Trần Hoàng Blog

50 ngàn công nhân Trung Quốc Đang có mặt ỏ VN

Posted by hoangtran204 trên 10/05/2009

Đúng là chuyện . . . . không cười không được.

“Khai thác Bô Xít là Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” ====>

Dọa nạt không xong thì đem BCT ra để . . . . Dọa tiếp.

====>Thấy không có hiệu quả, lập tức chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng cười đểu: “Dự án Nhân Cơ có tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đôla , chưa thuộc dự án phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội”

Nhưng theo lời phát biểu ấy, ông Trọng chỉ nhắc 1 điểm tiền bạc (quên bén lời tuyên bố sẽ đầu tư 15 tỉ đô la vào Bô Xít) và không hề nhắc đến 4 điểm khác cho thấy dự án khai thác bauxite phải có giám sát của quốc hội.

——————————————————————–
50 ngàn công nhân Trung Quốc Đang có mặt

tại Việt Nam

Nam Nguyên, RFA

09.05.2009

Hàng trăm công nhân Trung Quốc đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai, Lâm Đồng.

Trong khi những báo nhiều độc giả như Tuổi Trẻ Online bất ngờ dừng loạt bài về công nhân TQ ở Tây Nguyên, làng báo TPHCM vẫn còn một tờ tiếp tục các bài viết về vấn đề này.

Một nhà báo lâu năm ở VN nói với chúng tôi rằng, không phải ngẫu nhiên một số báo phải ngưng một đề tài và báo khác lại được tiếp tục. Theo lời ông, có một vài biệt lệ và những báo làm đề tài nhậy cảm thường tiếp cận vấn đề rất khéo léo, một hình thức lách để viết mà vẫn tường trình được sự việc.

Saigon Tiếp Thị là báo in và có thêm bản điện tử sgtt.com.vn, ngày 14/4/2009 tờ báo có phóng sự ghi nhận sự kiện hàng trăm công nhân TQ đang sống và làm việc ở dự án bauxite Tân Rai Lâm Đồng. Gần đây nhất ngày 6 /5/2009, Saigon Tiếp Thị đưa lên mạng bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ dưới hình thức phóng sự, ghi nhận sự kiện hơn 500 công nhân Trung Quốc đã vào VN từ ba năm qua, lao động tại các công trường thủy điện ở tỉnh Quảng Nam.

Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’

Trước khi trở lại với bài báo SGTT, chúng tôi muốn tìm câu trả lời là thực sự đã có bao nhiêu công nhân TQ hoạt động ở VN, đặc biệt là lực lượng lao động phổ thông.

Cuối tháng Tư, các báo ở VN đều đưa tin ông Nguyễn Thanh Hòa Thứ trưởng Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội cho biết, có khoảng 50 ngàn người nước ngoài đang làm việc tại VN và 30% trong số này thuộc diện vào Việt Nam làm việc không hợp pháp.

Con số chính thức 50.000 này có thể chưa phản ánh đúng thực tế, vì theo số liệu của Bộ Xây Dựng và Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí, các nhà thầu Trung Quốc đang nắm giữ vị trí tổng thầu nhiều dự án ở VN, bao gồm thủy điện nhiệt điện, nhà máy xi măng và phân bón.

Theo Tổng Hội Xây Dựng VN thì đã có hàng vạn công nhân TQ có mặt ở các công trình mà doanh nghiệp TQ trúng thầu. Doanh nghiệp TQ có thói quen mang theo công nhân làm việc kể cả lao động phổ thông, gồm luôn anh nuôi chị nuôi, công nhân vệ sinh và bảo vệ.

Công nhân TQ đã có mặt ‘trên từng cây số’ theo cách nói vui của người bình dân. Trong dịp trả lời đài ACTD, TS Nguyễn Quang A Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển, một tổ chức độc lập ở Hà Nội đưa ra nhận định:

“Chắc chắn có khá nhiều công nhân lao động phổ thông nước ngoài đang làm việc ở VN một cách bất hợp pháp. Con số cụ thể là bao nhiêu thì tôi cũng chỉ được biết qua thông tin trên báo chí, nhưng mà người dân có thể cảm nhận được việc này qua một số dự án mà các nhà đầu tư nước ngoài trúng thầu.”

Trở lại bài báo ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ trên báo SGTT bản điện tử ngày 6/5. Bài báo được dẫn nhập, Trên cung đường Hồ Chí Minh, đoạn đi qua huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam có một làng công nhân người Quảng Tây Trung Quốc. Họ đã đến đây hơn ba năm để xây dựng hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn 2.

Phóng viên Đoàn Nguyễn tác giả bài phóng sự ghi nhận rằng, cho đến thời điểm cuối tháng 4 trên đại công trường này, có 523 công nhân Trung Quốc. Dự án thủy điện này sắp hoàn thành, người TQ đã có ngay công trình thủy điện mới, cũng ở miền Trung Việt Nam để thi công tiếp.

Nỗi đau của nước nhược tiểu

Công ty Cổ Phần Za Hưng thuộc tập đoàn Hà Đô, Bộ Quốc Phòng, địa chỉ 25 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội, là chủ đầu tư công trình thủy điện Za Hung. Ông Nguyễn Văn Đảm, phó tổng giám đốc công ty, cho biết tổng đầu tư cho công trình là 600 tỉ đồng, người Trung Quốc đã thắng hai trong ba gói thầu xây lắp thuộc về công ty cổ phần Quế Năng, gói thầu lắp đặt thiết bị thuộc Công Ty Cổ Phần Quế Võng. Theo chân hai công ty này có 340 người Trung Quốc.

Vẫn theo SGTT, ông Nguyễn Văn Đảm nhận xét, công nhân Trung Quốc làm việc hiệu quả hơn công nhân Việt Nam, thể hiện ở ba khía cạnh, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn và có ý thức kỷ luật cao hơn. Tờ báo trích lời ông Nguyễn Văn Tê trưởng công an huyện Đông Giang cho biết, trong ba năm ở hai công trình của người Trung Quốc chỉ xảy ra 2 vụ ẩu đả với người địa phương, nếu so với những công trình chỉ có lao động Việt Nam là quá êm thắm.

Vừa rồi là một phần bài Người Quảng Tây ở Quảng Nam trên báo mạng SGTT ngày 6/5/2009. Trong phóng sự này, nhà báo dành cơ hội cho giới chức Trung Quốc được lên tiếng, ông Ngô Hải Hoa 30 tuổi, phó giám đốc dự án công trình thủy điện Za Hung, người trực tiếp cai quản 300 lao động Trung Quốc phát biểu rằng, công nhân TQ muốn có việc làm chứ không muốn định cư. Ông Hoa tâm sự là bên TQ không dễ kiếm việc, làm việc ở vùng rừng núi này của VN tuy xa nhà nhưng thu nhập cao hơn
.

Thu nhập lao động phổ thông 4.000 tệ mỗi tháng, chúng tôi tính ra tiền đồng VN tương đương gần 10 triệu 400 ngàn đồng. Lao động phổ thông lương như thế quả là quá cao so với công nhân VN. Còn với lương cán bộ quản lý như cá nhân ông Hoa vào khoảng 6.000 nhân dân tệ tức gần 16 triệu tiền Việt. Cán bộ quản lý Ngô Hải Hoa thêm rằng, cuộc sống ở công trình Za Hung không có gì phàn nàn. Thức ăn thì có đầu bếp Trung Quốc nấu, mùa nào thức nấy, chợ không thiếu thứ gì. Chỗ ở cũng không chật chội, mỗi công nhân 4 mét vuông, tổ trưởng thì hai người một phòng 20 mét vuông, còn cán bộ quản lý thì được phòng riêng.

Cán bộ TQ Ngô Hải Hoa cho biết tại công trình có internet, có chảo vệ tinh bắt được 30 đài TQ, có sân bóng đá, bóng chuyền điều ông Hoa cho là không khác gì đang ở nhà bên TQ.

Quả là cách tiếp cận vấn đề của báo mạng SGTT rất khéo léo, phải đến những dòng cuối cùng mới thấy được nỗi đau của người nhược tiểu.

Tác giả Đoàn Nguyễn ghi nhận rằng, ở hai công trình thủy điện Za Hung và Sông Kôn số 2 này, người Việt đã bị gạt ra trong cuộc kiếm tìm việc làm ở ngay trên quê hương mình. Đây là những công việc phổ thông ai làm cũng được. Ông Đỗ Tài, Phó chủ tịch UBND huyện Đông Giang tỉnh Quãng Nam xác định là khi triển khai hai dự án vừa nói, chính quyền địa phương đã yêu cầu nhà đầu tư phải ưu tiên sử dụng lao động địa phương. Theo lời ông Tài nhà đầu tư đã chỉ tuyển vài ba người ở địa phương và con số thật quá nhỏ bé nếu so với lao động Trung Quốc.

Chính sách Trung Quốc

Nhận định về sự kiện lao động TQ hoạt động ở VN trong khi công nhân VN không có nhiều cơ hội tìm việc. Trả lời Mặc Lâm đài ACTD, nguyên Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng TS Phạm Sĩ Liêm phát biểu:

“Trung Quốc có chính sách hẳn hoi rõ ràng là người ta khuyến khích những nhà thầu Trung Quốc khi đi nhận thầu, thì đem được càng nhiều lao động Trung Quốc ra nước ngoài càng tốt. Cũng như sử dụng càng nhiều càng tốt vật liệu xây dựng do Trung Quốc sản xuất. Hình như chính phủ họ còn đặc biệt ưu đãi những doanh nghiệp sử dụng được trên 35% tổng giá trị vật liệu sử dụng của công trình.”

Một khía cạnh khác trong bài ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT, mặc dầu các công trình thủy điện ở huyện miền núi Đông Giang dân cư địa phương là người dân tộc thiểu số, thế nhưng những cuộc tình giữa công nhân TQ và cư dân địa phương vẫn diễn ra. Trong bài có đoạn nói về ‘Đứa con trắng bóc của người Cơ Tu’ mô tả khá rõ ràng chuyện một bé gái lai Tàu ra đời, kết quả của một vụ ngoại tình giữa một phụ nữ người dân tộc Cơ Tu và công nhân TQ. Bà vợ người Thượng này còn dọa bỏ chồng đi theo người TQ khi các công trình ở Đông Giang hoàn tất.

Thưa quí thính giả câu chuyện ‘Người Quảng Tây ở Quảng Nam’ của báo mạng SGTT mới chỉ là một nét chấm phá, một vệt nhỏ trong bức tranh sẫm màu về sự kiện công nhân TQ đang có mặt khắp nơi ở VN, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam, Tây Nguyên và tới tận miền Đông Nam Bộ, miền Tây (Tiền Giang, Cà Mau). Hy vọng còn được đọc nhiều bài báo khác sinh động như vậy.

Nguồn: RFA

*”Bài báo ghi nhận rằng sau khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa hai thập niên trước Trung Quốc đã ồ ạt đầu tư vào Việt Nam (từ 1994), và hiện nay họ nắm hầu hết các công trình đầu tư có tính quốc phòng như hệ thống giao thông, khai thác hầm mỏ và xây dựng các trung tâm sản xuất điện lực, các cơ sở chế biến xi măng và các cơ sở hóa chất (2008).

Theo ông Nguyễn Văn Thu, Chủ tịch Hiệp hội Kỹ nghệ Cơ giới (Vietnam’s Association of Mechanical Industries) thì người Trung Quốc (với sự sắp xếp bên trong về phía chính quyền Việt Nam?) đấu thầu với giá thấp nên thường trúng thầu và các công trình xây cất đều được xây dưới tiêu chuẩn an toàn. Nhưng điều đáng lo nhất là hằng chục ngàn thợ thuyền Trung Quốc nhập Việt mà cơ quan di trú Việt Nam không theo dõi chặt chẽ được gồm cả đầu bếp, công nhân giặt dịa. Họ mang vào Việt Nam ngay cả những vật đơn sơ như cái cầu vệ sinh… là những thứ Việt Nam sản xuất được.

Tiết lộ của ông Nguyễn Văn Thu đưa đến một câu hỏi: Người Trung Quốc có điều gì cần dấu diếm mà phải bố trị nhân sự như vậy. Và chính quyền Việt Nam ở đâu mà không đặt thành vấn đề, một vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia.”

———————————————————————————————————————–

Mặc Dù tuyên bố “Khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta” Nhưng

Quốc hội sẽ không giám sát dự án Nhân Cơ?

Tiếp xúc với cử tri Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nói dự án khai thác bauxite Nhân Cơ (Đăk Nông) chưa thuộc diện phải có sự giám sát của Quốc hội.

Ông Trọng cũng nhấn mạnh chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên “đã được thống nhất trong các Nghị quyết 9, 10 của Đảng” nhưng “phải làm từng bước, làm vững chắc”.

Hôm thứ Hai 04/05, ông Chủ tịch và đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội đã tiếp xúc cử tri tại quận Ba Đình.

Các dự án khai thác bauxite nổi lên như chủ đề ‘nóng’ và được các cử tri đề cập đến nhiều.

Báo Việt Nam đưa tin một số cử tri đã trình bày thẳng thắn trong cuộc tiếp xúc, rằng “Quốc hội nên lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học. Từ đó, đảm bảo phát triển kinh tế gắn với các vấn đề môi trường, quốc phòng an ninh”.

Có cử tri đề nghị Quốc hội thực hiện giám sát với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên ngay từ kỳ họp này.

Đáp lại, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng nói việc khai thác bauxite đã thống nhất.

“Vấn đề đặt ra là khai thác thế nào cho hiệu quả trên nhiều mặt kinh
tế, quốc phòng an ninh, văn hóa…”

Ông Trọng cũng giải thích rằng “đã có quy định về quy mô các dự án Quốc hội giám sát”.

“Dự án Nhân Cơ có tổng vốn đầu tư hơn 600 triệu đôla , chưa thuộc dự án phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội.”

Trước đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói Chính phủ sẽ trình Quốc hội các dự án khai thác bauxite ở Đăk Nông và Lâm Đồng.

Giám sát của Quốc hội

Theo Nghị quyết của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia mà Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, dự án và công trình quan trọng quốc gia phải có một trong năm tiêu chí:

1- Quy mô vốn đầu tư từ hai mươi nghìn tỷ đồng Việt Nam trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên.

2- Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

3- Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác.

4- Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa.

5- Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.

Nếu tính về số vốn đầu tư thì các dự án khai thác bauxite Tân Rai và Nhân Cơ đều chưa thuộc diện dự án trọng điểm quốc gia.

Tuy nhiên, về ý nghĩa kinh tế, môi trường và chiến lược an ninh quốc phòng, thì nhiều đại biểu Quốc hội cũng cho rằng việc báo cáo lên Quốc hội về các dự án khai thác bauxite là hợp lý.

Kỳ họp thứ 5, Quốc hội Việt Nam khóa XII, chuẩn bị họp trong một tháng, bắt đầu từ 20/05 tới.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet…_bauxite.shtml

———————————————————————————————————————

http://www.businessspectator.com.au/…cument&src=sph

Thứ Năm, 23/10/2008, 08:19 (GMT+7)

Tây nguyên sẽ “chết” vì… khai thác bôxit

Một góc khu vực mỏ bôxit đang được khai thác tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) – Ảnh: N.H.T.

TT – Đây là cảnh báo của những nhà khoa học tại hội thảo với chủ đề “Tìm giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác, chế biến quặng bôxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại khu vực Tây nguyên và Nam Trung bộ” do UBND tỉnh Đắc Nông, Viện Tư vấn và phát triển (CODE) và Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản VN (TKV) tổ chức ngày 22-10 tại tỉnh Đắc Nông.

Báo cáo của đại diện TKV về chương trình khai thác quặng bôxit tại các tỉnh Tây nguyên do tập đoàn này làm “tổng chỉ huy” đã hứng ngay một “trận lũ quét” những ý kiến phản biện. Không chỉ những nhà khoa học xuất thân từ vùng đất Tây nguyên hoặc có nhiều năm nghiên cứu về Tây nguyên lên tiếng phản đối mà chính cả cán bộ của TKV cũng cho rằng đây là một dự án “chẳng giống ai”.

Sai lầm chiến lược?

Theo TKV, mục tiêu của dự án là khai thác nguồn quặng khổng lồ có trữ lượng quặng tinh hơn 3,4 tỉ tấn đang nằm im dưới lòng đất Tây nguyên để phát triển kinh tế, đánh thức tiềm năng của vùng đất này. Tuy nhiên, bài phản biện dài 75 phút của TS Nguyễn Thành Sơn – giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng, thuộc TKV – bác bỏ gần như hoàn toàn dự án này và cho rằng đây là một sai lầm chiến lược chứa đựng những rủi ro không thể lường hết.

Ông Sơn đánh giá quy hoạch khai thác quặng bôxit được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao TKV làm đầu mối để triển khai ở Tây nguyên là quá nhiều tham vọng. Bởi vì nhôm không phải là kim loại quý và chưa có quốc gia nào coi bôxit là khoáng sản chiến lược để dốc sức khai thác như VN. Theo ông Sơn, kế hoạch của TKV mới chỉ chú trọng việc khai thác quặng rồi chế biến thành alumin để xuất khẩu thì hiệu quả kinh tế không cao và chỉ có tác dụng phục vụ các đại gia luyện nhôm nước ngoài vốn không muốn tốn nhiều chi phí cho việc khai thác.

Chưa kể chương trình khai thác, chế biến quặng bôxit của TKV chứa đựng nhiều rủi ro không thể kiểm soát được. Nhu cầu nhôm trong nước không nhiều và cũng không thể có đủ điện để có thể xây dựng các nhà máy luyện nhôm phục vụ xuất khẩu. Trong khi đó, quá trình khai thác đòi hỏi một nguồn vốn lớn, một nền tảng khoa học công nghệ cao sẽ đặt VN vào thế phụ thuộc nước ngoài. Đặc biệt, các rủi ro về môi trường, sinh thái bị hủy hoại đến nay chưa được nghiên cứu, chưa được đề cập đến nơi đến chốn.

Ông Sơn kiến nghị lập ngay một ủy ban quốc gia về phát triển bền vững cho vùng Tây nguyên, đồng thời tổ chức những cuộc tranh luận khoa học “đến đầu đến đũa” các tác động của việc khai thác bôxit đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Trong khi tranh luận chưa ngã ngũ thì các dự án đang triển khai phải dừng lại để hạn chế những hậu quả đáng tiếc.

Tàn phá môi trường

Khai thác quặng bôxit chế biến thành alumin để luyện nhôm là một quy trình tiêu tốn lượng nước và điện khổng lồ, đồng thời phát thải một lượng khí thải nhà kính và bùn đỏ có sức hủy diệt môi trường rất ghê gớm. GS Đào Công Tiến – nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM – cảnh báo: “Nguồn nước của Tây nguyên những năm gần đây sụt giảm nghiêm trọng, nếu trưng dụng nguồn nước cho khai thác bôxit, chắc chắn Tây nguyên sẽ chết vì thiếu nước”.

Chưa kể theo quy trình hiện nay, muốn sản xuất 1 tấn nhôm cần phải có 2 tấn alumin, tức phải khai thác ít nhất 4 tấn quặng bôxit. Và quá trình này thải ra đến 3 tấn bùn đỏ là một chất thải cực kỳ nguy hại, thậm chí chứa phóng xạ mà ngay cả các nước phát triển như M
, Nhật cũng không có cách nào xử lý ngoài việc chôn lấp. TS Nguyễn Thành Sơn trưng ra những hình ảnh các bãi chứa bùn đỏ ở các nước tiên tiến như Pháp, Úc và cho rằng ý tưởng trồng cây trên những bãi bùn đỏ mà TKV đưa ra là ảo tưởng.

Hiện nay không có cách nào khác là chôn lấp bùn đỏ ngay tại Tây nguyên và với vị trí thượng nguồn của các con sông lớn, những bãi bùn đỏ sẽ trở thành những núi “bom bẩn” nếu xảy ra thiên tai, lũ quét gây tràn vỡ. “Khi đó không chỉ các tỉnh Tây nguyên mà người dân các tỉnh Nam Trung bộ, Đông Nam bộ sẽ lãnh đủ hậu quả” – ông Sơn khẳng định.

Quan trọng hơn, mặt đất sau khai thác quặng sẽ như thế nào? Mặc dù TKV dẫn kinh nghiệm của các nước để cho rằng khả năng hoàn thổ, phục hồi thổ nhưỡng là gần như đạt 100% nhưng các nhà khoa học chứng minh ngược lại. Theo ông Sơn, với địa hình đồi dốc và mưa lũ hằng năm của Tây nguyên, toàn bộ mặt đất sau khai thác sẽ bị nước cuốn trôi và không thể nào có hi vọng tái tạo.

Cư dân bản địa, văn hóa dân tộc sẽ về đâu?

Là người con Tây nguyên, TS Tuyết Nhung Buôn Krông phản biện bằng cách công bố công trình nghiên cứu dài 36 trang của nhóm Đại học Tây nguyên về khảo sát xã hội tại khu vực TKV đang triển khai nhà máy khai thác ở xã Nhân Cơ. Bà Tuyết Nhung khẳng định: “TKV nói rằng khu vực khai thác bôxit là những vùng rừng không phát triển, cây trồng không sống được trong khi thực tế cho thấy khu vực này đang phát triển rất mạnh cây cà phê và đời sống người dân đang ổn định”.

Theo bà, với dự án đang triển khai tại Nhân Cơ đe dọa không gian văn hóa truyền thống của người dân bản địa. Nếu mất “bon” (làng của người M’Nông), mô hình làng truyền thống và văn hóa của người M’Nông sẽ bị triệt tiêu.

Từ đó kéo theo hàng loạt vấn đề về văn hóa – xã hội, thậm chí là các vấn đề an ninh, chính trị. Cơ hội việc làm cho người lao động gần như không có, vì người dân tộc không có trình độ học vấn để có thể đào tạo thành công nhân phục vụ các nhà máy. Không có đất người dân bản địa sẽ đi đâu? Văn hóa Tây nguyên sẽ về đâu?” – bà Nhung hỏi. Theo bà, người dân mong mỏi ở các cấp chính quyền và chủ đầu tư một cam kết về vấn đề việc làm và bảo đảm một không gian văn hóa một khi phải nhường đất cho các dự án khai thác bôxit.

Cả hội trường lặng đi khi tác giả của Đất nước đứng lên – nhà văn Nguyên Ngọc – bước lên bục. Con người của vùng đất Tây nguyên này cho rằng điều cần cân nhắc nhất không hẳn là vấn đề môi trường mà trước hết và quan trọng hơn hết là chuyện xã hội – văn hóa. Ông Ngọc nhắc lại: sau năm 1975 chúng ta đã tổ chức một cuộc di dân chưa từng có từ đồng bằng lên Tây nguyên với cường độ, tốc độ rất lớn và đến nay đã chứng tỏ đó là một sai lầm lớn.

Ông Ngọc cho rằng: “Chúng ta đã hành động ở Tây nguyên rất thản nhiên, không hề quan tâm đến chỗ đây là một vùng đất và người rất đặc biệt về nhiều mặt. Thậm chí có thể nói chúng ta đã làm mọi việc ở Tây nguyên như là trên một vùng đất không người”.

Theo ông, nếu tiếp tục triển khai dự án như kế hoạch của TKV, chắc chắn không gian sống, không gian văn hóa của cư dân bản địa Tây nguyên sẽ bị đảo lộn, nếu không nói là bị xóa sổ. Người M’Nông, chủ nhân ngàn đời của vùng đất Đắc Nông, sẽ đi về đâu? Lời hứa của những người chủ trương dự án, những nhà đầu tư và thực thi dự án hứa với đồng bào M’Nông có bao nhiêu căn cứ?

Những câu hỏi này chưa được giải đáp và cuộc hội thảo còn tiếp tục đến hết hôm nay. Chúng tôi xin mượn lời của nhà văn Nguyên Ngọc để tạm kết thúc bài viết này: “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”!

Bôxit Bảo Lộc: Gây ô nhiễm nặng

Hoạt động liên tục suốt 32 năm qua, chủ quản mỏ bôxit Bảo Lộc là Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam (thuộc Tổng công ty Hóa chất VN, Bộ Công thương). Mỏ này tuyển ra bôxit thương phẩm để đưa về Nhà máy hóa chất Tân Bình (TP.HCM) sản xuất hydroxit nhôm (Al(OH)3); từ chất này sẽ được dùng để sản xuất phèn nhôm lọc nước, chất phụ gia trong ngành sành sứ, hay vật liệu chịu lửa. Mỏ bôxit Bảo Lộc hằng năm sản xuất ra 120.000 tấn quặng tinh. Để tuyển ra nguồn quặng tinh này, khối lượng quặng nguyên khai hằng năm là 260.000 tấn. Theo giám đốc mỏ bôxit Bảo Lộc Huỳnh Minh Trí, mỏ chỉ giải quyết được 94 lao động, thuế đóng cho địa phương là… 1,2-1,5 tỉ đồng/năm.

Toàn bộ hạ lưu của mỏ bôxít Bảo Lộc là suối Damrông, thuộc khu Minh Rồng (thượng nguồn sông La Ngà, tên gọi khác của sông Đồng Nai, đoạn chạy qua vùng Định Quán) đã biến thành “vùng đất chết” do hoạt động của mỏ này. Chính quyền thị xã Bảo Lộc liên tục “được” người dân vùng hạ lưu Minh Rồng “kêu cứu” vì ô nhiễm…

N.H.T

NGUYỄN TRIỀU

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=284505&ChannelID=17

———————————————————————

Bauxite và Trọng Điểm Chiến Lược Cao Nguyên

Cựu TT Lữ Lan

Về tầm quan trọng của vị thế chiến lược Cao Nguyên Trung Phần.

Khởi đi từ quan niệm cổ xưa của các binh gia qua mọi thời đại, cấp chỉ huy nào ở ngoài chiến trường, cũng mau tìm chiếm nơi cao địa để dành lấy thế thượng phong. Điều đó đã trở thành một quy luật chung cho mọi chiến lược gia Đông, Tây, Kim, Cổ.

Do quan niệm đó, vị thế chiến lược của cao nguyên Trung phần Việt Nam xưa nay vẫn đóng một vai trò quyết định trong mọi hành động quân sự. Quyết định trong cả thế công cũng như thế thủ, trong thể loại chiến tranh du kích cũng như trong thể loại chiến tranh vận động.

Từ đầu thế kỷ 20, rồi trong suốt cuộc chiến Đông Dương (1946/1954) cho đến chiến tranh Việt Nam (1960/1975), câu nói đầu môi của cấp bộ lãnh đạo chiến tranh là: ai kiểm soát được cao nguyên, người đó dành được thế chủ động trong trận địa toàn miền Nam. Một bằng chứng lịch sử đã xác nhận điều đó: tháng 3 năm 1975, Bắc cộng đã huy động 12 sư đoàn dã chiến quyết tâm dứt điểm Ban Mê Thuột của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tiếp sau đó, các tỉnh duyên hải, từ Phú Yên đến Phan Rang tiếp nối nhau thất thủ như một loạt domino.

Nay Trung Cộng được quyền khai thác những quặng mõ bauxite trên một diện tích được coi là bóc đi 2 phần 3 diện tích rừng ở Lâm Đồng và Dakrong thì Trung cộng sẽ làm được gì về mặt quân sự và quốc phòng?

Đây là một biến cố vô cùng trọng đại đối với sự tồn vong của Việt Nam. Trước hết, phóng tầm nhìn suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ nghìn xưa, Trung quốc chưa bao giờ buông bỏ mưu đồ hãm hại dân tộc Việt Nam và xâm chiếm nước ta.

Đối với một quân nhân có chút cảm quan chiến lược do bởi kinh nghiệm sống và chiến đấu ở Cao Nguyên Trung phần trong nhiều năm giữ chức vụ chỉ huy Quân Đoàn II cũng như Sư Đoàn 23 trước đó, tôi nghĩ rằng giá trị chiến lược của Cao Nguyên Lạng Biên và Daclac vượt xa mọi giá trị vật chất của quặng mõ bauxite đang được khai quật lên. Nói cách khác, mấy triệu tấn nhôm được khai thác chế biến sau này bán cho Trung quốc chẳng đáng giá gì so với việc nhập cư một nhân số ngoại lai đông đúc không rõ xuất xứ, vào một địa bàn yết hầu của trận địa chủ yếu trong cuộc phòng thủ Cao Nguyên Trung phần.

Đọc quân sử, không ai lạ gì các mưu đồ “đạo quân thứ 5”, nội công ngoại kích, chuyện “Con Ngựa Thành Troie” cực kỳ khốn nạn. Đó là chưa nói đến tác hại lâu đời của bauxite. Vốn là một loại quặng để biến chế thằnh nhôm qua 2 đợt. Đợt 1, khi khai quật ra khỏi lòng đất , nghiã là bóc gở lớp đất hoa màu ở trên từ 1 đến 4 thước, nó trở thành một độc chất vô cùng nguy hại hiện chưa ai tìm được phương thức khử độc. Chính do vậy mà thế giới chỉ khai thác những vùng xa xôi, hẽo lánh, không có cư dân và hoa màu. Trung quốc cũng có khá nhiều mỏ bauxite, nhưng sợ đầu độc môi sinh nên không dám khai thác.

Thêm nữa, bauxite bốc lên phải dùng một lượng nước khổng lồ để rửa sạch trước khi biến chế sang đợt 2. Nước rửa này gọi là bùn đỏ (red sludge) cùng với bụi đỏ trong không khí là một độc chất, chảy tới đâu huỹ hoại mùa màng, giết chết muông thú, nhiễm độc suối nguồn vô thời hạn.

Tại Ba Tây và Úc châu, người ta tìm ra những khu lòng chảo, núi đá bao bọc, địa chất đất sét không thấm rỉ ra ngoài và dùng ống bê tong bơm bùn đỏ vào một vùng cô lập hoang vu, chứa tại đó cho đến khi nào khoa học tìm ra được phương thức khử độc. Ở Việt Nam chúng ta hiện nay, khai thác bauxite ở Daknong là vùng đầu nguồn của các nhánh sông Krong Ana, Đồng Nai chảy nhập về sông Saigon, các nhánh sông Bé, sông La Ngà, sông Vàm Cỏ chảy về miền Đông và châu thổ Nam phần. Nghĩ cho cùng, phải chăng đây là một thâm ý hãm hại lâu dài nòi giống Việt Nam!

Trong lúc này, các sản phẩm Cà Phê, Trà, Tiêu, Cao Su v.v.. là những loại phẩm chất có tiếng trên thế giới, sẽ nhường chỗ cho một loại cỏ dại dị tướng chưa hề thấy mọc lên sau đó.

Trở lại vấn đề giá trị chiến lược của Cao Nguyên Trung phần. Đây là một kỳ quan chiến lược Trời Đất đã phú cho Việt Nam, một sự cấu tạo vô cùng tinh xảo của tạo hóa. Như một thành trì thiên nhiên bao gồm năm tỉnh hạt ở cao độ trung bình 1200 thước trên mặt biển, được bao bọc về hướng Đông bởi một bình nguyên duyên hải phì nhiêu, một hệ thống sông Ba Ngòi chảy vào một hải cảng thiên nhiên. Đó là Vịnh Cam Ranh với đầy đủ các điều kiện và lợi thế của một quân cảng chiến lược thủy bộ mà bao cường quốc Đông Tây đã ngấp nghé dòm ngó và đã có cơ hội sử dụng từ đầu thế kỷ 20.

Như trường hợp của hạm đội Thái Bình Dương của Hoàng gia Nga, dưới quyền thủy sư Đô Đốc Nebogatov đã được Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương cho cập bến Cam Ranh sau một cuộc hải hành 18 ngàn hải lý từ Bắc Hải đến đây để tái tiếp tế than, dầu, và nước ngọt trước khi lên đường đến Hoàng Hải để giao tranh với hải quân Phù Tang ngày 27-5-1905.

Bộ Thuộc Địa và Bộ Chiến Tranh của Pháp quốc đã từng vận động ngân sách để chấn hưng Cam Ranh thành một căn cứ hùng mạnh ở Đông Nam Á. Kế hoạch chưa kịp thực hiện thì Đệ Nhị Thế Chiến đã xảy ra. Trong tiến trình thống lãnh Đông Nam Á, hải quân Nhật Bản đã điều động chiến hạm đến neo trong Vịnh, thiết trí một hệ thống lưới thép ngầm để ngăn chống tàu ngầm địch len lõi vào trong vịnh. Đại bác tầm xa cũng được gắn trong nhiều lô cốt kiên cố để chống trả mọi tấn công.

Trong chiến tranh Việt Nam vừa qua, quân lực Hoa Kỳ cũng đã canh tân, thiết bị cho Cam Ranh đủ tiện nghi của một quân cảng kể cả một phi đạo cho phản lực cơ dài 2 dặm. Khi quân Mỹ triệt thoái và chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đến lượt Nga Sô thương lượng với Hà Nội muốn thuê Cam Ranh dài hạn để làm căn cứ hải quân ở Thái Bình Dương, thay thế cho Vladivostok ở Tây Bá Lợi Á bất tiện vì tù túng trong biển Nhật Bản và khí hậu mùa Đông khắc nghiệt. Nhưng kế hoạch trên bất thành vì Sô Viết toàn cầu tan hàng, rả ngũ. Hơn nữa, dễ gì Trung cộng để một sự việc như vậy xãy ra.

Ngày nay, Trung cộng đang ở cao điểm bành trướng thế lực ở Đông Nam Á như Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến, lẻ nào không dòm ngó Cam Ranh? Đã ngang nhiên gom hết tất cả các hải đảo nằm giữa bán đảo Đông Dương và Phi Luật Tân làm đặc khu kinh tế của Trung cộng và thọc sâu xuống tận hải phận của Mã Lai Á và Nam Dương, tất nhiên cần có một cứ điểm song hành để bảo vệ cạnh sườn phía Tây. Đông Dương là trọng điểm chiến lược của Đông Nam Á. Và Cao Nguyên Trung phần là trọng điểm của Đông Dương.

Đó là
lý do vì sao Trung cộng đã dồn áp lực hối thúc ký nhanh hiệp ước bauxite. Có những nguồn tin xuất phát từ thượng tầng của Mặt Trận Tổ Quốc thì thầm về những lời đe dọa của Trung quốc đối với Đảng, và mua chuộc đối với nhà nước Việt Nam. Cao nguyên chính là mục tiêu. Bauxite chỉ là cái cớ. Trung cộng đã vồ được một mối “nhất cử lưỡng tiện”. Chỉ có Việt Nam là mọi bề thua lỗ. Đang gặp hoàn cảnh kinh tế suy sụp, toàn bộ đồn điền cao nguyên phen này tiêu vong đời đời.

Cộng Sản Việt Nam có thể làm gì để chống lại mưu đồ Trung cộng?

Tối thiểu và cấp kỳ là nhà nước cộng sản Việt Nam phải bày tỏ thái độ ngay trước khi quá muộn. Bày tỏ thái độ để cho khói ASEAN lên tiếng phản kháng Trung quốc. Không gây hấn, nhưng tiếp đến là phải bày quân bố trí các địa thế xung yếu ở Cao Nguyên để nói lên rằng nếu Trung quốc quá lộng hành, ắt phải có phản ứng, có phản ứng tất nhiên Liên Hiệp Quốc phải lưu ý, và các nước ASEAN phải quan tâm.

Không lẽ “quân đội nhân dân anh hùng” từ nửa thế kỷ nay, với quân số hơn một triệu, cảnh sát công an thêm một triệu tay súng, lại cam tâm quỳ mẹp trước gót giày của quân cướp nước? Hãy noi gương của hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở Hoàng Sa năm 1974, đánh một trận để lưu danh muôn thuở.

Cao Nguyên và Cam Ranh là thành trì thiên nhiên của Đông Nam Á, hãy tích cực xây dựng công sự phòng ngự để tự vệ. Chết vinh là ở đó mà Sống nhục cũng là ở đó.

Trong quá trình chi phối toàn bộ chính trị kinh tế quân sự của Trung quốc đối với Việt Nam trong mấy thập niên qua, nhân dân Việt Nam đã sẳn sàng câu trả lời:

Hồ Cẩm Đào nói “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”.

Nhân dân Việt Nam đã đáp lại: Láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai.

Hãy biến Đông Dương thành nấm mồ chôn quân xâm lược để cứu nguy giống nòi và đất nước Việt Nam.

CỰU Trung Tướng LỮ LAN

Cựu Trung Tướng : Lữ Lan ( Chỉ Huy Trưởng Cao Đẳng Quốc Phòng )

– Tư Lệnh, Sư Đoàn 25 Bộ Binh, 1962; Sư Đoàn 23 Bộ Binh, 1964; Sư Đoàn 10 Bộ Binh, 1965
– Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, TTM, 1966
– Tư Lệnh Quân Đoàn II, 1968-1970
– Tổng Thanh Tra Quân Lực, 1972-1974
– Chỉ Huy Trưởng, trường Cao Đẳng Quốc Phọng, 1974-1975

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=143366

TRích TRên Mạng Sina

Trích lục những đoạn trong các bài viết của Trung Quốc trên mạng Sina

“Hiện nay, Việt Nam là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh lãnh thổ Trung Quốc, là trở ngại lớn nhất đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhìn từ góc độ khác cho thấy Việt Nam cũng là đầu mối và trung tâm chiến lược của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Muốn kiểm soát lại Đông Nam Á cần chinh phục Việt Nam. Chinh phục Việt Nam là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất để Trung Quốc mở rộng về phía Nam

Việc thực hiện đòn đột kích mang tính hủy diệt đối với khu vực trung tâm của địch là điều then chốt để giành chiến thắng trên mặt đất. Khu vực ven biển miền Trung Việt Nam có một địa phương gọi là Thanh Hoá. Khu vực này là mũi cực Nam của đồng bằng sông Hồng, là cửa đi ra biển của sông Mã. Từ Thanh Hoá hướng về phía Nam và Đông Tây, địa hình đột nhiên thu hẹp lại giống như cổ con rắn, chia cắt Việt Nam thành 2 phần Nam-Bắc hoàn toàn khác nhau.
Còn một điểm nữa là Mỹ luôn nhòm ngó vào Việt Nam . Chỉ cần chúng ta tiến hành chiến tranh với Việt Nam , Mỹ nhất định sẽ tìm cách ngăn cản. Chỉ cần nhanh chóng đưa lực lượng mặt đất vào, biến Việt Nam thành một chiến trường thực sự, hình thành cục diện hỗn chiến, thì mới có thể triệt để ngăn chặn Mỹ thọc tay vào

“Hiện nay, Việt Nam là nước gây phiền phức nhất ở Biển Đông , cũng là nước tranh giành được nhiều lợi ích nhất. Trung Quốc cần phải trừng phạt Việt Nam để răn đe các nước Đông Nam Á khác tranh cướp Biển Đông của chúng ta, để các nước khác biết rằng nước nào dám xâm phạm lợi ích của Trung Quốc, Trung Quốc sẽ tiến hành ngăn chặn răn đe chiến lược, đánh nhỏ đối với Việt Nam không có hiệu quả lớn, phải đánh để cho Việt Nam không bao giờ quên.”

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: