Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 13th, 2011

Nợ Việt Nam đã thật sự lên đến hơn 54% Tổng sản lượng quốc gia năm 2009

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2011

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỉ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này. 

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Sau khi xào nấu, 18 nước thì chỉ còn 17, nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó…

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.
Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Chú thích:

*Ở Mỹ, Pháp và Miền Nam Việt Nam, đường sá xây dựng thì 50 năm sau cũng chưa hư. Xa lộ Sài Gòn- Biên Hòa xây dựng vào thời TT Ngô Đình Diệm 1963 là một điển hình.

Xa lộ Biên Hòa dài 30 cây số, nối liền ba đường giao thông chính, từ Sài Gòn lên cao nguyên (Đà Lạt), ra miền Trung (Nha Trang, Huế), và ra miền Đông (Vũng Tàu). Xa lộ nầy được xây dựng với mục đích phát triển kinh tế. Hai bên Xa lộ Sài Gòn Biên Hòa là Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa với khu liên hợp của rất nhiều ngành kỹ nghệ của miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khu kỹ nghệ Biên Hòa có Nhà máy Xi Măng Hà Tiên, Hãng xe hơi Citroen đầu tiên của Việt Nam, Hãng lắp ráp Radio Sonny, lắp ráp Truyền Hình hiệu National, Xí nghiệp Thịt  Nissan, xí nghiệp dệt, nhà máy Bột Ngọt, Nhà máy Thép Biên  Hòa, Nhà máy sản suất sợi dây điện và đồ điện, khu sản suất thức ăn gia súc, các hãng sản suất dược phẩm…Sau khi chiếm được miền Nam, Lê Duẫn và bộ chính trị  thăm Khu Kỹ Nghệ Biên  Hòa, họ đã tận mắt nhìn thấy quá hiện đại hơn miền Bắc và các nước XHCN rất xa, họ đi thang máy, nhìn thấy các nhà máy tự động hóa các công đoạn sản suất, bởi thế, ông ta tự tin và tuyên bố là 10 năm sau sẽ đuổi kịp Mỹ.

Lúc mới xây Xa lộ Sài gòn  Biên Hòa rất rộng rãi, không cho nhà dân xây dọc theo xa lộ, vì được kế hoạch sẽ mở rộng xa lộ sang hai bên trong 10-20 năm tới. Đường thẳng, rộng rãi, mặt đường phẳng phiu, nền móng đường là 40-50 cm (gần nửa thước). Xe chạy với tốc độ cao, làm cắt ngắn thời gian mỗi chuyến khoảng 15-30 phút, và tiết kiệm được 4-5 lít xăng. Chỉ cần nhân số chuyến xe mỗi ngày đi về ba miền đó, mỗi xe tiết kiệm 5 lít xăng, thì có thể thấy, số tiền tiết kiệm hàng năm khỏi nhập xăng dầu là bao nhiêu, và nếu thu phí, thì có thể chỉ vài năm là lấy lại được tiền vốn bỏ ra rồi. Xa lộ Sài gòn  Biên Hòa được nâng cấp bởi hảng RMK sau khi Mỹ đổ quân vào VN vì một phần xa lộ nầy dẫn vào căn cứ Long Bình.

“Xa Lộ Biên Hoà nhằm phục vụ cho sự di chuyển kinh tế của dân từ SG và Miền Tây lên Miền Đông. Nó được thực hiện song song với KHU CHẾ XUẤT BIÊN HOÀ, để lưu thông thương mại từ SG với khu kỹ nghệ Biên Hoà được dễ dàng hơn. Hoàn toàn là mục đích kinh tế chứ không có mục đích gì chính trị hay quân sự như sách vở VC mô tả.Thời TT Diệm làm gì có nhu cầu quân sự ở Biên Hoà với SG.”

Xa lộ Đại Hàn xây dựng năm 1966 đến nay là gần 45 năm vẫn chưa hư. Xa lộ Đại Hàn là đường nối liền xa lộ miền Đông và Miền Tây. Xa Lộ Đại Hàn hay đường vành đai mới thực sự có mục đích chiến lược, để dễ phòng thủ Thủ Đô Sài Gòn. Xa Lộ Đại Hàn được mở đường trước tết Mậu Thân khoảng vài năm, là đường chiến lược chạy từ Đông qua Tây, đi vòng đai phía Bắc và phía Tây của SG, nối  Quốc Lộ 4 (đi Cần Thơ) vô Xa Lộ Biên Hoà, chạy qua Thủ Đức, căn cứ Sóng Thần, An Phú Đông…

—————————

Advertisements

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

Thiên tai & Độc tài

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2011

Nguyễn Đình Đăng & Đinh Trọng Hiếu  (đối thoại)

Nguồn: Tiền Vệ

Paris, 11/3/2011

Kính thưa ông,

Động đất thế là thật lớn, vì thang Richter chỉ có 9 độ. Nhưng tôi thấy ông vẫn nói chuyện về ông Cù Huy Hà Vũ sẽ ra tòa ngày 24/3 này, nên đoán rằng ông và gia đình yên ổn. Vả lại, người Nhật có sự luyện tập, hạn chế tổn thương.

Nay kính

Đinh Trọng Hiếu

*

Tokyo, 11/3/2011

Kính thưa ông,

Lúc 14:46 tôi đang làm việc tại office thì mọi thứ bắt đầu từ từ rung lắc mạnh dần, rồi tất cả rung bần bật. Tôi chui xuống nấp dưới gầm bàn. Hai người Nhật cùng phòng cũng làm như thế. Một lúc sau chúng tôi lại bò ra, chạy ra phòng trà xem tin tức qua TV. Cảnh tượng xem trên TV thật kinh khủng. Một toà nhà lớn cạnh đài truyền hình Fuji bên bờ vịnh Tokyo bốc cháy, khói đen ngút trời. Tại Iwate, nơi gần trung tâm động đất nhất, sóng thần dâng lên như đại hồng thủy, cao tới 10m. Xe hơi, tàu thủy, cần cẩu hạng nặng, tất cả nổi lềnh bềnh, bị cuốn đi như cỏ rác vậy. Tại trung tâm động đất ở ngoài biển cách đất liền 126 km, sức mạnh của động đất là 8.9 độ. Tại vùng ven bờ còn 6 – 7 độ.Toàn bộ bờ biển phía quay ra Thái Bình Dương bị sóng thần quật.

Chưa bao giờ tôi trải nghiệm một trận rung kinh người, mạnh và lâu như vậy. Đất rung từ 3 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau đợt rung thứ nhất tôi đi về nhà ngay (nhà tôi cách viện 15 phút đi bộ). Ở nhà vợ tôi cũng nấp dưới gấp bàn khi động đất bắt đầu. Điện thoại bị cắt, mobile bị cắt không liên lạc được, nhưng vẫn còn điện và internet. Mấy bức tranh lớn dựng cạnh tường trong phòng vẽ của tôi đổ nghiêng, nhưng vì đã được bọc trong hộp carton nên không hề hấn gì.

Bây giờ là 21:38 và metro đã hoạt động trở lại cách đây ít phút.

Kính thư,

Đăng

*

Paris, 11/3/2011

Kính thưa ông,

Nghe ông tả thấy ghê. Xưa kia còn bé, mỗi lần đi học gặp phải ngày thi, tôi chỉ mong có động đất để hoãn thi, cho đến nay vẫn chưa biết thế nào là động đất, nhưng vẫn lười và ghét thi. Thế ghét thi hay ghét độc tài hơn? Thưa, ghét cả hai, tuy thi thì có lợi cho mình, còn độc tài thì chẳng có lợi cho ai, kể cả cho độc tài. Thế còn động đất? Thưa, sợ động đất hơn sợ thi, nhưng còn sợ độc tài hơn sợ động đất.

Xưa có bà góa phụ khóc chồng vừa bị cọp ăn thịt, có vị quan thấy thế, hỏi: “Đất này cọp dữ, sao không lánh sang đất khác?” Bà kia thưa: “Đất này cọp dữ, nhưng quan hiền. Đất khác không có cọp, song quan lại tàn ác còn hại hơn cọp.”

Nay kính

Đinh Trọng Hiếu

*

Tokyo, 11/3/2011

Kính thưa ông,

Thưa, đúng. Theo thiển ý, đó là một trong những lý do tại sao nhiều trí thức Việt Nam ở hải ngoại không muốn về nước làm việc cho dù giả sử có được trả lương bằng lương của họ đang nhận ở ngoại quốc đi chăng nữa.

Động đất quả thật là đáng sợ, nhưng đó là thiên tai, không ai muốn. Nhưng động đất không phân biệt hoàng đế, ông thủ tướng hay dân thường. Khi tai hoạ giáng xuống thì tất cả đều phải chịu. Khi động đất đã mạnh 8 – 9 độ Richter thì ít lầu son gác tía nào chịu nổi. Nhưng khi một người dân bị công an đánh gãy cổ chết mà những kẻ có quyền, phạm tội vẫn nhơn nhơn thản nhiên, hoặc chỉ hưởng cái án vài năm tù mặc dù đã cố tình gây án mạng thì đó là điều đáng sợ và đáng ghê tởm hơn cả động đất.

Một trận động đất như hôm qua tại Nhật khoảng 100 năm mới xảy ra một lần. Còn việc nhà cầm quyền hà hiếp nhân dân, công an đánh chết người, tự do ngôn luận bị bịt miệng đang xảy ra hàng ngày tại một số nơi, mà ai cũng hiểu đó là những nước nào. Câu chuyện quan lại hà khắc hại hơn hổ dữ từ “Cổ học tinh hoa“, mà tôi cũng đã được đọc từ khi còn bé, rất thâm thúy cũng bởi lý do đó.

Kính thư,

Đăng

http://www.x-cafevn.org/node/1959

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »