Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 31st, 2010

►Hai Nguồn Tin khác nhau về ông Trần Văn Giàu-Đọc để Suy Xét

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2010

Đọc bài trại giam Tà Lài của ông Trần văn Giàu thời Pháp thuộc 1940 rồi so sánh với trại tù  1980-1985 ở đây: Đêm Noel trong Xà Lim Số 6 mới biết tù nào được đối xử tốt hơn.

Phần 1 : tác giả Nguyễn văn  Lục

Phần 2: báo chí trong nước

Phần 1

Ông Trần văn Giàu được xem là nhân vật đứng hàng thứ hai sau ông Hồ Chí Minh vào trước  năm 1945. Hồi Ký Trần Văn Giàu

Đọc Hồi Ký Trần Văn Giàu (I)

Nguyễn Văn Lục

Ông Trần Văn Giàu vừa chết ngày 16/12/2010 vừa qua. Ông là một trong số ít ỏi những người cộng sản kỳ cựu nhất của thập niên 1930-40 còn sống ở đầu thế kỷ 21. Chỉ 3 ngày sau khi ông chết, tập Hồi ký của ông, được nhiều người trông đợi, mới được xuất hiện trên hai trang báo điện tử viet-studies và diendan.org ở hải ngoại.

Sự xuất hiện muộn màng đợi đến khi tác giả vừa nằm xuống là một dấu hiệu vụng về và đáng buồn.

Trần Văn Giàu
Nguồn: vietbao.vn


Hơn thế nữa, tập hồi ký này được ông Trần Văn Giàu viết từ thập niên 1970, nghĩa là cách đây 40 năm nay và phải đợi lúc ông chết, nó mới được cho xuất hiện chỉ ở hải ngoại! Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, người có trách nhiệm công bố tập Hồi ký này thì do “công cụ chuyên chính của chính quyền thì ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ với hi vọng thu hồi được bản thảo để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất, hoặc cắt xén thay đổi trước khi cho xuất bản.”. Nguyễn Ngọc Giao, Hồi ký 1940-1945, Trần Văn Giàu. Dien dan.org

Đúng là đợi khi chết mới được nói ra lời; nhưng nói không trọn vẹn, nói u ơ, nói ngọng nghịu.
Như trước đây khi người viết bài này phê bình cuốn Hồi ký của Lý Quý Chung ở trong nước khi ông này được ra mắt sách lúc sắp chết, tôi gọi đó là cuốn “Nhật Ký của im lặng”. Vì cuốn hồi ký bị cắt đầu, cắt đuôi, chẳng nói được gì. Sau này, liên lạc được với em gái của Lý Quý Chung ở Montréal, bà Lý Thành Lễ. Qua điện thoại, bà Lễ kể cho hay, hôm sách được giới thiệu, vừa mới bán được vài cuốn thì có “lệnh ở trên” đến tịch thu tất cả.

Cho nên có thể không lấy làm lạ một đảng viên cộng sản kỳ cựu như ông Trần Văn Giàu đi nữa, ông cũng không thoát khỏi bị trù dập cho đến lúc chết. Gương của luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn đó; gương của Trần Đức Thảo còn đó.

Nhưng ở mặt lễ nghi thì ông được “quốc táng” với một danh sách ban tổ chức gồm nhiều nhân vật lãnh đạo đảng. Đứng đầu là “đồng chí” Lê Thanh Hải. Đã có nhiều bài viết vinh danh ông bằng thứ “văn chương phúng điếu” như “ông là một nhân cách sáng ngời” giáo sư Tương Lai, Nguyễn Đình Đầu – nhà viết sử nổi lên từ sau 1975 – nói, “Giáo sư Trần Văn Giàu, mất mát chưa có người thay thế.” Dương Trung Quốc viết, “Giáo sư Trần Văn Giàu đã vét cạn đời mình cho nghiệp sử.”.
Đọc những văn chương phúng điếu ở trên, người viết tâm đắc và thấm thía câu nói của TT. Thích Trí Quang, Nó giết mình hôm nay, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!

Việc ông Trần Văn Giàu phải cất dấu hồi ký lâu như thế thì chẳng một ai muốn bàn đến. Một phần lớn việc cất dấu tập hồi ký này do chính ý định của ông. Phần khác nó cho thấy sự hà khắc của chế độ ấy ra sao.

Một chi tiết không thể bỏ qua là ông Giàu cũng như Võ Nguyên Giáp là những đảng viên cộng sản kỳ cựu nhất, sống đến trăm tuổi (11/09/1911-16/12/2010), như bình thường thì Trần Văn Giàu có thể leo lên đến chức Tổng bí thư Đảng.

Vậy mà lẽ nào hồi ký cả một đời người lại thu vén vào khoảng thời gian1940-1945?

Cứ theo lời ông Giàu giải thích thì “Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, sấp xỉ 90 năm. Tôi viết ‘Lời nói đầu’ này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.” Trích Lời nói đầu, Trần Văn Giàu.
Với chỉ vỏn vẹn 5 năm, thời gian từ 1940-1945, người đọc hy vọng đọc được gì trong khoảng thời gian đó? Bao nhiêu biến cố chính trị kể từ sau 1945 đến 1954, rồi từ 1954-1975 và nhất là từ 1975-2010, chẳng lẽ cả một cuộc đời lăn lóc làm chính trị, hy sinh cho lý tưởng cách mạng chỉ thấy có 5 năm sống có chất lượng, có ý nghĩa?

Có thể ông có cái lý của ông để chỉ viết Hồi ký 5 năm! Hồi ký để ông có thể giãi bày “nỗi oan” chuyện vượt ngục ở Tà Lài và về vụ Deschamps chẳng hạn.

– Vụ thhứ nhất về chuyện “vượt ngục” do Pháp dật giây thì cho đến ngày hôm nay, Ban tổ chức Trung Ương đi đến kết luận là “ Chưa có” chứng cớ là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục. Ông Giàu chỉ muốn giải nỗi oan là thay một chữ chưa bằng chữ không, “ Không có” chứng cớ gì.

– Về vụ Deschamps do ông Giàu khai nhận, tổ chức kết luận: “Việc khai nhận của đồng chí Giàu gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giây quốc tế.” Về điểm này, ông Trần Văn Giàu nhìn nhận:

“Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú: Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song Nguyễn Văn Trấn (Prigorny) còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì tôi khai, cả chỗ tôi ở, không ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo.” (Trích Hồi ký Trần Văn Giàu, phần Lời nói đầu.)

Điều chúng ta mong muốn là không phải đọc cái hồi ký năm năm mà là Hồi ký 65 năm còn lại bị dấu kín, bị quên lãng, bị trù dập khốn đốn, bị nhục nhã, bị “ngồi chơi xơi nước” như kiểu luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Triết gia Trần Đức Thảo ở một mức độ nhẹ hơn.

Ông Nguyễn Văn Trung ở số 57 Duy Tân, cư xá giáo sư đại học Sàigòn thường qua lại thăm giáo sư Trần Văn Giàu, ở số 77 Duy Tân và kể lại cho người viết như sau, “Ông Giàu sống rất thanh bạch, rất ẩn nhẫn của một trí thức có nhân cách.

Ông tránh né và không muốn nhắc lại mọi chuyện quá khứ. Nhiều khi bà Giàu cứ kể lể, than vãn thì ông Trần Văn Giàu lại gạt đi không cho kể. Trong vườn nhà ông bà TVG ở Duy Tân đằng sau có cây khế ngọt, Bà Giàu thường phải trèo lên hái những trái khế mang ra chợ để đổi lấy rau trái ăn thêm.”
Nhưng theo ông Trung, cái nhục của ông Trần Văn Giàu là lúc đầu phường khóm chúng chẳng biết Trần Văn Giàu là ai cả! Loa phóng thanh trong phường gọi réo tên ông Trần Văn Giàu lên nay lĩnh gạo, mốt lĩnh thịt và chắc cả tiền lương! Có thể sau này thì bọn phường khóm hiểu ra rằng, đang có “một núi thái sơn” của Đảng bị thất sủng ở trong phường của chúng mới hết cảnh réo gọi.

Chúng tôi sẽ đưa ra một vài chứng từ về mối liên lạc giữa hai người trí thức giữa hai miền và nhất là cuốn sách của ông Trần Văn Giàu phê phán cuốn Nhận Định II của Nguyễn Văn Trung trong kỳ sau.

Cảm tưởng của người viết bài này là giữa một tập Hồi Ký năm năm và cả một cuộc đời 100 năm, liệu tập Hồi ký này có đủ sức chuyên chở cả cuộc đời của chính tác giả và những biến động chính trị trong dọc dài suốt 65 năm liên quan đến số mệnh dân tộc đất nước?

Và lời nhận xét của Nguyễn Ngọc Giao sau đây trong “Lời nói đầu” tỏ ra chỉ là một nhận xét ước lệ, có tính cách xưng tụng hơn là thực tế, “Họ là những nhân vật lịch sử, đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.”

Thực tế cho thấy trong cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” người ta đã cố tình vô ý để thiếu tên Trần Văn Giàu!

Đó là một sai lầm kép của những kẻ làm lịch sử và viết lại lịch sử.

Phải nói thẳng là cái lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời của Trần Văn Giàu là thủ tiêu, đẩy tất cả các đồng chí đệ tứ vào tử lộ mà cho đến lúc chết, Trần Văn Giàu vẫn phủ nhận trách nhiệm! Ông đã từng nếm trải “cảnh tù êm ái” của thực dân đế quốc, từng phải xa vợ con cả chục năm trời, lẽ nào một người như ông thẳng tay giết những đồng chí vì chỉ khác đường lối?

Lỗi lầm thứ hai xảy ra trong nội bộ đảng theo như ông tâm sự với ông Thiếu Sơn, bữa ấy có sự hiện diện của người thủy thủ có trách nhiệm ra Côn Đảo đón nhóm Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng về đất liền. Nhưng vì lý do kỹ thuật đón “muộn”, và bị hiểu lầm là về sợ tranh chỗ. Sự thực thì chỉ không kịp đón theo như nhân chứng là người thủy thủ có mặt hôm ấy. Việc đón trễ là một chuyện.

Nhưng theo Nguyễn Ngọc Giao trong cuộc nói chuyện 3 giờ với Trần Văn Giàu, tại Paris, thì khi Lê Duẩn về đất liền, chỉ được Trần Văn Giàu trao cho giữ chức vụ “đơn thuần làm trưởng phòng du kích Nam Bộ và dường như có ảnh hưởng sau này tới “ tiền đồ chính trị” của Trần Văn Giàu”. Thậm chí sau này ông phải đợi khá lâu mới được trở lại thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975.”

Cũng theo lời Nguyễn Ngọc Giao, Rất tiếc rằng lúc ấy ông không cho phép tôi công bố việc này, cũng như theo sự thỏa thuận mùa hè năm 1989, 3 giờ phỏng vấn ông ở Paris không được phổ biến lúc sinh thời. Ông còn dặn kỹ tôi: ‘Nếu chú viết về việc này, thì tôi sẽ cải chính đấy.’” (Trích Trần Văn Giàu (1911-2010), Nguyễn Ngọc Giao, cập nhật 18/12/2010, dien dan.org

Mặc dầu trong tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan của Trung ương ĐCS Đông Dương ngày 23 tháng 10 năm 1945, đăng lời kêu họi sát hại phái đệ tứ. Nhưng chính lãnh đạo đảng cộng sản cũng phê phán hành động của Trần Văn Giàu! Phải chăng Trần Văn Giàu là nạn nhân của chính sách của Đảng?

Hồi ký của ông sẽ viết gì như biện minh trạng cho những việc làm sát hại các đồng chí cộng sản đệ tứ?

Tạ Thu Thâu
Nguồn: tài liệu đặc biệt của Sở Mật thám Đông Dương, do giám đốc Sở, trùm mật thám Louis Marty biên soạn


Người dân miền Nam trước 1975 chắc còn nhớ trước cửa chợ Bến Thành có con đường nhỏ mang tên Tạ Thu Thâu- một nhân vật cộng sản đệ tứ (Trốt kít) đã bị nhóm đệ tam sát hại tại tháng 9/năm 1945, tại Quảng Ngãi – và chính quyền cộng sản đã không quên bôi xóa con đường mang tên Tạ Thu Thâu vào năm 1975- một bôi xóa mang tính cách lịch sử?

Đối với các bạn trẻ, xin nêu rõ Tạ Thu Thâu là người từng đi du học Pháp, bị trục xuất về nước vì phản đối án tử hình xử 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Trong số 19 người cùng bị trục xuất về nước vào ngày 24-6-1930 trên tàu Athos II ở hải cảng Marseille có tên Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Phan Văn Chán, v.v…) (Trích Phan Văn Hùm, Thân thế và sự nghiệp, Trần Nguơn Phiêu, trang 355).

Năm 1989, khi có dịp được qua Pháp, Trần Văn Giàu trước những câu hỏi chất vấn về việc thủ tiêu các nhóm đệ tứ, Trần Văn Giàu quả quyết rằng không phải do chính ông, vì “những người có trách nhiệm trong thời kỳ đó là Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn và Tôn Đức Thắng. Rời Paris với lời hứa.(cuộc nói chuyện này đã được ghi âm) sẽ “phục hồi danh dự” (réhabilité) cho những người yêu nước bị chết oan, đến nay ông Giàu vẫn im lặng.” (Trích Nhìn lại 60 năm tranh đấu cho Việt Nam, Hoàng Khoa Khôi, trang 290).

Nhưng kể từ đó đến nay, lời hứa đó đã không hề bao giờ được tôn trọng thực hiện cho đến lúc ông chết.

Phan Văn Hùm (1902-1946)
Nguồn: Wikipedia.org


Cũng trong bài phỏng vấn Trần Văn Giàu của Nguyễn Ngọc Giao, “ông dứt khoát bác bỏ trách nhiệm của mình trong cái chết của Tạ Thu Thâu (tháng 9 năm 1945 tại Quảng Ngãi), nhưng ông giữ im lặng không trả lời câu hỏi của tôi về việc Phan Văn Hùm và các đồng chí đã bị thủ tiêu ở Nam Bộ năm 1946.”

Về cái chết của nhà Cách Mạng Tạ Thu Thâu cho đến giờ phút này, có thể chúng ta không bao giờ có lời giải đáp chính xác chắc chắn cho câu hỏi: Ai giết? Có thể không phải là ông Trần Văn Giàu giết nhưng cho chỉ thị thì có. Nghị quyết phải triệt hạ các tay sai đế quốc, phát xít cũng như phải trừng trị đích đáng bọn phản động Trốt Kít. Nhưng mặt khác thì chính họ lại thủ tiêu mọi chứng từ, giấy tờ, mọi nhân chứng và nếu cần thủ tiêu ngay cả “thủ phạm thi hành” nếu cần.

Câu hỏi ai giết, ai ám hại Tạ Thu Thâu có thể là một câu hỏi thừa đối với những người cộng sản thứ thiệt! Ai giết cũng được!

Nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ giả vờ không biết để không hỏi. Phải hỏi dù không có câu trả lời.
Nhưng trong chỗ riêng tư, đã có lần ông thú nhận với ông Thiếu Sơn là ông chỉ sát hại có một người trong suốt thời gian giữ chức vụ Lâm Ủy hành chánh chánh? Người nào thì ông không nói rõ tên.

Phải chăng đó là những người có uy tín hàng đầu như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Trần Văn Sĩ, Phan Văn Hoa? Hay những người khác như Lê Văn Vững, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, Lê Kim Tỵ?

Muốn hiểu rõ ai đã ra tay giết hại những người này, có nhiều nguồn tài liệu, nhất là tài liệu của các nhóm đệ tứ. Trước hết xin đọc tóm lược tài liệu của ông Nguyễn Kỳ Nam, một nhà báo, một người nhân chứng, tường thuật tại chỗ và có tham dự những buổi họp báo của Lâm Ủy Hành Chánh, trong đó Trần Văn Giàu làm chủ tọa:

“Buổi nhóm đó có các ký giả.
Tôi không bao giờ quên khi Trần Văn Giàu mặc áo sơ mi đứng lên tay mặt đập mạnh vào khẩu súng nhỏ mang ở bên hông, để trả lời một câu chất vấn của Trần Văn Thạch .
Nghe và thấy vậy làm sao không sợ?Nhứt là người đứng lên trả lời đó là một cán bộ cao cấp của đảng cộng sản đệ tam (…) Buổi nhómKhoáng Đại Hội Nghị hôm đó, Lâm Ủy Hành Chánh để lộ chân tướng sát nhơn” rõ rệt .
Tôi nhớ hai người chất vấn: Huỳnh Phú Sổ và Trần Văn Thạch (…)
Thạch chất vấn Giàu.

– Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh Nbam Bộ? Và cử hồi nào?
Trần Văn Giàu đứng dạy trả lời.

– Anh Thạch, tôi biết anh muốn nói gì rồi. Anh hỏi: “Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh”, chớ thật ra, trong bụng anh nghĩ:” Ta giỏi như vầy mà sao không ai đem ta vào Lâm Ủy”. Vậy tôi xin trả lời: Chúng tôi tạm thời đảm đương Chánh phủ trong giai đoạn này.Sau rồi, chúng tôi giao lại các anh. Còn trả lời về chánh trị, tôi sẽ gặp anh ở một nơi khác.”

– Trần Văn Giàu vừa nói câu sau vừa để tay mặt nơi cây súng sáu (…) Phòng nhóm im lặng như tờ. Mọi người đều nhìn Thạch như biết số mạng của Thạch đã định … nơi khẩu súng lục kia rồi. Tôi hồi hộp, tim đập mạnh.

Từ đó, tôi mất hết tinh thần .. Nhiều bạn ký giả ngồi chung quanh tôi xầm xì:

– Thạch đã tự mình ký tên bản án tử hình rồi. Sau đó, Trần Văn Thạch bị giết, không ai còn lấy làm lạ nữa.

(Khi Huỳnh Văn Phương nắm công an, tình cờ bắt gặp được hồ sơ của mật thám để lại chứng minh rằng: Giàu có đi lại với Pháp. Vì vậy mà cộng sản không tin dùng Giàu (…) Khi Giàu liên lạc với Arnoux, chánh mật thám Đông-Dương, và Giàu làm tay sai cho Pháp để nhận một số tiền … Arnoux biết Giàu lợi hại lắm sau này cũng dám phản bội nên khi đưa tiền cho Giàu, họ đặt máy ảnh trong kẹt cửa, chụp bức ảnh, chính tay Giàu thọ lãnh số bạc từ tay Arnoux trao .. Bức ảnh này còn nằm trong hồ sơ mật của mật thám. Huỳnh Văn Phương đang làm trạng sư được Nhựt đưa vào làm Tổng Giám Đốc Công An, tìm thấy hồ sơ của Giàu, liền cho rọi bức ảnh “Mật” đó ra làm 4 bản, trao cho Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, còn một bản Huỳnh Văn Phương giữ làm tài liệu.

Huỳnh Văn Phương trao 3 bức ảnh cho 3 người để rồi cả ba đều bị ám sát trong những trường hợp khác nhau)

Riêng Huỳnh Phú Sổ tố giác:

– Tôi có đủ tài liệu chứng minh rằng. Trần Văn Giàu đã thông đồng với Pháp .. Cho nên, trong nhiều phiên họp, Huỳnh Phú Sổ thường gay gắt hỏi: Ai Việt Minh thiệt? Ai Việt Minh giả? Và ai là Việt gian?

Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh rơi mặt nạ trong những phiên nhóm này, nên về sau, Huỳnh Phú Sổ bị thủ tiêu, không ai lấy làm lạ nữa?

Riêng Phan Văn Hùm dè dặt nhất mà cũng không khỏi … Trong một phiên nhóm của Mặt Trận Quốc gia Thống Nhứt, Phan Văn Hùm đưa ra một bức thơ có chữ ký của Trần Văn Giàu chứng minh sự phản bội của Giàu, nhưng Hùm đã tỏ thái độ anh hùng của mình bằng cách lấy bức thư đó lại, đọc cho mọi người nghe, rồi đốt liền, để cho Giàu thấy rằng: một bằng cớ như vậy mà Hùm sẵn sàng thủ tiêu, để sau này không còn trong lịch sử.

Nhưng một tháng sau, khi Sàigòn tản cư, Hùm lên miền Đông gặp Dương Bạch Mai nói rằng: “Trước chúng ta bất đồng chánh kiến về chánh trị. Nay nước nhà đương cần đoàn kết chống thực dân, tôi tin rằng: “anh sẽ bỏ qua việc cũ..”

Dương Bạch Mai không trả lời, nhưng lại chỉ cho Hùm vào một phòng bên trái, tức là một nơi “một vào không ra nữa được”. Người ta gọi là cửa tử.

Thật vậy, hai hôm sau, Phan Văn Hùm bị thủ tiêu.

Còn Trần Quang An?

Trần Quang An cũng theo Hùm. Nhưng khi thấy Mai đưa Hùm vào “ cửa tử”, Trần Quang An vội vã bắt tay Mai để từ giã:

– Tôi đến đây thăm anh, anh cho phép tôi về.

Trần Quang An nói dứt lời, tính quay bước ra ngoài, nhưng Dương Bạch Mai kéo lại, và chỉ cho Trần Quang An đi theo vào một cửa với Phan Văn Hùm.

Mai nói vắn tắt:
– Anh cũng vào ngã này chớ.

– Thế rồi Trần Quang An cũng bị, thủ tiêu như Phan Văn Hùm. Phan Văn Chánh cùng chung một trường hợp như Phan Văn Hùm, Trần Quang An, vì cả ba cùng di tản một đường.

Trích tóm lược Hồi ký 1925-1964 của Nguyễn Kỳ Nam, tập II, trang 31.Sau này, rất nhiều người trong nhóm đệ tứ đã đồng loạt lên án nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu.
Tài liệu trích dẫn: Ai đã ám sát Tạ Thu Thâu và những người Trốkít Việt Nam? Hoàng Khoa Khôi, Những nhân chứng cuối cùng, Trần Ngươn Phiêu, Bà Phương Lan, Bùi Thế Mỹ trong Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu và Hồi ký Nam Đình, v.v…Tác giả Hoàng Khoa Khôi trong tập sách “Nhìn lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam” trang 22, đã lên án nặng nề nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu đã giết hại những đồng chí của mình như sau:

“Khi Lê Văn Vững bị bắn chết trước nhà ở đường Albert 1er, Đa Kao.. Nhiều bạn thân đã nhận diện được các sát thủ trong vụ này thuộc nhóm “công tác thành” của Dương Bạch Mai. (một đồng chí của Trần Văn Giàu. Tiếp theo Dương bạch Mai đã cho vây bắt các danh nhân trong Mặt Trận Quốc Gia Thống nhất như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, Trần Quang Vinh, Diệp Văn Kỳ cũng như một số nhân vật đệ tứ phải chịu chung số phận như Hồ Vĩnh Ký, cùng vợ là Nguyễn Thị Sương, Trần Văn Thạch. Chưa kể hàng ngàn các tín đồ Hòa Hảo ở Hậu Giang .. Khẩu hiệu “đánh chung, đi riêng” trở thành chủ trương tàn sát những nhóm “ đi riêng”.
Họ đặt một số câu hỏi cho Trần Văn Giàu như: Vì sao ông Giàu với danh tiếng sử gia, nhà văn hóa (có người ví ông với Chu Văn An) im lặng. Ông ngại gì? Sợ ai? Ở địa vị, tên tuổi (lẫy lừng) của ông, lẽ ra ông chẳng phải sợ ai, ngại gì. Trong thời kỳ tiêu diệt người Đệ tứ, vai trò của ông Trần Văn Giàu là gì? Nhưng ai có thể nghĩ rằng ông không hề hay biết? Một trong những người có thể là hung thủ trực tiếp là ông Nguyễn Văn Trấn (tác giả cuốn sách “Viết cho mẹ và Quốc Hội”) Nhưng ông Trấn trong sách không hề đả động đến chuyện này.Nhận xét và so sánh nhà tù thời Pháp thuộc (nhà tù Tà Lài) và trại Cổng Trời (The Heaven Gate Prison) trong cuốn Hồi ký của tác giảTheo Trần Văn Giàu trong phần thứ nhất, “Từ ngồi tù khám lớn đến vượt ngục Tà Lài”. Đọc đoạn văn trích dẫn sau đây của ông Trần Văn Giàu mà thấm thía. Ông Trần Văn Giàu chỉ quên không cho biết rõ đã có một người tù nào trong trại tù Tà Lài thời thực dân Pháp đã chết vì kiệt lực, vì thiếu ăn, vì bị giam cầm, bị biệt giam, bị tra tấn tinh thần, bị xỉ nhục hay bị chết vì bệnh tật vì không có thuốc men!
Xin mời 300.000 ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” thời VNCH cùng đọc đoạn văn này để cùng suy nghĩ.

Đường lên trại giamMột đường đá nhỏ hẹp dắt đi đâu không biết, cỏ cây mọc tùm lum. Một thầy đội bảo:- Đường vào căng đó, chúng ta nghỉ ăn sáng cái đã.
Lính trải vài tờ nhật trình xuống cỏ, bày bánh mòi, đồ hộp, bình toong nước, ai có phần nấy.

– Y như hướng đạo sinh đi cắm trại mùa hè!
– Cứ quất no một bụng rồi sẽ xem ra sao.

Sinh hoạt tổ chức trong trại giam Tà Lài

– Phong cảnh Tà Lài khá hữu tình. Đồn ngói của Tây, trại tranh của tù như giấu mình trong khu rừng mênh mông đầy muông thú, bên cạnh một con sông lớn nước bao giờ cũng trong và đầy, sông Đồng Nai. Bên kia sông về hướng Tây, một dãy núi xanh biếc (…) Khoảng trên của con sông, dài không biết bao nhiêu kilômét, nước đầy, chảy nhẹ, nhiều cá tôm, có cá sấu; chiều chiều đội đốn tre của anh Phúc thả bè về, quần áo quấn trên cổ, hát giọng chèo đò. (…) Một hôm chủ nhật, tốt trời, chúng tôi xin phép tổ chức “thi lội” ở khoảng sông này. Sếp Tây đồng ý (…) Nhiều buổi chiều biểu diễn của Minh (vua bơi lội) cũng được toàn căng tán thưởng, nhiều thầy chú ra xem, đôi khi xếp Tây cũng ra xem. Minh bơi lội như cá và đẹp như khiêu vũ Ba Lê ..(..) Tôi, sếp cùng hàng chục anh em binh lính đứng gác trên chiếc phà cột ở bến. Vui quá là vui! Hai thằng sếp Tây, ở trần trùng trục, tay chống đầu gối cũng hét lên với mọi người. Tôi và Tào Tỵ đứng bên hông hai sếp, cũng hét hò.

– Ba cái nhà đó ở giữa một khu đất rộng chừng bảy, tám mẫu, cây to cao đã bị đốn sạch, nhưng cây nhỏ và cỏ tranh mọc lên rậm rì, có nơi lút đầu. Ngày chúng tôi lên tới đó thì Tây vừa mới làm xong một cái trại dài bằng tranh nứa chứa đựng khoảng năm, bảy mươi người, một cái nhà bếp, một trạm y tế cũng bằng tre. Từ nay về sau, mọi sự xây dựng ở trại giam này đều sẽ do bàn tay của anh em chúng tôi.

– Hễ còn trại tập trung thì còn thực dân Pháp và chiến tranh. Trại tập trung là nhà tù không án, không thời hạn. Giam giữ là chính. Cái chính không phải là đầy ải, bắt lao động.

– Sinh hoạt tư tưởng xem như là thường xuyên, lính gác cũng được dự, có khi cả xếp Tây nữa.

– Tháng 10 năm 1940, bọn tôi, có mấy trăm người bị giam ở trại tập trung Tà Lài. Trại nằm sát mé sông Đồng Nai. Tại đây có một bến phà (…) Ở đây, bản làng đồng bào Mạ cách xa Tà lài nhiều cây số, nhưng ngày ngày vẫn có người mang nỏ, mang gùi, xách chà gạc, xách thịt rừng đi qua đây, có khi một vài lít rượu. Đỡ buồn cho tụi tôi biết mấy!

Kết luận

Ở căng Tà Lài cuộc sống không đến nỗi cực khổ quá, có thể nói thảnh thơi là khác, được như vậy, không phải do chế độ của trại giam mà do tổ chức tù nhân của chúng tôi; công việc khoán phần lớn ở trong rừng, chỉ có mã ta đi theo cốt để giữ không cho chúng tôi trốn hơn là để thúc bách tù làm. Chỉ một lần sếp Tây đánh một đồng chí một gậy, đồng chí ấy quơ xà beng lên đỡ, tất cả anh em đều đứng lên, xẻng, cuốc, dao, mác trong tay, mắt đổ dồn vào tên xếp Tây, nó khiếp quá, bỏ đi luôn. Từ đó trở đi, không có vụ đánh đập nào nữa.

Thuốc men không biết đâu là đủ, nhưng sốt rét thì có ký ninh, uống nước thì có nước sông lọc bằng thuốc tím. Ở thì nhà tranh vách nứa, tự làm, nhưng được phát mùng, phát chiếu. Tây nó cốt được yên bằng việc tách tụi tôi khỏi nhân dân, không cốt được kết quả lao động khổ sai.” dcvnews

The Heaven Gate Prison, Trại Cổng TrờiĐọc thêm về “Trại giam Cổng Trời” qua lời nhân chứng của ký giả Mặc Lâm, biên tập viên, đài RFA, để có dịp so sánh với trại tù Tà Lày của thực dân Pháp!(Còn tiếp)

© DCVOnline

Tham khảo thêm:
2./Hồi Ký Trần Văn Giàu (gồm nhiều tập)

———————————————————————————————————–

Phần 2

Viết tiếp pho sử Trần Văn Giàu

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/417291/Viet-tiep-pho-su-Tran-Van-Giau.html

Thứ Sáu, 24/12/2010, 05:48 (GMT+7)

Viết tiếp pho sử Trần Văn Giàu

TT – 10g ngày 23-12, lễ viếng GS Trần Văn Giàu mới bắt đầu nhưng từ sớm nhiều lão đồng chí, đồng nghiệp, học trò… đã chống gậy đến Hội trường TP.HCM (111 Bà Huyện Thanh Quan, Q.3, TP.HCM).

Họ đến không chỉ để thắp nén nhang tưởng nhớ, mà nói như ông Tô Bửu Giám – chủ tịch quỹ giải thưởng Trần Văn Giàu: “Một đời viết sử, dạy sử, cả cuộc đời GS Giàu là một pho sử”.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết viếng giáo sư Trần Văn Giàu – Ảnh: T.THẮNG
Xem TVO: Vĩnh biệt GS Trần Văn Giàu

Những đàn em, học trò ấy của GS Trần Văn Giàu giờ tuổi cũng đã ngoài thất thập. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đến từ đầu buổi sáng, GS Phan Huy Lê, GS Đinh Xuân Lâm bay từ Hà Nội vào từ đêm trước.

GS Nguyễn Công Bình – nguyên viện trưởng Viện KHXH TP.HCM – nay đã 80 tuổi, là một trong những hạt giống đầu tiên của ngành sử mà GS Trần Văn Giàu gieo xuống. Ông kể: “Mảnh đất mà chúng tôi được thầy Giàu chăm bón là Trường ĐH Dự bị ở Thanh Hóa năm 1952. 60 năm trôi đi quá nhanh và quá bất ngờ. Bất ngờ là bởi khi gặp thầy, chúng tôi không nghĩ có thể lĩnh hội được từ thầy Giàu nhiều đến vậy để trở thành trụ cột của công việc nghiên cứu sử nước nhà”.

Riêng với GS Phan Huy Lê, câu chuyện mà ông chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhắc mãi đó là trước khi gặp GS Trần Văn Giàu ông không hề yêu mến môn sử. Bị phân vào khoa sử, ông từng coi đó là một điều kém may mắn. “Nhưng thầy Giàu đã làm thay đổi suy nghĩ ấy trong tôi. Tôi không chỉ lĩnh hội những kiến thức và phương pháp nghiên cứu sử ở thầy, mà hơn cả ở thầy còn là một con người của lịch sử, một pho sử cuốn hút chúng tôi”.

Hai cụ già Nguyễn Thống Nhứt và Trần Thanh Phan, một người là chiến sĩ đặc công đầu tiên ở miền Nam, một người là chiến sĩ Thanh niên tiền phong. Ông Nhứt góp chuyện về GS Giàu bằng hình ảnh ngày 2-9-1945, GS Giàu làm nức lòng dân Nam bộ khi thay mặt Chính phủ ra phát biểu trước đồng bào. Còn ông Phan nhớ mãi năm 17 tuổi được nằm trong lực lượng bảo vệ GS Trần Văn Giàu khi ông về Ninh Bình diễn thuyết trong lần đầu tiên ra Bắc.

Đã là những ông già 80 tuổi, lọ mọ chống gậy đến thắp nhang nhưng hai ông đều tự nhận mình chỉ là những “cậu thiếu niên” trong mắt GS Trần Văn Giàu. Nhưng ông Nguyễn Thống Nhứt nói rằng với GS Giàu, ông thấy mình được xem như một người bạn. “Hồi ở miền Bắc, biết tôi là thương binh hạng đặc biệt từ miền Nam ra, lâu lâu ông Sáu Giàu lại đạp xe tới thăm. Sau này hòa bình, ông Sáu cũng y vậy, lâu lâu lại đạp xe từ nhà lên phường Cô Giang (TP.HCM) thăm. Không thấy nề hà, cách trở gì hết” – ông Nhứt bồi hồi.

Còn GS Tô Bửu Giám, người đang giữ tâm nguyện của GS Trần Văn Giàu với cương vị chủ tịch giải thưởng mang tên ông, nhắc về câu chuyện khi ông Sáu Giàu bán nhà lập giải thưởng mang tên mình, GS Giàu căn dặn: “Đã làm khoa học thì phải vượt khó, không được than khổ. Trao giải là phải trao cho đáng, cho công trình đã có kết quả, xứng tầm, chứ giải thưởng không phải để đem đi hỗ trợ khó khăn”. Và có lẽ vì quan điểm này mà theo lời GS Giám, những năm đã ngoài 90 tuổi mỗi ngày GS Trần Văn Giàu vẫn tự đặt ra cho mình phải viết tay được 10 trang bản thảo.

Những kỷ niệm ấy về mình, sinh thời GS Trần Văn Giàu chắc đã không thể nhớ hết, biết hết. Nhưng giờ những lão đồng chí, học trò ấy… đang ráng kể lại, viết lại. Vì không ai muốn bỏ sót một chi tiết nào về pho sử Trần Văn Giàu.

NGUYỄN VIỄN SỰ

*

Nhà cách mạng kiên trung

Sáng 23-12, lễ tang giáo sư, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động Trần Văn Giàu đã được cử hành trọng thể theo nghi thức lễ tang cấp nhà nước. Tính đến chiều cùng ngày đã có gần 150 đoàn khách trong và ngoài nước đến viếng. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và nhiều vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã gửi vòng hoa viếng.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thay mặt Bộ Chính trị vào viếng đầu tiên, ngay sau khi linh cữu giáo sư Trần Văn Giàu được an vị tại lễ đường. Tiếp đó, các đoàn của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ… đã lần lượt vào viếng linh cữu giáo sư Trần Văn Giàu. Viện Khoa học xã hội VN, Hội đồng khoa học xã hội TP.HCM, Ủy ban Giải thưởng khoa học Trần Văn Giàu cũng cử đoàn đến viếng nhà khoa học bậc thầy. Tổng lãnh sự Cộng hòa liên bang Nga tại TP.HCM cũng đến viếng và chia buồn cùng gia đình giáo sư Trần Văn Giàu.

Trong sổ tang, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết viết: “Kính viếng đồng chí Trần Văn Giàu – người con ưu tú của Nam bộ thành đồng, người lãnh đạo tài năng, người trí thức, nhà khoa học uyên bác, người đảng viên cộng sản kiên trung. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí thật to lớn và mãi mãi ngời sáng!”.

Cũng trong sổ tang, ông Trương Tấn Sang – ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đã viết: “Kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt đồng chí Trần Văn Giàu, một chiến sĩ cách mạng đầy nhiệt huyết của đất nước và của miền Nam thành đồng Tổ quốc, một nhà khoa học lớn”. Ông Trương Tấn Sang khẳng định: “Đảng Cộng sản VN, Nhà nước và nhân dân VN mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng chí!”.

Nguyên phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa ví giáo sư Trần Văn Giàu như cây đại thụ trên vùng đất Nam bộ. “Chú đi xa như cây đại thụ Nam bộ không còn, nhưng bóng cây đại thụ vẫn lan tỏa bóng mát cho đời” – bà Trương Mỹ Hoa viết.

NGUYỄN TRIỀU

————–

Thứ Sáu, 17/12/2010, 07:59 (GMT+7)

Vĩnh biệt Giáo sư Trần Văn Giàu!

TTO – Vào lúc 17g20 ngày 16-12, tại bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM), trái tim của nhà cách mạng lỗi lạc, nhà khoa học, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động, giáo sư Trần Văn Giàu – đã ngừng đập.

Đất nước và dân tộc Việt Nam mất đi một người con ưu tú. Đảng cộng sản Việt Nam mất đi một chiến sĩ cách mạng kiên trung. Giới khoa học Việt Nam mất đi một người thầy lỗi lạc. Cả nước Việt Nam mất đi một người anh hùng.

Giáo sư Trần Văn Giàu sinh năm 1911, tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An). Từ năm 15 tuổi ông đã lên học tại Sài Gòn rồi sang du học tại Pháp và đến năm 1930 thì bị trục xuất về nước sau khi tham gia biểu tình trước dinh tổng thống Pháp đòi hủy án tử hình đối với các chiến sĩ cách mạng tham gia khởi nghĩa Yên Bái.

Sau đó, ông tham gia cách mạng, bị thực dân Pháp bắt, kết án năm năm đày đi Côn Đảo. Tháng 4-1940, ông ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng, rồi lại bị địch bắt đưa đi giam ở Tà Lài và sau đó vượt ngục trở về, tiếp tục hoạt động cách mạng.

Năm 1943, ông được bầu làm Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám ở miền Nam năm 1945 và được cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước, tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu ở lĩnh vực khoa học xã hội.

Ông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1992), danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, giải thưởng Hồ Chí Minh, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

Bước sang tuổi 100, sức khỏe của giáo sư Trần Văn Giàu đã suy giảm nhiều. Từ mồng 9 Tết Nguyên đán năm 2010, ông được đưa vào điều trị và an dưỡng tại Bệnh viện Thống Nhất. Nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày 16-11 vừa qua, ông Lê Thanh Hải – Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM – đã đến thăm và chúc mừng Giáo sư trên giường bệnh.

GS được Đảng, nhà nước, ngành y tế và gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng do tuổi cao sức yếu đã từ trần, thọ 100 tuổi.

Các nghi lễ trang trọng, thành kính sẽ được cơ quan có thẩm quyền thông cáo trên báo chí ở bản tin tiếp theo.

N.TRIỀU

>> Xem bản tin tiếng Anh

Tóc đã bạc nhưng lòng còn son (*) 

GS Trần Văn Giàu

20 tuổi tôi qua Pháp, lạ lùng nhất là nhìn thấy nhiều người Tây chống Tây, đứng về phía VN. Đó chính là những người cộng sản Pháp. Tôi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, một cột mốc hết sức quan trọng trong cuộc đời. Tháng 2-1930, khởi nghĩa Yên Bái với qui mô lớn xôn xao dư luận trong nước và thế giới. Nhưng nó thất bại và Pháp bắt xử tù hàng trăm người, đòi xử tử 13 người.

Tôi là một học sinh VN ở Toulouse miền nam nước Pháp, là một trong số những người tổ chức cho hàng trăm HS SV VN ở Pháp biểu tình trước dinh tổng thống Pháp ở Paris ủng hộ khởi nghĩa. Trước đó tôi đã nhiều lần bị bắt trong việc tổ chức các cuộc mittinh và được thả. Lần này tôi cùng 19 người khác bị bắt, bỏ tù một tháng và bị xử trục xuất khỏi nước Pháp.

Tôi trở về nước. Trong khi gia đình tưởng sẽ mang về một tấm bằng tiến sĩ hay kỹ sư gì đó thì tôi về với một án chính trị. Đó là chuyện lớn trong đời tôi. Từ đó tôi là một người cách mạng chuyên nghiệp. Tôi được kết nạp ngay vào Đảng Cộng sản Đông Dương, nay đã là đồng chí già 75 tuổi Đảng (cười).

75 năm, ngoài những ngày ở tù, tôi luôn luôn làm việc. Nay 95 tuổi rồi “tóc đã bạc mà lòng vẫn son”, tôi vẫn đang hoàn thành những trang viết cuối cùng của cuộc đời. Tôi muốn nói với tuổi trẻ ngày nay, phải nhìn thấy VN là nước bị các nước lớn nhất trên thế giới xâm lược nhiều lần nhất, nhưng ta đã đập tan xiềng xích, giải phóng mình. Nhìn thấy để bước tiếp.

Và sự nghiệp đất nước VN hôm nay nằm trong tay các cháu.

GS TRẦN VĂN GIÀU
(nguyên bí thư Xứ ủy Nam kỳ, nguyên chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ)

(*) Được trích từ bài viết Hồi ức 2-9

Thầy Trần Văn Giàu của chúng tôiTTCN – Nhớ lại 50 năm trước, khi bước lên bậc thềm của giảng đường đại học, sinh viên khoa văn chúng tôi có hạnh phúc được học những ông thầy vốn là học giả lừng danh: Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Tửu… Giáo sư Trần Văn Giàu là một trong những thần tượng của chúng tôi thời đó.

Các vị mà chúng tôi trân trọng kể tên trên đây hầu hết đã về với thế giới người hiền – với Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản… Riêng thầy Trần Văn Giàu tuổi dù đã cao, sức có giảm nhưng trí vẫn sáng, lòng vẫn son. Thầy luôn luôn vẫn là mẫu mực để chúng tôi tự hào, noi theo, vươn tới.

Nhắc đến thầy, tất nhiên chúng tôi không quên những năm dài hoạt động cách mạng rất đẹp của thầy. Một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau, tô đậm hình ảnh chói ngời của người chiến sĩ kiên cường: 18 tuổi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, 19 tuổi vào Đảng Cộng sản Đông Dương, 20 tuổi theo học Trường đại học Phương Đông (ở Matxcơva) – nơi đào tạo các nhà cách mạng cho hai đại lục Á – Phi.

Bốn lần vào tù ra khám, 12 năm bị giam cầm đày ải trong các nhà lao khét tiếng man rợ như Côn Đảo, Tà Lài; sau đó chỉ đạo khởi nghĩa thành công ở khắp các tỉnh thành phía Nam Tổ quốc với tư cách bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. Rồi 23-9-1945, khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn trở lại ở Sài Gòn, nhân dân lục tỉnh dao kiếm, súng kíp, gậy tầm vông vạt nhọn trong tay nhất tề đứng lên chặn bước tiến quân thù, thầy lại đứng đầu sóng ngọn gió với trọng trách chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ…

Từ 1951 đường đời của thầy có bước ngoặt đầy ý nghĩa: chuyển hẳn sang lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học. Tất nhiên hiện tượng bất thường này có nguyên nhân sâu xa. Và sau này khi ít nhiều hiểu biết, chúng tôi càng thêm kính trọng nhân cách, bản lĩnh sống của thầy: vượt trên nghịch cảnh, thị phi, thầy luôn giữ niềm tin vào lý tưởng và tổ chức, đồng thời luôn thể hiện một cách tự nhiên sự trung thực, trong sáng và lòng kiên định cách mạng.

Các thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh lần lượt được thầy góp công đào tạo trong các trường Dự bị đại học, Sư phạm cao cấp thời chống Pháp; trường Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1954 – 1975. Từ những mái trường ấy, hàng loạt trí thức cao cấp đã trưởng thành.

Riêng ngành sử học có thể nhắc đến bốn cột trụ tiêu biểu Lâm – Lê – Tấn – Vượng (Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng). Cả bốn anh đều là đệ tử chân truyền của thầy. Cho đến mấy năm gần đây, dù tuổi đã rất cao thầy vẫn lặng lẽ, bền bỉ hướng dẫn cho một số nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

Tôi cứ nhớ mãi đôi câu đối của giáo sư Hoàng Như Mai mừng thầy cách đây 10 năm, nhân dịp thầy tròn 85 tuổi:

Tám lăm năm trên mặt địa cầu, có phen lội sình lầy, có phen vượt núi băng ngàn, có phen giẫm tuyết đạp băng nơi đất lạ và có phen mang xiềng gang xích sắt chốn lao tù… Đôi chân ấy bước qua thế kỷ vẫn còn dư sức lực.

Một đời sống trong lòng quần chúng, đã từng làm “phiến loạn”, đã từng điều binh khiển tướng, đã từng dạy sử luận triết trong giảng đường, lại đã từng bị kiểm thảo và phê bình quan điểm (!)… Con người này phục vụ nhân dân kể cũng lắm công lao.

100 chữ, chỉ 100 chữ thôi, nhưng đã biểu hiện chân dung tinh thần và những chặng đường đời tột cùng gian nan mà cũng không ít cay đắng của thầy Giàu của chúng tôi.

Đến thăm thầy, hơn 40 năm trước ở Hà Nội, hay bây giờ trên căn lầu tĩnh lặng ở một hẻm rộng tại TP.HCM, ít khi tôi thấy thầy rời cây bút và quyển sách hoặc tập bản thảo. Cứ nghĩ đến tấm gương cần cù tự học ấy mà anh em chúng tôi tự cảm thấy hổ thẹn – là lớp hậu sinh vậy mà chúng tôi thiếu sự kiên tâm trì chí.

Sức đọc đã quí như thế, nhưng sức viết còn đáng nể trọng hơn.

Trong hơn 50 năm hoạt động khoa học, thầy viết hơn 150 công trình nghiên cứu về triết học, tư tưởng và cả về lịch sử, văn học.

Tổng thống Pháp F. Mitterrand và giáo sư Trần Văn Giàu

Về triết học, đáng chú ý là ba công trình mang tính tiên phong: Biện chứng pháp (1955), Vũ trụ quan (1956), Duy vật lịch sử (1957). Đây vốn là những giáo trình đại học thầy viết ngay trong mấy năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong hoàn cảnh sách vở còn thiếu thốn, những công trình này sớm giúp người đọc nắm bắt một số vấn đề cốt yếu, nền tảng của chủ nghĩa Mác, để bước đầu hiểu được học thuyết cách mạng này.Về lịch sử tư tưởng của dân tộc, ngoài những bài viết công bố trên báo chí, thầy có hai công trình dày dặn, quan trọng: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ 19 đến Cách mạng Tháng Tám (1990) và Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1993).

Trong hơn 1.000 trang sách của công trình thứ nhất, thầy trình bày đặc điểm và sự thất bại của ý thức hệ phong kiến và ý thức hệ tư sản trước tình hình mới của đất nước, đồng thời khẳng định tính khoa học và nhiệm vụ lịch sử của hệ ý thức giai cấp công nhân VN. Trong công trình thứ hai, thầy có cái nhìn bao quát, tập trung giới thiệu và khẳng định những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc ta trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Thành tựu của thầy trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử hết sức đa dạng và phong phú. Hơn ai hết thầy đặc biệt quan tâm đến lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc. Nhiều công trình được liên tiếp công bố, công trình nào cũng qui mô cỡ vài ba ngàn trang in. Chỉ xin nhắc mấy bộ sách lớn, tiêu biểu: Chống xâm lăng (ba tập, 1956 – 1957), Giai cấp công nhân Việt Nam (bốn tập, 1961), Miền Nam giữ vững thành đồng (năm tập, 1964 – 1978)…

Khó có thể kể hết những gì thầy viết, nhưng sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới những công trình thầy chủ biên như Lịch sử cận đại Việt Nam (ba tập, 1960 – 1963) hoặc đồng chủ biên với nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (bốn tập, 1987), Chủ tịch Hồ Chí Minh và miền Nam Tổ quốc (ba tập, 1990).

Khác với việc nghiên cứu lịch sử, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học thầy không dựng những bức tranh toàn cảnh hoành tráng mà có ý thức đi sâu, đột phá vào một số trọng điểm. Có khi thầy để tâm đến văn học dân gian (Họ Hồng Bàng, Truyện Thánh Gióng, Thần Tản Viên, Thần Kim Qui, Truyện Hai Bà Trưng…).

Cũng có lúc thầy nghĩ và viết về những con người và tác phẩm vang dội của văn học trung đại như Lý Thường Kiệt và những áng văn nổi tiếng của ông: “Lộ bố đánh Tống” và “Nam Quốc sơn hà”; hoặc như Bài Hịch tướng sĩ của vị tướng soái kiệt xuất đời Trần: Trần Quốc Tuấn. Nghiên cứu về văn chương cận đại, thầy đặc biệt quan tâm đến Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19 (1970).

Cũng trong những năm chống Mỹ, thầy theo dõi tình hình văn học ở cả hai miền Nam Bắc, biểu dương cổ vũ kịp thời nhiều tác phẩm có giá trị như các tập Bất khuất, Những ngày gian khổ (1965) hoặc hai tập bút ký chính luận nổi tiếng xuất bản ngay giữa Sài Gòn tạm chiếm: Bọt biển và sóng ngầm (của Lý Chánh Trung), Cho cây rừng còn xanh lá (của Nguyễn Ngọc Lan)…

Chung một ý tưởng, một mạch cảm hứng với việc nghiên cứu lịch sử, thông qua những công trình nghiên cứu văn học kể trên, thầy muốn khái quát, khẳng định những truyền thống rất quí của dân tộc: trọng đạo lý thủy chung nhân nghĩa, tha thiết yêu nước thương dân, hiên ngang quật cường bất khuất.

Là thế hệ hậu sinh, chúng tôi rút ra được nhiều bài học vô giá từ sự nghiệp trước tác đồ sộ của thầy. Trước tiên, đó là bài học về động cơ cầm bút. Viết về lĩnh vực nào, về đề tài gì, hình như thầy đều xác định thế đứng vững vàng của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng chân chính. Thầy muốn những trang viết tâm huyết của mình thật sự có ích cho cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

Mặt khác, khi viết cái gì thầy đều tìm hiểu thấu đáo, tích lũy tư liệu hết sức dồi dào, luôn quan tâm đến những kiến thức liên ngành, tạo cho bản thân sự uyên thâm không chỉ trong lĩnh vực khoa học mà cả trong thực tiễn đời sống nữa. Giáo sư Vũ Khiêu có lý khi nhận xét: “Các tác phẩm về sử học của giáo sư Trần Văn Giàu đều có sức hấp dẫn của văn và chiều sâu của triết. Ở giáo sư trong văn có triết và trong triết có văn. Cả hai đều được lý giải vững vàng, gắn liền với sự chứng minh của sử học” (Trần Văn Giàu  tuyển tập, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2000).

Xin được nói thêm: nhiều trang viết của thầy còn có sức cuốn hút không cưỡng nổi của tính hùng biện. Đọc văn thầy, tự nhiên chúng tôi lại hình dung ra, rõ mồn một, hình ảnh của thầy tại đại giảng đường Lê Thánh Tôn ngày nào. Ít khi thầy ngồi, chủ yếu là đứng, tư thế thoải mái, miệng như hơi cười, cặp mắt sáng và sâu nhìn thẳng vào sinh viên, giọng nói khi nhỏ nhẹ thiết tha, khi hùng hồn sôi nổi; thái độ luôn điềm đạm nhưng đầy tự tin, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phong phú đa chiều đúng với tinh thần “nói có sách”.

Viết về thầy, có điều tôi cứ nghĩ mãi: sức hấp dẫn chủ yếu của thầy đối với các thế hệ học trò và với đông đảo trí thức trong và ngoài nước là ở phương diện nào đây? Tài năng ư? Có, nhưng thiếu gì người trình độ siêu việt nhưng rồi thiên hạ cũng quên mau. Hoặc nếu nhớ thì cũng như “đạm nhược thủy”, cứ nhàn nhạt vậy thôi. Cũng như một số thầy khác mà chúng tôi đặc biệt kính trọng, ở thầy Trần Văn Giàu chữ ĐỨC luôn chói lói, rỡ ràng, cuốn hút, trong cuộc sống riêng tư cũng như trong mọi mối quan hệ xã hội giằng chéo, phức tạp.

Tôi nhớ cuộc chia tay giữa thầy – khi mới 18 tuổi – với người vợ trẻ – cô Đỗ Thị Đạo. Trước lúc sang Pháp du học thầy đã kiếm hai cuốn Lục Vân Tiên, một đưa vợ, một cho mình. Thật là cảm động, đôi lứa ấy đã sống thủy chung như lứa đôi Kiều – Lục cho đến lúc đầu bạc răng long. Mới đây thôi, tôi đã chứng kiến nét mặt đăm chiêu của thầy, với cặp mắt tưởng như khô lệ mà vẫn có ngấn nước, và với giọng nói chùng hẳn xuống khi nghe tin giáo sư Trần Quốc Vượng qua đời: “Vượng nó mất đi, thật đáng tiếc!”.

Tôi nghĩ đến những năm đằng đẵng, con người khí phách hiên ngang mang đầy đủ tính cách Hớn Minh – Tử Trực này đã bình tĩnh nhẫn nhịn, chờ đợi sự xác minh của tổ chức. Cuối cùng, mọi chuyện phải trái, trắng đen cơ bản đã được xác minh.

Tôi không thể quên được những trang viết mang tính luận chiến sắc sảo nhưng bao giờ cũng đường hoàng, mực thước của thầy. Có thể lên án quyết liệt những thế lực xâm lược từ phương Bắc xuống, từ trời Tây sang nhưng không ai có thể hiểu đó là thái độ hận thù dân tộc. Có thể phê phán cây bút nào đó ở thành thị miền Nam chệch hướng trong nhận thức, tư duy, nhưng thái độ của thầy không khiến người trong cuộc cảm thấy bị xúc phạm. Tầm văn hóa ứng xử cao, chữ Đức sáng trong trọn vẹn…, sức cảm hóa của thầy, theo tôi chủ yếu là ở chỗ này.

Mươi ngày nữa thầy đã ở tuổi 95 – tuổi xưa nay cực hiếm. Quí hơn nữa, những năm tháng sống và hoạt động của thầy lại có chất lượng rất cao. 25 năm trước, khi bạn bè học trò đến mừng thầy bước vào tuổi “xưa nay hiếm”, thầy đã ra vế đối (đến nay vẫn chưa có ai đối chỉnh): “Bảy mươi khúc khích cười Đỗ Phủ”.

Tôi cả tin, các thế hệ học trò của thầy trong nhiều năm sắp tới, đúng ngày 6-9 sẽ còn được đến chúc thọ và được đọc những công trình mới, đặc biệt là bộ hồi ký chắc chắn sẽ hết sức cuốn hút của thây – giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động, nhà cách mạng lão thành Trần Văn Giàu. Lòng tin của tôi rất có căn cứ.

PGS.TS TRẦN HỮU TÁ

Bài viết đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần ngày 27-8-2005

Đoàn lãnh đạo Thành ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ TP.HCM đã đến chúc mừng thượng thọ giáo sư – nhà giáo nhân dân – anh hùng lao động Trần Văn Giàu sáng 4-9 – Ảnh: Minh Đức
Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải thăm và chúc sức khỏe Giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu tại nhà riêng – Ảnh: Minh Đức
Giáo sư Trần Văn Giàu chụp ảnh lưu niệm cùng các cháu thiếu nhi TP.HCM – Ảnh tư liệu

Mời đọc thêm:

Cần trang bị cho thanh niên lý tưởng để hành động
Người anh hùng kiên trung
Mừng giáo sư Trần Văn Giàu bước sang tuổi 100
Giáo sư Trần Văn Giàu – trăm năm vui giữa nhân gian
Biết ơn công lao to lớn của Giáo sư Trần Văn Giàu
Trao huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cho giáo sư Trần Văn Giàu
Mừng giáo sư Trần Văn Giàu thượng thọ
Giáo sư Trần Văn Giàu tặng quà cho Tài Em
Mừng thọ 95 tuổi giáo sư Trần Văn Giàu
Gặp gỡ 4 thế hệ thầy – trò: Lấp lánh một chữ tâm

Giải thưởng Trần Văn Giàu:

Giải thưởng Trần Văn Giàu – huy chương vàng mười
Công trình nghiên cứu Óc Eo nhận giải thưởng Trần Văn Giàu
Cụm công trình “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” được trao giải
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đoạt giải thưởng Trần Văn Giàu lần 2
Nhà nghiên cứu Thái Hồng nhận giải thưởng Trần Văn Giàu

—–

Đêm Noel trong xà lim số 6

Ngày 29-4-1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3 năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù Cộng sản không gông cổ mà thôi.
Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được 2 năm thì một hôm Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam.
Khi còn ở ngoài trại lao động, ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị tu sĩ công giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.
Tôi là một Phật tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và 2 năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay say nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới (danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe). Cục Quản Lý Trại Giam của Cộng Sản thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam. Tại sao chính quyền Cộng Sản gọi những trại được đánh mã số bằng chữ A và tiếp theo là một hàng con số? Thật ra thì rất ít người được biết lý do tại sao lại gọi A-20 là một trại kiên giam nếu không có dịp bị gọi đi thẩm cung nhiều lần trước khi được “gởi” vào những chiếc “hộp” ở Xuân Phước. Sau biến chuyển đánh dấu bằng việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh sát biên giới Việt Trung năm 1979, Cục Trại Giam được lệnh thực hiện một kế hoạch gọi là “Phương Án 4”, nghĩa là thực hiện một kế hoạch tuyển lựa tất cả những thành phần cứng đầu “không thể cải tạo được nữa” để đưa vào những trại A và trại Z. Kế hoạch này là tác phẩm của một viên Ðại Tá về sau này trở thành một tướng lãnh công an tên là Hoàng Thanh (có lẽ là bí danh). Hoàng Thanh đã thẩm cung chúng tôi và rất nhiều tù nhân khác mấy tháng trước khi tôi bị chuyển trại về A-20. Lần sau cùng là vào mùa Thu 1979, khi thẩm cung tôi lần chót, ông ta cười cười nham hiểm nhưng nói huỵch toẹt: “Tôi biết chắc chắn là khi chuyển về trại mới, các anh không còn ngày ra. Cho nên tôi khuyên các anh là tốt nhất nên ngoan ngoãn để hưởng khoan hồng của nhà nước, nói chung là được mang vợ con cách anh lên lập nghiệp ở đây cho gần. Khu vực trai giam sau này sẽ trở thành một đập nước và một thị trấn. Chúng tôi muốn thiết lập một trong những tiểu Siberia . Bây giờ, tôi thấy không còn cần phải giấu diếm gì các anh nữa”.
Trại A-20 lúc đầu (1979) có tới 4 trại được đánh số A, B, C, D, ở cách nhau trên dưới 5 cây số. Trại A được xây hoàn bằng bê tông cốt sắt tường, bệ nằm, vườn rau ao cá dưới những rặng dừa xanh tốt. Nhưng bên trong những dãy nhà gạch, mái ngói đỏ au đó là những phương thức câu thúc thân thể và tinh thần không khác dưới các trại giam ở Siberia dưới thời Stalin mà phần lớn người đọc sách ở Miền Nam Việt trước 1975 đều biết qua cuốn “Quần Ðảo Gulag” của văn hào Solzhenitsin. Tôi sẽ có dịp nói đến chuyện này trong một bài viết khác. Bây giờ tôi quay lại chủ đề của bài viết này.
Những người dây dựng trại Xuân Phước là ai? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30-4-1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên. Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn Cộng Sản tới Guam , rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người Cộng Sản thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. Cho nên, Cộng Sản mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền Cộng Sản giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi: “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo. Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn”.
Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” (tiếng Pháp), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa cộng sản, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người Cộng Sản dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”. Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp khoảng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt (trong hình), có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.
Nhưng cùm như thế nào? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không? Thưa không phải như vậy! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”. Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega. Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega (minh họa của Bùi Ánh). Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải trạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua những bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm. Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phái trước, thò ra ngoài ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.
Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước: Mức độ 1: Cùm một chân phải, mức độ 2: Cùm một chân trái, mức độ 3: Cùm hai chân, mức độ 4: Cùm hai chân hai tay. Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ ba, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs (người Bỉ) và ông Pierre Carreaux (cựu chiến binh người Pháp) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Saigon chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4. Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tao đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi: “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”. Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ.
Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoản 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra. Buổi trưa hôm đó, cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói: “Anh không thể tránh ăn mãi như thế. Nếu chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”. Tôi khước từ: “Bố (trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các tu sĩ của các đạo giáo là bố hết) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”. Ông cười: “Sao biết không được, đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là linh mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trong sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.
Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” (tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 (số hên?) Xà lim 10 không có “khách”.
Ðến xà lim số 6, cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ công an không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt. Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.
Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khán khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…”
Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi. Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng dùng những cộng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù cộng sản, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù Cộng Sản bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về. Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu Việt cộng có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người cộng sản có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người.
Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói: “Bố đưa chiếc áo len con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”. Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ mang bằng chăn len hai lớp của tôi, tôi mặc chiếc áo len của ông. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi: “Các anh tắm thì tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng (ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời). Cấm không được liên hệ với ai”. Nói xong, anh ta bỏ đi.
Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. L.S, một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30-4-1975 bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh bisquit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. L.S nói: “Ngộ biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước ‘no’ hết ”. Xong ông ta bỏ đi.
Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. LS biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự (bị án chung thân vì tội cướp có súng) sẽ xuống gọi LS ra cửa sổ buồng giam và xin hai ặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói: “Thuốc nào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”. Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến: “Bố ơi mình giấu 2 bi (tiếng lóng của hai điếu) để đêm Noel hút”. Tôi quận nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng.
Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị tu sĩ Công giáo rất hùng biện này: “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”. Cha Vàng cười: “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố cáo cách rồi”. Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị tu sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đồi sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ… Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”. Chà Vàng nói: “chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”. Tôi hỏi Cha Vàng: “áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre?” Cha Vàng cười: “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng…” Do kinh nghiệm, cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói: “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.
Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá nên, anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm dồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi: “Lưỡi anh làm sao?” Tôi nói: “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ”. Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu: “Nhưng tre ở đâu ra?” Tôi nói ngay: “Ở nhà bếp chắc có”. Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen: “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”. Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay.
Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can: “Kéo từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng: “Bố ơi, mình dang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm!” Vị linh mục cười hiền lành: “Thôi dừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo”.Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra. Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng: “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”. Cha Vàng khuyến khích: “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi”. Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi Cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên: “Hơi ngún rồi tại, chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”. Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên. Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, Cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị tu sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang: “Mình thắng”. Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ cao sau khi đấm địch thủ do ván.
Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó Cha Vàng nói: “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”. Ðúng vào tối 24-12-1984, trước khi Cha Vàng cử hành thánh lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.
Kể từ ngày sống cùng một xà lim với Cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một tu sĩ mà tôi kính trọng.
Tháng 4-1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một nhà thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6. Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi. Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.Vũ Ánh

http://ongvove.wordpress.com/2009/12/22/dem-noel-trong-xa-lim-s%E1%BB%91-6/

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Làm Cách nào để vào Facebook – Đại Vệ Chí Dị

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2010

Nếu bạn là một Facebooker…

Southeast Asia Sea

Mẹ Nấm

DCVOnline: Ít nhất là từ cuối tuần qua, tại Việt Nam đã có dấu hiệu ngăn chặn facebook ở các nhà cung cấp dịch vụ Internet như VNTP, FPT, Viettel…Rất nhiều blogger sử dụng facebook từ Việt Nam sau khi phải cố gắng để “len lỏi” vào được blog của mình đã lên tiếng phản ảnh tình trạng ngăn chặn gắt gao này của các nhà cung cấp dịch vụ.

Bài viết dưới đây của Mẹ Nấm phản ảnh tình trạng trên, đồng thời cũng cho thấy hành động ngăn chặn khách hàng truy cập vào trang facebook của các nhà cung cấp dịch vụ Internet là phạm pháp.

Hẳn sẽ thấy thiêu thiếu và trống vắng khi việc truy cập vào mạng Facebook gặp khá nhiều khó khăn ở thời điểm này.

Đổi DNS, không ăn thua với những ai sử dụng dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao của VNPT, tại thời điểm này.

Một số chương trình vượt tường lửa khác như Tor, Ultrasurf, Free gate cũng ít phát huy được tác dụng.

Vì chưa có điều kiện kiểm chứng với nhiều bạn bè sử dụng nhiều dịch vụ Internet khác nhau, nên tôi chỉ đưa bằng chứng cụ thể là từ cá nhân mình – hiện đang sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp VNPT.

Tôi cũng đã từng nói, càng chặn thì càng có nhiều cách vượt, và cứ tiếp tục ngăn chặn thế này thì chẳng bao lâu Việt Nam sẽ là đất nước có nhiều vận động viên “vượt tường lửa” nhất thế giới.

Hãy nhìn vào con số người sử dụng dịch vụ của Facebook, bạn sẽ thấy đó thực sự là một xã hội online, với đầy đủ các thành phần. Vậy tại sao Facebook lại bị ngăn cấm ở Việt Nam?

Câu trả lời, tôi xin nhường lại cho tất cả mọi người đã cùng tham gia kết nối vào Facebook, bởi chỉ có bạn mới tìm ra được câu trả lời chính xác nhất cho bản thân mình.

Chặn Facebook không còn là vấn đề đơn giản như đặt một bức tường lửa trước những trang web chứa thông tin “không lành mạnh”, “không an toàn” đối với sự tồn tại của thể chế chính trị độc đảng tại Việt Nam nữa.

Đó là hành động tách rời xã hội Việt Nam với dòng chảy thông tin của thế giới.

Dẫu biết là có người chặn, thì nhà nhà và người người cũng sẽ tiếp tục vượt tường lửa để chạm tay vào thứ tự do mà mình cần, mình muốn.

Tuy nhiên, tôi nghĩ, chúng ta có quyền đòi hỏi mình phải được phục vụ một cách tử tế và đàng hoàng với những gì mình phải trả.

– Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính và Viễn thông công bố ngày 25 tháng 05 năm 2002 :

Điều 5. Chính sách của Nhà nước về bưu chính, viễn thông

4. Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông.
5. Tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ và công nghiệp bưu chính, viễn thông.
6. Mở rộng hợp tác quốc tế về bưu chính, viễn thông trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 8. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông

1. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng các dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin, bưu phẩm, bưu kiện, vật phẩm, hàng hoá của mình theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông có trách nhiệm bảo đảm chất lượng dịch vụ và thực hiện đúng các quy định về giá cước dịch vụ do mình cung cấp cho người sử dụng theo quy định của pháp luật; có quyền từ chối cung cấp dịch vụ nếu tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi sử dụng dịch vụ và phải chịu trách nhiệm về việc từ chối của mình.

Căn cứ Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 về việc quản lý cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet:

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet

Chương I
Những quy định chung

Điều 1.
1. Nghị định này điều chỉnh việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam. Mọi tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam đều phải tuân theo Nghị định này.
2. Trong trường hợp các điều ước quốc tế liên quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

Điều 2.
1
. Internet là một hệ thống thông tin được kết nối với nhau bởi giao thức truyền thông Internet (IP) và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng.
2. Ở Việt Nam, Internet là một bộ phận quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được bảo vệ theo pháp luật Việt Nam, không ai được xâm phạm. Bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thiết bị và thông tin trên Internet là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân.

Điều 9. Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ Internet. Đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có quyền từ chối cung cấp dịch vụ, nếu tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ vi phạm pháp luật về Internet.

Cho đến tận bây giờ, chưa thấy người phát ngôn của Bộ ngoại giao Việt Nam hay bất kỳ cá nhân có trách nhiệm nào cho rằng trang mạng Facebook có liên quan hay phải chịu trách nhiệm đến việc Lợi dụng Internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác. ( Điều 11 Nghị định 55/2001/NĐ-CP)

Vậy tại sao mình không đòi quyền log in vào Facebook một cách chính đáng như hàng triệu triệu Facebookers khác nhỉ?

Phụ chú:

VƯỢT RÀO VÀO FACEBOOK:

Tạm thời, với dịch vụ VNPT, mình vô trang http://www.hotspotshield.com/ , nhấn vào nút DOWNLOAD The Latest Version trên cùng ngay góc tay phải để tải chương trình về.
Đợi Install xong, nhấn kích hoạt Hotspot, nếu thấy biểu tượng ngay góc phải màn hình có màu xanh lá cây là bạn đã thành công trong việc vượt rào để vào Facebook.

– Hoặc bạn có thể truy cập Facebook từ trang này : http://www.lisp4.facebook.com/

– Chuyên nghiệp hơn bạn có thể sử dụng cách sau :

* Bước 1: Các bạn nhấn vào nút START => All Programs => Accessories => nhìn thấy NOTEPAD thì nhấn chuột phải (chú ý là chuột phải nha) rồi chọn Run As Administrator => Yes đồng ý. Sau đó sẽ hiện ra bảng Notepad mới trống trơn.

* Bước 2: Từ File Notepad mới đó, nhìn lên góc trái, chọn FILE => OPEN => phần File name thì copy dòng này vào:

C:WINDOWSsystem32driversetchosts

* Bước 3: Sau khi copy sẽ hiện ra 1 file notepad có nhiều chữ, bạn chỉ việc copy các dòng dưới đây paste xuống dưới cuối cùng là xong. Sau khi copy xong nhớ SAVE.

153.16.15.71 http://www.facebook.com
153.16.15.71 http://www.logins.facebook.com
153.16.15.71 facebook.com
153.16.15.71 logins.facebook.com
153.16.15.71 apps.facebook.com
153.16.15.71 upload.facebook.com

——–

Đại Vệ Chí Dị

12/19/2010 – 13:28

Nguồn: Blog Người Buôn Gió

18.12.2010

Nước Vệ, năm Canh Dần, triều nhà Sản.

Năm ấy nơi thì hạn hán, cá chết khô ngoài đồng, nơi lũ lụt nước ngập mái nhà. Thiên tai kinh khủng, vật giá lại leo thang. Người dân chen chúc nhau đi mua đồ tích trữ, đồng tiền nươc Vệ chẳng khác gì tờ giấy lộn, sáng mở mắt là lại thấy thực phẩm ngoài chợ tăng giá so với ngày hôm qua. Triều đình lại tới kỳ đại hội nhân sự bầu vua mới, chính sự rối ren vô cùng.

Thế sự nát bét như vậy, khiến lòng người bất mãn, tiếng ca thán vang khắp hang cùng ngõ hẹp. Nhân sĩ, trí thức, kẻ sĩ lớn tiếng chê bai triều đình bất tài, quan lại ươn hèn, bạc nhược chỉ lo vun vén cho bản thân. Việc nước làm qua loa cho lấy lệ, đến nỗi nước Đại Vệ hùng cường 4000 năm lịch sử, nay chỉ còn đống đất hoang tàn, biển đảo thì ngoại bang cướp, nợ nước ngoài không trả nổi, tài nguyên, đất đai bán và cho thuê sạch bách chả còn chỗ nào nữa.

Nông dân bị lấy đất canh tác, công nhân bị lấy mất nhà xưởng, giáo dân bị lấy mất nhà thờ. Cảnh dân tình các loại tụ lại đòi đất đai ngày càng nhiều, trong thành phần đó không thiếu gì cựu chiến binh, bà mẹ nước Vệ anh hùng…nội cảnh đó đã khiến triều đình bối rối không biết xử trí ra sao, lại thêm các tiếng nói từ mọi thành phần trí thức cất lên đòi hỏi trách nhiệm của triều đình. Triều Sản lo lắng lắm, trước lúc đai hội nhân sự mới họp lại mà luận rằng.

– Năm qua đã mở hội hè , tiệc tùng nhân dịp đại lễ kinh thành để át cái những tiếng dị nghị trong dân gian, mất đến hàng vạn lượng vàng. Ấy thế mà không ăn thua, nay đại hội nhân sự đến gần, cứ để lan truyền mãi tiếng xấu trong dân gian không phải là điều không thể. Dưới yên thì trên mới ấm, xin các đại thần nghị việc này.

Triều đình nhà Sản lao xao, kẻ bàn tăng thuế cho dân chúng cắm đầu mà lo đóng, không còn hơi đâu mà để ý việc khác. Kẻ nói tăng tuyền truyền những chỗ nào tốt đẹp để dân chúng hy vọng. Người thì nói là tạm thời đi vay tiền để hỗ trợ đồng tiền nước Vệ. Bàn bạc, cắt đặt đâu ra đấy vẫn chưa yên tâm. Đang còn phân vân thì bỗng có đại thần lớn tiếng.

– Triều ta chuyên chính cầm quyền, không việc gì phải nhún nhường bon dân đen. Thằng nào chịu khổ được thì sống, thằng nào không chịu khổ được mà ca thán, bắt hết bỏ tù. Đứa khác trông thấy ắt phải sợ mà kinh hãi. Không phải nói nhiều với chúng.

Trong các quan có người nói.

– Bắt thế sợ dân không phục.

Kẻ kia cười

– Từ xưa đến này, triều nhà Sản ta chỉ cần dân sợ chứ đâu cần dân phục. Ông nói thế là tư tưởng chính kiến chưa vững vàng, là kẽ hở để bọn thế lực thù địch chĩa mũi dùi vào khoét hai triều ta. Phải khẳng định lập trường kiên định, bắt cho kẻ khác sợ chứ không phải bắt cho người ta phục.

Trong triều lại có người nói.

– Thế bắt sao để được như vậy ?

Kẻ kia cao giọng.

– Bắt khắp trong Nam ngoài Bắc, bắt thằng nào vợ sắp sinh, bắt thằng đang ở tù bắt tù tiếp, bắt nào kiến thức pháp luật , bằng cấp đầy mình.Bắt bọn trí thức nước ngoài về, bắt cả bọn sinh viên cấu kết với công nhân. Càng thành phần nào chúng nghĩ ta không dám làm thì ta chọn đúng thành phần đó mà xử lý. Mọi việc tất yên.

Rồi triều đình nghị luận cũng xong.

Mùa thu năm Canh Dần, triều đình nhà sản cho công sai tỏa đi khắp nơi, bắt bớ một loạt các nhân sĩ, trí thức, đem bọn thanh niên mạn phía Nam ra kết án tù thật nặng. Dân chúng khiếp hãi mà im thin thít, nhà nào cũng đóng cửa cài then chặt không dám giao du với hàng xóm. Lúc sự sợ hãi đã lan rộng, bấy giờ nhà Sản mang đạo đức tiên đế ra tổng kết thắng lợi hoàn toàn trên cả nước.

Trong dân gian, chẳng ai dám bàn đến chuyện thế sự.

Nước Vệ trở lại cảnh thanh bình, dân chúng yên ổn làm ăn.

http://www.x-cafevn.org/node/1474

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »