Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 18th, 2010

Cảm nghĩ của Đại sứ Nhật nói về VN khi chào tạm biệt về nước

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Câu chuyện Ngài Đại sứ (số 59)

2./Trong buổi “Tiệc chia tay” vơi đại sứ Nhật, Ngày 6 tháng 9 năm 2010, Tôi đã phát biểu chia tay trong phần đầu của buổi tiệc, trong đó tôi cũng đưa ra 4 câu hỏi mà tôi thường xuyên bị hỏi ở Việt Nam và cũng trình bày cả câu trả lời của mình cho từng câu hỏi đó. Nội dung các câu hỏi đó là (trong ngoặc là câu trả lời của tôi): Điều gì khiến ngài nhớ nhất trong thời gian công tác tại Việt Nam? (Đó là việc tôi đã đi thăm được toàn bộ 63 tỉnh thành của Việt Nam), ‚ Đối với Ngài, ở Việt Nam đâu là nơi đẹp nhất? (Nếu để đi nghỉ thì Hội An là nơi mà tôi thích nhất), Món ăn Việt Nam Ngài ưa thích nhất là gì? (các món bún như “Bún riêu”, “Bún bò huế”, “Cao lầu”),
Ngài suy nghĩ thế nào về đất nước hoặc con người Việt Nam?(không khí đô thị tràn đầy sức sống của thanh niên Việt Nam cùng với sự ồn ào và hỗn độn của họ là những yếu tố làm cho Việt Nam hấp dẫn lạ thường. Về con người Việt Nam, có vẻ như họ luôn có cái nhìn lạc quan về phía trước và tôi cảm nhận được sinh lực mạnh mẽ toát lên từ phong cách  sống của họ). Tuy nhiên,  cuối cùng tôi cũng phải nói ra về một điều khó nói với các bạn Việt Nam là các bạn cần phải chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ hơn, có tinh thần kỷ luật hơn và có tính tuân thủ cao hơn. Phần cuối cùng này trong bài phát biểu của tôi có thể “không được phải phép lắm”. Vì tôi thực sự thích Việt Nam nên tôi mới nói những điều khó nghe như vậy, nếu có ai đó cảm thấy bị tổn thương thì cho phép tôi xin lỗi trước.
3./Các phóng viên đã tổ chức một buổi tiệc trưa chia tay dành cho tôi. Tất cả các bạn đều là những thế hệ trẻ nghiêm túc, chân thật, làm việc đầy nhiệt huyết và có quan tâm mạnh mẽ đến “hình ảnh của đất nước Việt Nam trong con mắt đại sứ nước ngoài”. Hiện nay Việt Nam chưa phải là một đất nước “Tự do ngôn luận” như các nước phát triển phương tây nhưng khi nhìn thấy những ánh mắt sáng ngời của các phóng viên trẻ, tôi tin rằng “Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng”. Tôi mong chờ thành công của từng bạn phóng viên.

http://www.vn.emb-japan.go.jp/vn/ambassadors/stories_59_010516.html

Hà Nội với tôi như một giấc mơ

Ngày 16 tháng 9 năm 2010

Hai tuần cuối ở Hà Nội trôi đi thật nhanh. Mỗi ngày trôi qua nhanh khi tôi chỉ có thể đến chào tạm biệt những người đã từng giúp đỡ tôi trong thời gian tôi công tác tại Hà Nội. Thời gian là một cái gì đó rất lạ, khi người ta mong chờ điều gì thì rất lâu, nhưng khi nhìn lại những gì đã qua thì cảm thấy thời gian trôi đi rất nhanh. Không phải là câu nói trăng trối của tướng Toyotomi Hideyoshi, nhưng “Hà Nội là giấc mơ của giấc mơ” là những cảm nhận thực tế của tôi. Tôi sẽ trở về Nhật Bản vào chuyến bay tối ngày mai. Công việc ở Tokyo cũng đã được giao vì thế những gì đã có ở Hà Nội sẽ là những kỷ niệm đáng nhớ trong tôi, phấn chấn lại, tôi sẽ cố gắng hết sức mình còn lại để cống hiến cho đất nước mình.

Chuyến thăm Hà Nội của Nhóm nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt

Vào ngày 7~ 9 tháng 9, 6 hạ nghị sĩ  do Ông Takebe Tsutomu làm Chủ tịch nhóm nghị sĩ hữu nghị Nhật – Việt (nguyên là Trưởng ban thư ký Đảng Dân Chủ Tự do), đã đến thăm Hà Nội. Khá lâu rồi đây là chuyến thăm Việt Nam lại của Đoàn, bản thân Ông Takebe Tsutomu cũng đã 2 năm rồi mới lại sang thăm Việt Nam. Cấu tạo của nhóm không theo một đảng phái nào, trong chuyến thăm này có 1 nghị sĩ của Đảng Dân Chủ và 1 nghị sĩ của Đảng Công Minh đã thay đổi. Ngoài cuộc hội đàm với Ngài Trương Tấn Sang, Thường trực ban bí thư Trung ương Đảng (tương đương với chức Trưởng ban thư ký Đảng của Nhật Bản), Đoàn còn có cơ hội hội đàm với các thành viên của Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt – Nhật (phía Việt Nam) do Ngài Hồ Đức Việt (Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng), làm chủ tịch nhóm. Về phía Chính phủ Việt Nam, Đoàn đã có buổi gặp mặt trao đổi với Ngài Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra Đoàn có lịch trình dày đặc dành một ngày để đi thăm các tỉnh gần Hà Nội, gặp gỡ các chủ tịch tỉnh và đi thị sát các khu công nghiệp. Vào ngày 10, Đoàn đã đi thăm tỉnh Miền Trung như Đà Nẵng và Miền Nam như Sài gòn, Đoàn đã về nước vào chuyến bay tối ngày hôm đó.

Tôi đã có dịp ngồi ăn tối cùng Đoàn tại Nhà riêng vào tối ngày 7/9. Vì tôi đã có mối quan hệ thân quen cũ với Chủ tịch Takebe Tsutomu và các thành viên của Đoàn, nên đó là một buổi ăn tối rất vui vẻ, mọi người nói chuyện rất sôi nổi. Các vấn đề tình hình chính trị của Nhật Bản, ngoại giao, đảm bảo an ninh v.v. được trao đổi rất thẳng thắn, các nghị sĩ đã cảm nhận được những nguy cơ về tình hình chính trị trong và ngoài Nhật Bản. Một vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là một nghị sĩ của Đảng Dân Tự Do nói rằng “Khi Đảng Dân chủ Tự do còn là Đảng cầm quyền, cho dù là có nói về vấn đề đảm bảo an ninh ngoại giao đi nữa, thì cũng sẽ không được những người ủng hộ ở địa phương quan tâm, còn khi họ ở vị trí của Đảng đối lập, nếu nói như vậy thì sẽ nhận được phản ứng của những người dân bầu cử”. Điều đó có nghĩa là gì? Nghị sĩ của Đảng cầm quyền thường được những người ủng hộ quan tâm theo hướng đem lợi ích về đia phương, ngược lại thì Đảng đối lập không hề có điều này và họ có thể nói tự do hay phê phán về vấn đề an ninh ngoại giao.

Hội liên hợp kinh tế miền trung Nhật Bản đến thăm Việt Nam

Vào ngày 3 tháng 9, tôi đã mời 32 thành viên của Đoàn kinh tế do Ông Kawaguchi Fumio, Tổng Giám đốc tập đoàn Năng lượng điện ChuBu, làm chủ tịch hội tới nhà riêng của tôi và đã có buổi nói chuyện thân mật tại đây. Lịch trình ở Hà Nội của Đoàn trùng với 4 ngày nghỉ liên tiếp của Việt Nam tính từ ngày Quốc khánh 2/9, vì thế tôi đã rất lo lắng Đoàn sẽ khó có thể gặp được các vị lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam, nhưng tôi đã yên tâm bởi lịch trình không bị hoãn lại. Trong bài phát biểu tôi đã bày tỏ mong muốn rằng Việt Nam là một nước dân số trẻ, có khuynh hướng tiêu dùng rất nhiều vì thế nhu cầu là rất lớn, các doanh nghiệp Nhật Bản cần thiết phải nắm bắt các cơ hội kinh doanh ở đây. Ông Kawaguchi cũng nói rằng mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và giới kinh tế miền trung Nhật Bản sẽ ngày càng mở rộng vì thế Đoàn cũng rất muốn phát triển hơn nữa mối quan hệ này.

Sau khi đến Việt Nam, Đoàn sẽ thăm Campuchia và Singapore, sau đó sẽ đến miền nam của Trung Quốc. Khoảng 2,3 năm trước, tôi rất không bằng lòng bởi trong giới kinh tế của Nhật Bản, họ nói về kinh doanh tại Việt Nam với quan điểm tránh rủi ro có tên là “Chine + 1”, tôi đã đề nghị rằng Việt Nam là một nước đang phát triển và hãy nhìn nhận đúng ý nghĩa tích cực của nó với nền kinh doanh của một nước đang phát triển như vậy. Ông Kawaguchi có nói rằng “Đến bây giờ không còn một nhà kinh tế nào nhìn Việt Nam với quan điểm tránh các rủi ro nữa”, tôi thật sự đã rất vui mừng vì việc này.

Kỉ niệm ngày Quốc khánh 2/9 lần thứ 65

Ngày 1/9, lễ kỉ niệm ngày Quốc khánh 2/9 hàng năm đã được tổ chức tại Hà Nội, tôi với tư cách là một thành viên của Đoàn ngoại giao, đã tham dự sự kiện này. So với các sự kiện 2 năm trước đó khi tôi tham dự, sự kiện lần này khá là lớn hơn bởi nhân dịp kỉ niệm tròn 65 năm Quốc khánh. Cũng như hàng năm Đoàn ngoại giao có đến viếng Lăng Bác và Đài tưởng niệm liệt sĩ, sau đó có buổi lễ kỉ niệm được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Quốc gia Ngoại giao, các vị lãnh đạo trong quá khứ và hiện tại đều có mặt đông đủ, Ngài Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam đã có bài diễn thuyết tại đây. Sau đó là đại diện cho các Đảng viên trẻ ưu tú có bài “tuyên thệ” được diễn ra rất trang nghiêm. Trước lễ khai mạc, các bạn trẻ biểu diễn ca nhạc và múa, trên màn hình chính diện có chiếu hình ảnh ghi lại “Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn đương thời”, phần chiếu sau cùng là những hình ảnh mới nhất về “Việt Nam ngày nay”, hình ảnh cây cầu Cần Thơ (được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản mới được hoàn thành gần đây) được chiếu rất rõ đã làm tôi rất ngạc nhiên và vui mừng.

Vào buổi tối ngày hôm đó, như thường lệ, buổi chiêu đãi mời Đoàn ngoại giao tại Trung tâm hội nghị Quốc tế tại Hà Nội. 2 năm trước dịp này là “Sự kiện của Chính phủ” do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm chủ trì, nhưng năm nay thì hơi khác, đầu tiên kể đến là Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh  Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Ngài Trương Vĩnh Trọng, Chủ tịch Quốc hội, 4 vị lãnh đạo đứng đầu đều có mặt đầy đủ, khiến buổi lễ này thành một “Sự kiện quốc gia”. Ngoài ra còn có các quan chức khác của Đảng, Chính phủ và Quốc hội đều là những người quen đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi công tác tại Hà  Nội, cũng có mặt đông đủ. Vì thế, đối với một người sắp về nước như tôi, đây là một cơ hội rất tốt để tôi cùng một lúc có thể chào tạm biệt mọi người. Tôi thấy rất cảm ơn phía Việt Nam hàng năm tổ chức những sự kiện như này nhằm tăng thêm mối quan hệ mật thiết với các Đoàn ngoại giao.

Những cuộc gặp cuối cùng tại Việt Nam với nhiều người Nhật

Sáng 8/9, Lễ khai trương Trung tâm Risupia đã diễn ra tại Hà Nội với sự tham dự của ông Nakamura Kunio (Chủ tịch HĐQT Công ty Panasonic). Như tôi đã giới thiệu trong Câu chuyện số 58, Trung tâm Risupia là cơ sở giáo dục nhằm khơi dậy niềm đam mê và sự quan tâm của các em học sinh (chủ yếu là cấp 2, cấp 3) đối với vật lý và toán học. Hà Nội là địa điểm xây dựng Trung tâm Risupia thứ 2 trên thế giới, sau Odaiba ở Tokyo. Tôi như cảm nhận được cảm tình đặc biệt mà Công ty Panasonic dành cho Việt Nam. Đại diện Chính phủ Việt Nam tới tham dự buổi lễ là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – đương nhiên rồi, vì việc Trung tâm Risupia được mở tại Hà Nội bắt nguồn từ chuyến đi khảo sát cơ sở ở Odaiba của Phó Thủ tướng, khi ông sang Nhật Bản hồi tháng 3/2008. Về phần mình, tôi mong rằng các em học sinh Việt Nam sẽ đến Trung tâm thật đông, thật vui.

Ngày 10/9, tôi có buổi nói chuyện với ông Morisaki Takashi (Trưởng bộ phận Châu Á của Ngân hàng Mitsubishi Tokyo UFJ). Thị trường Việt Nam với các hoạt động thương mại mở rộng nhanh chóng đang được giới tài chính Nhật quan tâm. Như ông nói “Sau Trung Quốc, Ấn Độ, bây giờ là Việt Nam!”, tôi kỳ vọng vào sự phát triển của các dự án đồng hành cùng Việt Nam. Tôi cũng nêu nguyện vọng muốn giới tài chính có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp Nhật hoạt động tại Việt Nam.

Cũng trong ngày 10/9, đã lâu tôi mới gặp lại ông Iida Nobuyasu (Phó Giám đốc Công ty Khai thác dầu khí JX Nippon), nhân dịp ông tới thăm Đại sứ quán. Đây là công ty mới thành lập trên cơ sở sáp nhập Công ty Dầu mỏ Shin-Nihon và Công ty Khai khoáng Nippon, đang tiến hành dự án khai thác dầu khí tại Vũng Tàu (miền Nam Việt Nam). Ông cho biết mỏ Rạng Đông đi vào khai thác đã 12 năm nay, với sản lượng hiện giảm xuống còn 30.000 thùng mỗi ngày (chiếm 9% tổng sản lượng của Việt Nam). Công ty cũng có những khu vực khác đang được tiến hành thăm dò, nên tôi mong rằng họ sẽ tìm ra những mỏ dầu ưng ý.

Ngày 14/9, tôi nói chuyện với ông Murata Keiichi (Giám đốc Công ty Nissan Techno) tại Đại sứ quán. Đây là công ty được thành lập năm 1985 nhằm phát triển công nghệ xe hơi cho Tập đoàn Nissan, 9 năm trước thành lập công ty con ở Việt Nam với một số công việc bổ sung như thiết kế máy móc, thiết bị điện/điện tử các loại hay CAD design… Tôi khá bất ngờ khi nghe ông nói đây là công ty con lớn nhất ở nước ngoài, với 1150 nhân viên. Trong tương lai gần, công ty có kế hoạch mở văn phòng tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc (cách Hà Nội 30km về phía Tây) và sẽ là doanh nghiệp Nhật đóng vai trò khai thác phát triển lĩnh vực mới. Đường từ Hà Nội tới Khu công nghệ cao này đã gần hoàn thành, bên trong Khu công nghệ cũng đang dần hoàn thiện, nhưng thiết kế chi tiết hạ tầng cơ sở vẫn đang được JICA tiến hành, nên phải mất 4 – 5 năm nữa thì các hạng mục bằng vốn ODA của Nhật mới chính thức hoàn thành. Tuy vậy, đã xuất hiện những công ty nước ngoài quyết định đầu tư hoạt động tại đây, và cũng có khả năng ai nhanh hơn thì thắng, nên kế hoạch lần này của Nissan Techno khá được chú ý.

Tạm biệt nhiều người Việt

Ngày 11/9 tại một khách sạn ở Hà Nội, Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt-Nhật (Chủ tịch: ông Hồ Đức Việt), Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam (Chủ tịch: ông Vũ Xuân Hồng), Hội Hữu nghị Nhật-Việt (Chủ tịch: ông Nghiêm Vũ Khải) và Hội Cựu du học sinh Nhật Bản (Chủ tịch: ông Nguyễn Ngọc Bình) đã tổ chức “Tiệc chia tay Đại sứ”. Tôi bất ngờ khi được nhận thư cảm ơn và huy chương hữu nghị, lại có cả quay phim rất chuyên nghiệp của Đài truyền hình đến tác nghiệp. Trong bài phát biểu, tôi có nói đến 1 chuyện vui và 2 việc đáng tiếc – những kỷ niệm trong thời gian công tác của mình. Chuyện vui là tôi đã hoàn thành mục tiêu đi thăm hết 63 tỉnh thành của Việt Nam. Còn việc đáng tiếc là tôi không thể thực hiện được mong muốn làm Đại sứ đến năm 2013, là năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật-Việt. Một việc đáng tiếc còn lại là “Chưa lần nào chơi tennis thắng được Ngài Hồ Đức Việt (Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt-Nhật)!” – câu này khiến quan khách cười nghiêng ngả. Tuy nhiên, nói thực lòng, điều làm tôi vui nhất chính là tình cảm nồng hậu mà những người bạn Việt Nam luôn dành cho mình, như bữa tiệc chia tay này cũng vậy. Là một Đại sứ, còn gì vui và ý nghĩa hơn chứ!

Ngày 13 tháng 9, tôi đến chào Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo trước khi về nước và trao đổi về sự hợp tác của Nhật Bản trong Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Ông Chủ tịch Ủy ban đánh giá cao sự hợp tác về tài chính và nhân lực của Nhật Bản trong công tác khai quật, bảo tồn di tích Hoàng thành Thăng Long và hoan nghênh các hoạt động văn hóa Nhật Bản hầu như được tổ chức mỗi tháng một lần. Ông cũng tỏ ra rất thích thú trước tờ rơi quảng cáo “Hà Nội và Nhật Bản” được các tổ chức người Nhật Bản tại đây tự nguyện phát hành. Tôi đã đề nghị hai phía Nhật Bản và Việt Nam sẽ cùng hợp tác xây dựng khu vườn Nhật Bản trong lòng Hà Nội cho tới năm 2013, kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Việt, một việc và tôi chưa thể thực hiện trong thời gian tại nhiệm. Ông Nguyễn Thế Thảo đã trả lời tôi “Việc đó nhất định sẽ được thực hiện, mong Ngài đại sứ yên tâm”. Không rõ mọi việc sẽ diễn ra thế nào.

Ngày 14 tháng 9, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Ngô Thịnh Đức đã tới thăm Đại sứ quán để nói lời chào tạm biệt với tôi. Thứ trưởng Ngô Thịnh Đức phụ trách công tác hoàn thiện, nâng cấp hạ tầng giao thông trong đấy có mảng xây dựng hệ thống đường bộ, Ngài Thứ trưởng là một đối tác thường xuyên cộng tác với tôi trong các dự án ODA của chính phủ Nhật Bản. Ngài Thứ trưởng đã sang thăm Nhật Bản nhiều lần và có nhiều bạn ở Nhật Bản. Tôi đã nêu lên ý kiến sau cùng cho rằng việc hoàn thiện hạ tầng giao thông là điều không thể thiếu để phát triển kinh tế ở Việt Nam, trong tương lai Chính phủ Nhật Bản vẫn tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực này thông qua nguồn vốn ODA. Tuy nhiên cần làm rõ mức độ ưu tiên của các dự án, triển khai từng dự án một cách thiết thực, bên cạnh đó phải đảm bảo trình tự thực hiện nghiêm minh, đảm bảo không có các nghi vấn tham nhũng, hối lộ xảy ra. (Bên cạnh đó, ngày 16 tháng 9, tôi rất cảm kích trước việc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hội An, Ông Lê Văn Giảng đã từ nơi xa xôi tới tận Hà Nội để chào từ biệt tôi. Tôi đã khẳng định với Ông sẽ tiếp tục hợp tác để Lễ hội Nhật bản tại Hội An có thể tổ chức hàng năm).

Chào từ biệt các lãnh đạo Việt Nam

Ngày 3 tháng 9, tôi đã tới chào từ biệt Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại Phủ Chủ tịch. Từ sau lễ trình quốc thư nhân dịp tôi mới sang nhậm chức 2 năm trước đến nay, tôi đã có nhiều cơ hội được chào hỏi Ngài Chủ tịch nước trong những sự kiện khác nhau. Kỷ niệm mà tôi nhớ nhất chính là sự quan tâm đặc biệt của Ngài nhân chuyến thăm Việt Nam của Hoàng Thái tử điện hạ vào tháng 2 năm 2009. Theo nghi lễ ngoại giao, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan mới là người mời Hoàng Thái tử sang thăm Việt Nam, tuy nhiên Ngài Chủ tịch nước vừa mới tới thăm chính thức Nhật Bản với tư cách là quốc khách, để cảm tạ sự tiếp đón thịnh tình của Thiên hoàng và Hoàng hậu, Ngài đã nhất định muốn được tiếp đãi Hoàng Thái tử, Ngài đã quan tâm đến từng chi tiết nhỏ của chương trình chuyến thăm và đã đón tiếp Hoàng Thái tử một cách vô cùng nồng hậu. Nhân dịp tới chào từ biệt, tôi cũng đã bầy tỏ lòng biết ơn trước sự tiếp đón trọng thị và chu đáo của Ngài Chủ tịch nước đối với Hoàng Thái tử Nhật Bản. Mặt khác, khi nghe tôi nói mình đã tới thăm hết 63 tỉnh thành trên cả nước, Ngài Chủ tịch nước đã nói những lời làm tôi thấy vô cùng cảm động: “Cảm ơn Ngài đại sứ đã rất quan tâm tới Việt Nam và đã đóng góp cho sự phát triển của mối quan hệ Việt Nhật”. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sẽ tham dự Hội nghị cấp cao APEC được tổ chức vào tháng 11 tới tại Nhật Bản, có thể khi đó tôi sẽ lại có dịp gặp lại Ngài tại Tokyo.

Trong hai tuần đầu tiên của tháng 9, tôi đã lần lượt đến chào từ biệt các vị lãnh đạo của chính phủ Việt Nam đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên thiên nhiên và môi trường Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Khắc Triệu, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Võ Văn Thưởng và nhiều cán bộ đã giúp đỡ tôi trong nhiệm kỳ công tác vừa qua. Đặc biệt hơn nữa tôi đã được Ngài Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, đại diện cho Chính phủ Việt Nam, trao tặng “Huân chương Hữu nghị”. Tôi cảm thấy rất biết ơn vì đây chính là huân chương cao quý nhất dành cho người nước ngoài. Ngoài ra tôi còn được Bộ Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương, Đoàn Thanh niên trao tặng nhiều bằng khen, kỷ niệm chương v.v… Tại Nhật Bản không có chế độ khen thưởng như vậy đối với các cán bộ ngoại giao kết thúc nhiệm kỳ về nước nên không thể thực hiện việc đãi ngộ tương đương. Đây quả thật là điều đáng tiếc.

“Tiệc chia tay”

Ngày 6 tháng 9 năm 2010, tôi đã mời những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian công tác tại Việt Nam như các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, đại diện những người Nhật Bản đang công tác tại Việt Nam, đại sứ các nước vv.. đến dự  “Tiệc chia tay” tại một khách sạn trong thành phố Hà nội. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải Việt Nam Hồ Nghĩa Dũng đại diện cho Chính phủ Việt Nam phát biểu chia tay và Đai sứ Marốc, Trưởng đoàn ngoại giao tại Việt Nam, đã trao cho tôi đĩa kỷ niệm bằng bạc trên đó có chữ ký của đại sứ của tất cả các nước. Tôi cũng đã đề nghị Cựu đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Võ Văn Sung lên bục phát biểu với tư cách là khách mời đặc biệt. Đại sứ Võ Văn Sung hiện đã 81 tuổi, năm 1973 ông là trưởng phái đoàn đàm phán của phía Việt Nam để thiết lập lại quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và Việt Nam, vì vậy có thể nói “Ông là một nhân vật lịch sử”. Hơn nữa, đến dự tiệc chia tay tôi còn có 6 chủ tịch ủy ban nhân dân của các tỉnh, thành lân cận với Hà Nội, đây thực sự là một cuộc hội ngộ “buồn”. Hai nữ nghệ sỹ tiêu biểu của Việt Nam là Lê Vân và Lê Khanh cũng đã đến dự, bày tỏ sự đáng tiếc khi phải chia tay khiến tôi rất cảm động. Vợ tôi mặc chiếc áo dài do Nghệ sỹ Chu Thúy Quỳnh (Chủ tịch Hội nghệ sỹ múa Việt Nam, Cựu đại biểu quốc hội) gửi tặng dành riêng cho lễ chia tay này để đón khách và bà ấy đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi.

Tôi đã phát biểu chia tay trong phần đầu của buổi tiệc, trong đó tôi cũng đưa ra 4 câu hỏi mà tôi thường xuyên bị hỏi ở Việt Nam và cũng trình bày cả câu trả lời của mình cho từng câu hỏi đó. Nội dung các câu hỏi đó là (trong ngoặc là câu trả lời của tôi): Điều gì khiến ngài nhớ nhất trong thời gian công tác tại Việt Nam? (Đó là việc tôi đã đi thăm được toàn bộ 63 tỉnh thành của Việt Nam), ‚ Đối với Ngài, ở Việt Nam đâu là nơi đẹp nhất? (Nếu để đi nghỉ thì Hội An là nơi mà tôi thích nhất), Món ăn Việt Nam Ngài ưa thích nhất là gì? (các món bún như “Bún riêu”, “Bún bò huế”, “Cao lầu”), „

Ngài suy nghĩ thế nào về đất nước hoặc con người Việt Nam? (không khí đô thị tràn đầy sức sống của thanh niên Việt Nam cùng với sự ồn ào và hỗn độn của họ là những yếu tố làm cho Việt Nam hấp dẫn lạ thường. Về con người Việt Nam, có vẻ như họ luôn có cái nhìn lạc quan về phía trước và tôi cảm nhận được sinh lực mạnh mẽ toát lên từ phong cách  sống của họ). Tuy nhiên,  cuối cùng tôi cũng phải nói ra về một điều khó nói với các bạn Việt Nam là các bạn cần phải chú ý giữ gìn vệ sinh sạch sẽ hơn, có tinh thần kỷ luật hơn và có tính tuân thủ cao hơn. Phần cuối cùng này trong bài phát biểu của tôi có thể “không được phải phép lắm”. Vì tôi thực sự thích Việt Nam nên tôi mới nói những điều khó nghe như vậy, nếu có ai đó cảm thấy bị tổn thương thì cho phép tôi xin lỗi trước.

“Đêm chung kết cuộc thi Cosplay”, sự kiện văn hóa cuối cùng

Tối chủ nhật ngày 12 tháng 9, tại cung văn hóa thiếu nhi đã diễn ra “Đêm chung kết cuộc thi cosplay” do Đại sứ quán Nhật Bản lần đầu tiên tổ chức. “Cosplay” là viết tắt của “Costume Play” tạm dịch nôm na là “Cuộc thi hóa trang”. Có người nghĩ rằng hơi khác lạ khi Đại sứ quán lại đứng ra tổ chức những sự kiện như thế này, tuy nhiên, “Sức mạnh mềm” của Nhật Bản hiện nay đang được toàn thế giới quan tâm và đang trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ ngoại giao văn hóa. Mấy năm trở lại đây, trào lưu học tiếng Nhật trong giới trẻ lại bùng nổ và động lực hàng đầu của họ là mong muốn đọc hiểu được nguyên bản chuyện tranh và phim hoạt hình của Nhật Bản. Tuy nhiên, “thế hệ trung niên” như tôi vì khác biệt về cảm nhận và thiếu kiến thức nên để có thể bắt kịp được những sự kiện như thế này thì quả là một việc khó khăn.

Tại cung thiếu nhi tối 12 vừa qua, sân khấu ngoài trơi nơi diễn ra sự kiện đã ngập tràn nhiệt huyết của các bạn trẻ. Tôi đã đọc diễn văn khai mạc cuộc thi nhưng tôi nghĩ rằng các em không có tâm trí để nghe những lời phát biểu của tôi. Khi hai vị khách tham gia đặc biệt từ Nhật Bản là cô Yuri và cô Shiguma được biết đến như một nữ hoàng trong giới cosplay xuất hiện thì hội trường gần như bùng nổ. Tại đêm chung kết ngày hôm đó, đã có biểu diễn đầy nhiệt tình của 6 nhóm được gọi là “Cosplayer” sau khi vượt qua được vòng sơ khảo chấm qua các đoạn phim. Ở Nhật Bản, cosplay được chú trọng đánh giá theo các kiểu tạo mẫu qua ảnh thì tại Việt Nam, sự quan tâm được hướng tới thưởng thức biểu diễn (Biểu diễn tập thể). Tuy nhiên, đối với một người không am hiểu về chuyện tranh, hoạt hình như tôi thì tôi rất lấy làm tiếc là không thể đánh giá “hóa trang” như thế là giỏi và chỉ biết ngồi theo dõi tiết mục mà thôi.

“Họp báo chia tay” với phóng viên báo chí Việt Nam

Ngày 14 tháng 9, tôi đã tổ chức cuộc họp cuối cùng với phóng viên báo chí Việt Nam tại Đại sứ quán. Tôi rất cảm động vì đã có nhiều phóng viên đến để lấy tin “Lời chia tay” của đại sứ Nhật Bản.  Tôi đã nêu cảm xúc của mình trong thời gian nhậm chức tại Việt Nam trong 30 phút đầu. Trong phần mở đầu, sau khi tôi giải thích về tình hình qua lại của các quan chức cấp cao, sự phát triển trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và thành tích của dự án ODA, tôi cũng đã thể hiện nguyện vọng của mình như sau: “Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn chuyển từ nước nông nghiệp sang quốc gia công nghiệp hiện đại, nên tôi mong rằng Việt Nam sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế trong công nghiệp và mong Việt Nam sẽ vượt qua được cạnh tranh tự do khốc liệt trong khu vực.” Mặt khác, sau cùng phần mở đầu, tôi có nêu thêm “Để xây dựng xã hội hiện đại, Việt Nam cần xem lại các tập quán xã hội cũ dẫn đến tham nhũng và hối lộ, cần nâng cao ý thức vệ sinh, hình thành ý thức tuân thủ quy định và luật lệ xã hội, và cần hoàn thiện cách ứng xử trong xã hội”, tuy nhiên tôi lo lắng không biết ý nguyện của mình đã truyền đạt đến các bạn phóng viên được bao nhiêu.

Hồi tưởng lại 2 năm rưỡi nhậm chức vừa qua, tôi đã trả lời hơn 120 phỏng vấn của các phóng viên. Mặt khác tôi đã tổ chức 7 lần “Tour Báo chí” đi cùng các phóng viên đến khảo sát tại địa phương nhận viện trợ không hoàn lại quy mô nhỏ, do đó tôi có quan hệ thân thiết với nhiều phóng viên. Các phóng viên đã tổ chức một buổi tiệc trưa chia tay dành cho tôi. Tất cả các bạn đều là những thế hệ trẻ nghiêm túc, chân thật, làm việc đầy nhiệt huyết và có quan tâm mạnh mẽ đến “hình ảnh của đất nước Việt Nam trong con mắt đại sứ nước ngoài”. Hiện nay Việt Nam chưa phải là một đất nước “Tự do ngôn luận” như các nước phát triển phương tây nhưng khi nhìn thấy những ánh mắt sáng ngời của các phóng viên trẻ, tôi tin rằng “Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sáng”. Tôi mong chờ thành công của từng bạn phóng viên.

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Nhan Vat, Tình Yêu- Lòng Yêu Nước, Tự Do ngôn Luận, Uncategorized, Y te | Leave a Comment »

Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Hoàng Hưng – Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

18/09/2010 | 7:40 chiều | Chưa có phản hồi.

Tác giả: Hoàng Hưng

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn – Giai phẩm
Thẻ: > >

Gần đây trên mạng xuất hiện một số tư liệu mới về phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Tiểu luận mang tên “Vụ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành” của nhà văn Lê Hoài Nguyên, nguyên đại tá Cục An ninh Tư tưởng Văn hóa Bộ Công an (A 25), là một tư liệu quan trọng góp phần vào lịch sử đấu tranh dân chủ của nước Việt Nam hiện đại. Trong tiểu luận trên, tác giả xếp vụ án “Về Kinh Bắc” 1982[1] vào mục “Hậu Nhân văn”. Chính điều này đã gợi hứng cho tôi quyết định viết về vụ “Về Kinh Bắc” với tư cách người trong cuộc, mong góp thêm phần hoàn chỉnh tư liệu về phong trào lịch sử này.

*

Một trang trong tập bản thảo “Về Kinh Bắc”

Vụ án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học ở Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc (VKB) để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước, có tham gia tư vấn cho chính phủ về kinh tế. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.

Việc Hoàng Cầm cho Nguyễn Mạnh Hùng một bản chép tay VKB chẳng có gì cần bí mật, khi chưa hề có văn bản hay chỉ thị miệng của cấp thẩm quyền nói rằng tập thơ bị cấm lưu hành. Vả lại, ở cái quán rượu 43 Lý Quốc Sư mà Hoàng Cầm sống nhờ vào đó từ nhiều năm, lúc nào cũng chật khách trầm ngâm say và âm u khói thuốc, trong đó hầu hết là những người yêu văn nghệ “ngoài luồng”, và không ít “đặc tình” (cộng tác viên, nói nôm na là chỉ điểm của CA), “cá chìm” (tiếng lóng để chỉ trinh sát công an thường phục), thì có gì liên quan đến ông Hoàng “thơ chui” này mà giữ kín được! Nhưng muốn hiểu vì sao có vụ án “Về Kinh Bắc”, phải ngược thời gian lên mười năm trước, khi một số bài trong bản thảo VKB bắt đầu được truyền tay hơi rộng trong giới yêu thơ, trong đó ba bài “Cây tam cúc”, “Lá diêu bông”, “Quả vườn ổi” (thường được gọi là bộ ba cây-lá-quả) được mến mộ nhất – phần quan trọng vì chúng được xì xầm diễn giải như lời oán trách của “em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng), đại khái “em” yêu “chị”, nhưng “chị” đã lừa “em”, cho “em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “em” bơ vơ để đi lấy chồng… Theo Hoàng Cầm kể, thì năm 1974, CA Hà Nội có kêu tác giả lên răn đe về việc lưu truyền những bài thơ “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phải ngưng, nhưng sau 1975, với không khí hào hứng của những ngày “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng”, VKB lại có thêm độc giả ở miền Nam, và đến 1979, sự giao lưu với nước ngoài bắt đầu được cởi mở hơn, một số Việt kiều đã có được một số bài thơ chép tay của nhà thơ, trong đó dĩ nhiên “bộ ba cây-lá-quả” vẫn đứng đầu bảng. Hoàng Cầm có kể đích danh một nữ bác sĩ xưng tên là Cần Thơ ở Pháp đã xin ông gửi cho một số bài thơ, sau này bà cho biết bà là đệ tử của thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Làng Mai. Trong khi xét hỏi bản thân tôi, một sĩ quan CA cho biết: VKB bắt đầu thành vấn đề nghiêm trọng chính là vì mấy bài thơ này được in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống đối chính trị. Theo Hoàng Cầm thì CA có đọc cho ông nghe bài viết ấy trên báo Đất Mẹ (Quê Mẹ?)

Tóm lại, chậm nhất là vào mùa thu 1982, một chuyên án VKB đã được mở ra, với mục đích ngăn chặn việc đưa bản thảo này ra nước ngoài và bắt tội tác giả của nó, hoặc đơn giản chỉ là mượn cớ việc chuyển bản thảo này ra nước ngoài để trừng trị tác giả cho bõ ghét. Theo Hoàng Cầm thì khả năng 2 là chính, ông nhất định cho rằng chính Tố Hữu là người chủ trương, vì căm ghét Hoàng Cầm đã dám chê thơ ông ta (vụ phê bình tập Việt Bắc năm 1956), chưa kể đã “dám nổi tiếng” hơn ông ta trong kháng chiến! Và cũng theo Hoàng Cầm, để làm việc này, Tố Hữu đã sử dụng một số “CA riêng” của mình.

Thế là trong lúc một cái lưới đang giăng ra xung quanh quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, thì tôi ở Sài Gòn ra, vô tình chui vào đó, trở thành con cá to (?) cuối cùng để CA cất vó!

Vì sao định mệnh lại chọn tôi làm con cá oan nghiệt kia? Suốt mấy năm trời trong trại giam tôi vẫn tự hỏi, vì xét theo logique, tôi chẳng thể nào hình dung mình có ngày “ách giữa đàng đâm quàng vào cổ” như thế.

Bởi lẽ thứ nhất: từ khi Hoàng Cầm hoàn thành VKB (mùa Xuân 1960) cho đến tháng 8 năm 1982, đã có hàng trăm bản chép tay của nó được lưu truyền, mà không thấy ai làm sao, cũng không ai phổ biến lệnh cấm dù chỉ là lệnh miệng. Lý lẽ này tôi lặp đi lặp lại trong các buổi hỏi cung, tôi còn vặn lại người cán bộ xét hỏi: “Để một tài liệu ‘phản động’ tự do lưu truyền trong 20 năm như thế thì trách nhiệm của cơ quan an ninh ra sao?”. Tất nhiên họ không trả lời được. Và hậu quả của sự “cứng đầu” cộng với ngây ngô của một anh nhà-giáo-nhà thơ-đi-làm-báo tưởng rằng trên đời có thứ gọi là công lý, là tôi phải nhận đến 39 tháng tù trong khi “đầu vụ” chỉ có 16 tháng!

Lẽ thứ hai là quan hệ của tôi với tác giả VKB vốn không có gì mật thiết. Là một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của “thế hệ chống Mỹ”, nhưng vì “trót” đọc được tiếng Pháp, tôi sớm giác ngộ về “Chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người” qua những sách báo tiếng Pháp ở ngay trong Thư viện Quốc gia (Nhà nước cho rằng rất ít người biết tiếng Pháp nên không kiểm duyệt bỏ những ấn phẩm tiếng Pháp “nhạy cảm” được nhập vào đó theo con đường viện trợ, trao đổi). Đó là thuyết “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” của Roger Garaudy, một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, những tư tưởng “xét lại” của George Lukács, nhà lãnh đạo cộng sản Hungary, tiểu thuyết Docteur Jivago của B. Pasternak, các tài liệu về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, về những biến động ở Hungary, Tiệp Khắc… Những sách vở ấy cộng với thực tế nhiều phũ phàng mà tôi va chạm trong mấy năm dạy học và “đi thực tế sáng tác” ở vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, cộng với sự đổ vỡ niềm tin chiến thắng sau Tết Mậu Thân và cái chết của “Bác”, khiến tôi ngày càng hoài nghi sự đúng đắn của chế độ. Tất nhiên tôi cũng nhìn lại phong trào Nhân văn – Giai phẩm bằng con mắt hoàn toàn khác những gì Đảng dạy. Vì thế, cuối năm 1969, khi đã viết một số bài thơ “ngoài luồng” không thể công bố, tôi tìm đến làm quen với anh Văn Cao qua dịch giả Dương Tường. Chính Văn Cao là người đã khuyến khích tôi tiếp tục lối thơ “bàng thống” mà tôi đang bước vào. Anh trở nên thân thiết với tôi, và đã đứng chủ trì buổi tiếp bạn bè văn nghệ trong ngày cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1975. Với Hoàng Cầm thì khác. Không chỉ “có vấn đề” về tư tưởng, ông còn tai tiếng là con nghiện (thuốc phiện) và chủ quán rượu chui. Tôi – một nhà thơ trẻ đang được ưu ái, lại là nhà giáo và nhà báo của ngành giáo dục (Báo Người Giáo viên Nhân dân), cũng thấy ngại dây dưa! Mãi sau khi đã chuyển vào Sài Gòn công tác, tư tưởng ngày càng “diễn biến hòa bình” do tác động của cuộc sống và sách vở tàn dư của chế độ Sài Gòn, trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980, tôi mới tìm đến Hoàng Cầm, cũng do Dương Tường đưa dắt. Chính lần ấy, tôi được nhà thơ khoe một bản thảo VKB do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây – Lá – Quả đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ (trong đó có anh Phương Kiến Khánh, sau trở thành nhà thơ Chân Phương ở Mỹ).

Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982, định mệnh xui khiến tôi lại đến với Hoàng Cầm ngoài chủ ý. Một bữa tôi gặp Dương Tường trên phố, anh sốt sắng bảo tôi đến an ủi Hoàng Cầm vì nhà thơ vừa trải qua một bi kịch: con gái yêu của ông là nữ diễn viên kịch Hoàng Yến chết đột ngột – nghe đâu là tự tử. Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo VKB mượn lại của Lâm cà phê (chắc hẳn CA đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án VKB đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo ở phố Bát Đàn, nhờ ông này mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay. (Chỗ này, nhân thể nói bài nghiên cứu của tác giả người Đức Heinz Schütte công bố trên talawas 31/7/2010 có chỗ lầm: ông cựu giám đốc NXB Minh Đức sau khi ra tù không bị chỉ định cư trú ở Nam Định cho đến chết, ông đã được về lại Hà Nội từ lúc nào đấy, và vào năm 1982, ông đang chuẩn bị mở quán ăn để sinh sống tại số 5 (?) Bát Đàn. Thế là việc chép tay VKB tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ VKB, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân. Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh nguyên là giáo viên cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Công an, vì anh là cháu ruột ông tướng CA nổi tiếng Nguyễn Công Tài. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng!

Bìa tập thơ “Về Kinh Bắc” do Trần Thiếu Bảo vẽ

Ngày Hoàng Cầm hoàn thành việc chép VKB, tôi muốn nhân đó có một cuộc liên hoan nhỏ với các bậc đàn anh để ăn mừng và cũng là để chia tay lên đường vào lại Sài Gòn. Ông Trần Thiếu Bảo đề nghị làm ngay tại nhà ông ấy, như cũng để khai trương quán của ông. Đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch và cũng là đồng phạm của ông trong vụ xử án “gián điệp phản động Nhân văn – Giai phẩm” năm 1960. Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự (có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại; tôi tuy vong niên nhưng được các đàn anh cư xử như kẻ ngang hàng), ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối siêu thực (Trước đó ít lâu, tôi có khoe một tập bản thảo thơ “chui” của mình cho một số bạn văn nghệ ở Hà Nội, trong đó có Nguyễn Thuỵ Kha, tập thơ gây ấn tượng khá mạnh vì sự phá cách của nó. Ông Bảo xin mượn ít hôm). Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.

Bìa tập thơ Hoàng Hưng do Trần Thiếu Bảo vẽ

Những ngày sau đó, tôi lo chuẩn bị để lên đường, nên định bụng trước khi đi mới đến nhà ông Bảo lấy lại hai tập thơ. Không hiểu sao ông Bảo rất sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà bà chị tôi (là nơi tôi ở nhờ trong thời gian lưu lại Hà Nội) thúc giục tôi tới lấy! (Sau mới ngã ngửa ra là Trần Thiếu Bảo bị CA khống chế, phải làm chỉ điểm cho họ, ít ra là trong vụ VKB này. Nếu vì lý do gì đó mà tôi không đến lấy hai tập bản thảo, thì vụ án bị hẫng to!)

Hoá ra họ đã sắp xếp rất chu đáo để “cất vó” VKB mà tôi là một con cá hẩm hiu ở đâu đến chui đầu vào lưới. Sau này một anh CA quen thân với gia đình anh cả tôi còn cho biết họ đã bí mật theo dõi, quay phim tôi suốt nửa tháng trời mà tôi không hề để ý!

Hoàng Hưng trước ngày bị bắt tháng 8/1982

Chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ ở A25, sau này sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”, và anh Thuận, trợ lý của ông, sau này sẽ là Cục phó Cục chống Bạo lọan. Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra, lên xe đạp phóng. Được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.

Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hoả Lò!

Ngày 20/8/1982 thì đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Còn Nguyễn Mạnh Hùng, khi ấy đang ở Sài Gòn chuẩn bị bay về Canada. May được Dương Tường kịp báo hung tin, anh gửi ngay tập bản thảo VKB cho Cao Xuân Hạo giữ, ra sân bay vô tang. (Tuy nhiên, khi khám xét hành lý của tôi, CA thu được một bức thư Hoàng Cầm nhờ tôi đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng khi vào Sài Gòn, thư dán kín nên tôi không biết nói gì trong đó). Hùng bị cấm cửa về Việt Nam trong suốt 20 năm. Chuyến anh trở lại Việt Nam sau 20 năm ấy, lần đầu tiên hai người “đồng phạm” bất đắc dĩ chúng tôi mới gặp nhau.

Sau khi tôi và Hoàng Cầm bị bắt, tin đồn lung tung, có cả tin tôi bị bắt vì mang thuốc phiện lậu! Theo nhà báo Trần Đức Chính, TBT tờ báo của Hội Nhà báo VN, thì có tờ báo hồi ấy đăng tải cả một chuyện vụ án mang tên “Vụ án hai ông Hoàng” với nhiều tình tiết ly kỳ! Gần đây, một số sách báo ở nước ngoài và trên mạng vẫn viết là Hoàng Hưng bị bắt vì âm mưu chuyển tập thơ VKB vào sứ quán Pháp! Mới biết trí tưởng tượng của người ta phong phú thật!

Kết cục của vụ án tóm tắt như sau: Hoàng Cầm sau mấy tháng bị giam thì kiệt sức vì bị khủng bố tinh thần liên tục mà lại không có nàng tiên nâu trợ lực, phải nhận tội phản động, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống chế độ, để mong sớm được ra.

Tôi không thể nào quên cái buổi sáng ấy trong Hỏa Lò. Sau mấy tháng không thuyết phục được tôi thừa nhận VKB là “phản động”, CA để tôi nghỉ một hơi dài. Rồi bỗng một hôm tôi lại được gọi đi “làm việc”. Người CA đưa tôi vào một phòng hỏi cung, nhưng không có ai trong đó. Mà lại có một tập giấy thếp viết sẵn để trên bàn. Tôi tò mò giở ra, thì… trời ơi, đó là bản tự khai của Hoàng Cầm, tôi nhận ra chữ viết rất nắn nót, đẹp, của ông. Tôi đọc lướt, càng đọc càng hoang mang vì ông nhận tuốt tuột các ý tưởng chống Đảng, đả kích chế độ… trong tập thơ. Để cho tôi một mình đọc xong, người ta mới đưa tôi trở lại phòng giam. Và họ bố trí rất khéo, để như tình cờ tôi gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở cổng chờ (giữa khu trại giam và khu “làm việc” có một cái cổng lớn, sau khi “làm việc” xong phạm nhân ngồi đó chờ “quản giáo” ra nhận để đưa vào buồng giam). Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau. Với tôi, tự buộc mình phải hèn để có thể tồn tại là điều không gì đau hơn cho một kẻ sĩ.

Nhưng trong lúc Hoàng Cầm ngong ngóng CA thực hiện lời hứa (?) cho về vào dịp Tết, thì một số trí thức Pháp do Thiền sư Thích Nhất Hạnh vận động đã gửi thư cho Lê Đức Thọ đề nghị thả nhà thơ. Tin đến tai Tố Hữu, ông “bạn thơ” quý hoá phán một câu xanh rờn: “Nước ngoài can thiệp hả? Thế thì giam thêm 1 năm nữa cho biết!” (theo lời Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi, đăng trên talawas mở đầu tập VKB 5/4/2007). Thế là Hoàng Cầm bị giam tổng cộng 16 tháng (20/8/1982 – trước Noel 1983).

Còn bản thân tôi, chỉ vì tội bướng, mà bị CA lục tung nhà trong Sài Gòn suốt một ngày trời. Họ tìm ra một số trang nhật ký bằng văn vần làm từ đầu thập kỷ 1970 mà CA nhận định là “phản động gấp 100 lần thơ Hoàng Cầm” (lời ông Khổng Minh Dụ)[2]. Sau gần ba năm điều tra rất công phu mà không tìm thấy gì chứng tỏ tôi nằm trong đường dây liên lạc với bọn “văn nghệ sĩ phản động hải ngoại”, cuối cùng, nhờ là “cán bộ nhà nước phạm tội lần đầu”, tôi được đặc ân “chỉ xử lý hành chính nội bộ chứ không bị truy tố ra toà” (lời viên CA khi công bố lệnh “tập trung cải tạo” dành cho tôi). Mãi đến cuối năm 1985, nhờ không khí chính trị có phần nới lỏng trước Đổi mới, và nhờ người anh ruột là bác sĩ phục vụ các cán bộ cao cấp đứng ra bảo lãnh, tôi mới được về sau 39 tháng tù, với cái lệnh tha mang tội danh được cải thành “lưu truyền văn hoá phẩm đồi trụy” (!) Không hiểu sao lại có sự cải đổi từ “văn hoá phẩm phản động” sang “đồi trụy” như thế? Chắc là CA không muốn có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ có tội danh “phản động” trong luật pháp Việt Nam, cũng như họ không bao giờ thừa nhận có “tù chính trị” vậy. (Những người bạn vong niên của tôi bị tù đầy trong vụ án “xét lại” khi ra tù không ai được cầm lệnh tha hay giấy ra trại!)

Một điều an ủi lớn cho tôi: bị nhà nước bỏ tù, nhưng tôi được đồng nghiệp bạn bè cảm thông. Thời gian tôi bị bắt, có chuyện được coi là hy hữu: Báo Người Giáo viên Nhân dân, cơ quan tôi, hết sức bênh vực tôi. Báo còn trả lương đều đặn và gửi quà cho tôi, bất chấp CA phàn nàn; phải 2 năm sau, khi CA công bố lệnh tập trung cải tạo với tôi, báo mới đành ngưng việc ấy và Bộ Giáo dục mới ra quyết định “cho ông Hoàng Hưng thôi việc vì vi phạm pháp luật bị tập trung cải tạo” (chứ không “buộc thôi việc” như thường thấy trong các vụ tương tự). Người có vai trò lớn trong chuyện này là nhà báo Trường Giang, Bí thư Chi bộ Đảng, Thư ký Toà soạn báo NGVND. Ở Sài Gòn, gia đình tôi lâm vào cảnh “vợ dại con thơ” cực kỳ khốn đốn, có những bữa phải ăn chuối trừ bữa, nhưng bù lại đã nhận được sự thông cảm yêu thương của tất cả bà con khu phố, kể cả anh cảnh sát khu vực, của các thầy cô gíao dạy cháu Hoàng Ly.

Sau khi ra tù, Hoàng Cầm mất hằng năm trời sống trong trạng thái thường trực hoảng loạn, hậu quả của thời gian tù ngục. Nhờ sự động viên của bạn bè văn nghệ ông mới dần dần hồi phục. Sau Đổi mới, thơ Hoàng Cầm bắt đầu tái xuất, nhưng riêng VKB còn bị CA ngăn trở dài dài cho đến tận năm 1994 mới ra mắt được. Hoàng Cầm trở thành gương mặt của truyền thông không thua gì các “sao”, cuối cùng ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học (2007). Tuy nhiên, cho đến khi ông qua đời (tháng 5/2010), chính quyền không hề có một lời minh oan hay xin lỗi, đừng nói gì đến bồi thường cho những năm tù đầy oan ức của ông.

Gặp gỡ ở nhà Hoàng Hưng (Sài Gòn) sau Đổi Mới: từ trái sang: vợ chồng Hoàng Hưng, nhà điêu khắc Trương Đình Quế (?), vợ chồng Văn Cao, Hoàng Cầm, nhà điêu khắc Nguyễn Hải

Còn tôi, ngay sau khi tôi ra tù, GS Nguyễn Văn Hạnh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, thầy dạy cũ của tôi ở Khoa Văn Đại học Sư phạm, ngỏ ý sẵn sàng nhận tôi làm việc ở cơ quan Bộ. Nhưng tôi chọn tiếp tục nghề báo, và năm 1988, tập Ngựa biển bao gồm hầu hết những bài thơ trong tập bản thảo của tôi bị CA tịch thu năm 1982, là tập thơ “ngoài luồng” đầu tiên tự xuất bản ở nước ta sau Đổi mới, nhờ được anh Trương Văn Khuê, Giám đốc NXB Trẻ cương quyết bảo vệ. Từ đó tôi in thơ bình thường. Riêng tập thơ Ác mộng viết về những trải nghiệm tù đầy thì đến nay vẫn bị các nhà xuất bản từ chối. Tuy nhiên một số bài trong đó đã được công bố nhờ sự “chịu chơi” của nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB Văn hoá – Thông tin, rồi sau đó bài “Người về” được đưa vào những tuyển thơ quan trọng nhất; bản tiếng Anh của nó (Nguyễn Đỗ và Paul Hoover dịch) được đưa vào dự án Tổng tập văn học thế giới của một tập đoàn xuất bản quốc tế danh tiếng. Riêng có chuyện xuất cảnh thì tối kỵ. Chắc người ta ngại tôi ra ngoài sẽ trở thành nhân chứng sống cho “thành tích nhân quyền” của chế độ. Mãi đến năm 2000, do một đồng nghiệp bảo lãnh trực tiếp với ông Tổng cục trưởng An ninh, tôi mới được ông đích thân cho phép ra khỏi nước mà không kèm “điều kiện” nào.

Có hai chuyện thú vị về “hậu vụ án VKB”:

Năm 2002, khi tôi về hưu tại báo Lao động, do khiếu nại của tôi, báo Lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kiến nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trả lương hưu cho tôi theo cả thời gian làm việc trước khi bị bắt (quy định phi lý phi nhân của Bộ này là vứt bỏ hết thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên trước khi họ bị kỷ luật hay bắt giam, như đã áp dụng với nhà văn Bùi Ngọc Tấn). Lý do được nêu rõ trong công văn: Ông Hoàng Hưng bị bắt giam vì cầm tập thơ VKB của Hoàng Cầm mà thời đó coi là phản động, nay xã hội đã có nhìn nhận khác, quyền lợi của ông Hoàng Hưng phải được trả lại. Kiến nghị bị từ chối. Nhà báo Nguyễn Thị Hằng Nga, đại biểu Quốc hội, bèn đưa thẳng hồ sơ cho bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng, thế là Bộ này quay 180 độ, đổi ngay quyết định, phá lệ!

Năm 2005, trên một chuyến bay từ TPHCM ra Hà Nội, tình cờ tôi ngồi ngay bên cạnh một viên CA trực tiếp hỏi cung tôi trong vụ VKB. Quả đáng tội, hồi đó ông và tôi đã từng khá căng thẳng với nhau. Nay ông giữ một chức vụ quan trọng trong ngành an ninh. Ông vui vẻ chủ động bắt chuyện. Ông nói nhiều chuyện về văn nghệ, rồi bỗng bảo tôi thế này: “Tập thơ VKB hay thật! Anh phải viết một kịch bản phim về nó đi! Tôi biết chỉ có anh là viết được thôi!”

Lạy Trời! So với bao nhiêu người chịu oan khiên cho đến lúc chết mà chẳng ai biết đến, như ông Lê Nguyên Chí trong vụ Nhân văn – Giai phẩm chẳng hạn, thì Hoàng Cầm và tôi thế là còn có phúc lắm! Nhớ lại lời ông CA họ Khổng phán khi tôi cãi rằng nhật ký của tôi để trong nhà, có lưu truyền đâu mà các ông bắt tội? Ông nói ngay: “May cho anh đấy! Anh mà lưu truyền thì đi tù không có ngày về”.

Kỷ niệm 25 năm ngày ra tù (30/10/1985 – 2010)


[1] Lê Hoài Nguyên nhớ nhầm là năm 1983

[2] Tôi chỉ còn nhớ vài đoạn, đại khái như sau:

… Các anh bảo chúng tôi

Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp

Chúng tôi đi

Vì không sợ chết

Chúng tôi chết

Vì sợ sống hèn

Nhưng sẽ ra sao cái ngày mai ấy?

… Chúng tôi đấy

Đều ngoan ngoãn cả

Anh vừa lòng chứ ạ?

Vâng, chúng tôi cứ khoanh tay ngoan ngoãn ngồi nhìn

Sự nặng nề ngu độn của các anh

Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển

Nguồn: http://www.talawas.org/?p=24264

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng nói:

Cước chú cho Vụ án “Về Kinh Bắc”, một sự kiện “Hậu Nhân văn”

Nhân đọc bài viết của Hoàng Hưng, xin chỉnh cho thật chính xác dăm điều riêng tư: từ vụ án VKB tôi phải đợi 6 năm, đến 1988, mới được về Việt Nam trong một phái đoàn GS Đại học Canada được Bộ Ngoại giao tiếp đón. Đến năm 1990, mặc dầu có giấy mời của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương, về đến Nội Bài thì tôi được lịch sự mời ra… với lý do gì đến nay tôi cũng chưa biết, nhưng đoán là sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì phải cấp tốc xây hàng rào bảo vệ Hà Nội. Xin visa vài lần sau đó mà không được, tôi biết thân mình, nhưng khi Trịnh Công Sơn viết thư nói: “mình hết thời gian rồi”, tôi có gặp bà Đại sứ Việt Nam thuở đó, xin và được phép về năm 1998. Như vậy, thời gian tôi bị cấm cửa không đến 20 năm như Hoàng Hưng viết: chúng tôi chưa bao giờ kể lể những chuyện này. Nhưng thôi, 20 hay 14, 15 năm thì cũng thế, vù đi một cái là hết kiếp phù sinh. Cái oái oăm là có những nghịch lý khó chấp nhận: khi Sơn đến Quebec thăm tôi năm 1992, anh biết tôi ấm ức, bảo: “cứ coi họ là những đứa bé nghịch ngợm lấy chân di một đàn kiến…”. Ngẫm nghĩ, anh an ủi cả anh lẫn tôi, tiếp: “nhưng rồi đứa bé ấy cũng phải lớn lên chứ”. Lớn lên thế nào không biết, nhưng lớn đủ để chính thức nói một lời xin lỗi những con kiến càng cỡ Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… thì chưa!

Hoàng Hưng nhắc tập VKB có tranh minh họa của Bùi Xuân Phái khiến tôi nhớ đêm Giáng sinh năm 81. Cùng Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, và Văn Cao đến cà phê Lâm (toét), tôi đã giở từng tờ, lắng mình trong ánh đèn dầu một tốí Hà Nội mất điện. Tập thơ thật đẹp, và thơ thật hay. Bây giờ, nó lưu lạc đâu rồi? Sau khi được “phục hồi”, Hoàng Cầm in VKB, giấy đen, mực lem nhem, gửi cho tôi, đề “gửi em để nhớ một năm đầy oan nghiệt nhưng cũng đầy hạnh phúc”. Kèm VKB, anh cũng gửi tôi tập Ngựa biển của Hoàng Hưng, dặn thơ hay phải đọc. Đấy, cái tội độc nhất của chúng tôi là yêu thơ. Nhưng có tội, bỏ tù hay bắt lưu đầy, cho chúng mày biết tội! Tội của những con kiến… Thế thôi, mà sao vẫn cứ chạnh lòng!

—–

Phùng Tường Vân nói:

Đốt Lò Hương Cũ

Trần Thiếu Bảo, nguyên gia đình có một ngôi nhà lớn ở Phan Bội Châu, Hà Nội, bị tịch thu và được sử dụng làm Tòa Đại sứ của Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức), sau khi ra tù ít lâu ông được cho về cư trú tại Hà Nội đúng như tác giả Hoàng Hưng đã cho biết và được cấp “đền bù” một căn nhà nhỏ đúng là ở 5 Phố Hàng Bát Đàn, nhỏ lắm, tuy nhiên không phải là mở quán càfé mà khi tôi đến đấy thì đó là một cửa hàng “Cho Thuê Sách”, một dịch vụ trước đây không có ở Hà Nội, văn nhân , thi sĩ dập dìu đông lắm.


Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Muốn đất nước phát triển, trước hết phải chấn hưng giáo dục

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2010

Cần thiết phải thay đổi lại chương trình giảng dạy của nền giáo dục cấp 1, 2,3 và đại học.
1./Bỏ hẳn môn học không có ích và mất thời giờ như: chính trị Mác-Lenin và thay vào giờ đó bằng môn học anh văn hoặc thể dục thể thao.
môn tiếng Việt: bỏ tất cả sách giáo khoa vể môn tiếng Việt và viết lại sách khác không lồng khuynh hướng chính trị trong đó khi dạy cho học sinh.
môn lịch sử: bỏ hết sách lịch sử hiện nay, viết lại sách lịch sử khác để dạy cho học sinh.
 
2./Tăng lương cho các thầy giáo cô giáo lên ở mức 9-15 triệu đồng/ tháng để họ không cần đi dạy thêm. (giảm bớt số lượng công an phường và bãi bỏ luôn các ban ngành trong UBND phường/quận để dùng tiền lương nầy trả cho các thầy cô).
 
3./ Mời các  Việt kiều về giảng dạy.
 
(còn tiếp…)
 
 
 
 

Cái cốt lõi là phải chấn hưng giáo dục

Nguyễn Tiến Dũng

Lời Tòa Soạn Diễn Đàn: Nhân sự kiện Ngô Bảo Châu được giải Fields, báo Pháp luật TP HCM đã bắt đầu từ ngày 13.9.2010 một loạt bài dưới nhan đề chung “Nhân tài toán học ngày ấy, bây giờ”. Trong phần dẫn của loạt bài, nhà báo Đoan Trang viết:”Giờ đây, khi những niềm vui sướng, tự hào, phấn chấn đã có phần lắng xuống, bắt đầu nảy sinh những câu hỏi liên quan, đòi hỏi xã hội và những nhà làm chính sách phải cân nhắc: Toán hay không toán? Toán lý thuyết hay toán ứng dụng? Tại thời điểm này, đầu tư phát triển toán học là sự xa xỉ hay thể hiện tầm nhìn dài hạn của quốc gia? Thực trạng ngành toán Việt Nam và những trở ngại cần vượt qua để tạo môi trường cho sự phát triển?“.Sau ba nhà toán học đang làm việc trong nước, Vũ Đình Hoà, Phùng Hồ Hải, Hoàng Lê Minh, tờ báo giới thiệu những ý kiến của một nhà toán học hiện định cư tại Pháp: Nguyễn Tiến Dũng, giáo sư đại học Toulouse. Trên blog của mình, Nguyễn Tiến Dũng nói rõ tâm tư của anh khi nhận trả lời phỏng vấn:”Tôi không “ham hố” gì việc phỏng vấn này, nhưng hy vọng là có những ý trong các câu trả lời sẽ lọt tai dư luận, trong đó có những người sẽ có quyền quyết định cho định hướng của VN.

Được sự đồng ý của tác giả, Diễn Đàn xin trân trọng giới thiệu dưới đây nguyên văn bài trả lời phỏng vấn của anh, với nhan đề của PLTPHCM.

1. Anh/ chị vui lòng cho biết sơ lược về quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu của anh/ chị từ sau khi dự thi Olympic Toán Quốc tế: học những trường nào, ngành nào, ở nước nào, thời gian nào? công tác tại những cơ quan nào, bao giờ?

Sau khi thi toán Olympic thì tôi được Bộ GD-ĐT cử đi Nga học ngành toán tại trường Lomonosov (Tổng hợp quốc gia Matxcơva) từ 1986 đến 1991. Sau đó tôi được mời sang ICTP (Trung Tâm Vật Lý Lý Thuyết Quốc Tế, Trieste, Italia) dưới dạng “visiting mathematician” 2 năm, rồi tôi làm NCS ở SISSA (Trieste) 1 năm, bảo vệ PhD ở Strasbourg (Pháp) năm 1994 rồi tiếp tục ở lại SISSA thêm 1 năm làm post-doc. Đến năm 1995 thì tôi sang viện Max-Planck (Bonn) làm post-doc một thời gian, đồng thời được nhận làm nghiên cứu viên của CNRS tại Montpellier từ cuối 1995. Tôi ở Montpellier cho đến năm 2002. Năm 2002 tôi được nhận làm GS tại Toulouse, và ở đó cho đến nay.

2. Anh/ chị gặp những khó khăn gì trong quá trình học tập và nghiên cứu ở nước ngoài?

Giai đoạn học ở Nga khá là khó khăn. Trước khi đi Nga tôi cứ nghĩ đó là thiên đường, nhưng sang rồi mới biết thực tế không phải vậy. Liên Xô lúc đó đang tan rã, có lúc thậm chí thực phẩm khan hiếm đến mức không có gì mà ăn, đi mua chợ đen thì quá đẳt, ôm bụng đói meo. Ban quản lý lưu học sinh của VN thì không giúp đỡ SV, mà trái lại coi SV như “nguồn thu nhập”. Các bạn bè cùng năm với tôi ở Nga hầu hết đều buôn bán kiếm sống, ít ai có thể tập trung học hành trong môi trường như vậy. Tôi cũng theo bạn đi buôn, được một ít tiền nhưng rồi không may lại bị mất trộm hết.

Tôi tốt nghiệp đại học và đi khỏi Nga năm 1991 cũng đúng vào lúc xảy ra đảo chính ở Nga. Chuyện ở lại Nga làm tiếp NCS không đặt ra nữa, và tôi có ý định đi đâu đó theo bạn bè buôn bán kiếm sống. Nhưng đúng lúc đó anh Lê Tự Quốc Thắng và tôi cùng được mời từ Matxcơva sang dự một hội nghị ở ICTP (Italia). Bản thân chuyện chạy giấy tờ, vé và visa để sang được Italia là một cực hình. Khi sang đến ICTP, qua chị Lê Hồng Vân giới thiệu, tôi được họ mời ở lại làm việc 2 năm, và do đó “kế hoạch đi buôn” gác lại, và tôi tiếp tục học toán.

Từ khi sang Pháp, trong vòng rất nhiều năm, do hoàn cảnh gia đình [ở VN gặp rủi ro], tôi có khó khăn lớn về tài chính, lương không đủ để sống và trả nợ, nên luôn nghĩ đến việc đổi nghề kiếm nghề khác có thu nhập cao hơn. Nhưng có lẽ do “ngu ngốc”, thiếu người dẫn dắt, và “nghiệp chướng”, nên tôi đã có những lần thử làm nghề khác nhưng chưa lần nào thành công, trong khi đó thỉnh thoảng có làm toán nghĩ ra định lý gì đó.

3. Anh/ chị đã bao giờ có ý định trở về VN sống và làm việc chưa? Tại sao có và tại sao không?

Tôi có từng nghĩ đến khả năng về sống ở VN, tuy nhiên vấn đề hiện tại chưa đặt ra, do điều kiện và hoàn cảnh chưa thích hợp. Ở Việt Nam, để có được chất lượng cuộc sống tương đương như ở Toulouse (nhà cửa, học hành cho con cái, môi trường, v.v.), thì tốn nhiều tiền hơn là ở Toulouse. Con tôi học trường tốt không mất tiền, nếu ở VN chi 1000 đô la một tháng cho mỗi con chưa chắc được học trường tương đương như vậy. Tôi không hề có nhà ở VN, và nếu về VN cũng không có tiền mua nhà, không biết ở vào đâu. Một nghịch lý lớn của Việt Nam là nước thì nghèo mà nhà đất thì đắt hơn phương Tây. Bạn bè tôi nhiều người kinh doanh thành triệu phú ở VN, bảo tôi sao không về VN làm ăn (chứ không phải về làm khoa học), cũng có thể thành triệu phú. Họ nói có lẽ đúng, có điều đổi lại sẽ mất nhiều thứ khác.

4. Anh/ chị đánh giá như thế nào về nền toán học Việt Nam, trên tất cả các khía cạnh: chất lượng đào tạo, số lượng và chất lượng đội ngũ nghiên cứu, môi trường làm việc, tinh thần làm việc, chế độ đãi ngộ của Nhà nước nếu có?

Một thống kê gần đây của GS Lê Tuấn Hoa cho thấy, tính về số lượng công trình toán học công bố quốc tế, toàn bộ Việt Nam mới chỉ bằng Viện Toán Toulouse chỗ tôi làm việc. Một thống kê khác cho thấy mỗi bài báo khoa học của người làm toán ở Việt Nam chỉ được trích dẫn trung bình khoảng 2 lần, thấo hơn nhiều so với trung bình của thế giới, và phần lớn số lượt được trích dẫn tập trung ở một nhóm nhỏ khoảng hai ba chục nhà toán học hàng đầu trong nước. Như vậy, về mặt nghiên cứu, chúng ta còn đang rất yếu so với thế giới cả về số lượng và chất lượng.

Môi trường làm việc trong khoa học ở VN còn quá khó khăn và nhiều tiêu cực. Đãi ngộ của nhà nước đối với các nhà khoa học VN thì thua xa so với đãi ngộ của các nước nghèo tương tự ta, ví dụ như Senegal hay Pakistan. Những nước này cũng trả được lương cho giáo sư vài nghìn đô la một tháng trở lên, gấp đến chục lần VN.

Về chất lượng đào tạo, tôi thấy nhiều học sinh sinh viên Việt Nam thông minh, nhưng bị ảnh hưởng xấu của thói học vẹt và danh hão. Tôi có phỏng vấn nhiều sinh viên điểm thi đạt loại giỏi nhưng khi hỏi những câu khá cơ bản thì họ ngớ ra không trả lời được. Chương trình đại học thì mất quá nhiều thời gian vào những môn mà ở nước ngoài người ta không dạy.

Về tinh thần làm việc, nhiều đồng nghiệp của tôi ở VN vẫn có tinh thần rất cao, có điều họ mất quá nhiều thời gian lao lực cho những việc mà họ bắt buộc phải làm để tồn tại, nên không còn có nhiều thời gian cho cái mà họ thích làm.

5. Anh/ chị có cho rằng tại thời điểm này, VN nên đầu tư vào khoa học cơ bản? Tại sao nên hoặc không nên?

Theo tôi, câu hỏi cần đặt ra không phải là “nên hay không nên”, mà là “nên như thế nào, ở mức độ nào”. Không thể trở thành nước giàu nếu chỉ làm gia công thuê mà không phát triển công nghệ. Không thể phát triển công nghệ, nếu không có nền tảng khoa học cơ bản, không có những người hiểu biết về khoa học cơ bản để truyền đạt kiến thức cơ bản cho người khác sử dụng và làm điểm tựa cho những người làm công nghệ. Ví dụ, muốn có nhà máy điện nguyên tử, thì không phải cứ mua về là xong. Khâu quan trọng nhất là làm sao đảm bảo an toàn khi hoạt động, mà muốn đảm bảo an toàn thì không thể thiếu một đội ngũ chuyên gia về vật lý nguyên tử theo dõi nó. Một người làm khoa học cơ bản ở VN, kể cả khi không có được công trình lý thuyết tầm cỡ quốc tế nào, nhưng nếu người đó chịu khó theo dõi nắm bắt tình hình quốc tế để nâng cao trình độ, rồi truyền đạt lại kiến thức cho các thế hệ sau và cho những người cần ứng dụng các kiến thức đó, thì cũng là có đóng góp quan trọng cho xã hội.

6. Theo anh/ chị, Nhà nước, nếu đầu tư vào khoa học cơ bản, nên đầu tư cụ thể vào việc gì?

Theo tôi, cần đầu tư sao cho xây dựng được nền tảng vững vàng, để có thể phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Khi có nền tảng vững vàng, môi trường thuận lợi, thì các giải thưởng hay thứ hạng cao trên thế giới tự nó sẽ đến với ta. Nhưng đừng có lấy giải thưởng hay thứ hạng làm mục tiêu đầu tư, cái đó là kiểu “thi thố” chạy theo danh hão.

Cần đặc biệt chú trọng đầu tư cho việc chấn hưng nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đây cũng là trách nhiệm của giới khoa học, chứ không phải chỉ là việc của Bộ GD-ĐT. Việc đổi mới chương trình phổ thông cần có các nhà khoa học hàng đầu tham gia chủ trì, chứ đừng coi đấy chỉ là việc của các nhà giáo phổ thông, bởi vì cần có tầm nhìn cao và rộng mới dễ hiểu hơn cái gì là quan trọng, cái gì là cần biết nhất, và cần học như thế nào cho dễ tiếp thu kiến thức thực sự hơn. Chương trình giáo dục quá nặng về hình thức ở VN hiện nay có nguy cơ làm thui chột khả năng suy nghĩ và sáng tạo của nhiều học sinh, và tạo cho học sinh thói quen thích danh hão. Muốn có nền khoa học công nghệ phát triển, thì nền tảng giáo dục và văn hóa chung rất quan trọng.

Việc thứ hai là cần thay đổi một cách cơ bản cơ chế quản lý tài chính trong đại học và khoa học, đánh giá đúng mức hơn giá trị của đào tại đại học và nghiên cứu khoa học, để có thể nâng tỷ lệ đóng góp của nó cho nền kinh tế lên đúng với thực tế (thay vì chỉ bằng một phần nhỏ thực tế như hiện nay), thì từ đó mới có thể trả lương các giảng viên đại học và người làm hoa học xứng đáng và có đủ nguồn tiền để đầu tư cho khoa học.

Khoa học cơ bản cần được phát triển đồng bộ chứ không nên trọng ngành nào hơn ngành nào. Những người nào hay nhóm nào làm việc hiệu quả thì cần được ưu tiên đầu tư thay vì bình quân chủ nghĩa hay lâu lên lão làng. Những ngành nào đang tiếp cận sát được sát với ứng dụng thực tế hơn, thì cần tận dụng huy động đầu tư từ nguồn ứng dụng cho ngành đó, sẽ thuận lợi hơn cho sự phát triển. Những ngành nào đang rất thiếu hụt mà rất cần (ví dụ như ngành toán thống kê ở VN), thì cũng cần được đầu tư để khuyến khích thế hệ trẻ đi vào ngành đó cho cân bằng lại.

7. Anh/ chị có quan điểm thế nào về khoản đầu tư 651 tỷ đồng ngân sách để phát triển ngành toán ở VN?

Con số 651 tỷ, chi trong 10 năm, thực ra là một con số khá khiêm tốn nếu đem so với cả một nền toán học của một đất nước 90 triệu dân, với hàng nghìn người trực tiếp tham dự, và có ảnh hưởng đến hàng triệu học sinh sinh viên và toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung. Số tiền đó chỉ tương đương với 6km đường cao tốc, hay tương đương với tổng chi phí kể cả lương trong một năm của một viện như Viện Toán Toulouse. Ngành toán đang bị “suy dinh dưỡng” nặng từ lâu nay, quá ít người muốn “dấn thân” vì triển vọng thu nhập quá kém, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo dục đào tạo về toán ở mọi cấp, và không đáp ứng được nhu cầu ứng dụng toán học của xã hội. Tôi không tin số tiền này đủ để thúc nền toán học Việt Nam mạnh lên hơn so với thế giới. Tôi nghĩ nó sẽ làm cho Việt Nam đỡ thụt hậu thêm so với thế giới, vì ngay tại các nước còn nghèo khác người ta cũng đang đầu tư cho khoa học và trả lương cho người làm toán đàng hoàng hơn nhiều lần so với Việt Nam.

8. Anh/ chị có hạnh phúc với cuộc sống và công việc hiện tại?

Tôi thấy mình khá là hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại. Công việc thì luôn có rất nhiều việc để làm, nhiều cái chưa đạt được.

9. Nếu có một bạn trẻ ở VN muốn theo đuổi ngành toán lý thuyết, theo anh/ chị, bạn trẻ đó sẽ phải chuẩn bị tinh thần cho những khó khăn, trở ngại gì? Làm sao để vượt qua?

Hiện tại, muốn theo đuổi ngành toán lý thuyết, thì hoặc là phải có điều kiện kinh tế khá giả, hoặc là phải sẵn sàng hy sinh chấp nhập cuộc sống vật chất khó hơn hơn là nếu đi làm ngành khác. Muốn làm được tốt, có được các kết quả nhiều người quan tâm, thì phải có môi trường học tập và làm việc tốt (điều ở VN đang rất thiếu), với những người thầy hướng dẫn tận tình có tầm cỡ quốc tế, cộng với sự bền bỉ theo đuổi không nản chí trong nhiều năm.

10. Ở nước mà anh/ chị đang sống và làm việc, mức sống của nhà toán học lý thuyết so với mặt bằng trong xã hội ra sao? Nhà nước có đầu tư cho toán học không và theo cách nào nếu có? Nếu không thì lực lượng nào đầu tư cho toán học?

Ở Pháp không có sự chênh lệch đáng kể giữa lương ngành toán lý thuyết và lương các ngành khoa học khác. Nước Pháp có hệ thống phúc lợi xã hội rất cao, y tế và giáo dục hầu như miễn phí. Đổi lại lương công chức tương đối thấp. Vì các giáo sư ở Pháp là công chức nhà nước, nên lương tuy thuộc loại khá trong xã hội vẫn thấp hơn so với nhiều nước tư bản phát triển khác và thấp hơn những người có trình độ tương đương làm cho các hãng tư nhân. Nhà nước Pháp cũng nhận thấy sự kém cạnh tranh trong việc thu hút các nhà khoa học giỏi ở Pháp do lương thấp, và sự cần thiết phải đầu tư nhiều hơn cho khoa học. Họ đang tìm cách cải tổ, ví dụ như đưa ra chính sách thưởng cao hơn cho ai nghiên cứu tốt, tuy nhiên diễn biến của sự cải tổ này khá chậm do sức ỳ lớn. Ngoài đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu toán học, còn có đầu tư của nhiều hãng công nghiệp và công ty tài chính lớn cho toán ứng dụng, ví dụ như Airbus, Renault, BNP Paribas, v.v

Nguyễn Tiến Dũng

http://danluan.org/node/6438

http://www.diendan.org/viet-nam/nguyen-tien-dung-cot-loi-la-chan-hung-giao-duc/

—————-

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »