Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 19th, 2010

►Từ cuộc Khủng Hoảng Tài Chánh từ 2007 cho đến nay Kinh tế thế giới ra sao

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2010

Khủng hoảng kinh tế: ba năm nhìn lại

Tác giả: Đoàn Hưng Quốc

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu từ tháng 11-2007 đến nay đã hơn 3 năm. Tình hình tại Hoa Kỳ tạm ổn định chớ chưa gọi là đã phục hồi. Tương lai khu vực đồng Euro rất bấp bênh. Nhật Bản không thoát khỏi trì trệ. Trong khi đó Đông Á – và nhất là Trung Quốc – tăng trưởng nhảy vọt và là đầu tàu của phát triển.

Trong 2 năm đầu các nước cùng hợp tác tăng chi như bơm thuốc hồi sinh để thoát cơn ngặt nghèo: cứu trợ ngành tài chánh và công ty lớn; tài trợ thị trường địa ốc để chận suy thoái*; hạ phân lời nhằm nâng tiêu thụ. Nhưng từ đầu năm 2010 thì người ta bắt đầu tranh cải về các hệ lụy lâu dài, và trong nội bộ cũng như giữa các quốc gia lộ ra nhiều chia rẽ.

Vấn đề thứ nhất là nếu ngưng bơm tiền có thể bị rơi vào suy thoái lần hai; nhưng ngược lại thì ai sẽ gánh món nợ khổng lồ (Hoa Kỳ) hay lạm phát phi mã (Trung Quốc).

Vấn đề thứ hai là bơm tiền sẽ giúp nâng đỡ tiêu thụ trong ngắn hạn nhưng nếu mua hàng hoá nhập cảng thì cũng giống như tạo công ăn việc làm cho Hoa Lục – trừ phi trị giá đồng Nhân Dân Tệ được điều chỉnh để mang lại cân bằng mậu dịch. Trong khối Euro lại thêm chuyện nữa là người nào chi (Đức) cho ai được hưởng (Nam Âu).

***

Mỹ chọn con đường kích thích tiêu thụ qua hai biện pháp: Ngân Hàng Liên Bang tung 600 tỷ  USD vào thị trường bằng các mua lại công phiếu (nôm na là in bạc); Quốc Hội cùng Hành Pháp thông qua bộ luật giảm thuế 858 tỷ USD trong vòng hai năm. Con số tổng cọng 1458 tỷ USD. Có nhiều tính toán đi sau các chính sách này:

– Nhà nước vừa tăng chi và giảm thuế để làm hài lòng cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà, nhưng không ai lo đến món nợ khổng lồ 14 ngàn tỷ USD (hay 45000 USD cho mỗi đầu người già trẻ bé lớn). Nhưng hiện tại thì Mỹ vẫn không thiếu người cho vay vì không ai dám mua Euro hay trữ đồng Nhân Dân Tệ (sẽ nói phần sau).

– In tiền và tăng nợ để giảm giá trị đồng đô-la nhằm gián tiếp đẩy Nhân Dân Tệ tăng giá. Đầu tư ngắn hạn chạy sang các nước đang phát triển làm tăng áp lực lạm phát lên thị trường địa ốc và nhu yếu phẩm như một loại “Sinh Tử Phù” cấy vào Hoa Lục.

– Các biện pháp này chỉ kéo dài đúng hai năm trước kỳ bầu cử Quốc Hội và Tổng Thống năm 2012. Nếu hiệu quả đảng Cộng Hoà sẽ nhận công lao, còn thất bại đổ cho Obama. Đảng Dân Chủ vì đang nắm toà Bạch Ốc nên trách nhiệm nặng nề là phải hạ con số thất nghiệp từ 10% xuống còn 6-7% thì mới hy vọng tái đắc cử.

[Trần Hoàng bổ sung: TT Obama đã tái đắc cử khi nạn thất nghiệp giảm xuống 7.8% vào tháng 10-2012. ]

***

Các nước Âu Châu chủ trương trái ngược là giảm chi sanh ra đụng chạm với Hoa Kỳ, đồng thời bị dân chúng biểu tình phản đối khi cắt xén những chương trình hưu bổng giáo dục. Nhưng chính sự chia rẻ giữa các nước trong khối EU mới là mối đe doạ chính cho khu vực đồng Euro.

Các nước Ireland, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý bị ảnh hưởng bởi ngân sách thiếu hụt và bong bóng tài chành & địa ốc của những năm trước nên rơi vào khủng hoảng. Chính sách thông thường là phá giá đồng bạc để nâng mức cạnh tranh và giảm tiêu thụ, nhưng lại không thể áp dụng vì đang dùng đơn vị tiền tệ Euro chung với các nền kinh tế mạnh Đức Pháp v.v…

Biện pháp còn lại là xin các nước giàu giúp. Nhưng dân Đức phản đối vì họ đang thắt lưng buộc bụng lại phải tài trợ người khác, nên đưa ra các điều kiện ngặt nghèo khiến Nam Âu cảm thấy bị tổn thương.

Mấu chốt của vấn đề nơi Âu Châu dùng chung đơn vị tiền tệ mà lại không có quy chế Liên Bang. Nếu so với Mỹ: khi bong bóng địa ốc tăng nhanh thì dân ở California-Florida-Nevada hưởng lợi, nhưng khi bị bể thì Texas-Oklahoma phải giúp, hoặc cùng nhau mượn nợ rồi sau đó chia đều ra trả. Có bất công cũng phải ráng chiụ vì đó là luật chơi chung.

Các quốc gia Âu Châu đều độc lập nên không có luật chơi đó. Dân chúng Hy Lạp – Bồ Đào Nha – Tây Ban Nha bất mãn vì vào đồng Euro bị bó buộc mà khi bị nạn không ai giúp; còn Đức – Phần Lan phản đối vì dùng Euro lợi không thấy mà chỉ gánh thêm nợ của người ngoài.

Kết quả là có thể đồng Euro bị tan vở khi một hay hai nước rút ra. Đây sẽ là một thảm hoạ cho Âu Châu. Nhưng ngắn hạn thì không ai dám mua Euro nên cứ phải cho Hoa Kỳ vay nợ!

***

Trong khi đó thì nền kinh tế Trung Quốc sáng sủa nhất: phát triễn đều 10% mỗi năm; qua mặt Nhật Bản lên hàng thứ nhì trên thế giới; trử lượng ngoại tệ 2600 tỷ USD. Cứ theo đà này thì mỗi 7 năm là tăng gấp đôi, tức là sẽ hơn Mỹ vào năm 2025.

Có người ví Hoa Lục với phim Speed (1995), giống như chiếc xe buýt bị gài bom bắt buộc phải liên tục chạy trên 50 dặm mỗi giờ vì nếu chậm lại sẽ bị nổ.

Lý do vì nền kinh tế phát triển không đồng đều nên tiền bạc dồn vào các đại gia và thành phố lớn dẫn đến tình trạng lạm phát và bong bóng. Theo vài ước tính thì từ 1100 cho đến 1300 tỷ USD – tức là ½ số trử lượng ngoại tệ – nằm trong khu vực kinh tế đen ngoài vòng kiểm soát của nhà nước. Khoảng 45% số tiền ngân hàng cho vay (740 tỷ USD) là nợ khó đòi. Các số tiền này rơi vào tay thiểu số tạo ra bóng đầu cơ, xây hàng chục vạn căn nhà ở các thành phố lớn để bỏ trống vì không có người mua nổi.

Đó là tại sao Bắc Kinh cứ phải cho Hoa Kỳ vay tiền, vì giống như ông nhà giàu nhưng tiền phải gởi người ngoài vì vợ ham bài bạc. Tiền muốn giữ nuôi con (tức là nâng cao mức sống dân chúng) cũng sợ bị vợ mang đem ra xài sạch!

Có lẽ nhận xét của ông David Leonhardt (báo New York Times 11-24-2010) là chỉnh, rằng Bắc Kinh có đủ tiền và uy tín để đối phó với mọi khủng hoảng trong 5-10 năm tới; nhưng cùng khoảng thời gian này mà vẫn không cải tổ được chính trị và xã hội thì sẽ bị hiểm nghèo. (1)

Đầu năm 2010 Quỹ Tiền Tệ Á Châu ra đời (AMF: Nhật 32% Hoa 32% Hàn 17%) để trợ giúp các nước Đông Á nếu bị khủng hoảng, và nhằm bớt lệ thuộc vào đồng đô-la. Tương lai của AMF không sáng sủa vì giờ này ba nước chủ chốt này không còn tin lẩn nhau vì các tranh chấp tại Hàn Quốc và quần đảo Senkaku.

Qua việc Bắc Kinh dùng kinh tế làm áp lực (vụ đất hiếm) nên không còn ai dám mua đồng Nhân Dân Tệ làm trử lượng. Các nước như Trung Đông lại chỉ còn một chỗ chọn mặt gởi vàng là đồng đô-la!

***

Việt Nam rút bài học từ cả Âu-Mỹ-Hoa, nhưng giờ này có thể đã trễ:

– Đầu tư nhà nước bị thất thoát vào tập đoàn. Trử lượng ngoại tệ thấp, cán cân mậu dịch thâm thủng cao nhất là về phía Trung Quốc.

– Tiền bạc dồn vào các đại gia và thành phố lớn dẫn đến bong bóng, đầu cơ và lạm phát.

– Bị cả hai cơ quan quốc tế Fitch lẫn Standard & Poor giảm điểm tín dụng nên sẽ phải vay tiền nặng lãi.

– Gặp lúc ngặt nghèo thì phải tìm trợ giúp từ nước ngoài khiến mất tự chủ: xin Mỹ & IMF thì phải cải tổ xã hội; mượn Trung Quốc lại phải nhân nhượng đủ điều.

© ĐHQ

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/23630

(1) Trần Hoàng bổ sung: Vấn nạn lớn của TQ là làm sao mỗi năm phải tạo ra công việc làm MỚI cho khoảng 16-20 triệu người mới bước chân vào thị trường lao động (do dân số gia tăng hàng năm là 1,6-1,8%).

Áp lực kiếm việc làm cho từng ấy người là rất lớn và rất căng thẳng cho bất cứ chính phủ nào. Vì vậy, khi cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu vào cuối năm 2007, và thật sự xẩy ra vào năm 2008, chính phủ TQ liền bơm vào thị trường hơn 550 tỉ tỉ đô la để kích thích phát triển nền kinh tế trong nước, nhằm giải quyết việc làm cho số công nhân này và số công nhân bị thất nghiệp do xuất khẩu giảm.

Vấn nạn của  TQ là kinh tế chỉ phát triển ở các tỉnh chạy dọc sát bờ biển, do các tư bản nước ngoài chỉ đầu tư mở các hãng xưởng ở các tỉnh sát biển để vận chuyển hàng hóa xuất khẩu sang châu âu, Mỹ, và các nước khác. Vì thế, sự thịnh vượng về kinh tế và các sự thay đổi về đời sống, kiến trúc đô thị, các xa lộ, các hải cảng, các cao ốc chỉ tập trung vào các vùng sát biển. Chỉ có 300 triệu dân  TQ được hưởng sự thịnh vượng, còn hơn 1 tỉ dân TQ sống ở vùng trung tâm và phía tây thì không chia được sự thịnh vượng. Sự nghèo nàn và thiếu thốn đủ thứ vẫn diễn ra trong số hơn 1 tỉ người TQ sống xa các tỉnh miền duyên hải.

Chính phủ TQ có tiền là lập tức mua công khố phiếu có tiền lời rất thấp của chính phủ Hoa Kỳ. Cho đến năm 2009, số tiền mua công khố phiếu chiếm khoảng hơn 800 tỉ đô la.

Posted in Khung Hoang Tai chanh 2008, Kinh Te, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

7.000 công nhân giày ở Bình Dương đình công đòi tăng lương

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2010

Vào những năm 1983-1990, lương của công nhân Trung quốc từ 50-60 đô là Mỹ mỗi tháng. Lương thấp là vì các nhà tư bản (Mỹ, Đức, Anh, Nhật, Pháp, Đài Loan, Singapore…) trước khi vào đầu tư xây dựng nhà máy tại Trung Quốc, họ đã thương lượng với chính quyền Trung Quốc và cả 2 bên rồi cũng nhau thỏa thuận: ép giá lương của công nhân Trung ở mức 50-60 đô trong suốt khoảng thời gian nầy.

Theo các thỏa thuận ấy, các nhân viên chính quyền của trung ương và địa phương được CHIA CHÁC tiền bạc nên sai công an đàn áp và bắt bớ bỏ tù các công nhân Trung Quốc mỗi lần họ đứng lên đòi tăng lương…và mọi chuyện diễn ra đúng theo kịch bản đó. Trong khoảng thời gian từ 1990-2000, số lượng các cuộc đình công tăng lương có khi lên 3 triệu vụ mỗi năm.

Nhưng dần dần, khi chính quyển địa phương và trung ương Trung Quốc trở nên minh bạch hơn, bớt tham nhũng hơn, việc ăn hối lộ chia chác nhau theo kiểu nầy khó thực hiện được. Các giới chức cao cấp Trung Quốc không còn được ăn chia tiền bạc nữa, nên họ cũng thôi sai bảo các công an Trung Quốc đi đàn áp các công nhân Trung Quốc, hoặc chỉ làm cho có lệ, không còn hứng chí đàn áp công nhân như những năm đầu nữa. Kết quả là các doanh nghiệp nước ngoài phải nhượng bộ trước các đòi hỏi tăng lương của công nhân Trung Quốc hàng năm, phải trả các phúc lợi như cho công nhân được nhiều tuần lễ nghĩ hàng năm mà vẫn trả lương, được nghĩ khi sắp sanh con và sau khi sinh con xong, hãng trả tiền bảo hiểm sức khỏe cho con cái và gia đình…và quan trọng nhất là các hãng phải trích ra số tiền hàng tuần để vào trả tiền hưu cho công nhân Trung Quốc.

Cho đến năm 2005, sau 20 năm làm việc và để dành tiên, rất nhiều người công nhân  Trung Quốc mua được nhà cửa, và đã làm chủ được căn nhà thứ hai.

Lương tối thiểu của công nhân Trung Quốc hiện nay là không dưới 120 đô la. Nhiều hãng ở TQ trả lương công nhân trong khoảng 300-450 đô một tháng.Vì chi phí trả cho công nhân Trung Quốc ngày càng cao, nên nhiều hãng  TQ như các hãng may quần áo và các hãng của Nhật, Đài  loan, Nam Triều Tiên …đã dời qua Việt Nam với mục đích thuê muốn công nhân VN với giá rẻ hơn, chỉ bằng  1/3 lương của công nhân Trung Quốc.

Tất nhiên, họ lại đem các điều kiện ra thương thảo với chính phủ VN, và họ được bảo kê của chính phủ (hứa hẹn sẽ đàn áp công nhân) khi công nhân đình công đòi tăng lương…

Còn các hãng may áo quần của Trung Quốc bị các cửa hàng ở nhiều nước Âu Châu tẩy chay không mua, vì họ sợ các sản phẩm áo quần của Trung Quốc có nhiều formaldehyde. Do đó các hảng may Trung Quốc dời qua Việt Nam, dùng thương hiệu có tên Việt Nam để được hưởng lợi, vì trong khoảng 10 năm vừa qua, các nước Âu Châu và Mỹ có cảm tình mua các hàng hóa và áo quần chế tạo tai VN, họ thích có hàng chữ Made in Vietnam hơn là hàng chế tạo tại Trung Quốc có mang dòng chữ Made In China.

7.000 công nhân đình công đòi tăng lương

Công nhân tại một xưởng gia công giày ở Việt Nam
Lương công nhân VN thấp nhất Á châu, nhiều cuộc đình công nổ ra chỉ vì đòi tăng lương.

Bảy ngàn công nhân tại Công ty cổ phần giày Duy Hưng, KCN Sóng Thần 1, tỉnh Bình Dương đình công liên tiếp trong hai ngày đòi chủ tăng lương.

Duy Hưng là doanh nghiệp giày tư nhân. Sản phẩm chủ yếu là giày thể thao, xuất sang thị trường Âu châu và Á châu. Một năm công ty sản xuất 5 triệu đôi giày.

Công nhân cho rằng trong hoàn cảnh vật giá leo thang liên tục, mức lương hiện tại không đủ trang trải chi phí cuộc sống.

Cuộc đình công bắt đầu từ phân xưởng 1, với 6.000 công nhân nghỉ việc nêu yêu sách tăng lương tập thể. Người lao động đòi công ty tăng thêm 300.000 đồng mỗi tháng.

Sau đó khoảng 1.000 công nhân tại phân xưởng 2, copy cách làm của công nhân xưởng 1, tổ chức đình công theo từng nhóm.

Đến trưa ngày 17/12 đại diện công ty gặp người lao động, hứa sẽ tăng lương kể từ tháng 1/2011. Lương công nhân sẽ tăng trung bình 200.000 đồng/tháng.

Có khoảng 7.000 công nhân làm tại công ty giày Duy Hưng.

Báo Việt Nam đưa tin từ đầu năm đến nay tỉnh Bình Dương xảy ra “hàng chục” vụ đình công, lãn công. Số lao động tham gia lên tới “hàng chục nghìn người”. Nguyên nhân hàng đầu gây ra đình công là lương thấp, công nhân không đủ sống, trong khi vật giá leo thang.

Lương thấp

Theo chuyên gia nước ngoài, so với các nước khác tại châu Á công nhân Việt Nam có mức lương thấp nhất.

Tại cuộc hội thảo do Cục Xúc Tiến Thương Mại, Bộ Công Thương phối tổ chức ngày 10 tháng 12, Giám đốc Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Matthias Duhn đưa ra một số thống kê về lương.

Được trả “gần 49 USD/tháng, lương của người lao động Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia – với 47.36 USD/tháng,” ông Duhn nói.

Trong khi công nhân tại Indonesia được trả 82 USD/tháng, Trung Quốc 117 USD/tháng, Thái Lan 156 USD/tháng, Philippines 167 USD/tháng, Malaysia 336 USD/tháng, Ðài Loan 540 USD/tháng, Hàn Quốc 830 USD/tháng, Singapore 1.146 USD/tháng và Nhật 1.810 USD/tháng, đại diện Eurochamcho cuộc hội thảo biết.

“Trả công lao động rẻ là một trong những nguyên nhân khiến giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam thấp,” báo Thanh Niên trích lời ông Matthias Duhn.

“Vì thế, không thể dựa vào giá lao động rẻ để đạt tới chuỗi giá trị gia tăng cao được.”

Với đồng lương thấp, mỗi năm Việt Nam có tới “hàng trăm” vụ đình công đòi tăng lương, báo Việt Nam đưa tin.

Không chỉ lương thấp, công nhân tại tại các khu chế xuất còn bị ép buộc làm hơn số giờ qui định, nhưng không được trả tiền phụ trội. Bữa ăn trưa của công nhân thường đạm bạc, thiếu thốn chất lượng, không đủ chất để tái tạo sức lao động.

Cạnh đó, công nhân nghỉ bệnh, nghỉ thai sản bị có thể bị đuổi việc.

Nhiều vụ ngộ độc thức ăn tập thể xảy ra tại các khu công nghiệp trong nước, do thực phẩm ôi thiu, mất vệ sinh.

Luật lao động của Việt Nam gồm nhiều quy định chồng chéo khiến đa số công nhân không thể đình công “đúng luật.”

Hầu hết các cuộc đình công tại Việt Nam đều bị coi là “bất hợp pháp.” Trong khi hệ thống công đoàn tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động yếu ớt, ít khi đứng về phía người lao động.

Posted in Cong Nhan Viet Nam | 2 Comments »

Chết vì bị rách động mạch bụng

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2010

U.S. diplomat Holbrooke dies after tearing aorta

The special representative for Afghanistan and Pakistan had been in the hospital since Friday

NBC, msnbc.com and news services updated 12/14/2010 12:07:40 AM ET

Richard Holbrooke, a veteran U.S. diplomat who was the architect of the 1995 Bosnia peace plan and served as President Barack Obama’s special envoy to Pakistan and Afghanistan, has died, NBC News reported, citing a U.S. official. He was 69.

Holbrooke’s forceful style earned him nicknames such as “The Bulldozer” or “Raging Bull.” He was admitted to George Washington University Hospital on Friday after he became ill. He had surgery on Saturday to repair a torn aorta.

“Tonight America has lost one of its fiercest champions and most dedicated public servants,” Secretary of State Hillary Clinton said after his death on Monday.

“Richard Holbrooke served the country he loved for nearly half a century, representing the United States in far-flung war-zones and high-level peace talks, always with distinctive brilliance and unmatched determination. He was one of a kind — a true statesman — and that makes his passing all the more painful.”

Hours before Holbrooke’s death Obama had called Holbrooke “a towering figure in American foreign policy” who was a critical player in developing the administration’s policy on Afghanistan.

On Capitol Hill, Senate Foreign Relations Committee Chairman John Kerry, D-Mass., called the loss of Holbrooke “almost incomprehensible,” adding that his “tough-as-nails, never-quit diplomacy” saved tens of thousands of lives. Republican Rep. Ileana Ros-Lehtinen of Florida, who will chair the House Foreign Affairs Committee next year, called Holbrooke “a dynamic force in American diplomacy” whose “stellar service is deeply appreciated and held in the highest esteem.”

Rare condition
Holbrooke underwent more than 20 hours of surgery to repair the tear and bleeding in his aorta. A torn aorta is a condition in which a rip develops in the inner wall of the body’s largest artery, allowing blood to enter the vessel wall and weaken it. The problem can lead to rapid death if not corrected. It causes serious internal bleeding, a loss of normal blood flow and possible complications in organs affected by the resulting lack of blood, according to medical experts.

It’s a rare condition, with cases estimated at between 5 and 30 per 1 million people each year. About 2,000 new cases occur in the U.S. annually. It’s more common in men than women, and in those between 60 and 70.

Holbrooke served under every Democratic president from John F. Kennedy to Obama in a lengthy career that began with a foreign service posting in Vietnam in 1962 after graduating from Brown University, and included time as a member of the U.S. delegation to the Paris Peace Talks on Vietnam.

His sizable ego, tenacity and willingness to push hard for diplomatic results won him both admiration and animosity.

“If Richard calls you and asks you for something, just say yes,” former Secretary of State Henry Kissinger once said. “If you say no, you’ll eventually get to yes, but the journey will be very painful.”

He learned to become extremely informed about whatever country he was in, push for an exit strategy and look for ways to get those who live in a country to take increasing responsibility for their own security.

‘Bulldog for the globe’
“He’s a bulldog for the globe,” Tim Wirth, president of the United Nations Foundation, once said.

The bearish Holbrooke said he has no qualms about “negotiating with people who do immoral things.”

“If you can prevent the deaths of people still alive, you’re not doing a disservice to those already killed by trying to do so,” he said in 1999.

Born in New York City on April 24, 1941, Richard Charles Albert Holbrooke had an interest in public service from his early years. He was good friends in high school with a son of Dean Rusk and he grew close to the family of the man who would become a secretary of state for presidents Kennedy and Johnson.

Holbrooke was a young provincial representative for the U.S. Agency for International Development in South Vietnam and then an aide to two U.S. ambassadors in Saigon. At the Johnson White House, he wrote one volume of the Pentagon Papers, an internal government study of U.S. involvement in Vietnam that was completed in 1967.

The study, leaked in 1971 by a former Defense Department aide, had many damaging revelations, including a memo that stated the reason for fighting in Vietnam was based far more on preserving U.S. prestige than preventing communism or helping the Vietnamese.

After stints in and out of government — including as Peace Corps director in Morocco, editing positions at Foreign Policy and Newsweek magazines and adviser to Jimmy Carter’s presidential campaign — Holbrooke became assistant secretary of state for Asian affairs from 1977-81. He then shifted back to private life — and the financial world, at Lehman Brothers.

A lifelong Democrat, he returned to public service when Bill Clinton took the White House in 1993. Holbrooke was U.S. ambassador to Germany from 1993 to 1994 and then assistant secretary of state for European affairs.

One of his signature achievements was brokering the Dayton Peace Accords that ended the war in Bosnia. He detailed the experience of negotiating the deal at an Air Force base near the Ohio city in his 1998 memoir, “To End a War.”

James Dobbins, former U.S. envoy to Afghanistan who worked closely with Holbrooke early in their careers, called him a brilliant diplomat and said his success at the Dayton peace talks “was the turning point in the Clinton administration’s foreign policy.”

Holbrooke’s efforts surrounding Dayton would later lead to controversy when wartime Bosnian Serb leader Radovan Karadzic told a war crimes tribunal in 2009 that Holbrooke had promised him immunity in return for leaving politics. Holbrooke denied the claim.

‘No apologies’ to Milosevic
Holbrooke left the State Department in 1996 to take a Wall Street job with Credit Suisse First Boston, but was never far from the international diplomatic fray, serving as a private citizen as a special envoy to Cyprus and then the Balkans.

In 1998, he negotiated an agreement with Yugoslav President Slobodan Milosevic to withdraw Yugoslav forces from Kosovo where they were accused of conducting an ethnic cleansing campaign and allow international observers into the province.

“I make no apologies for negotiating with Milosevic and even worse people, provided one doesn’t lose one’s point of view,” he said later.

When the deal fell apart, Holbrooke went to Belgrade to deliver the final ultimatum to Milosevic to leave Kosovo or face NATO airstrikes, which ultimately rained down on the capital.

“This isn’t fun,” he said of his Kosovo experience. “This isn’t bridge or tennis. This is tough slogging.”

Holbrooke returned to public service in 1999, when he became U.S. ambassador to the United Nations after a lengthy confirmation battle, stalled at first by ethics investigations into his business dealings and then unrelated Republican objections.

At the U.N., Holbrooke tried to broker peace in wartorn African nations. He led efforts to help refugees and fight AIDS in Africa. He also confronted U.N. anger over unpaid U.S. dues to the world body and persuaded 188 countries to overhaul the United Nations’ financing and reduce U.S. payments.

“What’s the point of being in the government if you don’t try to make things better, which means trying to change things,” Holbrooke told The Associated Press in a 2001 interview, reflecting on his time at the United Nations.

Holbrooke, with his long-standing ties to Bill Clinton and Hillary Rodham Clinton, was a strong supporter of her 2008 bid for the White House. He had been considered a favorite to become secretary of state if she had won. When she dropped out, he began reaching out to the campaign of Obama.

“Richard Holbrooke saved lives, secured peace and restored hope for countless people around the world,” Bill Clinton said in a statement late Monday.

Reflecting on his role as Obama’s special envoy, Holbrooke wrote in The Washington Post in March 2008 that “the conflict in Afghanistan will be far more costly and much, much longer than Americans realize. This war, already in its seventh year, will eventually become the longest in American history, surpassing even Vietnam.”

Strained relations with Karzai
Holbrooke’s relationship with Afghan President Hamid Karzai was strained after their heated meeting in 2009 over the fraud-tainted Afghan presidential election. Karzai brushed it off, saying he had “no problem at all with Mr. Holbrooke.” But the U.S. military commanders in Afghanistan, not Holbrooke, were the ones who ended up developed the closest relations with the mercurial Afghan leader.

With his decades of service and long list of accomplishments in U.S. diplomacy, Holbrooke missed out on a tour as America’s top diplomat, a job he was known to covet. As U.N. ambassador, he was a member of the Clinton Cabinet but his sometimes brash and combative style contrasted with that of then-Secretary of State Madeleine Albright.

At a ceremony to mark the fifth anniversary of the Dayton Peace Accords, Holbrooke bristled when was asked by a reporter if his views on the future of Kosovo — that it would eventually become independent — matched those of his boss.

“You mean, Madeleine?” he replied with a derisive snort, referring to Albright, who with others in the administration were publicly neutral on the question.

Holbrooke rejected direct comparisons between Afghanistan and Vietnam, but acknowledged similarities and repeatedly pressed the administration to do more to win the hearts and minds of both the Afghan and Pakistani people.

At the State Department ceremony in January 2009 when he was introduced as the special envoy to Afghanistan and Pakistan, Holbrooke spotted an old friend in the audience, John Negroponte, his one-time roommate in Saigon (the former South Vietnamese capital now called Ho Chi Minh City) who later was the first director of national intelligence and a former U.S. ambassador to Iraq.

“We remember those days well, and I hope we will produce a better outcome this time,” Holbrooke said.

Holbrooke is survived by his wife, author Kati Marton, and two sons, David Dan Holbrooke and Anthony Andrew Holbrooke.

The Associated Press contributed to this report.

http://www.msnbc.msn.com/id/40649624/ns/politics/#

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »