Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu 18th, 2009

Vì độc lập-vì tự do …vào vòng tay Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2009

Ngày 12.06.2009 Giờ 10:10

Biên mậu Việt Trung tại… Lục Ngạn

SGTT – Lục Ngạn – vựa vải thiều nổi tiếng khắp nước – cách cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn khoảng 120 cây số và cách cửa khẩu Lào Cai – Hà Khẩu hơn 300 cây số đường bộ. Cửa khẩu này là nơi “ăn” vải Lục Ngạn nhiều nhất hiện nay theo hình thức biên mậu. Nhưng đến Lục Ngạn mới thấy biên mậu đã tiến vào ngay trong lòng huyện vải này…

Thương nhân lề đường người Trung Quốc (người ở trần) đang định giá vải tại Lục Ngạn

Thương nhân lề đường

Trong 44.000 hecta trồng vải mang lại sản lượng 120.000 tấn vải năm nay của Bắc Giang thì vải của huyện Lục Ngạn là có chất lượng “xịn” nhất, nổi tiếng nhất, càng cao cấp khi tại huyện, đã có 2.500 hecta trồng được vải theo đúng quy trình GAP. Đến Lục Ngạn giữa chính vụ, sáng ngày 10.6, chúng tôi thấy trên trời dưới vải, vải tràn xuống lòng đường làm tắc nghẽn giao thông vì mỗi nhà vườn nườm nượp tự chở những sọt, thùng gỗ ngập vải đến cân tại các vựa dọc đường 31, con đường độc đạo nối tỉnh với huyện. Thông tin chính thức từ cán bộ huyện: 65 thương nhân Trung Quốc (đây là số có đăng ký) đang cắm sào ở đây, thu mua 60% sản lượng. Ở Lục Ngạn có thể gặp người Trung Quốc nhan nhản, họ thuê dân địa phương làm việc cho họ. Giá dịch vụ mà người Việt cung ứng cho họ cực mềm: 500đ/kg vải, gồm thuê văn phòng (là nhà của thương nhân người Việt) làm kho luôn, cân, bó chùm, đóng thùng. Tiền mua thùng xốp, đá, vận chuyển lên tới Hà Khẩu bổ đồng 3.000đ/kg. Họ trực tiếp giao dịch với người bán vải, trả giá, định giá, ghi phiếu cho người Việt cân, trả tiền. Quan sát các thương nhân Trung Quốc làm việc, họ cứ như là… đang ở nhà họ: quần Tiều, ở trần, khăn lông ướt trên lưng, tay cầm xấp phiếu và viết, phiên dịch Việt Nam túc trực bên cạnh. Nhà báo qua quan sát mà nhận ra anh chàng thương nhân Trung Quốc chừng 40 tuổi chứ không có ai giới thiệu và khi nhà báo hỏi thăm, phỏng vấn, anh ta lắc đầu, tỏ vẻ không hài lòng. Đứng hẳn xuống lòng đường, đón bất kỳ xe chở vải nào chạy ngang, “thương nhân lề đường” xem hàng theo cách của người hàng xáo, ra giá , chê mấy câu rồi quyết định giá tức thì, bảo người phiên dịch thông báo lại quyết định cho người bán, sau đó, hễ ông ta ghi phiếu là chấp nhận, xua tay là bất thành. Chỉ trong chớp mắt , thương nhân này có thể làm cho người này vui, người kia buồn, người này thành, người kia bại.

Một cô vừa bán sọt vải với giá 8.000đ/kg, thất vọng nói: “Giá thấp bằng phân nửa tuần trước, nhưng không bán ở đây, nơi khác họ cũng mua giá vậy thôi. Bán nhanh rồi về”. So với những bất hạnh của người nông dân bán cá giá thấp ở đồng bằng sông Cửu Long thì người bán vải ở đây bất hạnh hơn nhiều. Giá bán một ký trái vải chất lượng trung bình (không phải loại cao cấp ở Lục Ngạn) đang bán ở Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam) hôm nay là 9 tệ, tức 25.000đ Việt Nam.

Có một nghi vấn: hôm nay, giá mua vải ở biên giới Hà Khẩu là 5.000đ/kg. Họ mua như vậy thì nông dân Việt chỉ có thể khóc ròng vì giá bán thấp nhất ở Bắc Giang cùng lúc là 6.000đ, và giá người Trung Quốc mua thực sự tại Lục Ngạn là 10.000đ. Vì sao họ trả giá chỉ có thế? Phải chăng mức giá đó sẽ khiến những thương nhân Việt Nam tự phát chở vải lên biên giới sẽ cù cưa mãi vì lỗ nặng, cuối cùng chỉ còn có cách bán đổ bán tháo giá mạt rệp (vì chỉ hai ba ngày là vải đã xuống màu, thúi cuống khó bán) và sẽ chỉ có vải của mấy chục thương nhân lề đường Trung Quốc là xuất được?

Không thể bán cho doanh nhân Sài Gòn

Không thể nói chính xác mỗi ngày có bao nhiêu vải vào tay các thương nhân Trung Quốc nhưng có thể nói chắc chắn: vải cao cấp nhất, và 60% sản lượng là vào tay thương nhân Trung Quốc đang trực tiếp mua bán và định giá mỗi ngày tại đây. Thăm nhà Trương Văn Hùng, một trong những nông dân miệt mài thực hiện tiêu chuẩn GAP (thực hành nông nghiệp tốt), Hùng nói: “Họ mua mọi thứ như nhau, GAP cũng như loại thường”. Vườn vải gần một mẫu của anh, trái chín tươi ngon, giá hôm nay cũng đã bị sụt 1.000đ/kg so với hôm qua. Đứng nhìn nông dân bán vải, thấy họ không có sự tính toán chủ động, ai nấy đều muốn chen ngang bán cho được phần mình, và cứ mỗi lần có một người chen ngang được, thì mức giá lại tụt xuống một nấc nữa.

Bà Vũ Kim Hạnh, giám đốc trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA), một nhân chứng “hiện tượng biên mậu đang dời về Lục Ngạn”, nói: “Thị trường nội địa vẫn có nhu cầu lớn về trái vải. Nếu chúng ta kết nối được mạng lưới phân phối tại các trung tâm đầu mối với tổ chức của những nông dân trồng vải (không phải những hội hè kiểu công chức mà là tổ chức do họ tự thành lập với nhau để bảo vệ nhau) thì mới có thể thoát khỏi tình trạng bấp bênh nguy hiểm hiện nay là phó thác chuyện thu mua, định giá cho người Trung Quốc”. Phó chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn là người trăn trở về thực trạng này nói với bà Vũ Kim Hạnh: “Thị trường nội địa là quan trọng, nhưng chúng tôi đã vào thành phố, vào Tây Ninh, đi cả Campuchia mà chưa tìm được đúng mối, đúng người. Đúng là tình trạng hiện nay thắc thỏm lắm. Chúng tôi muốn doanh nhân Sài Gòn cùng chúng tôi tạo đối trọng, tổ chức lại hệ thống tiêu thụ vải thiều, đưa dân ra khỏi thực trạng này”.

Ông kể rằng, năm ngoái, có vụ tranh chấp giữa thương nhân Trung Quốc với Việt Nam, thì ông chủ lớn của toàn bộ thương nhân lề đường tại Bắc Giang đã đồng loạt ngưng mua vải. Người Trung Quốc làm ăn cũng rất biết lấy lòng những đầu mối và cũng lão luyện về cách ép giá, chèn ép các đối thủ cạnh tranh. Tháng 7.2009, Trung Quốc yêu cầu nông sản từ Việt Nam qua phải có xuất xứ hàng hoá. Họ càng có lý do vào đến tận đây để… xác nhận xuất xứ.

Tế nhị và nhạy cảm

Bà Phạm Chi Lan, phó viện trưởng viện Phát triển kinh tế IDS thực sự bày tỏ âu lo với ông Bùi Văn Hạnh, phó chủ tịch tỉnh trong cuộc họp của uỷ ban với đoàn chuyên gia xúc tiến đến từ TP.HCM. “Họ đã vào sâu trong lãnh thổ ta, hành động có tổ chức chặt chẽ trong khi thương nhân Việt Nam vẫn hoạt động riêng lẻ, rời rạc. Cao su xuất khẩu tiểu ngạch, họ ngưng mua là giá xuống. Dưa hấu chở tới Tân Thanh, họ nói về Bắc Kinh làm thủ tục bốn ngày thì dưa đã hư hết rồi. Giờ đây họ ở Lục Ngạn, cách tổ chức của họ khiến chúng ta phải suy nghĩ về quan hệ mua bán nhạy cảm và hành động để tạo điểm tựa từ thị trường trong nước, đối trọng từ trong nước”.

Ông Bùi Văn Hạnh nói: “Chúng tôi đề nghị BSA thiết kế ngay một chương trình kết nối thị trường, trong đó đầu cầu TP.HCM đặc biệt quan trọng”. Bà Phạm Chi Lan cho rằng phải đưa những nhà phân phối lớn của TP.HCM ra Lục Ngạn và đoàn cán bộ đại diện tỉnh Bắc Giang cùng các doanh nhân của tỉnh cần sớm vào TP.HCM, tích cực nối kết với chợ đầu mối, các siêu thị và xây dựng lộ trình đưa trái vải và những loại nông sản khác ra khỏi sự chi phối như hiện tượng Lục Ngạn. Ông Bùi Văn Hạnh nóng lòng nói: “Chương trình hai chiều cần được tiến hành ngay. Đầu tuần sau, chúng tôi cử đoàn sở Công thương và các doanh nhân tỉnh Bắc Giang vào gặp gỡ ngay tại TP.HCM”.

Uỷ ban tỉnh cũng yêu cầu tổ chức từ đầu tháng 7.2009 hai chương trình rất cần thiết trong chủ trương kích cầu hàng nội và xúc tiến cho thị trường nội địa tại tỉnh Bắc Giang là chương trình “hàng Việt về nông thôn” đưa hàng Việt Nam chất lượng cao về phục vụ nông dân và nếu tổ chức ngay tại vùng vải Lục Ngạn càng tốt và chương trình huấn luyện, hỗ trợ kiến thức về thị trường cho nông dân Bắc Giang. Đồng thời, hỗ trợ việc chuẩn bị cho chương trình xúc tiến cho quả vải năm 2010, đưa việc tiêu thụ quả vải và một số nông sản theo hướng chủ động phát triển thị trường nội địa.

Bài và ảnh: Hoàng Lan

http://www.sgtt.vn/Detail41.aspx?ColumnId=41&newsid=52780&fld=HTMG/2009/0611/52780

Vải thiều Việt Nam – đôi điều cần suy nghĩ
VIT– Vải thiều thường được xuất đi Trung Quốc với giá khoảng 5 nghìn đồng 1kg; trong khi tại thị trường Trung Quốc, giá vải thường cao hơn nhiều.

Vải là một loại hoa quả rất được ưa chuộng tại Trung Quốc. Ở Việt Nam vào mùa vải, tại vườn vải giá thường chỉ một vài nghìn đồng 1 kg, năm được mùa có khi giá tại vườn chưa đến một nghìn đồng 1 kg. Năm nay vải Việt Nam được mùa, như vậy vải Trung Quốc sẽ mất mùa. Giá 1kg vải tại thị trường Trung Quốc ở thời điểm hiện tại dao động từ 10.000 – 60.000 đồng Việt Nam. Được biết, hiện tại giá bán lẻ vải tại thị trường Việt Nam là khoảng 10.000 đồng/1kg.

Chất lượng vải thiều của Việt Nam rất tốt, tuy nhiên công tác thị trường chưa tốt là nguyên nhân chính khiến cho tư thương Trung Quốc bóp chẹt vải Việt Nam.

Giá bán buôn vải ở thị trường Trung Quốc

Ngày 29/5/2008

Đơn vị tính: Nhân dân tệ/kg (1NDT ≈2100VND)

Quy cách

Thị trường báo giá

Giá cao nhất

Giá thấp nhất

Giá bình quân

kiện 20kg Chợ bán buôn hoa quả Tề Nam 170NDT 150NDT 160NDT
1kg Chợ bán buôn tổng hợp Bắc Kinh 28NDT 24NDT 26NDT
1kg Trung tâm gia dịch sản phẩm nông nghiệp thành phố Tây An 30NDT 24NDT 26NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp đường Đại Dương – Bắc Kinh 24NDT 13NDT 20NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm nông nghiệp Cầu Bát Lý – Bắc Kinh 20NDT 18NDT 19NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp – Tân Cương 19.08NDT 18.92NDT 19.00NDT
1kg Chợ Bắc Viên Xuân – Tân Cương 18.08NDT 17.92NDT 18.00NDT
/kg Chợ bán buôn rau quả Trung Nga thành phố Mẫu Đơn Giang- Hắc Long Giang 16.08NDT 15.92NDT 16.00NDT
1kg Công ty cổ phần chợ bán buôn sản phẩm nông nghiệp thành phố Hợp Phì 16NDT 15NDT 15.50NDT
1kg Công ty TNHH sản phẩm nông nghiệp Tân Phát – Bắc Kinh 16NDT 14NDT 15NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp An Dân – tỉnh An Huy 12.08NDT 11.92NDT 12.00NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp Từ Châu 10NDT 8NDT 9NDT
1kg CHợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp Ngũ Lý – Quý Dương 6.08NDT 5.92NDT 6.00NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp Liên Nghị – Giang Tô 4.50NDT 4.20NDT 4.40NDT
1kg Công ty hoa quả tươi và khô Phúc Châu – Hải Nam 18NDT 14NDT 16NDT
1kg Công ty TNHH Cổ phần sản phẩm phụ nông nghiệp Cáp Đạt – Cáp Nhĩ Tân 12NDT 10NDT 11NDT

Ngày 30/5/2008

Đơn vị tính: Nhân dân tệ/kg (1NDT ≈2100VND)

Quy cách

Thị trường báo giá

Giá cao nhất

Giá thấp nhất

Giá bình quân

1kg Trung tâm buôn bán sản phẩm nông nghiệp Châu Tước – Tây An 30NDT 24NDT 26NDT
1kg Chợ bán buôn tổng hợp Bắc Kinh 28NDT 24NDT 26NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp đường Đại Dương – Bắc Kinh 24NDT 13NDT 20NDT
1kg Chợ bán buôn rau quả Trung Nga thành phố Mẫu Đơn Giang- Hắc Long Giang 16.08NDT 15.92NDT 16NDT
1kg Công ty cổ phần chợ bán buôn sản phẩm nông nghiệp thành phố Hợp Phì 16NDT 15NDT 15.50NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp Từ Châu 10NDT 8NDT 9NDT
1kg Chợ bán buôn sản phẩm phụ nông nghiệp Liên Nghị – Giang Tô 4.50NDT 4.20NDT 4.40NDT
Nguồn tin
Vương Trang (Theo Foodqs)
Trở lại

———————————————————————————————————-

và trên biển

Ngư dân “trắng tay” khi vào vùng biển cấm
22:14′ 15/06/2009 (GMT+7)
– Những ngày gần đây khi đến các bãi neo tàu đánh cá ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu, đâu đâu cũng nghe râm ran chuyện ngư dân làng chài bị bắt vì vi phạm vùng lãnh hải của nước ngoài. Nhiều người đã bật khóc khi những người thân, những thuyền viên từng cùng nhau lao động trên ngư trường chung giờ đang thụ án tại đất khách quê người.

Ông Lê Văn Hòa, ngư dân huyện Long Điền thở dài, ném cuộn lưới rách vào góc nhà, nán lại vài phút trước khi khởi hành chuyến ra khơi ven biển. “Suốt 2 năm nay, tôi không dám lên chiếc thuyền lớn ra vùng biển xa để chài nữa, bởi lên thuyền lớn là tôi cứ ám ảnh mãi chuyến đi biển “nảy lửa” mà tôi và hơn 10 thuyền viên gặp phải”.

Chậm rãi phà hơi thuốc lào, ông Hòa nhớ lại, tháng 7/2007, vừa tậu chiếc tàu 800 tấn và ngư cụ cũng ngót gần tỉ bạc, ông cùng 9 thuyền viên khởi hành về phía vùng biển gần Indonesia. Khi phát hiện một luồng cá lớn, thuyền trưởng cho tàu quây lại thả lưới đánh bắt.

Đang mải mê bắt cá, bỗng nhiên một tàu kiểm ngư của Indonesia lừng lững xuất hiện. Ngay sau đó, lực lượng chức năng của Indonesia đi trên con tàu này đã bắt hết người và tàu của ngư dân Việt Nam.

Ông Trần Thạch Hùng chỉ về phía đoàn tàu cá công suất lớn không dám ra khơi đánh bắt vùng xa…

Sau khi bị bắt giam vài ngày, mọi người được thả về nhưng toàn bộ dụng cụ, chiếc tàu đã bị tịch thu. Coi như sự nghiệp dành dụm suốt đời của ông Hòa “đội nón ra đi”.

“Cũng may sau chuyến đi đó chúng tôi được thả về hết, không ai phải chịu án, thôi thì còn người còn của” – ông Hòa nói.

Sau chuyến đi “hãi hùng” đó, 7 trong số 10 người bị Indonesia bắt giữ vì vi phạm lãnh hải đã chuyển nghề khác, những người còn lại cũng chỉ lay lắt bám nghề sống qua ngày. Riêng ông Hòa lâm vào cảnh cụt vốn, nợ nần bết bát phải gom góp mua chiếc thuyền nhỏ đánh bắt ven bờ để trả nợ ngân hàng.

Chuyện mới nhất và hãi hùng nhất được ngư dân làng chài Vũng Tàu bàn tán xôn xao là vụ của ông Trần Thạch Hùng (49 tuổi), ngụ tại TP Vũng Tàu. Đó là vụ 8 thuyền viên của ông bị Malaysia bắt giữ hôm 22/4/2009.

Ông Hùng xót xa kể lại: sau khi mua được chiếc tàu BD 50553 – TS 60 mã lực, ông thuê tài công Nguyễn Văn Hậu (31 tuổi), ngụ tại tỉnh Bình Định và 7 thuyền viên khởi hành về phía nam, vùng biển Vũng Tàu, giáp biên với lãnh hải Malaysia. Trong lúc đang đánh bắt cá thì tàu của Malaysia xuất hiện bắt giữ.

Sau đó, các nhà chức trách Malaysia đã xử phạt tài công 6 tháng tù, các thuyền viên khác mỗi người 4 tháng tù, tịch thu tàu BD 50553 TS và toàn bộ lưới, ngư cụ.

Ngư dân vẫn còn lo ngại khi cho tàu ra khơi, nhất là đi vào những vùng biển chồng lấn.

Sau chuyến đi, ông Hùng trở về cũng rơi vào cảnh nợ ngân hàng, phải đi làm cho chủ tàu khác để kiếm sống. Ước mơ vươn xa ra biển của ông coi như chấm dứt.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN&PTNT) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chỉ tính từ năm 2001 đến  tháng 2/2009, trên địa bàn tỉnh đã có 103 tàu và 908 thuyền viên của Việt Nam bị các nước bắt giữ. Trong đó có 36 tàu và 736 thuyền viên đã được thả về, số còn lại đang bị tạm giữ. Riêng từ đầu năm 2009 đến nay có 4 tàu và 30 thuyền viên bị bắt.

Nguyên nhân các tàu đánh cá của Việt Nam bị bắt là do vô tình vi phạm vùng lãnh hải chồng lấn giữa ranh giới Việt Nam và các nước khác. Hiện Việt Nam có 4 vùng chồng lấn phía nam biển Đông với các nước như: Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia.

Ông Cao Xuân Triều – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, nhiều người dân mải đánh bắt theo luồng cá, tìm ngư trường mới nên chưa quen, không xác định được vùng lãnh hải trên biển nên thường phạm vào vùng đặc quyền kinh tế của các vùng tiếp giáp.

Một nguyên nhân nữa là ngư dân vẫn chưa có bản đồ có tỷ lệ xích để xác định vùng biển của Việt Nam. Trong khi đó, các tàu kiểm ngư của nước ngoài có trang bị thiết bị định vị vệ tinh, chỉ cần tàu của Việt Nam lỡ vào vùng chồng lấn giữa 2 nước là bị phát hiện ngay.

  • Vĩnh Minh

http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2009/06/853159/

————————————

trên sông

Đò dọc ở Móng Cái nằm chơi

TP – Do hàng xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu giảm nghiêm trọng, cả nghìn chiếc đò dọc chở hàng tại sông Ka Long, Lục Lầm, Móng Cái, Quảng Ninh nằm bờ, kéo theo cả nghìn chủ đò, cửu vạn gặp khó khăn.

Bán đò chẳng ai mua

Đò trên sông Ka Long nằm bờ nhiều ngày qua vì không có hàng để chở. Ảnh: Thành Duy

Chủ đò Nguyễn Văn Thắng 40 tuổi, trú tại phường Ka Long, TP Móng Cái, Quảng Ninh, có thâm niên trở đò tại bến sông Ka Long, cho biết, từ đầu năm tới nay, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đò qua đường tiểu ngạch giảm nghiêm trọng. Gần như không có hàng để vận chuyển sang Trung Quốc và ngược lại.Cùng với đó, giá vận chuyển ngày càng giảm vì để có hàng, nhiều chủ đò hạ giá vận chuyển xuống rất thấp.

Chỉ chiếc đò trống không, ông Thắng nói như mếu, năm 2008, gia đình tôi đóng chiếc đò này với giá 200 triệu đồng, cộng chi phí để có thể lưu hành thêm vài chục triệu đồng. Giờ đây, nhận chở hàng cũng chết mà nếu không chở thì cũng chết.

Chỉ tính riêng một tháng, đò nằm không ông cũng mất vài triệu đồng thuê người trông đò, bảo dưỡng…

Cùng chung cảnh ngộ là ông Vũ Văn Độ, 49 tuổi, quê Hưng Yên. Hai vợ chồng ông Độ tới Móng Cái làm ăn, thấy vận chuyển hàng bằng đò kiếm được tiền nên vay vốn đầu tư đò.

Năm 2008, đò chạy hết công suất không hết việc. Trung bình mỗi tháng, gia đình ông cũng thu được hơn 15 triệu đồng. Nhưng, sang năm 2009, cả người và đò đều ngồi chơi.

Ông Độ cho biết thêm, mấy tháng nay, hàng truyền thống nhập về hiếm, hàng xuất đi cũng hiếm vì, cao su, giẻ rách phía Trung Quốc không nhập nữa hoặc nhập với giá rẻ. Riêng mặt hàng thủy sản, phía Trung Quốc gần như cấm nhập.

Năm 2008, các chủ đò trúng lớn vì phân bón được nhập về nhiều. Nhưng năm 2009, hầu như không ai được nhập nữa. Hai mặt hàng chủ lực của đò dọc Ka Long không còn, dân làm đò đói.

Nhiều chủ đò cho biết, rất nhiều người đầu tư tiền tỷ đóng đò nhưng giờ đây đành nhìn cảnh đò đợi hàng trong khi lãi ngân hàng đẻ lãi. Bán đò chẳng ai thèm mua, dù giá một chiếc đò chỉ 80 – 100 triệu đồng, bằng một phần hai giá đò đóng mới.

Một cán bộ đội kiểm soát hàng xuất nhập khẩu Hải quan Ka Long, Cục Hải quan Quảng Ninh, cho biết, từ đầu năm 2009, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua đường cửa khẩu sông Ka Long giảm mạnh, ước tính chỉ bằng 30 phần trăm so với cùng kỳ, vì phía Trung Quốc xiết chặt quản lý biên mậu.

Không chỉ chủ đò, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng lâm vào cảnh khó khăn. Hiện, do các doanh nghiệp trong nước đang sản xuất cầm chừng nên nhu cầu nhập nguyên liệu sản xuất giảm.

Xuất chủ yếu là hàng thủy sản nhưng phía Trung Quốc tăng cường hàng rào kỹ thuật nên hàng bị tắc. Cửa khẩu sông Ka Long trước đây tấp nập, ồn ào giờ yên ắng khó tin.

Vì đâu nên nỗi?

Đò chở hàng trên song Ka Long… ngủ. Ảnh: PV

Phó Chủ tịch UBND thành phố Móng Cái Dương Văn Cơ cho biết, do phía Trung Quốc kiểm soát chặt chính sách biên mậu nên nhiều cửa khẩu của ta, phía bạn không công nhận là điểm thông quan nữa. Trong khi phía ta coi là chính ngạch thì phía bạn lại cho rằng là hàng lậu.Cùng với đó, phía Trung Quốc tăng cường kiểm định chất lượng hàng hóa nên hàng xuất rất hạn chế. Phía Trung Quốc tăng cường nhập khẩu qua đường chính ngạch, thu thuế đường tiểu ngạch thay vì thu phí như trước đây.

Việc tồn đọng hàng đông lạnh tại cửa khẩu trong thời gian qua có phần từ các nguyên nhân trên. Tuy nhiên, đó chỉ là hàng tạm nhập tái xuất nên phía doanh nghiệp Trung Quốc thiệt hại nhiều chứ các doanh nghiệp nước ta chỉ thiệt hại khâu làm dịch vụ.

Cũng theo ông Dương Văn Cơ, doanh nghiệp nước ta rất thiếu thông tin về thị trường Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt. Đây chính là vấn đề mà địa phương rất nhiều lần đề xuất khi làm việc với tỉnh, với Bộ Công Thương nhưng đến nay chưa có lời giải…

Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, bà Nguyễn Thị Liễu – Phó Giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh cho biết, từ đầu tháng 5/2009, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc liên tục gặp khó, vì doanh nghiệp Trung Quốc bắt được thóp của các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn nhỏ lẻ nên tìm mọi cách để áp giá rẻ mà thu mua được nhiều.

Hiện, cao su chỉ có thể xuất khẩu tại điểm thông quan Lục Lầm và cũng đang bị tắc. Trung bình, khối lượng cao su giao dịch chỉ đạt bình quân khoảng 200 tấn/ngày. Giá cao su cũng giảm mạnh chỉ còn khoảng 10.400-10.500 nhân dân tệ/tấn (giảm từ 300 – 400 nhân dân tệ /tấn so với tháng 5/2009).

Trong khi đó, các cơ quan quản lý xuất nhập khẩu Trung Quốc thực hiện các biện pháp quản lý chặt giấy phép nhập khẩu cao su, đồng thời cả tài khuẩn giao dịch cao su của cả doanh nghiệp Trung Quốc, Việt Nam.

Thêm nữa, hệ thống cơ sở vật chất thương mại như hệ thống kho, bãi tại biên giới, đặc biệt là hệ thống kho chuyên dụng như kho bảo quản lạnh…, vẫn không đáp ứng được yêu cầu. Và, lợi dụng các mặt hàng của ta không bảo quản được lâu, doanh nghiệp Trung Quốc chơi trò ngâm, khiến doanh nghiệp của ta phải bán rẻ.

Đây cũng là những nguyên nhân khiến cả doanh nghiệp, dân chở đò dọc và cửu vạn trên sông Ka Long.. ngủ cùng thời suy thoái kinh tế.

Tin từ hiệp hội Chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), hiện, nhiều lô hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc đang bị ách tắc tại cửa khẩu Đông Hưng và thành phố Móng Cái, Quảng Ninh, do hải quan Trung Quốc kiểm soát gắt gao an toàn vệ sinh thực phẩm.

Những lô hàng bị ách tắc chủ yếu là hàng xuất tiểu ngạch của doanh nghiệp nhỏ.

Theo nguồn tin riêng của Tiền Phong,hiện tại, còn khoảng 200 – 300 container hàng đông lạnh đang tắc tại Móng Cái và nhiều lô bắt đầu phân hủy.

Thành Duy

Theo Tiền Phong Online, 6/6/2009, 09:54 (GMT+7)
—————
ở Lạng Sơn

Posted in Biên Giới, Uncategorized | Leave a Comment »

đại lễ 1000 năm Thăng Long 1-10-2010 đựợc chọn … đúng ngày Quốc Khánh Trung Quốc 1-10-2010.

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2009

Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội được tổ chức trong 10 ngày (từ ngày 1 đến ngày 10/10/2010)

Tru`ng với kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc 1/10/2010

10/06/2009

(ĐCSVN)- Ngày 10/6, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 795/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội năm 2010.Điểm nhấn trong Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội được Thủ tướng phê duyệt là Chương trình Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội được tổ chức trong 10 ngày (từ ngày 1 đến ngày 10/10/2010). Ngày khai mạc Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội được tổ chức trọng thể vào sáng 1/10/2010 tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ và đường Đinh Tiên Hoàng, xung quanh Hồ Hoàn Kiếm. Cùng ngày, tại Hà Nội sẽ có các hoạt động: Triển lãm thành tựu kinh tế-xã hội Việt Nam và Thăng Long-Hà Nội; Triển lãm các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật qua các thời kỳ; Cầu truyền hình trực tiếp Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Cả nước với Hà Nội” chào mừng 1000 năm Thăng Long-Hà Nội; chương trình văn hóa nghệ thuật tổng hợp do chuyên gia quốc tế đạo diễn. Từ ngày 2 đến ngày 9/10 sẽ có các hoạt động văn hóa nghệ thuật, các hoạt động thể dục thể thao, các hoạt động liên hoan du lịch, hành trình di sản và lễ hội làng nghề, phố nghề; các hoạt động khởi công, khánh thành, gắn biển, triển lãm các công trình, đón nhận các danh hiệu nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội; Lễ ra mắt Tủ sách “Thăng Long ngàn năm văn hiến” và công bố kết quả Chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: KX.09 “Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và giá trị lịch sử-văn hóa 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô”

Thủ tướng yêu cầu Hà Nội phải tích cực, chủ động và thường xuyên phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương, các tỉnh, thành phố cả nước tổ chức triển khai các nội dung trong Chương trình kỷ niệm, quản lý và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, thiết thực, hiệu quả, đảm bảo thành công Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội./.


——————————————————————————————-

Các nước chúc mừng Trung Quốc nhân ngày Quốc khánh

13:35′ 01/10/2007 (GMT+7)


Trung Quốc đang kỷ niệm 58 năm ngày thành lập nước.
Hôm nay, Trung Quốc kỷ niệm 58 năm ngày thành lập nước.

Từ Việt Nam, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã gửi điện mừng tới lãnh đạo Trung Quốc, gồm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Ngô Bang Quốc và Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Trong điện mừng, các vị lãnh đạo Việt Nam đánh giá cao những thành tựu đã đạt được của nhân dân Trung Quốc anh em trong 58 năm qua, bày tỏ vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trước sau như một, luôn quý trọng và không ngừng vun đắp cho tình hữu nghị truyền thống với nhân dân Trung Quốc, nỗ lực củng cố quan hệ hai Đảng và hai nước Việt – Trung.

—————————————————————————————–

Theo lịch sử Việt Nam, thủ đô Thăng Long Hà Nội được thành lập vào tháng 7 âm lịch 1010. Nhưng nay theo văn kiện dưới đây, thay vì Thăng Long được thành được thành lập vào mùa Hè thì nay được đảng ta đổi lại thành mùa Thu, (cho phù hợp với Cách Mạng tháng 8?

Chưa hết,  đại lễ 1000 năm Thăng Long 1-10-2010 đựợc chọn … đúng ngày Quốc Khánh Trung Quốc 1-10-2010.

——–


Văn kiện Bộ chính trị, Ban Bí thư

Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương về việc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long (năm 1010-2010)

Ngày 19/2/2009. Cập nhật lúc 9h 58′

Theo chính sử của nước ta, mùa thu năm Canh Tuất (1010), Vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên Kinh thành là Thăng Long, nay là Hà Nội. Theo mốc lịch sử đó, đến năm 2010, Thủ đô Hà Nội sẽ tròn 1000 năm tuổi. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước nhà. Bởi vậy, việc tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là sự biểu thị tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam đối với các thế hệ cha ông đã có công dựng nước, giữ nước; là dịp giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc; động viên toàn Đảng, toàn dân phấn đấu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đây cũng là dịp để giới thiệu và nâng cao tầm vóc của Thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung ở khu vực và trên thế giới.

Với ý nghĩa sâu sắc đó, Bộ Chính trị quyết định tổ chức kỷ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long theo yêu cầu và nội dung sau:

1- Việc thực hiện chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Hà Nội, đồng thời là cuộc vận động mang ý nghĩa rộng lớn trên phạm vi toàn quốc. Quá trình tổ chức kỷ niệm cần thiết thực, gắn liền với chương trình phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Thủ đô; gắn với việc xây dựng và bồi dưỡng con người mới, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy truyền thống Hà Nội – ngàn năm văn hiến.

2- Để tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, ngay từ năm 1998 cần chỉ đạo triển khai các công việc chủ yếu sau đây:

– Hà Nội phải phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và những năm tiếp theo; xây dựng Thủ đô xứng đáng là trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, là trung tâm kinh tế và giao dịch quốc tế lớn của cả nước; là thành phố gương mẫu cho cả nước.

– Việc thực hiện quy hoạch xây dựng phát triển Thủ đô cần gắn với các mục tiêu của chương trình kỷ niệm. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, xây dựng một số công trình văn hoá; xây dựng và tôn tạo công viên, khu vui chơi, giải trí, du lịch để Hà Nội sớm trở thành một Thủ đô vừa văn minh hiện đại, xanh, sạch, đẹp, thanh lịch, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc.

– Thực hiện một chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước nhằm tổng kết kinh nghiệm lịch sử của Thăng Long – Hà Nội trên những vấn đề lớn qua 1000 năm tôn tạo và phát triển.

3- Tiến tới 1000 năm Thăng Long, mà khởi đầu là tổ chức kỷ niệm 990 năm Thăng Long vào năm 2000, nhằm nâng cao nhận thức và tự hào về Thủ đô ngàn năm văn hiến và động viên toàn dân thi đua đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ IX của Đảng, tạo đà cho đất nước bước vào thế kỷ XXI. Từ nay đến năm 2000 cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

– Hoàn thành tốt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của thành phố năm 1996-2000, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng.

– Xây dựng và nâng cấp các công trình văn hoá, vui chơi giải trí. Trước mắt, tập trung vào các công trình xung quanh Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Ba Mẫu, công viên Lê nin, công viên Thủ Lệ…, tôn tạo các di tích trong khu vực Thành cổ, Văn Miếu, Quốc Tử Giám, xây dựng một số công trình văn hoá mới ở Thủ đô. Tiến hành có chất lượng giai đoạn đầu chương trình nghiên cứu khoa học về lịch sử Hà Nội. Phát động phong trào sáng tạo văn học – nghệ thuật về Hà Nội; hoàn thành bộ Bách khoa toàn thư Hà Nội. Chuẩn bị xây dựng một số tượng đài kỷ niệm…

– Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục truyền thống sâu rộng trong nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, phát động phong trào toàn dân bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực hướng tới kỷ niệm 990 năm và 1000 năm Thăng Long. Xây dựng con người mới, phấn đấu thực hiện nếp sống trật tự, kỷ cương, thanh lịch của người Hà Nội, khắc phục có hiệu quả những tệ nạn xã hội.

4- Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long (do thành phố chủ trì) với sự tham gia của đại diện Chính phủ và một số ban, ngành Trung ương.

5- Về kinh phí, ngoài ngân sách nhà nước, khi cần thiết Hà Nội được huy động mọi nguồn lực của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước vào việc bảo tồn, tôn tạo các đi sản văn hoá và xây dựng các công trình lớn. Phải công khai hoá và quản lý, sử dụng chặt chẽ, đúng mục đích, thiết thực, có hiệu quả các nguồn vốn và lao động cho mục đích này.

Thành uỷ Hà Nội, các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương cần phối hợp tổ chức triển khai chương trình; hàng năm có sơ kết và báo cáo Bộ Chính trị về việc thực hiện chỉ thị này.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ
Đã ký
Phạm Thế Duyệt

http://222.255.31.179:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=279&leader_topic=592&id=BT1820935693

Posted in Uncategorized | 2 Comments »