Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 16th, 2010

Cảnh Sát tham nhũng hạng nhất, ngành Giáo Dục hạng nhì…

Posted by hoangtran204 trên 16/12/2010

Nghiên cứu của tổ chức minh bạch quốc tế (TI)

Người dân tin vào lãnh đạo trong phòng chống tham nhũng

SGTT.VN – Đại đa số người dân ở đô thị Việt Nam cho rằng, tình trạng tham nhũng đang gia tăng trong vòng ba năm qua. Đây là kết quả trong một nghiên cứu mang tên “Phong vũ biểu Việt Nam” do tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố hôm qua 14.12 tại Hà Nội.

Khảo sát này do công ty tư vấn của Pháp Indochina Research, đại diện cho hãng nghiên cứu Gallup International tại Việt Nam thực hiện theo yêu cầu của TI bằng cách phỏng vấn trực tiếp 1.000 người dân ở năm thành phố lớn là Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ.

 

Theo khảo sát của TI, người dân ở đô thị tại Việt Nam cảm nhận tham nhũng gia tăng ở Việt Nam nhiều hơn cảm nhận của người dân ở các nước khác trong khu vực. Ảnh mang tính minh hoạ.

Theo khảo sát này, có tới 62% trong tổng số 1.000 người dân sống tại năm đô thị trên cho rằng, tham nhũng đang gia tăng tại Việt Nam trong ba năm qua.

Về tiêu chí cảm nhận tham nhũng, người dân được hỏi cho rằng, cảnh sát là tham nhũng nhiều nhất (82%), tiếp theo là các ngành giáo dục (67%), cán bộ nhà nước (61%) và tư pháp (52%). Cũng trong tiêu chí này, những người khảo sát trong độ tuổi 31 – 40 là phê phán nhiều nhất, trong khi người có trình độ học vấn nhìn tiêu cực hơn.

Về tiêu chí trải nghiệm tham nhũng, cảnh sát vẫn dẫn đầu các ngành được cho là tham nhũng nhất (49%), tiếp theo là giáo dục (36%), y tế (29%) và hải quan (29%). Theo tiêu chí này, nam giới trải nghiệm tham nhũng nhiều hơn nữ giới và những người có mức thu nhập trung bình khá trải nghiệm tham nhũng trong giao dục nhiều hơn so với những người có thu nhập thấp.

Theo khảo sát Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu 2010, một khảo sát ý kiến người dân trên phạm vi toàn thế giới về tham nhũng do TI công bố gần đây, nạn tham nhũng đã gia tăng trong ba năm qua theo nhận định của 6/10 người dân trên toàn thế giới, và cứ bốn người được hỏi thì có một người thừa nhận có đưa hối lộ trong vòng một năm qua. Khảo sát trên thực hiện với hơn 91.000 người tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Khảo sát về tham nhũng ở Việt Nam được thực hiện nhằm góp phần cho báo cáo toàn cầu này.

Trả lời khảo sát, người dân cho rằng, các nhà lãnh đạo Chính phủ được tin tưởng nhất trong công cuộc phòng chống tham nhũng, tiếp theo là báo chí. Tuy nhiên, báo cáo cho biết, những người tốt nghiệp phổ thông hoặc cao hơn tin tưởng vào Chính phủ ít hơn những người có trình độ thấp.

Bà Nguyễn Thị Kiều Viễn, giám đốc tổ chức Hướng tới minh bạch, cơ quan đầu mối của TI tại Việt Nam nói: “Người dân ở đô thị tại Việt Nam cảm nhận tham nhũng gia tăng ở Việt Nam nhiều hơn cảm nhận của người dân ở các nước khác trong khu vực”. Bà nói tiếp, trong khi người Việt Nam ở đô thị phải đưa hối lộ nhiều hơn người dân ở các nước láng giềng, thì họ lại nhận định tích cực hơn về nỗ lực của Chính phủ so với các nước láng giềng.

Trong năm thành phố kể trên, người dân ở thủ đô Hà Nội là có cái nhìn bi quan nhất về tình hình tham nhũng. Trong số 350 người ở thủ đô được khảo sát, có tới 70% trải nghiệm tham nhũng trong giáo dục, 60% với công an, 52% với y tế. Bên cạnh đó, họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các tỉnh về đánh giá tiêu cực về tình hình tham nhũng.

Tiến sĩ François Roubaud của công ty tư vấn Indochina Research giải thích: “Người dân Hà Nội nói về trải nghiệm và cảm nhận thực sự của họ ở địa phương, chứ không phải cảm nhận chung về tham nhũng của quốc gia. Không chỉ trong khảo sát này, mà còn ở nhiều khảo sát tương tự khác, thì đánh giá và ý kiến của người dân Hà Nội là xấu hơn. Vì thế, chúng tôi nhận định là có vấn đề về bộ máy quản lý của Hà Nội”.

Theo bà Viễn, bản báo cáo này được công bố tại văn phòng bộ Phát triển kinh tế Anh ở Hà Nội hôm qua, sau khi được công bố hay gửi tới ba cơ quan nhà nước là ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương, Thanh tra Chính phủ và bộ Ngoại giao. Nhận xét ban đầu của ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương, theo bà Viễn, là báo cáo này đưa ra một bức tranh không quá ảm đạm, cũng như không quá tươi sáng về tham nhũng ở Việt Nam. Bà cho biết thêm, TI sẽ chuyển báo cáo đến Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội và sẵn sàng công bố cho các tổ chức, cá nhân quan tâm.

Tư Giang

http://www.sgtt.com.vn/Goc-nhin/134570/Nguoi-dan-tin-vao-lanh-dao-trong-phong-chong-tham-nhung.html

Posted in Công An, Giao Duc | Leave a Comment »

Nhập cả bắp cải, hành lá, Tăm xỉa răng, Ổi, Mận, Chuối…

Posted by hoangtran204 trên 16/12/2010

Một nước nông nghiệp nghèo, thiếu thốn ngoại tệ, dân trồng trọt để sản suất các hàng nông phẩm, nhưng bị các công ty xuất khẩu của nhà nước, các công ty nước ngoài, hoặc của gia đình con em cán bộ mua ép với giá rẻ, khiến nhiều nông dân trồng xong thu hoạch, gặp cảnh ép giá, bị kẹt tiền để trang trải, họ đành phải bán với giá huề vốn hoặc lỗ.

Trong khi đó, lợi dụng thuế nhập khẩu là 0% dành cho các mặt hàng nông sản từ Trung Quốc, các công ty nhập khẩu khác của nhà nước đã cho nhập về các hàng nông sản mà VN cũng có. Nhập cảng hàng nông sản như thế chẳng khác gì để giúp đỡ nông dân Trung Quốc.

Thứ Hai, 15/11/2010, 05:40 (GMT+7)

Nhập cả bắp cải, hành lá…

TT – Sau tăm tre, cà rốt, khoai tây… nhiều mặt hàng nông sản quen thuộc khác mà trong nước sản xuất được như: bắp cải, cải thảo, xà lách, hành lá… vẫn đang được nhập khẩu với số lượng tăng gấp nhiều lần so với hồi đầu năm nay. Trong đó, phần lớn mặt hàng trên đều có xuất xứ từ Trung Quốc.

Bắp cải và cà rốt Trung Quốc được chuyển về chợ đầu mối Bình Điền (TP.HCM) – Ảnh: B.H.

>> Tăm tre, cà rốt… tiếp tục được nhập về TP.HCM

Không chỉ được nhập về bằng đường chính thức mà nhiều mặt hàng còn về VN bằng đường tiểu ngạch, hàng nhập lậu. Chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng.

Tăng cả số lượng lẫn chủng loại

Tại các chợ đầu mối ở TP.HCM như Bình Điền (Q.8), chợ Tam Bình (Q.Thủ Đức)… khoai tây, cà rốt, tỏi, hành, nấm… ngoại nhập tiếp tục tấn công hàng nội địa trên quy mô lớn. Anh Vũ Phương, tiểu thương chợ Bình Điền, cho biết do khoảng cách giá cả giữa hàng trong nước và hàng ngoại nhập khá xa như giá tỏi trong nước cao gấp đôi, giá cà rốt cao gấp rưỡi, khoai tây cao gấp đôi… nên đầu ra hàng nhập rất ổn định và ngày càng rộng.

Hàng nhập về vẫn chủ yếu qua hai nguồn từ cảng Cát Lái (Q.2) và các cửa khẩu phía Bắc. Trong đó, có đến 30% hàng được vận chuyển theo đường bộ từ phía Bắc vào. Theo anh Phương, hồi đầu năm cứ khoảng ba ngày sạp hàng của anh tiêu thụ một container 40 feet nhưng nay chỉ cần hai phiên chợ đêm là đã hết hàng.

Ông Nguyễn Bá Định, phó chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I, cho biết các mặt hàng như văn phòng phẩm, bút, bì thư, miếng chùi xoong nồi, miếng rửa chén… vẫn được nhập khẩu về thường xuyên. Trong đó, các mặt hàng nông sản có mức tăng đột biến. Nếu như trong năm tháng đầu năm có khoảng 7.200 tấn cà rốt được nhập về, thì năm tháng tiếp sau đó 14.100 tấn cà rốt nhập khẩu từ Trung Quốc. Tổng cộng trong mười tháng đầu năm nay, lượng cà rốt nhập khẩu lên đến 21.300 tấn.

Tương tự, lượng hành nhập khẩu cũng tăng vọt từ 947 tấn trong năm tháng đầu năm nay lên đến 8.350 tấn, các loại nấm từ 887 tấn “nhảy” tới gần 7.740 tấn… Lượng táo, nhãn, me… nhập khẩu cũng tăng vùn vụt. Hầu hết mặt hàng này có nguồn gốc từ Trung Quốc, Malaysia. Ở mặt hàng trái cây, ổi, mận Trung Quốc, cùng với chuối, thơm Philippines trước đây mới chỉ xuất hiện ở siêu thị và một số sạp bán lẻ, nay đã trở nên phổ biến tại các sạp trái cây.Đáng chú ý, hàng nông sản nhập khẩu không chỉ là tỏi, khoai tây, cà rốt… mà nay còn phổ biến ở mặt hàng bắp cải, cải thảo, thậm chí xà lách, hành lá… Tại các chợ đầu mối, bắp cải, xá lách, cải thảo xuất xứ Trung Quốc ngày càng nhiều, được đóng trong các thùng xốp lớn, bảo quản lạnh với giá bán tương đương hàng VN.

Một cán bộ hải quan cửa khẩu quốc tế Lào Cai (tỉnh Lào Cai) cho hay hồi đầu năm đa số nông sản nhập khẩu là mặt hàng củ quả, chỉ lác đác vài lô rau ăn lá. Nay rau nhập khẩu về ngày càng nhiều, không chỉ là buôn bán nhỏ lẻ của cư dân biên giới mà về bằng xe container.

Nhập 1.118 tấn… tăm tre

Hồi đầu năm nay, báo Tuổi Trẻ từng đề cập lượng tăm tre nhập về gây bất ngờ vì đây là mặt hàng truyền thống, VN có thế mạnh vùng nguyên liệu. Thế nhưng đến cuối tháng 10-2010, các cán bộ Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I lại tiếp tục bất ngờ vì số lượng nhập khẩu về tăng chóng mặt. Nếu như trong năm tháng đầu năm mới chỉ khoảng 82 tấn thì lượng nhập trong năm tháng tiếp đó tăng gấp 12,6 lần. Tính từ đầu năm đến nay, lượng tăm tre nhập khẩu đã lên đến 1.118 tấn.

Anh Trần Văn Phước, một nhà nhập khẩu tăm tre tại TP.HCM, cho biết để chiếm lĩnh thị trường, tăng lượng hàng vào VN, các đối tác của anh tiếp tục bán hàng với giá rẻ hơn, hiện khoảng 130 USD/tấn, giảm 10 USD/tấn so với hồi giữa năm nay. Nhờ đó chỉ sau vài tháng xuất hiện tại một số siêu thị và cửa hàng tạp hóa, nay tăm tre nhập khẩu len lỏi vào hầu khắp các chợ bán lẻ, cửa hàng tạp hóa và siêu thị.

Theo một cán bộ ngành kiểm dịch thực vật tại TP.HCM, sở dĩ tình trạng nhập khẩu nông sản ngày càng ồ ạt là bởi các biện pháp kiềm chế nhập khẩu, hàng rào kỹ thuật vẫn chưa được áp dụng. Nông sản nhập khẩu vào VN quá dễ dàng, không có quy định nhiều về chủng loại, mẫu mã, và khâu kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm còn thực hiện sơ sài. Hàng qua cửa khẩu chỉ thử nhanh, còn hàng về cảng chỉ kiểm dịch sâu bệnh.

Anh Vũ Phương cho hay hàng nhập về không cần giấy chứng nhận kiểm dịch của nước sản xuất, chỉ cần kiểm dịch sâu bệnh đạt là có thể vào VN, bất chấp có dư lượng hóa chất bảo quản hay không. Trong khi đó, trên thị trường người tiêu dùng trong nước vẫn chưa có cơ sở phân biệt hàng nội – hàng ngoại khi quy định về thông tin xuất xứ vẫn chưa được tiểu thương áp dụng phổ biến với hàng nông sản.

BẠCH HOÀN

*

Hàng nông sản từ Trung Quốc thuế nhập chỉ 0%

Theo quy định hiện nay, nếu có C/O chứng minh xuất xứ, hàng nông sản nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu 0%. Trong khi đó, theo quy định tại Luật thuế giá trị gia tăng, các mặt hàng như bắp cải, cải thảo, xà lách, tỏi, cà rốt, khoai tây… thuộc diện không bị đánh thuế giá trị gia tăng.

Riêng đối với hàng nông sản nhập khẩu từ Thái Lan, Malaysia, Indonesia… thuế suất nhập khẩu là 5%. Nhờ được hưởng mức thuế thấp, giá nhập khẩu lại rẻ nên hàng nông sản nhập khẩu luôn có giá rẻ hơn nhiều so với nông sản trong nước. Một số mặt hàng như bắp cải, cải thảo, bông cải… giá tương đương hàng Đà Lạt dù quãng đường vận chuyển xa hơn rất nhiều.

http://tuoitre.vn/kinh-te/410982/nhap-ca-bap-cai-hanh-la.html

Posted in Xuất Nhập Cảng | Tagged: | Leave a Comment »

tại Bắc Kinh, không phải là cứ quỵ luỵ, hạ mình luồn cúi thì người Trung Quốc sẽ ban thêm cho chút tình “hữu nghị” và cơ hội “hợp tác” đâu.

Posted by hoangtran204 trên 16/12/2010

Diễn văn nhận chức Giáo sư danh dự của GS Thạch Nguyễn

GS Thạch Nguyễn là một khuôn mặt sáng chói của nền tim mạch học thế giới. Đồng thời, là ngừơi đặt nền móng cho nền tim mạch học can thiệp của Việt Nam. Trong nhiều bài viết trước trên blog này và trên đặc san Tết của báo SGTT, tôi đã nhiều lần viết về khía cạnh chuyên môn lỗi lạc và nhân cách đáng kính của con người này.

Nhân dịp về Hà Nội để nhận chức GS Danh dự của Trường Đại Học Y khoa Hà nội, xin đăng lại nguyên văn diễn văn đáp từ của GS Thạch Nguyễn bằng chính bản thảo của tác giả gởi trực tiếp. Một bản khác, đã đươc báo mạng VietNam Net đăng lại ở đây.

GS Thạch Nguyễn tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia (Ảnh. Dr Nikonian) 

Khoe một cái trước khi post bài: “Người bệnh cuối ngày” đã vinh dự được GS Thạch Nguyễn viết lời bạt (đăng ở bìa sau)

_________________________________________________________________

Kính thưa quý thầy, quý GS và các bạn,

Năm nay đánh dấu 19 năm làm việc của tôi ở Á châu, chủ yếu ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn GS Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Hà Nội, GS Phạm Gia Khải, nguyên Chủ tịch Viện Tim mạch học Quốc gia Việt Nam và GS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Viện Tim mạch học Quốc gia Việt Nam về lòng hiếu khách nồng hậu và mối quan hệ làm việc tốt đẹp trong những chuyến đi Việt Nam của tôi.

Hôm nay, một ngọn gió lành đã đưa tôi đến Hà Nội và buổi lễ chiều nay là kết tinh của những ngày dài rong ruổi ở những thủ đô và thành phố lớn của châu Á, chủ yếu là Trung Quốc. Đây là lần thứ 8 tôi nhận chức GS danh dự hay thỉnh giảng, trong đó 3 lần từ các trường đại học y ở  Bắc Kinh và 2 lần từ các đại học ở Nam Kinh, Trung Quốc.

Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ những tâm tình và một vài kinh nghiệm với các GS và các bạn BS trẻ về chìa khóa thành công tại Trung Quốc. Những ý tưởng trong bài này đã được trình bày nhiều lần, đặc biệt là vào năm 2008 tại Bệnh viện Quân đội trung ương 301 của Quân đội Nhân dân Trung Quốc.

Tôi đến Bắc Kinh và Vũ Hán vào mùa thu năm 1992 để dạy kỹ thuật nong động mạch vành tại Hội nghị Tim mạch Song Dương Tử lần thứ ba. Sau khi chứng kiến các BS Trung Quốc học kỹ thuật nong mạch vành do tôi biểu diễn bằng cách quan sát qua màn hình TV, tôi đã đề nghị với GS Dayi Hu áp dụng phương pháp cầm tay chỉ việc như tại các bệnh viện Mỹ. GS Dayi Hu là người bạn thân nhất của tôi tại Trung Quốc, hiện nay là Chủ tịch Hội Tim mạch Trung Quốc.

Trong phòng thông tim, các BS Trung Quốc là người thực hiện thủ thuật nong mạch vành, trong khi các chuyên gia Mỹ đứng ngay sau lưng họ, cầm tay và giúp họ thực hiện thủ thuật từng bước một. Đây là lần đầu tiên phương pháp giảng dạy này được áp dụng ở Trung Quốc.

Phương pháp này đã rất thành công và được các nhà tim mạch học Trung Quốc tiên phong hoan nghênh nhiệt liệt. Một trong những bác sĩ Trung Quốc học viên trẻ lúc bấy giờ nay đã là một GS đầu ngành tại Bác Kinh và năm 2012 sẽ là Chủ tịch Hội Tim mạch Trung Quốc.

Phương pháp cầm tay chỉ việc đó cũng đã được áp dụng tại Hà Nội, Việt Nam từ năm 1997, khi phái đoàn Mỹ đến Việt Nam lần đầu tiên. Giờ đây thì những BS tim mạch của Hà Nội, Sài Gòn, và Huế đã làm rất giỏi các kỹ thuật thông tim, đặt giá đỡ, đốt điện trong buồng tim, đóng các lỗ thông bẩm sinh trong buồng tim. Đó là những đóng góp lớn cho đất nước của cộng đồng tim mạch Việt Nam. Đây là điều làm tôi sung sướng và hãnh diện nhất.

Sau đó, năm 1993, tôi tổ chức những khóa học tương tự và xây dựng chương trình tim mạch học can thiệp tại Bệnh viện Chao Yang, một trong những bệnh viện lớn nhất tai Bắc Kinh. GS Dayi Hu và tôi cùng tổ chức lần đầu tiên một hội nghị tim mạch quốc tế mang tên Vạn Lý Trường Thành mà hôm nay đã trở thành hội nghị tim mạch lớn nhất Trung Quốc.

Từ năm 1992 đến nay, mỗi năm tôi đều đi dạy học ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. Năm 1994, có một số bạn Việt Nam thấy tôi đi Trung Quốc nhiều mà không ghé Việt Nam, thì họ thắc mắc tại sao tôi hay đi làm việc ở Trung Quốc mà không hay đi Việt Nam hay những quốc gia khác.

Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.

Nhưng những ý kiến nào sẽ làm cho những bài báo cáo của tôi ở Trung Quốc trở thành đặc biệt? Có những điều gì tôi nói sẽ khác biệt và hay hơn so với bài báo cáo của những đồng nghiệp Mỹ khác? Tôi xin kể lại hai câu chuyện về một câu hỏi khó được đặt ra cho tôi khi làm việc tại Bắc Kinh.

Việc thứ nhất là vào năm 2002, trong dịp kỷ niệm 10 năm giảng dạy của tôi ở Trung Quốc, khi kết thúc một cuộc phỏng vấn với một tờ báo Y khoa Trung Quốc, người phóng viên yêu cầu tôi cho một lời khuyên cho cộng đồng bác sĩ tim mạch Trung quốc.

Ngạc nhiên vì tầm vóc và ảnh hưởng quá lớn của câu hỏi này, tôi đã trả lời một cách nhã nhặn: “Trong 10 năm qua, các GS người Mỹ đã đến Trung Quốc để dạy làm các thủ thuật. Sau 10 năm, các BS Trung Quốc đã biết cách làm tất cả các thủ thuật tim mạch trên, và có thể làm giỏi hơn các GS Mỹ. Nên bây giờ các GS Mỹ đến Trung Quốc không phải để chuyển giao những kiến thức có sẵn nữa, mà để chỉ cho các BS Trung Quốc cách đặt câu hỏi”.

“Khi đối diện với một vấn đề, nếu chúng ta biết đặt câu hỏi đúng, chúng ta sẽ có câu trả lời đúng. Nếu chúng ta đặt câu hỏi sai, câu trả lời và cách giải quyết cũng sẽ sai. Đó chính là chìa khoá thành công của phương pháp làm việc của Mỹ khi phân tích và giải quyết một vấn đề”. Câu trả lời này đã làm những GS Trung Quốc thích thú vì tôi đã giúp họ tìm ra một chìa khoá đưa đến thành công.

Câu chuyện thứ hai cách đây hai tuần khi tôi đang dạy học ở Nam Kinh, tôi gặp một GS đồng nghiệp cũng là một tướng hai sao trong Quân đội Nhân dân Trung Quốc. GS này mời tôi đi giảng dạy tai một hội nghị tim mạch can thiệp vào tháng 4 năm tới, do BV Quân đội lớn nhất vùng Đông Bắc Trung Quốc tổ chức.

Dĩ nhiên, việc được mời là một niềm hãnh diện. Tuy nhiên, nó cũng đem đến một câu hỏi gai góc. Trong vòng 15 năm về trước, khi tôi đến Trung Quốc hay châu Á, tôi có thể báo cáo bất cứ đề tài nào tôi thích. Ngày nay trình độ hiểu biết về tim mạch ở Trung Quốc và Việt Nam đã rất cao.

Vì vậy tôi phải nói những gì mà khiến cử tọa không ngủ gục và thực sự thách đố trí thông minh của họ (như buổi lễ ngày hôm nay chẳng hạn). Nếu tôi muốn được tiếp tục mời giảng dạy trong tương lai, thì những bài báo cáo của tôi phải chứa đựng những kiến thức rất mới mẻ, rất đặc biệt và rất đột phá.

Tôi tìm ra lời giải cho câu hỏi khó trên khi đến báo cáo tại Bệnh viện 301 ở Bắc Kinh. Đây là Bệnh viện TW Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, một nơi mà tôi đến đây hàng năm từ năm 1997. Bạn tôi, một Đại tướng của Quân đội Nhân dân Trung Quốc, GS Shi Wen Wang đã hỏi tôi có chịu nhận các BS đang học chương trình tiến sĩ đến Mỹ tu nghiệp với tôi hay không?

Ngạc nhiên trước yêu cầu này, tôi hỏi ngược lại: Các BS tim mạch học Trung Quốc đã làm được tất cả các thủ thuật tim mạch, tại sao họ phải đến Mỹ để học? Vị Đại tướng Trung Quốc trả lời: “Họ phải đến để học cách tư duy của ngừơi Mỹ.” Tôi nghĩ đây là một câu trả lời rất đột phá và cực kì đặc biệt.

Vị GS, Đại tướng Quân đội Nhân dân Trung Quốc này đã khám phá chìa khoá thành công của người Mỹ là lối tư duy của họ: khi tiếp cận một vấn đề, người Mỹ đi thẳng vào sự việc, nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh, có khi tư những lối tư duy tất khác biệt, không theo lối mòn hay le trái le phải, bật ra ngoái khuôn mẫu để giải quyết tận gốc và không “đánh trống bỏ dùi” khi công việc còn dở dang.

Tôi hiểu rằng tất cả các yếu tố trên đã đem lại thành công do cách nghĩ và làm việc theo kiểu Mỹ. Từ đó tôi áp dụng các phương pháp làm việc trên, nhấn mạnh cách làm việc đó với các BS Trung Quốc và đó là chìa khoá thành công cho tôi và cho nhiều BS và GS Trung Quốc làm việc với tôi.

Cách đây 2 tuần, tại Nam Kinh, tôi đến báo cáo tại một nhà thương đại học lớn nhất ở đây. Khi BS Giám đốc của nhà thương biết tôi sắp đi Việt Nam với ĐH UIC để làm việc với Bệnh viện ĐH Hà Nội, ông liền khẩn khoảng yêu cầu tôi giúp cho việc hiện đại hoá Bệnh viện Đại học ở đây.

Viên giám đốc Bệnh viện cho biết hiện đại hoá nay đòi hỏi những thay đổi rất lớn và hành chính, nhân sự và nhất là lối nghĩ. Đây là một câu nhận xét tối đã nghe nhiều lần ở Trung Quốc.

Khi nhìn đến cách làm việc ở Trung Quốc hôm nay, xin đừng tưởng là đường lối làm việc ở Trung Quốc bảo thủ dâu. Trung Quốc đang tiên bộ rất nhanh là vì người dân và giới lãnh đạo Trung Quốc học lối tư duy mới, dám nói, dám làm, dám nhìn nhân sự thật và dám thay đổi.

Không phải là cứ khư khư ôm các tư tưởng cũ rích 2500 năm về trước (dù đó là của Khổng Tử) hay những tư tưởng nhảm nhỉ, dị đoan từ nước ngoài về mà tôn sùng nó và bảo đó là tiến bộ, là sáng tạo, là văn minh đâu. Phải có tư tưởng đột phá để thay đổi và phát triển. Đó là cách làm việc thần kì của Trung Quốc hôm nay và đó là chìa khoá thành công của một nền kinh tế Trung Quốc hùng cường phát triển vượt bậc hôm nay.

Nhưng có một điều đã làm cho nhiều người ngạc nhiên hơn nữa là tại sao tôi có thể làm việc thành công tại Trung Quốc một cách LÂU DÀI TRONG SUỐT HƠN 18 NĂM khi xã hội Trung Quốc đã thay đổi gấp 1000 lần kể từ ngày tôi đến Trung Quốc đầu tiên năm 1992. Làm sao tôi có thể làm việc tại Trung Quốc MỘT CÁCH LÂU DÀI khi các bạn Trung Quốc đầu tiên của tôi nay đã già và nghỉ hưu và bây giời tôi đang làm việc với các GS lớp trẻ thế hệ 2 ở Trung Quốc?

Tôi trả lời, chúng tôi (gồm có GS BS Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Việt Nam, Thái Lan, v.v) làm việc dựa trên nguyên tắc năm nguyên tắc cơ bản của Khổng giáo là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và đức Dũng của Phật Giáo.

Trên cơ sở của luân lý Khổng Mạnh và Phật giáo này, chúng tôi hợp tác trong một tình bạn trung thực, đối xử trên quan hệ bình đẳng, không phải là một quan hệ chủ tớ, không phải là người mạnh uy hiếp người yếu. Chúng tôi làm việc trong một tâm tính kính trọng lẫn nhau và giúp nhau không để bị người khác lợi dụng, cộng tác để dựa trên thành công chung, có lợi cho tất cả mọi người.

Tôi xin nhắc các GS. TS khi đến làm việc tại Bắc Kinh, không phải là cứ quỵ luỵ, hạ mình luồn cúi thì người Trung Quốc sẽ ban thêm cho chút tình “hữu nghị” và cơ hội “hợp tác” đâu. Người Trung Quốc thông minh lắm, họ biết ngay những người nào là bạn thật và người nào là kẻ xu nịnh sẵn sàng phản bội khi có cơ hội.

Xã hội và lịch sử Trung Quốc không hề ca tụng những nịnh thần, những kẻ bán nước cầu vinh, mà còn khinh bỉ những người đó nữa. Lời chỉ trích xây dựng của một người có giá trị hơn lời ca tụng suông của cả nghìn người khác. Ở Bắc Kinh, không ai thèm nghe và tin những lời ca tụng sáo rỗng đầy giả dối đâu.

Trong suốt gần 20 năm, sau gần một phần ba cuộc đời bôn ba giảng dạy ở Trung Quốc, tôi cũng chưa hề đọc được một tác phẩm nào của bất cứ sử gia chân chính người Trung Quốc hay nghe một GS Trung Quôc nào ca ngợi những Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung hay Lê Chiêu Thống… cả.

Trong khi đó, các chiến công và lòng yêu nước của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo hay Quang Trung Nguyễn Huệ… đều đã được ghi chép cẩn thận bởi những sử gia Trung Quốc. Mặc dù họ không đồng thuận với lòng yêu nước của các anh hùng hay liệt nữ Việt Nam, nhưng những tấm gương đó luôn được kính trọng và ngưỡng mộ từ Việt Nam, Trung Quốc và ngay tại Mỹ.

GS Noboyoshi người Nhật nói rằng, ông thường hay nhắc các GS, TS, nhân viên Chính phủ Nhật khi đến họp hay làm việc ở BK, một ngạn ngữ rất thông dụng ở Trung Quốc: Nếu bạn xử sự như một con lừa thì đừng ngạc nhiên nếu hôm nào có một người cưỡi trên lưng trên cổ đấy.

Hôm nay, trong niềm vinh hạnh được nhận chức danh GS danh dự tại Đại Học Y Hà Nội, tôi đã mở đầu bằng lời cảm ơn các GS, các thầy. Nhưng khi kết thúc, tôi xin ngỏ lời cảm ơn các BS trẻ Việt Nam đã học giỏi, làm việc tốt, đóng góp lớn cho xã hội, cộng cuộc nghiên cứu y khoa và ngành y tế Việt Nam. Nhờ sự đóng góp to lớn của các BS trẻ do mà nhà trường và bệnh viện đã nhớ đến tôi ngày hôm nay va tặng tôi danh hiệu GS danh sự này. Tôi xin cảm ơn các bạn rất nhiều, các BS trẻ của Việt Nam.

Hôm nay cũng nhiều lần trước, tôi đã cảm ơn các bác sĩ trẻ học trò của tôi ở Trung Quốc làm việc rất giỏi nhờ đó các Đại học và Bệnh viện mới nhớ đến tôi và tặng cho tôi các bằng GS danh dự.

Thực ra tôi không dám nhận nhiều chức GS danh dự tại Trung Quốc, hiện có 4 đại học y và bệnh viện ngỏ ý tặng tôi các chức danh GS danh dự mà tôi không dám nhận vì khi nhận xong, các khoa trưởng trường y và giám đốc bệnh viện đều nói: Do bây giờ ông là GS của chúng tôi, xin đến đây và giúp các bênh viện và đại học của chúng tôi thường xuyên hơn. Nhưng làm sao tôi có thể đi đến Trung Quốc và các nước khác nhiều hơn được nữa, vì ngày ngày còn phải đi cày ruộng kiếm cơm ở Mỹ nữa chứ!

Cuối cùng, trong một cái nhìn bao quát, do sự phổ biến khắp nơi của cellphone, Internet, Facebook, thế giới ngày nay đã và đang trở thành một ngôi làng nhỏ. Khi bước ra thế giới, ước nguyện của người Việt chúng ta là sẽ đóng góp các giá trị cao quí về phẩm cách, tri thức Việt Nam dựa trên niềm tin vào sự thật cho sự thanh bình và thịnh vựơng của ngôi làng chung mang tên thế giới đó.

Mỗi lần về Hà Nội, tôi cảm thấy ấm lòng khi thấy các sinh viên, bác sĩ, GS Việt Nam, những người mẹ, những người cha, những người anh, chị và em vẫn hăng hái làm việc trong tinh thần Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín và Dũng. Với những nguyên tắc chỉ đạo đó, tôi thấy người Việt Nam có thể hãnh diện ngẩng cao đầu phục vụ xã hội và tự tin làm việc với bạn bè năm châu.

Với những nguyên tắc Nhân Lê Nghĩa Trí Tín của Khổng Mạnh và Dũng của Phật giáo, chúng ta mới có thể hoà mình với thế giới không sợ để làm mất đi những di sản tinh thần và vật chất, hay đất nước yêu quí mà tổ tiên để lại. Với lòng tự tin và đoàn kết đó, chúng ta mới có thể, đối phó một cách mạnh mẽ và hữu hiệu với những khó khăn gây ra do những người láng giềng gần hay xa, trên biển Đông, bên kia Thái Bình Dương, từ Tây Phương xa xôi hay từ phương Bắc ngàn trùng cách trở qua dãy núi mang tên Thập vạn đại sơn.

Với lòng tự tin, hãnh diện và đoàn kết đó, chúng ta mới có thể ra biển lớn đóng góp vào ngôi làng thế giới đó mà không lo những hành động, thái độ hay lời nói của chúng ta làm tủi hổ cho lịch sử anh hùng, quật cường của cha ông mà chính chúng ta là người thừa kế. Chỉ như vậy, chúng ta mới xứng đáng để hãnh diện với tổ tiên, với chính bản thân và với con cháu chúng ta là tương lai đất nước sau này.

Khi nhìn vào sự cố gắng vượt bậc, niềm tự hào, hãnh diện đó trên những khuôn mặt Việt Nam già và trẻ hôm nay, tôi vững tin vào một tương lai rạng rỡ, hưng thịnh của Tố quốc và dân tộc Việt Nam, thế giới mà mọi chúng ta là những thành phần gắn bó.

Với những ý tưởng khiêm tốn và hành động nhỏ bé này, tôi xin kết lời và cảm ơn các thầy, các GS, các bạn trẻ Việt Nam đã lắng nghe.

source : http://www.drnikonian.com/2010/12/15/di%E1%BB%85n-van-nh%E1%BA%ADm-ch%E1%BB%A9c-giao-s%C6%B0-danh-d%E1%BB%B1/#more-3267

Posted in Commencement, Nhan Vat | Leave a Comment »