Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm 22nd, 2009

Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

December 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the United Nations in Cambodia

Reviewed by Stephen J. Morris

Posted December 5, 2008

Dancing in Shadows: Sihanouk, the Khmer Rouge, and the united nations in Cambodia
by Benny Widyono

Rowman and Littlefield,356 pages, $29.95

In the sad history of 20th century Cambodia, a bright light of hope for its long suffering people came from the peace plan, adopted by the United Nations Security Council in 1990, and signed by the warring Cambodian parties in Paris in October 1991. That plan authorized the holding of free elections in a “politically neutral environment,” under the supervision of U.N. peacekeepers and a United Nations Temporary Administration in Cambodia. The primary purpose of the Agreement was to end the war between competing Cambodian factions, two of which were rival communist organizations, and two of which were noncommunist. The second purpose of the plan was to give the Cambodian people the chance to determine their own future in a nonviolent way, by creating a culture of tolerance and social pluralism, and a set of liberal democratic political institutions.

It is now clear that while armed conflict eventually ended in 1999, it was not because of the Paris Agreement that had been applied in 1992-93. It is also clear that the will of the Cambodian people, as expressed in the victory of the noncommunists in the elections of 1993, was ignored. The election’s loser—the communist Cambodian People’s Party—bullied its way into retaining real power with threats of massive violence. Prince Norodom Sihanouk and the force-averse U.N. “peacekeepers” caved in to Hun Sen’s demand for an ostensible but in fact bogus “coalition” with the election’s winners. Consequently, Cambodia did not then and does not now have a government freely chosen by its people.

Why this U.N. failure was allowed to happen has never been systematically analyzed in a sober and objective way. However, the appearance of a memoir by Indonesian-born U.N. diplomat Benny Widyono is welcome. Mr. Widyono’s book mostly recalls his personal experiences as the senior UNTAC official in Siem Reap province during the election preparations, campaign and balloting of 1992-93, and as the U.N. secretary general’s personal representative in Cambodia from 1993-97.

For the already well informed and objective scholar, Mr. Widyono’s account has several things to recommend it. He ably describes the profound failings of the UNTAC administration as he witnessed them at the local level. UNTAC was expected, by the terms of the Paris Agreement, to exercise control over the key ministries of the existing administration of Cambodia. But Mr. Widyono shows how hopelessly understaffed UNTAC was for the designated task. It was also ill equipped linguistically, with most of the few Khmer speakers assigned to the Information Division. The UNTAC leadership itself was in disarray at the beginning of the operation. UNTAC was unable to ensure that the CPP-controlled government did not finance the CPP’s political campaign, and UNTAC would not stop partisan violence during the elections.

But while informed scholars can glean many interesting details of the failings of UNTAC from Mr. Widyono’s account, it is defective as an overall objective analysis for either scholars or the broader public.

First, Mr. Widyono clearly has preferences between the various contenders for political power. He exposes the many political and personal flaws in the leader of the royalist funcinpec party, Prince Ranariddh: his vacillation, his weakness and his corruption. The royalist funcinpec party is treated with derision. Most of Mr. Widyono’s charges against the royalists, especially Ranariddh, have long been known to astute observers of Cambodia.

At the same time, Mr. Widyono applies different standards in his treatment of the CPP and its government structure, the State of Cambodia. Though not uncritical of the CPP, the author gives CPP strongman Hun Sen and his regime a fairly gentle evaluation.

For instance, Mr. Widyono ignores evidence of the Hun Sen regime’s direct involvement in drug trafficking, human trafficking and forest defoliation. In a cover story entitled “Medellin on the Mekong?,” which appeared in the REVIEW in 1995, former review and Washington Post journalist Nate Thayer explained the close link between political figures and criminal syndicates in Cambodia. Mr. Widyono quotes the review often, but not for this revealing analysis.

Moreover, he accurately describes the notorious head of the National Police, Hok Lundi, as “one of the most feared men in Cambodia,” but the details are not spelled out. Nowhere in the book does Mr. Widyono hold Lundi (who died in a helicopter crash last month) responsible for the torture and murder of the political opposition, or for his continuing involvement in human trafficking.

Or consider Mr. Widyono’s coverage of the May 1997 grenade attack on a peaceful political rally by opposition leader Sam Rainsy, which killed 19 people and wounded 150. The author suggests that the culprits for this atrocity were not obvious; he tries to muddy the evidential waters by claiming that different parties had been blamed. Yet despite Mr. Widyono’s agnosticism, numerous analyses by journalists since that event have provided compelling evidence that the Hun Sen regime was directly involved in the atrocity. Hun Sen is always portrayed as a tough and wily politician, but not as a ruthless dictator.

At the beginning of the book, Mr. Widyono writes that the whole peace process was flawed because the Khmer Rouge was part of it. But one is compelled to ask how there could have been a peace process without one of the main belligerents? Mr. Widyono’s illogical view was precisely the political position of the Hun Sen regime and its foreign supporters up until the moment it agreed to sign the Paris Peace Agreements. No wonder then that when Mr. Widyono’s time was up as U.N. representative in Cambodia in May 1997, Hun Sen begged the U.N. secretariat to allow him to stay on.

The informed observer could have guessed where Mr. Widyono’s sympathies lay from his choice of Ben Kiernan to write his foreword. Mr. Kiernan was a devoted supporter of Pol Pot’s Khmer Rouge from 1975-77 who subsequently became a propagandist for the Heng Samrin-Hun Sen led faction of Khmer Rouge’s defectors, now known as the CPP.
Unfortunately, what could have been a shorter and less controversial memoir of events, has extended itself unnecessarily into a work of advocacy for the current dictatorship that rules Cambodia. But even as a piece of advocacy it has its value, for it gives us insight into the thinking of some U.N. bureaucrats who performed so poorly. And by exposing his own prejudices in favor of the CPP dictatorship, Mr. Widyono inadvertently illuminates one reason why the 1991 Paris Agreements failed to bring peace or democracy to Cambodia.

Stephen Morris is a senior fellow at Johns Hopkins University’s School of Advanced International Studies in Washington D.C., and author of Why Vietnam Invaded Cambodia (Stanford University Press, 1999)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Kinh Tế Việt Nam tháng 5-2009: Thất Nghiệp sẽ Tăng

Posted by hoangtran204 trên 22/05/2009

Những cơn đau do lối phát triển kinh tế

theo lối định hướng XHCN của VN

Far Eastern Economic Review (Tạp chí Kinh Tế Viễn Đông)

Số tháng 5-2009

Long S. Le

Ngày 19-5-2009

Thành tích kinh tế của Việt Nam trong quý 1 năm nay gợi lên rằng những nguy cơ trong ngắn hạn của đất nước này quả thực ở phía bất lợi.

Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, một bộ phận nghiên cứu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP là 3,1% trong quý 1- nhịp độ chậm nhất trong 10 năm qua. Đây là một sự sút giảm quan trọng kể từ mức 7,3% trong quý 1 năm 2008.

Không may cho Việt Nam, bất lợi đó có thể chỉ là bước khởi đầu. Bởi vì đất nước này đang phụ thuộc hơn vào nền kinh tế toàn cầu so với cách đây 10 năm. Việt Nam cũng dễ bị tổn thương hơn trước cơn suy thoái kinh tế toàn cầu.

Trong những năm qua, xuất khẩu của nước này chiếm tới 70% tổng thu nhập. Tuy nhiên, những thị trường xuất khẩu then chốt của Việt Nam, là Liên hiệp châu Âu, Hoa Kỳ, và Nhật Bản, được dự báo là sẽ có mức tăng trưởng âm 2% trong năm nay – trong trường hợp Nhật Bản là âm 5%. Theo một số tính toán, nhập khẩu cho các thị trường này đang được trông đợi là sẽ giảm xuống 52% và , bởi vậy, các ngành xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải chịu cú đòn rất nặng nề.

Vậy nên, tổ chức Economist Intelligence Unit vào giữa tháng Ba đã tiên đoán một kịch bản u ám: mức tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 0,3% trong năm nay, giảm từ mức 6,2% năm 2008 và mức 8,48% năm 2007; sự hồi phục không được trông đợi cho mãi tới giữa năm 2010 khi mức tăng trưởng được cho là sẽ leo lên 2%.

Trái lại, mặc dù Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB mới đây đã hạ thấp mức tăng trưởng của Việt Nam theo tiên đoán lần lượt là 4,7% và 5%, họ tin là việc chính phủ quyết định cắt giảm lãi suất và giảm mức dự trữ bắt buộc như là một hành động đáp ứng tình trạng phát triển quá nóng trong năm ngoái đã đặt nước này vào một vị thế chịu đựng được cơn khủng hoảng.

Chắc chắn là thật khó lòng mà đánh giá thấp nền kinh tế Việt Nam.

Theo một bản báo cáo mới đây của Nielson, nhan đề “Việt Nam – Bùng nổ hay Sụp đổ năm 2009,” giới tiêu thụ hàng hóa người Việt Nam nói chung dường như tự tin hơn so sánh với các quốc gia khác, họ cho rằng tình trạng lạm phát-vật giá gia tăng và nạn thất nghiệp ở VN là hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chứ không phải là do sự ham hố muốn phát triển.

Trong khi đó lượng tiền[trong nước thường gọi là kiều hối] thu được từ 3,5 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài (lượng tiền nầy trong năm 2007 chiếm tới 10% GDP) chắc chắn là để làm vật đệm cho những bó buộc mang tính văn hóa. Nói cách khác, người Việt Nam ở nước ngoài sẽ giúp đỡ các thành viên trong gia đình ở Việt Nam mà không cần quan tâm đến tình hình kinh tế trong nước. Hơn nữa, người Việt Nam ở nước ngoài với vốn tư bản ngày càng tỏ ra thích hợp hơn để trở thành những nhà đầu tư trong giai đoạn suy thoái nầy, đặc biệt nếu như những quy định mới đang đặt ra để đối xử với tất cả người Việt ở nước ngoài tương tự như nhau (thí dụ: không có sự đối xử khác biệt giữa những người ở phía phương Tây so với những người ở phía Đông Âu).

Bởi vậy có vẻ như là Việt Nam trong thời gian ngắn sẽ tránh được một cuộc khủng hoảng, thế nhưng các nhà lãnh đạo của nước này sẽ nhận thấy rất khó khăn để đạt được mục tiêu của họ là một mức tăng trưởng 5% cho năm 2009.

Nền kinh tế tương đối vững mạnh của Trung Quốc không thể giúp được gì nhiều cho Việt Nam – xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc sẽ vẫn còn ít ỏi và thường được sử dụng như là những nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm của Trung Quốc để xuất lại sang phương Tây.

Trên thực tế, Bộ Công thương vào cuối tháng Tư đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của nước này trong năm 2009 từ 13% xuống còn 3%.

Ấy thế mà những nhà lãnh đạo Việt Nam có vẻ như không chịu thừa nhận những tai ương kinh tế của nước mình. Vào tháng Hai vừa qua, thủ tướng Dũng đã nói rằng nước ông sẽ có khả năng đạt được mức tăng trưởng 6,5% trong năm 2009.

Một tháng sau vị thủ tướng đã phải sửa lại dự báo là từ 5% đến 5,5%. Thế nhưng văn phòng của ông ta vẫn tỏ ra lạc quan rằng vào cuối năm nay lực lượng lao động và thị trường trong nước của Việt Nam “sẽ chắc chắn” thúc đẩy đất nước quay trở lại những mức tăng trưởng kinh tế giống như trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Điều này không được trợ giúp bởi thực tế rằng nhịp độ cổ phần hóa của các công ty do nhà nước việt Nam làm chủ đang đảo chiều. Theo Bộ Tài chính, số lượng các công ty quốc doanh chuyển đổi thành cổ phần hóa (hay tư nhân) đã sụt giảm từ 724 năm 2005 xuống còn 640 năm 2006, 150 năm 2007, và 73 năm 2008.

Mặc dù những bằng chứng gợi lên rằng hầu hết các công ty đã và đang được cổ phần hóa đã làm ăn có lời và trả những khoản cổ tức cao sau khi được cổ phần hóa, nhưng nhà nước sẽ vẫn tiếp tục làm chủ các ngành công nghiệp chiến lược vô hạn định. Các ngành công nghiệp
mà nhà nước nắm giữ bao gồm dịch vụ viễn thông, ngân hàng và tài chính, và giáo dục đào tạo để nhằm mục đích bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa. [1]

Vì thế mà “khi những nhà lãnh đạo ở đây nói là họ muốn một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thì họ thực sự có ý muốn nắm giữ các ngành dịch vụ và công nghiệp nói trên,” theo lời của kinh tế gia Jonathan Pincus.

Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi quyền lợi của đảng được nêu bật một cách rõ ràng trong gói kích thích kinh tế của chính phủ. (thí dụ) Trong số tiền 1 tỉ đô la đầu tiên đã được phân phối thì vào khoảng 75% là dành cho các công ty do nhà nước làm chủ [SOE], 20% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ [SME], và 5% cho các dự án xây nhà cho những người có thu nhập thấp.

Đây là thái độ bất chấp tình trạng kém hiệu quả đã được biết đến của các doanh nghiệp nhà nước, những công ty quốc doanh không tạo ra công ăn việc làm cho đất nước nầy.

Kế hoạch kích thích kinh tế lần thứ hai cũng sẽ mang lại quyền lợi to lớn cho các doanh nghiệp nhà nước và làm chút ít để giải quyết tỉ lệ thất nghiệp. Tỉ lệ thất nghiệp sẽ chắc chắn gia tăng lên gấp đôi từ 4,7% năm 2008 lên 8,2% năm nay (không kể khu vực có lao động không chính thức).

Lời buộc tội rằng: điều gì sẽ giữ VN lại, thì có tính chất chính trị và không phải là không biết cách làm (kinh tế) đã được làm nổi bật lên bởi Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard. Lời tuyên án của bản báo cáo nầy đã được công bố vào tháng 1-2008 là dành cho Việt Nam, “sự thành công tùy thuộc vào điều mà mình chọn lựa” *, song trên thực tế bản báo cáo nầy “không khác gì với một huấn luyện viên bóng đá; ông huấn luyện viên ra quân bằng cách đưa vào đội hình những cầu thủ yếu kém nhất trong một trận cầu tranh chức vô địch.”

Việt Nam sẽ tiếp tục nếm trải những cơn đau trong thời kỳ phát triển kinh tế cho tới khi nào mà những điều đó thay đổi [2]. (ý nói là các công ty quốc doanh phải biến mất thành các công ty cổ phần tư nhân).

Dr. Long S. Le là một giáo sư và là giám đốc những sáng kiến quốc tế của Viện nghiên cứu Toàn cầu thuộc Viện Đại học Houston, nơi ông cũng là một nhà đồng sáng lập/người giảng dạy cho các lớp học nghiên cứu về Việt Nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Tác giả nhắc đến bản báo cáo Lựa Chọn Thành Công đã được công bố lần đầu tiên trên basam.tk từ đầu năm 2008, nhưng nó sẽ có giá trị ít nhứt là tới năm 2020, mời bà con đọc toàn bài ấy ngay trên mục đầu trang nầy.

Lời bình cuả TH

Nếu mức phát triển kinh tế Việt Nam của quí 1 xuống thấp như hiện nay là 3%, và các quí 2, 3, 4 xuống nữa và tính chung toàn năm 2009 là 0,3%, thì chắc chắn tình trạng thất nghiệp của VN sẽ kéo dài cho đến hết giữa năm 2010 (nếu như không muốn nói là cho đến hết năm 2011)

Theo nguồn tin của TTX Vĩa hè, hiện nay nếu các bạn nào có về miền Tây thì sẽ thấy: dân chúng ở đấy khổ hơn rất nhiều. Họ không còn có tiền để mua những món bình thường nữa ngoài việc mua đồ ăn. Nhiều dân nghèo chỉ mua xương cá, gan cá (của các công ty xuất khẩu hải sản) để sống lây lất. Các món nầy trước đây vứt bỏ hoặc mua về xay nhuyễn hoặc bằm cho heo ăn, thì nay thì càng nhiều gia đình mua ăn. Vì thiếu thức ăn, các trẻ em bị suy dinh dưỡng nhiều hơn.

Hôm qua, Ngân hàng dự trữ Liên bang Hoa kỳ báo cáo cho biết: nền kinh tế của Mỹ sẽ giảm bớt đi từ 1,23% -2% chứ không phải là 0.3-1,23% như đã suy đoán vào đầu năm 2009. Và ngân hàng nầy còn cho biết rằng: tình trạng suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chánh tính từ đầu năm 2009 đến nay chỉ là mới bắt đầu. Và bồi thêm một cú chót: từ tháng 5 cho đến cuối năm 2009, tình hình kinh tế và tài chánh của Mỹ sẽ còn xuống thấp nữa. Sau khi tin nầy vừa được đưa lên mạng internet, thì thị trường chứng khoán toàn thế giới sụt giảm (chút ít) ngay.

Nếu Mỹ cứ tiếp tục khủng hoảng tài chánh và suy thoái kinh tế, thì hậu quả mức nhập khẩu hàng hóa của Mỹ sẽ giảm bớt và kéo dài trong thời gian từ đây đến cuối năm và lan ra năm 2010, lúc ấy cả thế giới sẽ ngất ngư; bởi vì Mỹ là quốc gia nhập khẩu tất cả các mặt hàng của thế giới sản suất và bán ra như dầu, đồ phụ tùng xe, các hàng điện tử, hàng may mặc, vải, hải sản, thực phẩm…và vì nền kinh tế của Mỹ chiếm 25% nền kinh tế của toàn cầu. [ GDP của Mỹ là hơn 13 ngàn tỉ so với GDP của toàn cầu là 53 ngàn tỉ Mỹ kim; còn GDP của VN là 70 tỉ)]

[1] Chắc chắn các bạn đọc trang Ba Sàm đã nhận ra Dr. Song Lê của bài báo nầy đã quên đề cập tới loại công nghiệp béo bở khác mà nhà nước VN đang làm chủ đó là các công ty quốc doanh về năng lượngnguyên liệu như dầu hỏa, than và khoáng sản…

Theo báo TT, VNN… thì tiền bán dầu hỏa của VN từ tháng 9-2007 đến tháng 9-2008 là 10 tỉ Mỹ kim. Số tiền nầy đi về đâu thì không một người dân nào trong nước được biết. Trái lại, giá xăng mà người VN mua hàng ngày còn cao hơn 25% giá xăng được bán ra tại các phương tây và Mỹ.

  1. Các quốc gia có mỏ dầu thường bán xăng cho dân chúng của họ với giá rẻ, vì chính phủ của họ cho rằng: tài nguyên xăng dầu của đất nước nếu khai thác được thì phải chia lại cho người dân được hưởng chứ không phải nằm trong tay của chính phủ muốn quyết định làm gì thì làm. V
    ì vậy, ở hơn 20 quốc gia sản suất dầu hỏa, họ bán xăng cho dân chúng xài chỉ bằng ¼ giá bán tại các nước như Mỹ, các nước phương Tây (và Việt Nam). Cụ thể trong thời gian giá xăng cao nhất 1 lít gần bằng 1 đô la tại các nước phương tây và ở Mỹ, thì giá 1 lít xăng ở các nước sản suất dầu hỏa là 25 xu đến 30 xu.

[2] Ý nói là chỉ khi nào mà nhà nước không làm chủ các ngân hàng, tài chánh, giáo dục và đào tạo, dịch vụ viễn thông (internet, bưu điện, truyền hình…) nghĩa là cái đuôi “định hướng chủ nghĩa XH” bị rụng thì lúc ấy mới có sự phát triển kinh tế thật sự.

Tuy vậy trên đời nầy dễ thường làm gì có chuyện tự dưng AI Đó chê tiền nên không muốn làm ĐẦY TỚ nữa. Thực tế là họ đã ngang nhiên coi rằng chức vụ đầy tớ “nên được cha truyền con nối” từ mấy chục năm qua; không phải chỉ ở Trung ương mới xẩy ra, mà chính sách cha truyền con nối là điều quá phổ biến ở các cấp thành phố, tỉnh, huyện, xã.

*Mời các bạn đọc thêm về tình trạng các công ty quốc doanh ở Việt Nam từ 1990-2006 là như thế nào trong link nầy, kể từ trang 16, mục IV. SOEs and Privatization in Vietnam

http://swopec.hhs.se/eijswp/papers/eijswp0228.pdf


May 2009

Vietnam’s Growing Pains

by Long S. Le

Posted May 19, 2009


Vietnam’s economic performance in the first quarter of this year suggests the country’s short-term risks are indeed on the downside. According to the Central Institute for Economic Management, a research arm of the Ministry of Planning and Investment, the GDP growth rate was 3.1% in the first quarter—the slowest pace in at least a decade. This was a significant fall from the 7.4% in the first quarter of 2008. Unfortunately for Vietnam, such downside may be just beginning. Because the country is more dependent on the global economy than 10 years ago, it is also more vulnerable to the global economic downturn.

In past years the country’s exports accounted for up to 70% of its revenue. However, Vietnam’s key export markets, the European Union, the U.S. and Japan, are forecast to have minus 2% growth rates this year—in the case of Japan, minus 5%. By some accounts, imports for these markets are expected to plunge by 52% and, thus, Vietnam’s exports will be hit hard. As such, the Economist Intelligence Unit in mid-March predicted a gloomy scenario: Vietnam’s GDP growth rate will be just 0.3% this year, down from 6.2% in 2008 and 8.48% in 2007; recovery isn’t expected until mid-2010 when the growth rate is expected to climb to 2%.

By contrast, although the IMF and the World Bank have recently downgraded Vietnam’s growth forecast to 4.7% and 5% respectively, they believe the government’s slashing of interest rates and lowering banks’ reserve requirements as a response to last year’s overheating has put the country in a position to weather the crisis. To be sure, it is hard to underestimate Vietnam’s economy. According to a recent Nielson’s report, “Vietnam – Boom or Doom in 2009,” Vietnamese consumers overall appear to be more confident compared to other countries, citing inflation and unemployment are the result of global economic crisis and not greed.

Meanwhile inward remittances (which in 2007 equals 10% of GDP) from the 3.5 million Vietnamese overseas are likely to be buffered by cultural obligations. In other words, overseas Vietnamese will help family members in Vietnam regardless of economic conditions. Furthermore, overseas Vietnamese with capital are more likely to become investors during the slowdown, especially if new laws are in place that treat all overseas Vietnamese the same (i.e., those in the West versus those in Eastern Europe).

Therefore it is likely that Vietnam in the short run will avoid a crisis, but its leaders will find it very difficult to achieve their goal of a 5% economic growth rate for 2009. China’s relatively robust economy may not be of much help to Vietnam—Vietnamese exports to China are still small and often used as inputs for Chinese products shipped to the West. In fact, the Ministry of Industry and Commerce in late April had to adjust the country’s export target growth for 2009 from 13% to 3%.

Still, Vietnamese leaders seem to be in denial over the country’s economic woes. This February the prime minister said the nation would be able to achieve a growth rate of 6.5% for the year. A month later the prime minister had to revise the country’s forecast to 5%-5.5%. But his office remains optimistic that Vietnam’s labor force and domestic markets “will certainly” push the country back to pre-global crisis growth levels by the end of this year.

This is not helped by the fact that Vietnam’s equitization rate is reversing. According to the Ministry of Finance, the number of SOEs equitized decreased from 724 in 2005 to 640 in 2006, 150 in 2007, and 73 in 2008. Even though evidence suggests that most companies that have equitized have made profits and paid high dividends after equitization, the state will hold on to strategic industries indefinitely. This includes telecommunications, banking and financial services, and education and training in order to safeguard the socialist order.

So that “when leaders here say they want a socialist market economy, they really mean it,” says economist Jonathan Pincus. Not surprisingly, party interest is clearly highlighted in the government’s stimulus package. Of the first $1 billion been distribute about 75% are reserved to SOEs, 20% for SMEs, and 5% for housing projects for low-income earners. This is despite the known inefficiency of SOEs, which do not create employment for the country. The second stimulus package underway will also largely benefit SOEs and do little to address unemployment rates, which will likely double from 4.7% in 2008 to 8.2% for this year (not including the informal sector).

The indictment that what will hold back Vietnam is politics and not know-how has been highlighted by a report by Harvard Vietnam Program. The report’s verdict published in January 2008 was that for Vietnam “success is a choice” but in practice it was “no different from a soccer coach who starts his weakest players in the championship match.”

Until that changes Vietnam will continue to experience growing pains.

Long S. Le is a professor and director of international initiatives for Global Studies at the University Houston, where he is also a co-founder/lecturer of Vietnamese studies courses.

Posted in Uncategorized | 2 Comments »