo Việt cộng biết đúng về chính mình hơn là…ngu xuẫn và sai lầm.

“Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch lương và bặt tiếng chim ca …” *(dân gian)
………………………… …………

“Từ ấy trong tôi bừng uất hận
Mặt trời nung nóng nỗi hờn căm
Hồn tôi là cả trời mơ ước
Gạo, cá thịt tuơi mỗi bữa đều…” *(Dean Nguyen)

Lần 3:

Lại 1 nỗi kinh hoàng, trời tru đất diệt ập lên cổ nữa cho người VN. Sự đau khổ, tiếc nuối của bao nhiêu dành dụm lại tan theo mây khói với những căm hờn, uất hận đè nén tiếp diễn. Lần đổi tiền kỳ này vào ngày 14 tháng 9, 1985 đã được gọi 1 cách mỹ miều là ” Cải cách giá-lương-tiền”:

– Phát hành tiền mới
– Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ=1đ tiền mới

Điều buồn cười nữa là sau khi qui định 10 đồng củ=1 đồng mới thì sau đó nhà nước quyết định nâng giá lên trở lại 10 lần. Cuộc cải cách giá-lương-tiền đã bị thất bại. Không biết đây là cái ngu hay cái mánh khoé gian xão của Việt cộng (?).

[thật ra, khi đổi 10 đồng cũ = 1 đồng mới, thì nhà cầm quyền Hà Nội đã cướp đi những tiền bạc tích lũy do dân chúng đã tiết kiệm. Kế đó, nhà nước quyết định nâng giá đồng tiền mới  lên trở lại 10 lần: nhà nước có rất nhiều đồng tiền mới trong tay, nay tự nâng giá lên gấp 10 lần là để làm cho họ có sức mạnh tài chánh gấp 10 lần để tha hồ mua vàng của dân chúng. Đây là một hình thức ăn cướp tráo trở khác).

Lần đổi tiền này mặc dù có tên gọi khác nhưng vẫn như những lần đổi tiền trước đây là san bằng tất cả sự giàu nghèo, cộng với chủ trương không để ai giàu hơn hoặc có tiền nhiều hơn nhà nước. Không 1 người nào được cho phép có số tiền quá mức qui định do nhà nước chỉ định.

Mặc dù gọi là CC Giá-Lương-Tiền nhưng đám ngu này làm ngược lại là Tiền-Lương-Giá do 3 tên tội đồ dốt nát và hoàn toàn mù tịt về kinh tế là Tố Hữu, Trần Phương, Trần Quỳnh gây ra. Được dân gian móc là Tố Hữu nâng lương-Trần Phương tăng giá.

Trong cương vị Phó Thủ tướng (?), nhà “văn vần” Tố Hữu từng ký vào quyết sách in tờ tiền 30 đồng, tự nó không thành hệ thập phân, gọi là độc nhất vô nhị, hiếm thấy trong lịch sử tiền tệ.

Trong khi mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2.000 đồng, phần còn lại nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xem xét, kết quả là mất trắng. Năm 1986, lạm phát đến 774,7%, kinh tế kiệt quệ.

Hiện nay, theo như sự tìm kiểm của tôi thì hình như chưa có tài liệu nào rõ ràng, chi tiết về các cuộc đổi tiền của Việt cộng.
Tất cả tài liệu này được viết từ trí nhớ và thâu thập trên net, nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót. Quí vị nào có thêm tài liệu xin vui lòng bổ sung thêm.

Dean Nguyen Nguồn Vietlandnews.net

————-

Advertisements

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 5 Comments »

►Có Ai Thích Được Giải Phóng Đâu -Điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2011

Sài Gòn- Công trường Mê Linh 1962

Sài Gòn- Công trường Mê Linh, March 1965  ( FB Nguyễn Trung Hiếu)

300 hình ảnh– Saigon xưa

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097


Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn mỗi ngày 2 quả.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN. Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa; tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 14 tỷ.

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau: ‘Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’. Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội” Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.
Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.
Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945 , Tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”


Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỵ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm. Còn vũ khí thì tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16.

Hơn 10 sư đoàn còn lại chỉ được trang bị súng carbin M1, tiểu liên Thompson, súng trường là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho, hoặc là các vũ khí mà quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, thải ra và cho quân đội miền miền Nam.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

(còn cập nhật thêm)

Posted in Chien Tranh Viet Nam | 5 Comments »