Trần Hoàng Blog

DẦU HỎA TẠI TRUNG ĐÔNG

Posted by hoangtran204 trên 14/06/2009

bài 1
Apr. 05, 2009

Thăng trầm của dầu hỏa.
martianmobile
Trong những tháng gần đây, khi mọi người ai cũng lo sợ cho cuộc khủng hoảng kinh tế. Dầu đã mất đi yếu tố quan trọng của nó và không còn là sự kiện hàng đầu trong đời sống kinh tế như trước. Ngay cả The FED cũng còn lợi dụng nó để tìm cách gia tăng chi tiêu ngân sách. Nhưng nếu thế giới giải quyết được bài học kinh tế, chúng ta sẽ phải lo sợ ảnh hưởng của dầu một cách mạnh mẽ vào đời sống thực tế hơn bao giờ hết. Nó sẽ là nguyên nhân của một cuộc khủng hoảng mới: Khủng hoảng nhiên liệu!

Không một ai có thể tưởng tượng được là chỉ trong vòng 6 tháng từ tháng 7/2008 đến tháng 12/2008 giá dầu từ điểm cao nhất là $147.90 một barrel có thể rơi xuống thấp nhất là $35.13. Và cũng cùng thời gian này chúng ta chứng kiến một thời kỳ khủng hoảng kinh tế tài chánh khốc liệt nhất trong lịch sử về kinh tế.

Đứng bên trên những gì xẩy gần đây để có thể so sánh về sự liên hệ giữa giá cả của nguyên liệu về năng lượng và kỹ nghệ tài chánh thì rõ ràng giá dầu nhẩy vọt đã biến mất một khi kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái, và nhu cầu về dầu không còn nữa hay ít đi. Lúc trước khi giá dầu còn cao, các quốc gia trong tổ chức OPEC đã không biết bảo nhau để tự kiềm chế cho giá dầu được quân bình với mức phải chăng thì khi giá dầu tuột xuống như hiện nay, OPEC cũng chỉ vì có lòng tham đã tiếp tục theo con đường kinh tế cổ điển là cắt giảm số lượng cung cấp dầu trên thị trường thế giới để hy vọng giá dầu sẽ lên cao để bù đắp cho những chi tiêu xa xỉ. Điều này sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến họ trong tương lai khi toàn thế giới sẽ chuyển hướng dùng năng lượng xanh để thay thế dầu.

Nhìn kỹ lại thì giá dầu, tương tự với giá cả của các nguyên liệu khác, đều có xu hướng lên xuống theo những thời điểm của chu kỳ kinh tế. Khi kinh tế đi xuống, con người lập tức đáp ứng với nhu cầu hằng ngày và thông thường cắt giảm nhu cầu xăng dầu là việc đầu tiên trong ngân sách của chính phủ và cá nhân. Về phía bên các công ty khai thác và cung cấp dầu thì trong thời kỳ nhu cầu đòi hỏi, họ sẽ gia tăng sản xuất số lượng và giá dầu sẽ phải lên cao. Sau một thời gian, với định luật tự nhiên về kinh tế, bên người tiêu thụ và bên người sản xuất sẽ phải ổn định không những về giá cả mà còn về số lượng sản xuất. Bất kỳ một sự thiếu quân bằng nào cũng có thể sẽ xẩy ra tình trạng xấu cho thị trường. Hai điển hình dẫn chứng là trong thập niên 80s giá dầu tuột xuống thê thảm có lúc còn có dưới $9.00 một barrel khi dân chúng Âu Châu và Hoa Kỳ đã sợ hãi và không dám hoang phí tiêu dùng dầu sau khi nước họ bị các quốc gia Arab và Iran cấm vận dầu hỏa trong thập niên 70s trước đó. Và biến cố ngược lại xẩy ra gần đây khi nhu cầu thể giới đòi hỏi dầu lên quá cao hơn khả năng cung cấp. Kết quả là giá dầu đã lên cao nhất trong lịch sử. Do đó, chúng ta sẽ không nên ngạc nhiên khi nhìn thấy giá dầu nhẩy từ cực cao xuống cực thấp trong một thời gian ngắn, phần lớn do tâm lý lo sợ hay tham lam của con người.

Không phải sản phẩm dầu ở đâu cũng tương tự giống nhau. Chúng ta phải biết là phẩm lượng dầu khai thác được tại Trung Đông sẽ khác với dầu lấy được tại Nga, Phi Châu, Venezuela, Malaysia, Hoa Kỳ, hay North-Sea. Do đó giá thành sẽ khác nhau. Có những nơi chỉ tốn $10 là có thể lấy được một barrel dầu ra khỏi lòng đất nhưng có nhiều nơi khác sẽ phải tốn $50, $70 hay đôi khi ngay cả hơn $100 cho một barrel.
Thật khó lòng cho các nước sản xuất dầu biết được giá nào là giá hợp lý để bán so với giá dầu quốc tế. Trong quá khứ các quốc gia và tổ chức buôn bán và cung cấp dầu đã phải gặp nhau thường xuyên để giải quyết cho việc ấn định giá dầu. Hai giá dầu được dùng một các phổ thông hiện nay là giá dầu thô NYMEX WTI và ICE Brent. Do đó nếu muốn biết giá cả chính xác của nó, các người đầu tư phải biết rõ là mình dùng loại dầu nào để mua bán.

Những yếu tố phụ thuộc nhưng ảnh hưởng rất lớn cho giá dầu thô là những tin đồn và hành động đầu cơ của những người mua bán trên thị trương chứng khoán và các quốc gia bán dầu thô. Rõ ràng được thấy rõ là trong những năm trước đây là gía dầu đã đi lên một cách không thể hiểu được điển hình là năm 2007 giá dầu đang ở mức trung bình khoảng $51.00 một barrel lên $147.00 một barrel năm 2008. Nhìn vào dữ kiện này, nhiều người trong chúng ta tự hỏi và so sánh là không lẽ dân số toàn thể giới gia tăng một cách đột ngột gấp 3 lần hay nhu cầu của con người đòi hỏi hơn 300% để có thể giải thích tại sao nó có thể lên một cách mau chóng như vậy. Tương tự như vậy nhưng ngược lại là dân số thế giới biến mất đi 5 lần hay nhu cầu con người mất đi 500% mà trong chỉ có khoảng 6 tháng giá dầu có thể xuống từ $147.00 một barrel đến $35.00. Không cần phải giải thích, chúng ta cũng biết là tin đồn và đầu cơ đã ảnh hưởng ít nhiều vào giá dầu.

Lòng tham của con người đương nhiên là không bao giờ từ bỏ bất kỳ một cơ hội để làm giầu. Nhưng phần lớn những động cơ cố ý hay bất cẩn của chính phủ đã làm cho mức độ này gia tăng một cách đáng kể. Nhiều kinh tế gia đã “quả quyết” là chính phủ Hoa Kỳ trong thời gian sửa chữa đạo luật để tránh kẽ hở Enron “Enron loophole” đã cho phép buôn bán “energy futures” không bị kiểm soát bởi Commodity Futures Trading Commission. Bởi vậy sau khi đạo luật này được ban ra thì chúng ta thấy mức độ mua bán “energy futures” của các hedge fund và pension funds về nguyên liệu đã gia tăng một cách quan ngại. Từ $13 tỉ dollars trong năm 2003 (thời kỳ trước khi có đạo luật này ban hành) đã tăng tới $250 tỉ dollars trong năm 2008.
Mặc dù qua nhiều cuộc điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ, về vấn đề quan ngại cho sự kiên là có thể có những sự việc lũng đoạn đầu tư, cơ quan đặc trách nhóm Interagency Task Force của Quốc Hội đã có những bản tường trình sơ khởi sau nhiều cuộc điều tra. Theo họ là đã không có hay rất ít ảnh hưởng lớn của các vụ tích trữ đầu cơ hay tin đồn làm giá cả dầu đi lên trong những năm gần đây. Nguyên nhân chính tạo ra sự kiện này là chỉ vì kinh tế thế giới đã tăng trưởng rất mạnh trong thời gian đó (trước khi tình trạng kinh tế suy thoái hiện nay) như Trung Quốc, Ấn Độ hay ngay cả những nước bắt đầu phát triển như Việt Nam đã đòi hỏi dầu thô rất nhiều. Trong khi đó các nước sản xuất dầu đã không kịp đáp ứng một cách thích hợp vì nhiều nguyên nhân trong đó kể cả thiếu bảo trì, vận hành; không đủ tăng cường kỹ thuật mới thích ứng trong thời kỳ giá dầu còn rẻ từ việc tìm kiếm túi dầu cho đến giàn khoan dầu, kiểm soát, vận chuyển, lọc dầu và phân phối tới tay người tiêu thụ.

Dầu cũng là một vũ khí mà nếu biết sử dụng khéo léo cũng là một mang lại lợi ích cho chính họ. Nhiều người trong chúng ta không để ý là The FED đã theo giõi giá dầu một cách rất chặt chẽ. The FED đã lợi dụng giá dầu giảm xuống cực rẻ như hiện nay để có thể in thêm tiền để thúc đẩy nền kinh tế chậm chạp của Hoa Kỳ và thể giới mà không sợ lạm phát. Đương nhiên là họ cũng quan sát chặt chẽ và có phản ứng một khi tình trạng lạm phát không kiểm soát nổi.

Tuy nhiên, một khuyết điểm lớn của Hoa Kỳ và nhiều quốc gia lớn trên thế giới là họ không có một chính sách về năng lượng chặt chẽ. Nếu Hoa Kỳ có được một chính sách về năng lượng thì chúng ta sẽ tránh được một cuộc khủng hoảng nhiên liệu khi thế giới đi vào chu kỳ đòi hỏi về nhiều về nhiên liệu mà nhiều người đang lo sợ nó sẽ xẩy ra không xa lắm trong tương lai. Nhìn vào giá dầu có thể tiên đoán được cho một phần nào tình trạng kinh tế thế giới hiện nay mà không cần phải biết kết quả của cuộc hội đàm thượng đỉnh của 20 quốc gia giầu có nhất thế giới G20 tại London trong tuần. Sau khi đi xuống thấp nhất hồi tháng 12 năm 2008, giá dầu hiện nay đã qua khỏi điểm chống đỡ $48.50 (resistance level) và đang lấy điểm này trở thành điểm chống đỡ (support level). Có nghĩa là nếu mọi việc xẩy ra như tiên đoán thì kinh tế thế giới đã nhìn thấy đáy. Cơ hội phục hồi có lẽ còn rất dài và rất xa nhưng hy vọng là kinh tế thế giới trong sáu tháng đến một năm nữa sẽ không phải đi xuống hơn so với hiện nay. Có nhiều yếu tố hy vọng kinh tế đã xuống đáy là trong tuần các người đầu tư trên thế giới đã bắt đầu bán các khoảng đầu tư an toàn như trái phiếu chính phủ, là món đầu tư ưa thích nhất năm ngoái, chấp nhận rủi ro hơn để mua cổ phần của Thị trường Chứng Khoán và nguyên liệu như dầu, đồng. Theo họ, một khi kinh tế phục hồi thì nhu cầu về nguyên liệu sẽ cao hơn, cộng thêm yếu tố phụ khác là đồng dollar xuống giá đã làm thúc đẩy giá dầu đi lên.

Nhìn vào những ảnh hưởng lên xuống của của giá dầu, chúng ta thấy có sự liên hệ chặt chẽ của nó với tình trạng kinh tế và chính trị toàn thế giới. Từ những tổ chức mang nặng nhiều về kinh tế sau đó chuyển biến thành một tổ chức chính trị kinh tế như OPEC hay những quốc gia sản suất dầu phi tổ chức như Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ cũng dần chuyển biến dùng dầu thành một tài nguyên mong muốn chiếm đoạt qua chính trị hay quân sự. Nhìn vào lịch sử của dầu, không một ai có thể nói rằng buôn bán dầu chẳng khác nào buôn bán trong một thị trường tự do. Lịch sử của nó chưa hề bao giờ được đối xử tự do, nó luôn bị ảnh hưởng của các cường quốc trong đó các quốc gia nhỏ bé đều phải lệ thuộc vào các nước lớn để có thể giữ được tài nguyên quý báu này.

Have a good weekend,
MM

bài 2

DẦU HỎA TẠI TRUNG ĐÔNG

tác giả: Duy Anh 2

7-2006  (đăng ở Đàn Chim Việt)

Trữ lượng

Từ khi được khám phá ra vào khoảng đầu thập niên 1930, dầu hỏa đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của Trung Đông và góp phần không nhỏ đổ thêm “dầu” vào một vùng “lò lửa” đã sẵn có những cuộc xung đột bắt nguồn từ ngàn xưa.
Nhiều nhà phân tích cho rằng nếu như không có dầu hỏa, thì chưa chắc các thế lực bên ngoài như Hoa Kỳ, Tây Âu, Nga, Nhật Bản và Trung quốc đã chú ý quá kỹ mảnh đất bản lề giữa hai châu Âu và châu Á như hiện nay.
Tuy nhiên sự phân bổ tài nguyên “vàng đen” không đồng đều tại các quốc gia khác nhau vùng Trung Đông. Theo định nghĩa thồng thường, Trung Đông gồm 15 quốc gia (xếp theo thứ tự vần): Bahrain, Cyprus, Egypt, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Oman, Qatar, Saudi Arabia, United Arab Emirates, Yemen và Palestine (West Bank và Gaza). Trong các quốc gia này thì theo tài liệu của CIA, World factbook ngày 28/7/2005, trữ lượng dầu hỏa xác định được tại các quốc gia Trung Đông gồm:

Tên quốc gia–Trữ lượng (tỉ thùng)-Xếp hạng trên thế giới
Saudi Arabia——- 263——— 1
Iran ————–133——— 3
Iraq ————–112——— 4
United Arab Emirates – 98——— 5
Kuwait ———– 96——— 6
Qatar ———– 16——— 16
Oman ———– 6——— 21
Yemen ———– 4.4——– 26
Egypt ———– 2.7——- 30
Syria ———– 2.5——- 31

Các quốc gia còn lại thì hoặc trữ lượng không đáng kể, hoặc đã khô cạn dần (Bahrain).
(so sánh với Việt Nam là 0.6 tỉ thùng, đứng hàng thứ 44 trên thế giới)
Các con số cho thấy là trữ lượng tại Trung Đông chiếm 54% toàn bộ trữ lượng dầu hỏa của cả thế giới là 1.357 tỉ thùng.

Khai thác

Một đặc điểm khác của dầu hỏa tại Trung Đông là chi phí sản xuất rất thấp vì đa số các mỏ dầu đều nằm trên đất liền, không nằm sâu dưới lòng đất và trên những vùng sa mạc hoang vắng. Công việc khai thác cũng như vận chuyển do đó hết sức thuận lợi. Tại Kuwait, chi phí dể lấy 1 thùng dầu ra khỏi lòng đất chỉ tốn có $2. Trong khi đó, Hãng Shell tốn tới $15 để khai thác 1 thùng dầu tại Alberta, Canada. Tại Venezuela là $10/thùng. Khai thác dầu hỏa ngoài ven biển tốn kém nhiều nhất, vào khoảng $15-$20/thùng (trong đó có Việt Nam).
Với một kho tàng như vậy, hẳn nhiên các cuộc xung đột xảy ra triền miên tại Trung Đông là điếu không thể tránh khỏi. Không những xung đột giữa các quốc gia lận cận tranh chấp nhau các vùng biên giới có mỏ dầu mà còn xung đột can thiệp từ các thế lực bên ngoài muốn nhảy vào kiểm soát nguồn tài nguyên quý giá này. Có người cho rằng cuộc chiến Iraq vừa qua cũng có một phần nguyên nhân do Hoa Kỳ muốn kiểm soát nguồn dầu hỏa tại Iraq. Điều này đúng hay sai cũng khó chứng minh nhưng rõ ràng dưới mắt người Mỹ, Saddam Hussein là một mối hiểm họa cho sự ổn định của Trung Đông. Cuộc xâm lăng Kuwait là một hành động phiêu lưu mạo hiểm bất chấp mọi hậu quả và khả năng Saddam Hussein xử dụng vũ khí dầu hỏa để làm áp lực với toàn thế giới là điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Năm 1993 tại Somalia, Hoa Kỳ vẫn dửng dưng rút quân về dù bị thiệt hại 18 người và bị thương 73 người. Tình hình nội chiến và nạn đói còn hoành hoành tại Somalia. Phải chăng vì Somalia không có lợi ích gì cho kinh tế Mỹ? và chính sách Mỹ liệu có thay đổi gì không nếu Somalia là một quốc gia dầu hỏa như tại Trung Đông? Câu trả lời chắc chắn là phải khác đi rất nhiều.

Sự lệ thuộc của các cường quốc đối với dầu hỏa của Trung Đông

Đứng đầu là Hoa Kỳ với tỉ lệ xử dụng năng lượng lên tới gần ¼ lượng sản xuất dầu hỏa của cả thế giới. Tiếp ngay sau đó là khối Âu Châu Thống Nhất với mức tiêu thụ khoảng 15% sản lượng dầu hỏa thế giới. Sau đó là Trung Quốc (7.9) đang nổi lên như một cường quốc với sức phát triển kinh tế cao, tạo ra một nhu cầu mới về năng lượng. Nhật Bản (6.9) thì lâu nay vẫn tùy thuộc vào nguồn dầu hỏa nhập từ Trung Đông và các quốc gia Đông Nam Á. Đặc biệt các quốc gia như Nga, Canada, tuy nằm trong bảng 20 quốc gia tiêu thụ dầu hỏa nhiều nhất thế giới nhưng đồng thời cũng là những quốc gia xuất cảng dầu hỏa nên sự lệ thuộc vào Trung Đông không đáng kể.
Như vậy không có gì khó hiểu khi Hoa Kỳ và các nước Tây Âu lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp vào các vấn đề Trung Đông nhằm kiểm soát và bảo lệ các lợi ích của họ.

Danh sách 20 quốc gia xử dụng dầu hỏa nhiều nhất trên thế giới: (CIA, World factbook, ngày 28/7/2005)

Tên quốc gia Tỉ lệ %
United States 24.8
China 7.9
Japan 6.9
Russia 3.5
Germany 3.3
India 2.9
Canada 2.7
South Korea 2.7
Mexico 2.2
France 2.6
Italy 2.3
Saudi Arabia 2.2
United Kingdoom 2.1
Spain 1.9
Iran 1.8
Indonesia 1.4
Netherlands 1.1
Taiwan 1.1
Australia 1.1
Thailand 1.1

Danh sách 20 quốc gia xuất cảng dầu hỏa nhiếu nhất trên thế giới: (CIA, World factbook, ngày 28/7/2005)

Tên quốc gia Tỉ lệ %
Saudi Arabia 20.8
Nga 15.2
Norway 10.2
United Arab Emirates 6
Nigeria 5.9
Mexico 5.2
Iraq 4.8
Libya 3.9
Algeria 3.9
Oman 2.8
Canada 2.8
United Kingdoom 2.6
Qatar 2.3
Kazakhstan 2
Indonesia 1.3
Yemen 1.1
Colombia 1.1
Argentina 1
Gabon 0.9
Malaysia 0.9

(Việt Nam xuất cảng 153 ngàn thùng/ngày hoặc 0.5%, đứng hàng thứ 28 trên thế giới)

Sự thành lập OPEC và OAPEC

Vào năm 1949, Venezuela là nước đầu tiên nghĩ đến chuyện thành lập Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Dầu Hỏa gọi tắt là OPEC (Organization of the Petroleum Exporting Countries) bằng cách tiếp cận với Iran, Iraq, Kuwait và Saudi Arabia để trao đổi ý kiến và tạo mối liên hệ chung với nhau. Tháng 9/1960, Iraq tổ chức hội nghị quốc tế tại Baghdad với các nước Iran, Kuwait, Saudi Arabia và Venezuela để thảo luận về các biện pháp hạ giá dầu hỏa của các quốc gia liên hệ. Kết quả là sau đó OPEC được thành lập nhắm thống nhất chính sách chung cho cả khối. Ngoài 5 quốc gia sáng lập kề trên, trong thời kỳ từ 1960 đến 1975, OPEC được mở rộng với sự gia nhập của Qatar (1961), Indonesia (1962), Lybia (1962), United Arab Emirates (1967), Algeria (1971) và Nigeria (1971). Cựu thành viên OPEC gồm có Ecuador (1963-1993) và Gabon (1975-1995). Trụ sở của OPEC được đặt tại Vienna, thủ đô nước Áo.
Theo ước tính, 11 quốc gia thành viên OPEC đang sản xuất vào khoảng 40% dầu hỏa thế giới và bao gồm 2/3 tổng trữ lượng dầu hỏa của thế giới.
Vì những lý do kể trên, các quyết định của OPEC luôn luôn tác động mạnh và trực tiếp đến giá cả của xăng dầu toàn thế giới . Chẳng hạn năm 1973, OPEC quyết định phong tỏa nguồn dầu hỏa tiếp liệu cho Hoa Kỳ và Hòa Lan vì đã trực tiếp yểm trợ Do Thái trong cuộc chiến tranh Yom Kippur giữa Do Thái và khối Ả Rập. Hành động này đã khiến giá dầu hỏa tăng vọt gấp 4 lần trong vòng 5 tháng từ 17/10/1973 đến 13/3/1974. Tuy nhiên vì lợi ích chung của toàn thế giới, chính sách chung của OPEC vẫn là tìm cách ổn định giá cả của nguồn nhiên liệu này trong một hạn mức có lợi nhất cho kinh tế toàn thế giới. Ngoài tổ chức OPEC còn có một tổ chức trùng lặp khác là Tổ Chức Các Quốc Gia Ả Rập Xuất Cảng Dầu Hỏa, gọi tắt là OAPEC (Organization Of Arab Petroleum Exporting Countries), trụ sở tại Kuwait. OAPEC gồm 11 quốc gia là: Algeria, Bahrain, Egypt, Iraq, Kuwait, Libya, Qatar, Saudi Arabia, Syria, Tunisia và United Arab Emirates.Mục đích ban đầu của OAPEC là để liên kết các quốc gia bảo thủ Ả Rập với nhau để tránh việc xử dụng yếu tố dầu hỏa như một vũ khí nhằm giải quyết các vấn đề chính trị trong bang giao quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế thì OAPEC đã có những quyết định đi ngược lại với cương lĩnh của mình. Nói chung OAPEC và OPEC vẫn có tiếng nói thống nhất với nhau.

Các bất ổn do dầu hỏa tại Trung Đông

Nếu xét riêng về yếu tố dầu hỏa là một trong những nguyên nhân chính của những sự bất ổn tại Trung Đông, ta có thể nhắc đến các biến cố như sau:

Cuộc chiến kinh Suez năm 1956
Ngày 26 tháng 7 năm 1956, Tổng thống Ai cập Gamal Abdel Nasser quyết định quốc hữu hóa công ty Kinh Suez, đụng chạm đến quyền lợi của hai nước Anh Pháp về quyền sở hữu công ty Kinh Suez, đồng thời có nguy cơ ảnh hưởng việc vận chuyển dầu hỏa từ Trung Đông về Âu Châu. Anh Pháp bí mật họp với Do Thái và một kế hoạch được đưa ra, trong đó Do Thái sẽ đóng vai trò khiêu khích, tấn công Ai cập tại Giải Gaza và bán đảo Sinai. Kế hoạch được mệnh danh “Chiến dịch Ngự Lâm Quân”(Operation Musketeers). Tháng 10 năm 1956, Do Thái tràn qua chiếm Giải Gaza, bán đảo Sinai và mau chóng tiến quân đến kinh Suez. Như đã thỏa thuận, Anh Pháp đề nghị đưa quân qua để làm trái độn. Nasser từ chối. Lấy cớ để bảo vệ quyền lợi kinh Suez với ý đồ lật đổ Nasser, liên quân Anh Pháp ồ ạt tấn công Ai Cập và nhanh chóng chiếm đóng vùng kinh Suez. Về mặt quân sự thì liên quân Anh Pháp đã thành công chiếm được các mục tiêu nhưng về mặt chính trị thì lại là một thảm họa. Hoa Kỳ, Liên Sô, Canada, Australia mà hầu hết các quốc gia thuộc thế giới thứ ba lên án mạnh mẽ hành động xâm lăng này. Hoa Kỳ dọa sẽ bán tháo đồng pound sterling nếu Anh không rút quân. Thủ tướng Anh Eden buộc phải từ chức và tháng 3 năm 1957, liên quân Anh Pháp rút quân ra khỏi vùng Kinh Suez. Lester Pearson đaị diện Canada đề nghị thành lập Lực Lượng Khẩn Cấp Liên Hiệp Quốc (United Nations Emergency Force, UNEF) để giữ gìn hòa bình. Liên Hiệp Quốc chấp thuận giải pháp này. Từ đó, thỉnh thoảng Liên Hiệp Quốc vẫn thường gửi các toán quân “peacekeepers” (Lực Lượng Giữ Gìn Hòa Bình) để thực thi các nghị quyết đdã ban hành. Lester Pearson đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 1957 nhờ sáng kiến này. Quân Do Thái rút trở lại biên giới vào đầu năm 1957.

Cơn khủng hoảng dầu hỏa 1973
Cơn khủng hoảng này bắt đầu ngày 17/10/1973 khi các nước thành viên OAPEC (bao gồm các nước Ả Rập trong OPEC, cộng thêm Ai Cập và Syria) quyết định ngưng cung cấp dầu cho các nước ủng hộ Do Thái trong cuộc chiến Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria. Hai quốc gia mục tiêu chính là Hoa Kỳ và Hòa Lan. Đồng thời, các thành viên OPEC cũng quyết định giảm năng xuất khai thác. Hậu quả của những hành động này có tác hại ngay lập tức cho những quốc gia nhập cảng dầu hỏa. Năm 1974 giá dầu lên gấp 4 lần, gần $12/thùng (tương đương với giá $80/thùng ngày nay). Tại Mỹ, hỗn loạn đã xảy ra và giá xăng lên cao gấp đôi, các xe nối đuôi nhau chờ đổ xăng tại các trạm xăng khắp các miền đất Mỹ. Cuộc khủng hoảng năng lượng đã kéo theo nạn lạm phát và suy thoái kinh tế trên toàn thế giới. Điều trớ trêu là chính các nước thành viện OPEC cũng bị ảnh hưởng nặng vì hành động của chính mình. Các lợi tức thặng dư do dầu hỏa mang lại thường được tái đầu tư vào kinh tế các quốc gia phát triển nên kinh tế toàn thế giới bị suy thoái cũng kéo theo sự lỗ lã cho chính họ. Mặt khác giá dầu lên quá cao khiến nhu cầu bị giảm mạnh và các quốc gia nhập cảng dầu tìm mọi cách để bớt lệ thuộc vào dầu hỏa Trung Đông, chẳng hạn như Nhật Bản chuyển qua kỹ nghệ điện tử, Hoa Kỳ và Tây Âu đầu tư mạnh vào việc kiếm nguồn năng lượng thay thế và tìm các nguồn dầu ngoài khu vực OPEC. Cuộc khủng hỏa năng lượng 1973 chấm dứt ngày 17/3/1974 khi các quốc gia Ả Rập (ngoại trừ Lybia) chấm dứt phong tỏa dầu đối với Hoa Kỳ và Hòa Lan. Tuy đây là lần đầu tiên các quốc gia gọi là thuộc thế giới thứ ba đã có một thứ vũ khí có khả năng làm khốn đốn các cường quốc Hoa Kỳ và Tây Âu nhưng phương cách này đã chứng minh sự thiệt hại đôi khi lan rộng và ảnh hưởng cho tất cả mọi quốc gia, ngay cả các qu6óc gia khởi xướng. Từ đó, các nước thành viên OPEC thường có thái độ chín chắn hơn và xử dụng đứng đắn chức năng kiểm soát giá cả dầu hỏa tùy thuộc vào nhu cầu kinh tế chứ không xử dụng cho những mục tiêu chính trị nữa.

Cơn khủng hoảng năng lượng năm 1979
Cuộc cách mạng Ba Tư với những cuộc xuống đường bạo động liên tục đã làm gián đoạn kỹ nghệ dầu hỏa của Iran. Các quốc gia thành viên OPEC lập tức gia tăng năng xuất khai thác để bù vào chỗ thiếu hụt và đã thành công giữ được mức thiếu vào khoảng 4% mà thôi. Tuy nhiên tâm lý hoảng loạn đã khiến giá xăng dầu lại một dịp nữa được đẩy cao lên. Thời kỳ này, có nhiều người cho rằng giá xăng dầu đã bị các công ty dầu hỏa đẩy lên giả tạo chứ không phải vì thực tế thiếu xăng dầu.

Cuộc chiến Iran – Iraq 1980
Nhân dịp biến cố 1979 tại Iran và phần nào được sự ủng hộ ngầm của Hoa Kỳ, Iraq (dưới thời Saddam Hussein) xua quân toàn bộ vào lãnh thổ Iran ngày 22/9/1980. Mục tiêu của Iraq nhắm vào 3 điểm:
1/ Chiếm con đường thủy huyết mạch Arvand/Shatt al-Arab nằm trên đường biên giới giữa Iran và Iraq.
2/ Tự tiện nhân danh United Arab Emirates, chiếm 3 hòn đảo Abu Musa , Greater và Lesser Tunbs.
3/Âm mưu sát nhập vào lãnh thổ Iraq vùng tranh chấp dầu hỏa Khuzestan với Iran.
Cuộc chiến khởi đầu với sự thắng thế của Iraq nhưng chẳng bao lâu sau, Iran phản công vả đẩy lùi Iraq ra khỏi biên giới. Chiến tranh sau đó tiếp diễn phần lớn trên lãnh thổ Iraq và kéo dài 8 năm trời bất phân thắng bại. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc kêu gọi ngừng bắn nhiều lần nhưng mãi đến năm 1988 chiến sự mới thật sự chấm dứt. Chiến tranh Iran-Iraq đánh dấu sự kiện Iraq đã xử dụng vũ khí hóa học làm chết hàng ngàn binh lính, dân thường Iran và cả người Kurds tại Iraq. Hành động này của Saddam Hussein đã bị cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ.

Cuộc chiến Iraq-Kuwait 1991
Còn được gọi là cuộc chiến vùng Vịnh hay Chiến Dịch Bão Tố Sa Mạc. Đây là cuộc xung đột giữa Iraq và liên quân đồng minh của hơn 30 quốc gia dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và ủy nhiệm bở Liên Hiệp Quốc nhằm giải phóng Kuwait.
Cuộc chiến bắt đầu với cuộc xâm lăng của Iraq (Saddam Hussein) vào lãnh thổ Kuwait ngày 2/8/1990. Lý do phía Iraq đưa ra là Kuwait đã khai thác dầu hỏa trong phần lãnh thổ Iraq. Nguyên nhân chính vẫn là Iraq từ bao lâu nay cho rằng Kuwait là một phần lãnh thổ của Iraq. Liên Hiệp Quốc lập tức ra nghị quyết phong tỏa kinh tế Iraq. Chiến sự khổi động vào tháng giêng năm 1991 và đến ngày 27/2/1991, quân Iraq bị tan rã. Nói chung, những trận đánh được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Iraq, Kuwait và biên giới Saudi Arabia mà không lan rộng qua những vùnh lân cận mặc dù Iraq có bắn hỏa tiễn Scud qua vài thành phố của Israel. Lúc quân Iraq rút ra khỏi Kuwait có đánh phá và đốt cháy những giếng dầu của Kuwait. Cột khói bốc cao hàng dặm và có thể thấy được từ các vệ tinh nhân tạo.

Cuộc chiến Iraq 2003
Sau cuộc chiến Vùng Vịnh 1991, Iraq bị buộc phải báo cáo và phá hủy tất cả các phương tiện vũ khí hủy diệt hàng loạt (weapons of mass destruction WMD) bao gồm các loại vũ khí hóa học, sinh học và hạch nhân. Đồng thời, Iraq cũng phải cho phép Liên Hiệp Quốc vào thanh tra. Sau một thời gian tuân hành nghiêm chỉnh, Saddam Hussein ra lệnh trục xuất các đoàn thanh tra Liên Hiệp Quốc ra khỏi Iraq. Hoa Kỳ cố gắng tranh thủ Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho phép được xử dụng võ lực trường hợp Iraq khăng khăng bất tuân lệnh Liên Hiệp Quốc. Các nước Pháp, Nga và Trung Quốc không bằng lòng và tỏ ý định sẽ dùng quyền phủ quyết để chống lại. Ngày 20/3/2003, Hoa Kỳ, Anh, Tây Ban Nha lôi kéo theo một số nước đồng minh khác và quyết định tấn công Iraq. Thủ đô Baghdad thất thủ ngày 9/4/2003. Liên quân đồng minh chính thức chiếm đóng Iraq. Saddam Hussein bị bắt ngày 13/12/2003. Sự kiện các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt không bao giờ được tìm ra tại Iraq đã làm giảm uy tín của chính quyền George Bush trước dư luận thế giới. Nhiếu người cho rằng lý do tiềm ẩn của cuộc xâm chiếm Iraq chỉ là vì Mỹ muốn kiểm soát nguồn dầu hỏa tại Iraq mà theo các ước tính, có trữ lượng lớn vào hành thứ tư toàn thế giới sau Saudi Arabia, Canada và Iran.

Dầu hỏa và những vấn đề tương lai

Cao điểm dầu (peak oil)

Dầu hỏa là một nguồn nhiên liệu tối cần thiết cho kinh tế và văn minh toàn cầu nhưng lại là một nguyên liệu không tái sinh được (non-renewable). Sau khi được khai thác và xử dụng, nguyên liệu này mất đi vĩnh viễn. Tạo hóa cần hàng triệu năm và dưới những điều kiện tối ưu mới thành lập nổi các trữ lượng dầu hỏa. Theo nhà địa vật lý Marion Hubbert (1956), nhân loại đã đi đến gần kề giai đoạn gọi là “cao điểm dầu” (peak oil) là lúc mà một nửa các trữ lượng dầu đã bị khai thác và từ đó sản lượng sẽ giảm dần cho dến lúc khô kiệt. Chính xác bao giờ thì còn nhiều sự tranh cãi vì nhờ khoa học kỹ thuật, các mỏ dầu mới được tìm ra và hiệu năng khai thác cao hơn nhưng điều không thể tránh khỏi là cuối cùng cũng đi đến cạn sạch. Người ta phỏng đoán cao điểm dầu nằm trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2025. Hiện nay hai trong số ba mỏ dầu lớn nhất thế giới được xác định là đã vượt “cao điểm dầu”: mỏ Cantarell Field tại Mexico (3/2006) và mỏ Burgan Field tại Kuwait (11/2005). Có người (Matthew Simmons 2005) cho rằng mỏ lớn nhất thế giới còn lại là Ghawar Field tại Saudi Arabia cũng đã có dấu hiệu đạt “cao điểm dầu”.

Giá dầu
Có thể nói mà không sợ sai là với thời gian, giá dầu hỏa sẽ tăng chứ không không giảm nữa. Các biến động tại Trung Đông là nơi sản xuất dầu hỏa lớn nhất thế giới sẽ góp phần vào tâm lý lo lắng và đẩy giá dầu lên cao thêm. Chiến tranh Iraq, chương trình hạch nhân của Iran, nội tình bất ổn tại Saudi Arabia, chiến tranh Labanon, tất cả những điều này rất dễ làm gián đoạn lượng dầu cung cấp của Trung Đông cho toàn thế giới. Ngoài vùng Trung Đông, các bất ổn chính trị tại Venezuela, Nigeria, thiên tai bão lụt (Katrina tại Mỹ năm 2005) đều tác động lên giá dầu. Điều quản ngại hơn cả là sự kiện “cao điểm dầu”. Giá dầu nếu tiếp tục lên cao quá một giới hạn nào đó chắc chắn sẽ đưa đến lạm phát và ảnh hưởng xấu đến kinh tế toàn cầu.

Trách nhiệm của Hoa Kỳ và các cường quốc trên thế giới

Đứng trên khía cạnh đạo đức, sự kiện các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật cao xử dụng quá nhiều dầu hỏa là một điều không công bằng. Dầu hỏa là tài sản chung của cả nhân loại và là một dạng di sản không tái tạo lại được, con người phải biết chia sẻ lẫn nhau để tận dụng tối đa của trời cho này làm sao mang lại tiện nghi và sung sướng nhiều nhất cho tất cả mọi người.

Do đó trách nhiệm của Hoa Kỳ và các cường quốc xử dụng năng lượng nhiều nhất trên thế giới phải là:

Tăng cường tối đa các biện pháp giảm thiểu việc xử dụng năng lượng. Ban hành các đạo luật tiết kiệm năng lượng như khuyến khích xử dụng các phương tiện di chuyển công cộng, tăng thuế lưu hành xe riêng, tăng tiền điện nếu vượt quá hạn mức, giảm thuế cho những phương tiện máy móc ít tốn hao nhiên liệu (xe hơi hybrid, xe hơi nhiều chỗ ngồi) v.v…

Đầu tư thật nhiều vào các dự án, công trình nghiên cứu thay thế dầu hỏa bằng các nguồn năng lượng có thể tái sinh lại được như cồn (ethanol), tế bào nhiên liệu (fuel cell), thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời v.v… [TT Obama đang chú trọng vào điều này].

Gìn giữ hòa bình thế giới một cách hiệu quả nhất. Điều cần thiết hàng đầu là Hoa Kỳ và các cường quốc phải thay đổi và có một chính sách chung đối với các vấn đề của thế giới, trong đó có vấn đề dầu hỏa. Hoa Kỳ có những lý do riêng để xử dụng võ lực nhằm giải quyết vấn nạn khủng bố đang hiện hữu như một căn bệnh ung thư trên thế giới nhưng liệu chính phủ Hoa Kỳ đã cân nhắc và nghiên cứu sâu xa các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này hay chưa? Có cách nào thay vì tiêu tốn tiền thuế hàng trăm tỉ dollars cho mục tiêu quân sự ở Iraq, chuyển khối lương tiền này cho ngân khoản nghiên cứu năng lượng thay thế hay không?

Mở rộng đối thoại với những thế lực tiêu cực đang còn làm hành tinh trái đất là một nơi bất trắc cho con người sinh sống. [Cái này tôi thấy TT Obama đang áp dụng]
Chương trình hạch nhân của Iran có thật sự vì mục đích hòa bình hay không? Thế giới có thể nhượng bộ đến chừng mức nào để bảo đảm hành động của Iran không đe dọa nền hòa bình thế giới? Nếu đã tận dụng hết các phương tiện hoà hoãn rồi mà mối nguy cơ vẫn còn đó, cần phải có hành động dứt khoát, nếu cần thiết, xử dụng võ lực nhưng phải có sự thống nhất của Liên Hiệp Quốc.

Kết luận

Từ xưa đến nay, vùng Trung Đông vẫn luôn luôn là một nơi tranh chấp giữa các dân tộc khác nhau vì các lý do như tôn giáo, văn hóa, sắc tộc, kinh tế… Từ lúc dầu hỏa được khám phá ra tại đây với trữ lượng quá lớn như vậy thì quả thật chúng ta khó mà mơ ước con người sẽ yên ổn làm ăn chung với nhau mà không cắn xé nhau. Có thể nói rằng văn minh nhân loại ngày nay là một loại “văn minh dầu hỏa” trong đó dầu hỏa đóng một vai trò hết sức cần thiết cho sự vận hành của mọi thứ. Các biến động tại Trung Đông đều có khả năng làm gián đoạn sự cung cấp dầu hỏa cho các nơi khác, và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người.

Bây giờ cũng đã khá muộn để bắt tay thực sự vào những chuyện thực tế hơn là đấu đá nhau tại Trung Đông. Nhưng thà muộn còn hơn không. Công tác tìm nguồn thay thế cho dầu hỏa đang cạn dần là một ưu tiên hàng đầu cần phải đặt ra. Nhân loại mất khoảng 70 năm để đạt cao điểm dầu vào đầu thế kỳ 21, nay chỉ còn 70 năm nữa là sẽ đến lúc không còn một giọt dầu nào trên hành tinh địa cầu. Lúc đó văn minh con người sẽ đi về đâu? Đó là chưa kể những biến động lớn chắc chắn sẽ phải xảy ra trong thời gian tới đây vì giá dầu hỏa bị đẩy lên quá cao, kinh tế toàn cầu sẽ bị suy thoái. Tương lai của thế hệ con cái quả thật không tươi sáng lắm nếu thế hệ này không làm những điều gì thật cụ thể và thật hiệu quả ngay từ bây giờ.

Taì liệu tham khảo:
http://en.wikipedia.org/wiki/Middle_east
http://msnbc.msn.com/id/5821973/site/newsweek/
http://www.nationmaster.com/graph/en…y-oil-reserves
http://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Restore_Hope
http://www.nationmaster.com/graph/en…il-consumption
http://www.nationmaster.com/red/pie/…il-exports-net
http://en.wikipedia.org/wiki/Opec
http://www.opec.org/home/
http://en.wikipedia.org/wiki/Organiz…ting_Countries
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of…he_Middle_East
http://en.wikipedia.org/wiki/1956_Suez_War
http://en.wikipedia.org/wiki/1973_oil_crisis
http://en.wikipedia.org/wiki/1979_energy_crisis
http://en.wikipedia.org/wiki/Iran-Iraq_War
http://en.wikipedia.org/wiki/Gulf_War
http://en.wikipedia.org/wiki/2003_invasion_of_Iraq
http://en.wikipedia.org/wiki/Peak_oil
http://en.wikipedia.org/wiki/Ghawar_Field
http://en.wikipedia.org/wiki/Oil_pri…2004_and_later

nguồn:
http://www.x-cafevn.org/forum/showth…?t=2105&page=4

nguyễn tất Cả

Đính chính một số thuật ngữ trong bài viết Qatar của bác Martian:

1. Công ty Anglo-Persian Oil Co mà bác nói chính là BP ngày nay.
2. Thuật ngữ tiếng Việt không nói “số lượng dầu khí” mà nói là “trữ lượng”.
Trữ lượng dầu của Qatar đứng thứ 16 trên thế giới, nếu tính per capita thì Qatar đứng thứ 3 (vì dân số ít) http://www.nationmaster.com/graph/en…y-oil-reserves.
Tương tự như vậy, trữ lượng khí thiên nhiên (natural gas) Qatar đứng thứ 3, còn theo capita thì đứng đầu bảng http://www.nationmaster.com/graph/en…l-gas-reserves
Thuật ngữ “cánh đồng dầu” là không chính xác, tiếng Viêt gọi là “giếng dầu” hay “mỏ dầu”.

Giải thích thêm:

Trong ngành khai thác (E&P), khi trữ lượng của mỏ dầu giảm, chi phí khai thác sẽ tăng cao (chẳng hạn phải dùng áp lực cao hơn để bơm dầu lên mặt đất), khi đó chi phí bán dầu khai thác được không đủ bù chi phí khai thác thì mặc dù mỏ vẫn còn dầu người ta sẽ đóng, chờ đến khi có công nghệ tiên tiến rẻ hơn mới có thể khai thác được.
Chẳng hạn với công nghệ khai thác hiện nay ở VN (vietsovpetro) thì chỉ lấy được tối đa 40-50% trữ lượng mỏ.


Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: