Trần Hoàng Blog

►Khai mỏ Bô Xít và viễn kiến của ông Hoàng Văn Hoan

Posted by hoangtran204 trên 24/03/2009

►Sau 5 năm phí tiền của, nay chính thức: đình chỉ khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên và ngưng đầu tư xây dựng cảng Kê Gà – Bình Thuận (2014)

 

Một kế hoạch khai mỏ thử thách những người

hoạch định chính sách của Việt Nam

Image

Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Anh Le Tran

Thứ Hai, ngày 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà xã hội học người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng

nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng

được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại

hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông. Nước VN đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho

tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm

1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô

và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite.

Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo

phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

(Nhưng đối với chính phủ VN,) Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường

độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi

trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, mà các chất nầy cần phải được lưu giữ một

cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ

một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng

hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty Trung

Quốc đã giành được cả hai gói thầu để xây dựnghai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi

công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô xít (của người Trung Quốc) không phải là những công nghệ có sẵn tốt

nhất. ông Nguyễn Thanh Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản

đối mạnh mẻ nhất về kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt

Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật (làm các nước có kỹ thuật cao không thể trúng thầu được) với mục đích để cho

các công ty Trung Quốc (trúng thầu và ) có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn .

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt

động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi

nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc

vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong

khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bô xít mới (cho quốc gia của họ).

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên

Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp

kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng

trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và

chứa bùn thải độc hại. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát

triển nữa nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không có nhiều tại

vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu

hoạch mùa màng sẽ tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi

thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng

triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên

thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống

cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức

độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê.

Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không

có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm

theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã

hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị

suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược

quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào

tháng 11-2007 [1], Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng

bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường

nào có tính chiến lược được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế

hoạch khai thác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị

vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giánhững tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra

những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh

những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương

đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang

được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về

các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra

lệnh cho Bộ Công Thương xin phép bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ

tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4- 2009, ông Hải đã loan báo

vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các

nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra  được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì liệu những thay đổi

ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.


Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác

định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra

là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch

có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh

hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất.

Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả

những người liên quan trong vấn đề bô xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi

điều ấy quá muộn hay không.

Ông Anh Le Tran giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell College ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


[1] đúng ra tháng 11-2008

——————————————-

Comment:

* Trần Hoàng: Với mục đích làm cho VN suy yếu, Trung Quốc đã dụ được VN khai thác bô xít bằng một kế hoạch khai mỏ lạc hậu thời 1930. Đây là một chiến lược tinh vi có được sự tiếp tay của các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở VN. Kế hoạch khai mỏ bô xít chỉ nhằm kéo VN đầu tư vào một dự án 15 năm, ít có lợi hơn trồng cây cà phê và trà (trị giá xuất khẩu hơn 3 tỉ đô la hàng năm), và làm cho VN tốn kém tối thiểu là 25 tỉ đô la (VN phải đầu tư và tốn khoảng 1,5 tỉ đô la hàng năm trong 15 năm).

Không cần khai thác bô xít, chỉ cần làm café và trà, thì trong vòng từ 2010 đến 2025, VN cũng đã mang về nguồn lợi xuất khẩu nông sản trà, cà phê, hạt tiêu là 3 tỉ/ 1 năm x 15 năm = 45 tỉ đô la. Đó là chưa tính đến  việc thu hút khách quốc tế đến du lịch vùng Tây Nguyên.

Dự án khai mỏ bô xít sẽ làm suy kiệt tài chánh của VN trong 15 năm sắp đến, sẽ làm bất ổn về mặt xã hội vì muốn khai thác mỏ là phải chiếm đất đai của các sắc tộc; sẽ làm ô nhiễm đất đai của nông dân và các người sắc tộc, và làm giảm sự thu hoạch các vụ mùa cà phê, trà do thiếu nước tưới cây. Ngoài ra chất thải của bô xít sẽ làm nhiễm độc nguồn nước uống ở sông Đồng Nai, là nơi cung cấp nước uống cho vùng Sài gòn, Biên Hòa, Bình Dương…

Sự suy yếu tài chánh sẽ làm VN không có đủ tiền bạc mua vũ khí để hiện đại hóa quốc phòng, sẽ làm Việt Nam trở nên suy yếu, và cuối cùng TQ sẽ chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và làm chủ Biển Đông mà không gặp được một sự chống đối. Chừng ấy, nếu VN có kêu cứu, thì các nước ngoài cũng không can thiệp vì họ đã nhìn thấy rõ VN và TQ đang hợp tác chặc chẻ để khai thác bô xít.

Suốt 23 năm kể từ khi đổi mới từ 1986-2009, VN tuyên bố vào tháng 3/2008 là có dự trữ ngoại tệ là 22 tỉ đô la. Nhưng thực tế nhiều tháng qua, các tỉnh không có tiền trả lương và họ phải mắc nợ các thầy giáo và cô giáo. Chúng ta tự hỏi: một kế hoạch đầy tốn kém như vậy, không có lợi lộc so với nông sản cafe, cao su, trà, và VN phải đầu tư nhà máy điện, phải bỏ tiền túi ra để xây dựng tuyến đường bộ và đường sắt chở bô xít từ Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung, phải xây dựng thêm 1 hải cảng mà hiện nay VN chưa có cảng nào ở Bình Thuận và Phan Rang. Thêm vào đó, trong khi từ đầu năm đến nay, VN đã phải gởi 82 ngàn công nhân đi lao động nước ngoài, thì VN lại để cho nhập khẩu hàng chục ngàn công nhân người TQ, giải quyết nạn thất nghiệp cho TQ. (Lương của người công nhân TQ là 10 triệu/ 1 tháng, trong khi lương của người kỹ sư VN làm tại công trình bô xít là 6 triệu/ 1 tháng). Tóm lại, khai thác bô xít buộc VN phải đầu tư quá nhiều tiền cho nhà máy điện mới, đường xe lửa chở ra cảng đem nhôm về TQ, xây dựng bến cảng, và trong lúc ấy VN lại thiếu tiền ngoại tệ đầu tư. Bối cảnh ấy buộc VN phải mượn tiền của TQ, như vậy liệu có phải là giải pháp kinh tế tốt hay không?

Trung Quốc có thừa tiền để vứt bỏ vài tỉ đô la để dụ VN vào kế hoạch khai mỏ bô xít (làm VN tốn kém ít nhất là 25 tỉ đô la). Số tiền vài tỉ là quá nhỏ đối với TQ vì suốt 30 năm chuyển qua kinh tế tư bản, TQ có một số dự trữ ngoại tệ lên đến 2000 tỉ đô la. TQ có ngân sách quốc phòng bằng là 70 tỉ đô la năm 2009, 7% ngân sách quốc gia. Việc bỏ ra 1 tỉ đô la 1 năm trong 15 năm sắp đến của Trung quốc để làm suy yếu VN chiếm Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa mà
không tốn một viên đạn là điều chắc chắn một nhà chiến lược nào cũng sẽ làm.

Sau cùng, VN phải lệ thuộc kinh tế vào TQ trong ít nhất 50 năm sắp tới.

———————————–

Có nước nào trong khu vực đông nam á phát triển và làm giàu nhờ bán khoáng sản không?

Không nước nào trong khu vực Đông Nam Á phát triển và làm giàu bằng cách khai thác và bán tài nguyên khoáng sản như dầu hỏa, bô xít, than đá, … Thái Lan diện tích 514 ngàn Km vuông, Phi Luật Tân diện tích 300 ngàn km vuông, cả hai có dân số 86 triệu dân bằng với dân số của VN. Suốt 22 năm qua, cả hai nước đều phát triển kinh tế rất mạnh hơn VN. Hai nước nầy không cần các mỏ khoáng sản mà chính phủ của họ vẫn đề ra các chính sách kinh tế và kế hoạch để tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Kết quả hiện nay là người dân trong 2 nước ấy có đời sống và mức thu nhập của mỗi người cao hơn VN 5-7 lần. Họ cũng không lệ thuộc vào TQ, Mỹ hay các nước lớn khác.

Các nước nhỏ hơn trong vùng như Nam Triều Tiên, có 50 triệu dân, diện tích đất đai 100.000 km vuông, chưa bằng 1/3 diện tích của VN, cũng không cần khai thác mỏ để kiếm sống mà dân chúng của họ có đời sống và mức thu nhập cao hơn VN 25 lần. Mã Lai Á dân số 30 triệu người, diện tích bằng VN, cũng không sống bằng khai thác mỏ, nhưng đời sống dân chúng của họ và mức thu nhập của mỗi người dân Mã Lai vẫn hơn dân chúng VN 12 lần.

Không có một nước nào trong vùng đông nam á làm giàu nhờ bán dầu mỏ và các tài nguyên khoáng sản. Tất cả các nước ấy làm giàu nhờ chính sách kinh tế của họ hay hơn VN. Dân chúng trong 7-8 nước ấy có mức thu nhập cao vì họ những chính phủ của họ do dân chúng bầu lên và họ làm chính sách giỏi. Họ không có những công ty, tập đoàn quốc doanh của chính phủ chuyên làm ăn thua lỗ.

—————————————————-

Nga và Trung Quốc 2008-2009

Hồi tháng 12-2008, vì giá dầu xuống quá thấp và Nga cần tiền, Putin đã ký một hiệp ước thương mại với Trung Quốc. Trong hiệp ước ấy, Nga đồng ý bán tất cả dầu hỏa và khí đốt cho Trung Quốc kể từ 2010 đến 2025. Kết quả của việc ấy là Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung để thắt chặt tình hữu nghị.

(Nga thiếu hụt tiền bạc để làm ngân sách vì đã mắc sai lầm khi gây ra chiến tranh với Georgia vào tháng 8-2008. Kết quả là các doanh nghiệp Âu Châu đã rút hết các đầu tư ra khỏi Nga, và qua đầu tư ở Tunisia và các nước Phi Châu gần Tunisia. Điều nầy, làm cho Russia mất mỗi tháng hàng 7 tỉ đô la đầu tư. Giá dầu từ 147 đô xuống 40 đô 1 thùng đã làm cho Nga hụt ngân sách (Nga tính ngân sách dựa trên giá dầu là 75-85 đô/ 1 thùng. Hiện nay, giá chứng khoáng của Nga sụt giảm 70% và thất nghiệp nổi lên khắp nơi làm Nga thâm hụt thêm ngoại tệ.)

Tuy vậy, Nga khẳng định không bao giờ có ý bán các sản phẩm có kỹ thuật cao cho Trung Quốc kể từ sau khi TQ mua các chiến đấu cơ SuKhôi 27 của Nga vào năm 2001, đem về tháo ra từng mảnh, và TQ làm ra chiến đấu cơ J-11. Kiểu mẫu chiếc phản lực J-11 nầy giống hệt như Sukhoi 27, chỉ khác tên gọi. Hiện nay, Nga đang kiện TQ ra tòa về tội vi phạm tác-quyền.

Khi phía Bắc và phía Nam biên giới của Trung Quốc không bị đe dọa bởi Nga và Việt Nam, Trung Quốc sẽ rãnh tay làm các kế hoạch khác và mục đích sau cùng của các kế hoạch ấy thì chắc chắn sẽ không có lợi cho VN. (tóm gọn Biển Đông để đánh cá và khai thác mỏ dầu và khí đốt; chặn con dường tiếp tế nhiên liệu, và vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật, Nam Hàn, và Đài Loan khi cần thiết…)

****************************************************


Đọc mấy bài Bô Xít xong lại chợt nhớ đến Ủy Viên Bộ Chính Trị Hoàng Văn Hoan…

là người đi tiền đạo trong việc thiết lập mối quan hệ với Trung Quốc từ năm 1978. Ông Hoan bỏ VN, chạy qua TQ sống, ca ngợi Trung Quốc và coi TQ người bạn lớn; còn ngày nay thì các nhân vật trong bộ chính trị rước Trung Quốc vào treo cờ ở Tây Nguyên. Quả là những người có chí lớn gặp nhau.

Nói tóm lại, ông Hoan đúng là một người có tầm nhìn xa và đi trước đảng và nhà nước ta 30 năm. Vậy là nhà nước ta sẽ chuẩn bị làm lễ tôn vinh ông ấy là vừa, và đừng quên rút lại những lời

tuyên bố lên án tử hình ông Hoan tội phản quốc vào năm 1979 nhé 🙂

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Quân Trung Quốc tiến vào Việt Nam năm 1979Tình hữu nghị giữa hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc đổ vỡ năm 1979

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo
Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’. Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó , nhắc đến các đợt thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi (1975-1979).

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).Theo đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn’:

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc.”

Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc

Bùi Tín nói về Hoàng Văn Hoan

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.
Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla.

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.”

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc

Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Mặc dù ông Hoan đã đào thoát sang Trung Quốc và được coi là phản bội, ông Tín vẫn đánh giá: “Ông ấy là một người rất yêu nước, nhưng mỗi người yêu nước theo hiểu biết, theo kiểu của người ta. Tôi vẫn tôn trọng ông ấy, nhưng không thể đồng tình với quan điểm của ông được.”

Ở Việt Nam, ông Hoàng Văn Hoan bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm ‘Số phận ông Hoàng Văn Hoan’ ở mục Các bài liên quan) cũng la
̀ câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

*******************************888888888888*****************************



Asia Sentinel

A Mining Plan Tests Vietnam’s Policymakers

Written by Anh Le Tran Monday, 23 March 2009

Chinese seek to develop bauxite mines in environmentally and socially sensitive area

Vietnamese environmentalists and social scientists are growing increasingly concerned over the environmental, social, economic and political implications of a government plan to allow minerals-starved Chinese companies develop massive Central Highlands bauxite mining projects.

Vietnam is estimated to have up to 8 billion tonnes of bauxite ores, used to produce alumina, a white powder that is smelted to produce aluminum. Two big projects to mine bauxite and produce alumina have been kicked off in Lam Dong and Dac Nong Provinces. The country has estimated that it will need up to US$20 billion in investment by 2025 to make use of the resource. Enter the Chinese.

The idea of exploiting rich bauxite reserves is not new. As long ago as the 1980s, when the country was a member of the Council of Mutual Economic Assistance (CMEA), an economic bloc founded by the Soviet Union and other Eastern European communist states, Vietnam brought a program to mine bauxite before the CMEA. But after Soviet analysts studied the feasibility of the program, the CMEA recommended against the idea, mainly due to serious environmental concerns.

Those concerns haven’t gone away. The only thing that has changed is the intensity of the opposition and the multiplying of other concerns as well as environmentalists and social scientists have rung alarm bells over the potential destruction.

Bauxite mining involves the discharge of toxic which must be stored safely and permanently. However, the Central Highlands terrain makes it more difficult to safely store the slurry to prevent contamination to the surrounding and downstream areas. In addition, critics see high risk regarding the situation in which the Chinese companies have won both bids to construct two big alumina plants (costing nearly US$500 million each) and possibly will venture into other projects as well.

The concern is that the technologies won’t be the best available. Nguyen Thanh Son, a Vietnamese expert in the area and one of the most prominent opponents of the plan, says the Chinese side won the bids is due to the lowering of technology standards by the Vietnamese side so that Chinese companies could offer attractive bidding prices.

China itself has faced serious environmental problems associated with bauxite mining, prompting it to close several mines in Guangxi even with demand for bauxite on the rise. Some critics thus view China’s high level of involvement in Vietnam’s bauxite projects as a form of exporting environmental degradation while trying to secure a new source of supply.

In terms of economic efficiency, the projects don’t seem to fare well even with a simple cost-and-benefit analysis. The Central Highlands is home to important cash crops, coffee, tea, and rubber, that have earned increasing amounts of hard currency through exports. However, the survival of these crops will be in great danger due to two key factors.

First, as more projects are implemented, more land will be cleared for mining and storing the toxic mud. After the bauxite ores are mined, the soil is no longer suitable for growing crops without extensive remediation. Second, bauxite mining and alumina production require extensive water, which is already limited in the region. As a result, water availability for growing will be severely reduced, leading to poorer crops. Together, these two factors raise the spectre of the potential loss of the region’s comparative advantage in growing the cash crops and strangle its ability to develop a new comparative advantage in ecotourism, which is increasingly popular worldwide.

The economic costs will even be much greater when other negative externalities, including environmental degradation, are factored in. On the other hand, the benefits are doubtful. It has been pointed out that with the same level of investment, the rate of return of a bauxite project is far less than coffee-growing. Moreover, to be competitive, the production of alumina requires a cheap and readily available source of electricity that Vietnam currently does not have and will not have for any time soon.

With its chronic shortage of electricity, the shifting of this type of energy toward alumina production will further exacerbate the problem, putting other types of production at risk.

With respect to the social and political impacts, the full-scale implementation of the bauxite projects will further marginalize ethnic groups in the region as their cultural green living space is drastically reduced, with the potential to create social tension in an already delicate area. In addition, the presence of Chinese bauxite-related workers in this military strategic region has created an uneased feeling in certain Vietnamese.

Government responses and actions have been inadequate at best. In November 2007, Prime Minister Nguyen Tan Dung signed a directive approving the plan for mining, processing and use of bauxite. However, up to this point, there has not any approved strategic environmental evaluation to assess the environmental impacts of the bauxite plan in accordance with Vietnamese environmental laws.

Vinacomin, the state-owned enterprise in charge of carrying out the plan, held two conferences in 2007 and 2008 to assess the impacts of the bauxite projects. During these occasions, many Vietnamese experts expressed their deepest concerns regarding the serious negative impacts of the plan. However, nothing of significance has materialized to address these concerns since the projects are still underway.

In the face of continued opposition, Prime Minister Dung held a meeting to discuss issues relating to bauxite mining in early January this year. He concluded by ordering the Ministry of Industry and Trade to seek permission from the politburo
of Vietnam’s communist party to continue the projects and asking Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai to hold a scientific conference to address the issues.

Although the conference has been scheduled for some time during the first half of April, Hai already announced last week that the projects in Lam Dong and Dac Nong will continue as planned. That has prompted observers to raise the question whether the conference will produce any meaningful changes that would be accepted by the government.

Given the government’s responses, one thing is clear: it has a very determined political will to go ahead with the bauxite plan in the face of opposition. The question that arises is why there is such a strong political will for a seemingly unsound plan. Critics have speculated a few possible answers. The most often mentioned is the influence of China through the political channel at the top level.

What is really at stake now is whether the Vietnamese government has the political courage to meaningfully involve all of the stakeholders and correct the shortcomings before it is too late.

Anh Le Tran teaches economics and management at Lasell College in Massachusetts in the United States.

Một phản hồi to “►Khai mỏ Bô Xít và viễn kiến của ông Hoàng Văn Hoan”

  1. […] « ►Khai mỏ Bô Xít và viễn kiến của ông Hoàng Văn Hoan […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: