Trần Hoàng Blog

Entry for February 20, 2009

Posted by hoangtran204 trên 20/02/2009

Ngày Năm: Thứ Bảy, 10 Tháng Giêng

Bến Xe Ðò Puduraya
Dân số KL lên tới 6.9 triệu người, sống trong một diện tích 244 kílô mét vuông. Ðất đai trở thành chật hẹp. Nhưng bến xe đò đưa khách đi khắp các thành phố và tiểu bang khác, lại được đặt ngay trung tâm thành phố, rất tiện lợi cho mọi người mà không chiếm quá nhiều diện tích đất. Chính phủ qui hoạch thành phố khá hay! Ðó là bến xe đò Puduraya, được đặt ngay dưới hầm của một thương xá. Cả chục hãng xe đò tư nhân, tranh nhau giành khách. Tranh nhau trong vòng trật tự. Mỗi hãng có một quầy bán vé riêng, với hai nhân viên quảng cáo, họ tha hồ rao la, lớn tiếng mời gọi khách. Tôi đi ngang qua, họ rao nổ như một tràng bắp rang. Tôi chỉ biết nhe răng cười. Có hiểu gì đâu mà không chịu cười. Toàn là tiếng Mã, nghe rất vui tai!

Tiểu Bang Melaka
Sau 2 tiếng ngồi trên xe đò, thật là thoải mái vì có máy lạnh và ghế ngồi rộng rãi. Chuyến đi tốn mất 9.5 RM cho một bận. Xa lộ rất tốt, ba “lanes” mỗi chiều, tiêu chuẩn không kém gì Âu-Mỹ. Du khách có thể thăm viếng Melaka, sáng đi chiều về một cách dễ dàng.

Cảm nghĩ đầu tiên về thành phố này là dân chúng sống có nề nếp. Cảnh đầu tiên là thấy thiên hạ đứng xếp hàng mua vé rất trật tự, giống y như ở trên KL. Trước sau gì cũng tới phiên mình, không cần phải chen lấn. Nghe nói Melaka ngày xưa có nhiều dân ăn cướp, rất khó trị. Nhất là đám cướp biển (pirates of Malacca Straits). Melaka (kiểu Mã), còn được viết dưới dạng Malacca (kiểu Anh), là tên của một thành phố lịch sử và cũng là tên của tiểu bang. Ðây là một thành phố quan trọng mà vào thế kỷ 17 tới 19, các đế quốc Bồ-đào-nha, Hà-lan, và Anh-quốc đã tranh giành lấy làm thuộc địa từ thổ dân Mã. Người Hoa và Nhật cũng có mặt tại đây rất sớm. Khi Malaysia (hoặc Malaya) được độc lập, tây-phương lùi bước và để lại rất nhiều nhà thờ thiên-chúa-giáo. Bà Marie, một người-Mã-gốc-Hoa, sanh trưởng tại bang Johor, bạn của bạn tôi, hướng dẫn chúng tôi đi thăm các nhà thờ. Ðầu tiên là St. Peter‟s Church được thiết lập từ năm 1710. Tiếp theo là St. Francis Xavier Church, được xây dựng bởi ba linh mục người Pháp vào năm 1849. Mấy vị này chết vào tuổi trung niên vì bịnh sốt rét, và xác được chôn ngay dưới hầm của thánh đường. Trong khuôn viên của nhà thờ còn có tượng của linh mục San Francisco Xavier (người Bồ) và của Yajiro Angero (người Nhật), đệ tử của Xavier, và sau này cũng trở thành linh mục.

Kế đến là đi thăm Malim Church, được cất vào năm 1850. Nhà thờ này rất giản dị, không có gì gọi là công trình đồ sộ, nhưng lại là một di tích lịch sử tôn giáo đặc biệt. Vào thời đó, người Hà-lan theo đạo Tin-lành, đang cai trị đất Melaka, còn người Bồ theo đạo Ca-tô-lích phải ẩn núp để thờ phượng. Người Bồ tạc dựng được một cây thánh giá (the Holy Cross) để phụng kính một cách bí mật. Chính căn nhà đơn sơ này đã che dấu được cây thánh giá quí báu và trở nên di tích lịch sử giữa hai tôn giáo Tin-lành và Ca-tô-lích. Tôi lại chú ý đến hai điểm khác, chung quanh nhà thờ Malim, bên trái là vườn cao-su và bên phải là nghĩa địa của người Tàu. Bà Marie cho biết: vào đầu thế kỷ 20, khi người Anh chiếm được Melaka, thì họ tạo dựng vườn cao-su và thuê mướn nhân công Mã và Tàu để khai thác đất thuộc địa mới. Thiên-địa-nhân quyện lại thành một, trong ý nghĩ của tôi. Này nhé: bên trái là vườn cao-su (địa), ở giữa là nhà thờ thiên-chúa (thiên), và bên phải là nơi an nghĩ cuối cùng của người lao động (nhân). Một sự kết hợp loạn xà-ngầu!

Và nhà thờ cuối cùng mà chúng tôi đi thăm là Christ Church Melaka, được xây dựng vào năm 1753. Nó tọa lạc trong công trường Hà-lan (Dutch Square) là nơi được nhiều du khách đến thưởng lãm. Có thể ngồi xe xích-lô đạp để dạo quanh khu phố nhỏ. Kế bến công trường là khu Phố Cổ, mà người tây-phương, người Mã, người Tàu, người Nhật đã một thời chung sống. (Nghe giống như phố cổ Hội-An của bên Việt-Nam). Dân tây rất thích viễn du vào Á-đông trong thế kỷ 17, 18, và 19: đất mới, người mới, và của mới. Phố Cổ ngày nay được bảo trì kỹ lưỡng với hàng quán sang trọng, đẹp đẽ, để hấp dẫn du khách ngoại quốc hằng năm, phát triển ngành du lịch cho xứ Mã.

Kỹ nghệ du lịch của Mã phải cạnh tranh nhiều với Singapore và Thái-Lan. Năm 2007, chính phủ Mã đã chọn phù hiệu “Visit Malaysia 2007” để phất cờ kỷ niệm 50 năm độc lập. Sòng bài và hang động sex-dục là cặp bài trùng chiêu dụ khách thập phương. Ba bức hình tiếp theo mà tôi muốn gửi đến bạn đọc là hình ảnh chiếc xe đò tối tân của thế kỷ 21 và chiếc xích-lô đạp cũ kỹ từ thế kỷ 20. Chiếc xe đò hiện đại với máy lạnh làm mát cơ thể người viễn khách. Còn chiếc xích-lô lỗi thời với cây dù che đầu và vòng hoa sặc sỡ, làm ấm lòng người lữ khách. Hai phương tiện chuyên chở, một cuộc đời:

Em ơi có bao lâu?
Mấy trăm năm cuộc đời!

Không phải cuộc đời của một cá nhân, mà cuộc đời của cả dân tộc Mã. Hết Hà-lan tới Bồ-đào-nha, hết Bồ-đào-nha tới Ăng-lê, thay phiên nhau đè đầu đè cổ dân lành đến mấy trăm năm. Dân Mã không cần chiến tranh đổ máu gì nhiều, cũng không có cảnh nồi da xáo thịt, mà sao họ hay quá! Họ không có nhiều thần tượng anh hùng bằng bên ta. Họ vẫn đòi/giành được độc lập mà không tốn nhiều xương máu như ta. Tôi đi du lịch thấy được dân tình Mã-Lai như vậy nên chạnh lòng nhớ đến quê hương mình. Thấy cuộc sống xã hội của Việt-Nam còn thua xa các bạn Mã. Thành thật ngã nón chào nhân dân Mã: gốc-Mã, gốc-Tàu, và gốc-Ấn; họ đã chung nhau xây dựng một đất nước công bằng và phúc lợi. Ða số, thiểu số gì, sống cũng được: mình sống và để cho người khác cùng sống.

Ngày Sáu: Chủ Nhật, 11 Tháng Giêng

Người Lao Ðộng Việt-Nam
Tôi nghe ở đây có cả chục ngàn nhân công Việt-Nam đang làm việc tại Melaka, chúng tôi nhờ/được các người Mã địa phương làm công tác thiện nguyện đưa đi thăm. Hôm nay là ngày chủ nhật, hãng nghỉ làm, công nhân nghỉ việc, rất thuận tiện cho việc thăm viếng. Chúng tôi muốn đến ba ký-túc- xá khác nhau, nơi tạm trú của công nhân, để hàn huyên cùng các bạn lao động. Ðàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Ði thăm nhà các anh trước, các chị sau. Không có gì là kỳ thị phái tính. Chỉ vì nhà của phái nam ở đầu đường, còn nhà phái nữ ở cuối đường.

Trên trăm ngàn dân lao động Việt-Nam thích đến đất Mã để làm ăn kể từ năm 2003 đến nay. Họ là những công dân khỏe mạnh, đã được khám sức khỏe đầy đủ, và được chính phủ Việt-Nam chứng nhận có hành vi tốt trước khi ra nước ngoài làm việc. Trước khi đi, họ được ký một Hợp Ðồng Lao Ðộng với công-ty của Mã-Lai qua những lời hứa hẹn ngọt ngào, như có thể lãnh được 800 RM một tháng trong vòng 3 năm, và các điều kiện làm việc lý tưởng như bảo hiểm, giờ giấc, cách đối xử của chủ, vân vân. Song song, họ cũng phải ký một Hợp Ðồng Ðưa Lao Ðộng Ði Làm Việc Có Thời Hạn Ở Malaysia với một công-ty môi-giới ở Việt-Nam; các điều khoản trong hợp đồng nầy rất gò bó, luật lao động bị cột chặt một cách bất công và bất nhân như: (1) không được đi ra ngoài mà không xin phép, (2) không được kêu nài hay đình công với chủ, (3) bị sự kềm chế của đại-sứ-quán, vân vân. Luật lao động quốc tế thì người dân bình thường chưa biết đến, còn luật lao động của Mã-Lai lại không áp dụng cho giới công nhân ngoại quốc. Công nhân Việt-Nam: một cổ hai tròng. Ðược xem qua hai văn bản hợp đồng, tôi có cảm tưởng như người lao động Việt-Nam sống trong chính sách cai trị bằng củ-cải-và-cây-gậy của đầu thế kỷ thứ 20. Củ cải để chiêu dụ và cây gậy để dọa hù. Nhưng khoan đã! Ðợi đến thăm, nhìn tận mắt, nói tận mặt, mới biết được thật giả, đá hay vàng.

Tôi thấy tận mắt 10 người sống chung nhau trong một ký-túc-xá. Tuy chật chội nhưng họ vui vẻ lắm. Họ cho biết: vài năm trước, có khi cả trăm mạng ở chung trong một biêu-đinh chật hẹp và thiếu tiện nghi. May nhờ các hội đoàn thiện nguyện địa phương như Tenaganita Sdn Bhd của Mã, và của người Việt hải ngoại như Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Ðộng tại Ba-Lan, CAMSA tại Mỹ can thiệp, nên các chủ nhân Mã-Lai đã tỏ vẻ biết điều hơn! Chủ trả tiền thuê các ký-túc-xá gần hãng, khoảng 500 RM một tháng, và đưa công nhân từ 8 đến 12 người vào ở chung một chỗ. Tận mặt hàn huyên mới được biết kết quả cụ thể là: 90% công nhân lao động thất vọng với những gì mình tin tưởng, và 10% được xem là mãn nguyện. Chỉ dấu của thành công là thời gian làm việc tại Mã lên quá ba năm, nghĩa là hợp đồng lao động được gia hạn thêm một lần nữa; chứ không phải ở số tiền dành dụm được. Trước khi đi, công nhân hy vọng với sức cần lao của mình họ có thể lãnh tiền gấp đôi hay gấp ba lần tại Mã-Lai so với tại Việt-Nam, để có thể trợ giúp cho cha mẹ, vợ/chồng, và con cái tại quê nhà. Nhưng dù cho đầu tắt mặt tối, phần đông, họ vẫn chưa trả nổi các chi phí đã ứng trước cho các công-ty môi-giới Việt-Nam, lên đến gần 2,000 đôla Mỹ mỗi đầu người, tuy đã gắng sức làm việc tại Mã hơn hai năm qua. Tại sao lại có nghịch cảnh như thế nầy? Bởi vì được hứa hẹn với 800 RM mỗi tháng trên hợp đồng, nhưng thực tế may lắm mới được chủ trả 400 RM. Kêu nài với ai? Ðã bảo là luật Mã không áp dụng cho dân Việt mà. Nhờ cậy vào công-ty môi-giới ở Việt-Nam làm trung gian, thì họ đã cao bay xa chạy mất rồi; cả đám biến thành thợ lặn: điện thoại cắt đứt, tuyệt đường liên lạc. Viết thơ cho đại-sứ-quán Việt-Nam tại KL thì được trả lời là không phải nhiệm vụ can thiệp của chính phủ. Sứ quán chỉ có hai nhiệm vụ chính. Một là canh chừng để người lao động khỏi trở thành phản động. Hai là làm kinh tài qua các dịch vụ giấy tờ. Ðủ loại giấy tờ dân lao động cần được chứng nhận, để được xem như sống hợp lệ, hợp pháp. Ðúng như câu thành ngữ của Mỹ: “no job is done until paper works are done!” (Không việc gì làm xong, cho đến khi giấy tờ đã xong). Ðược một lần chứng nhận là mất đi một phần tiền. Các bạn đọc tại hải ngoại nếu không thích tôi dùng từ “đại-sứ-quán” (vì đề cao nhà nước) thì ráng chịu khó đại một chút nghen! Tôi biết, thói quen các bạn hay dùng là “tòa đại sứ”, nhưng bà con lao động mình ở đây, ai cùng gọi bằng đại-sứ-quán, thì tôi cũng viết ra như
thế. Dùng “đại” cho nó có vẻ to lớn hơn. (Trung-cộng thích/đã sử dụng từ “đại sứ quán”, nên Việt-Nam xài theo cho tiện). Ðại-sứ-quán xem đồng bào Việt-Nam sống ở xứ ngoài là khúc-ruột-ngàn-dặm, làm ta liên tưởng đến câu người xưa hay nói: đồng-tiền-liền-với-khúc-ruột. Ở đâu có khúc-ruột-ngàn-dặm là đại-sứ-quán tìm đủ mọi cách moi móc cho ra tiền!

Hiện nay, với tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, lao động Việt-Nam chỉ còn lãnh khoảng 250 đến 300 RM một tháng nhưng tháng nào cũng phải nộp cho chính phủ Mã thuế ngoại-nhân là 100 RM; vị chi chỉ còn dư từ 150 đến 200 RM, đủ tiền để mua thực phẩm sống tạm qua ngày.

Chưa hết đâu! Vì tình hình kinh tế của Mã cũng đang xuống dốc nên ở bang Penang, tổng trưởng Lim Guan Eng đã kêu gọi các hãng xưởng Mã-Lai hãy mướn người Mã thay vì người ngoại quốc (theo tin của Seberang Jaya, Jan 2009). Hiện nay, công ty Mã đang mướn khoảng 27% nhân lực ngoại quốc gồm Bangladesh, Miến-Ðiện, Indonesia, và Việt-Nam. Do đó, trong những ngày sắp tới, tương lai của người lao động Việt-Nam ở Mã sẽ bi đát hơn nữa!
Vậy sao không chịu trở về quê hương sống gần gia đình cho đỡ khổ hơn?

Chưa chắc đỡ khổ hơn, họ cho biết. Ðủ mọi thứ lý do bao gồm nhiều mặt về tâm-sinh-lý. Thứ nhất, vì không muốn mất mặt. Khi ra đi, đâu phải chỉ có một mình người công nhân mang hy vọng mà cả gia đình nuôi hy vọng, hơn nữa bà con lối xóm trông ngóng người đi xa. Vác xác không đi về, ôi tủi hổ lắm! Thứ nhì, vì không đủ tiền mua vé máy bay mà về. Bộ muốn về là về hay sao? Chưa hết hợp đồng ba năm thì chủ chưa cho về. Khi nào chủ đồng thuận cho về mới được phép về. Chủ sẽ đài thọ cho vé máy bay bận về.

Nhiều khi không có việc, chủ bắt lên câu-lạc-bộ trong hãng ngồi chờ, vừa ngủ vừa đợi công việc làm. Có kêu thì có làm. Có làm thì mới có tiền. Không làm thì đi ngủ tiếp. (Ngủ gà ngủ gật ở câu-lạc-bộ, chứ không phải được ngủ ở nhà). Thứ ba, tôi ngạc nhiên nhất điều nầy, dù rất cực nhọc và không dư dã như mong ước, nhưng họ vẫn không muốn trở về Việt-Nam khi chưa hết hạn; đại đa số đều cho biết là họ thích sống ở đây. Ở tại Mã. Vì ở đây, họ được sống một cách thoải mái và tinh thần được tự do hơn. Lạ thật! Chúng tôi trò chuyện với tổng cộng 52 người lao động: 25 vị phái nam và 27 vị phái nữ, tuổi từ 18 đến 37, họ xuất ngoại từ khắp mọi miền Nam, Trung, Bắc của đất nước. Tôi lại đi từ ngạc nhiên nầy, đến ngạc nhiên khác. Dân lao động Việt-Nam qua Mã đi làm không kiếm được nhiều tiền mà vẫn thích ở lại đây, chỉ vì cuộc sống được tự do và thoải mái hơn quê nhà.

Cây Nhà Lá Vườn: Kinh Tế Tự-Túc-Tự-Cường
Không đủ đồng lương để sống, mấy anh đi đập cá-rô-Phi (đập chứ không phải câu hay lưới), và bắt ốc bươu vàng ngoài bờ lạch để thêm thực phẩm qua ngày. Ðó là những món đặc sản mà các anh ưa thích. Lại nhờ bè bạn nào biết chút đỉnh tiếng Anh, nhờ gửi mua nấm men ngoài chợ đem về nấu cơm rượu. Và cất lên thành “rượu Đế” để cùng nhau cụng ly cạn chén. (Rượu Đế là rượu của vua uống, vì “Đế” có nghĩa là vua). Tôi phục mấy cô, mấy chị, hơn là mấy chú, mấy anh. Hãy lại ký-túc-xá của mấy cô mà xem cho biết. Chỉ một mảnh đất nho nhỏ sau nhà, mấy cô vun trồng đủ loại. Nào là rau thơm tươi tốt cho đến đu-đủ, chuối, mía thật hấp dẫn.

Mấy cô cho ăn mấy lóng mía tươi ngọt giữa buổi trưa hừng nóng nực, thật là mát miệng, mát lòng. Bây giờ tôi mới hiểu được phần nào cái mà nhiều người lao động gọi là “thoải mái” và “tự do”. Các bạn công nhân tha hồ bàn chuyện thời sự đất nước một cách thoải mái vì không sợ bị ai theo dõi và cảm thấy tự do hơn ở tại xứ người, một cách tâm lý, so sánh với cuộc sống đầy áp bức tại quê nhà. Nhưng ở đây cũng có vài ba trường hợp rất đau lòng, khó cho người lao động tự mình tìm được cách giải quyết. Công-ty môi-giới chỉ biết hốt tiền rồi đem con bỏ chợ. Ðại-sứ-quán thì làm ngơ, vô trách nhiệm. Chủ nhân Mã tha hồ bóc lột. Anh bạn tôi ở Úc đã phỏng vấn và thu thập mọi sự kiện để lập thành hồ sơ pháp lý.

Những Trường Hợp Ðau Lòng!
Trường Hợp 1: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” Cô Thoa, 18 tuổi, quê Tiền-Giang, mới đi làm được ba tháng thì bị chủ cho nghỉ việc (layoff). Không hiểu tại sao công-ty môi-giới lại chịu ký hợp đồng với cô bé nầy khi cô ta còn mấy tháng nữa mới đầy 18 tuổi. Không tiền, không vé máy bay, phải sống nhờ vào các bạn cùng phòng. Lúc nào cô cũng than khóc, cầu Trời khẩn Phật cho có ngày về đoàn tụ với mẹ cha. Mặt cô có vẻ cương nghị, tuy miệng nói ao ước: “Con chỉ xin trở về lại Sài-Gòn!” nhưng nước mắt cứ tuôn tràn.

Trường Hợp 2: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận trước khi ra đi!” Em Luyện, 22 tuổi, quê Vĩnh Phú, bị tai nạn lao động gãy tay mà không được bồi thường; ngược lại, còn b
ị chủ bắt đi làm thêm để trả lại tiền nhà thương. Em rất phẩn uất, tự xem như mình bị lường gạt, vì chủ nhân cũng như pháp luật không đoái hoài tới công nhân; môi-giới không dám can thiệp, còn đại- sứ-quán thì bình-chân-như-vại, không phải chuyện của mình. Cứ vô tư! Em nhắn nhủ với giọng uất ức cùng các bạn thanh niên đồng lứa tuổi đang ở quê nhà mà mong đi làm xa xứ: “Thanh niên Việt-Nam hãy cẩn thận về môi- giới trước khi ra đi!”. Rất dễ bị lừa.

Trường Hợp 3: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!” Hai cô: Lịch, 32 tuổi, và Vị, 37 tuổi, hết tiền, sống lậu quá sáu tháng, phải đi làm ôsin, lượm rau cải hư/thừa ngoài tiệm để lây lất qua ngày. Hai cô nầy đã có gia đình ở Việt-Nam, hy vọng ra xứ ngoài để cứu giúp chồng con. Nhưng than ôi! giờ đây, thân mình còn lo chưa nổi, làm sao giúp được cho ai! Nhiều lần viết thư cho đại-sứ-quán thì hầu như họ nghỉ lễ dài hạn, im hơi lặng tiếng. Hai cô ước ao có cuộc sống bình thường: “Chúng tôi mong ước gặp lại chồng và con!”. Phần chúng tôi, chỉ biết thu nhận sự kiện, trao hồ sơ lại cho các tổ chức NGO (Non-Governmental Organization) Tenaganita và CAMSA là những cơ quan xã hội thiện nguyện, chuyên môn giúp đỡ về nhân đạo cho những người lao động Việt-Nam cô thế. Hy vọng cô Thoa, em Luyện, cô Lịch và cô Vị trong ba trường hợp kể trên được tai qua nạn khỏi. Mấy người bạn Mã còn cho biết thêm những trường hợp giết người, đĩ điếm ở dưới bang Jahor, gần Singapore, được phát sinh từ những người lao động bị dồn vào đường cùng – Tôi không hiểu – Vì đâu nên nỗi?

Người lao động Việt-Nam được tuyển chọn, khám sức khỏe kỹ càng, huấn luyện đàng hoàng, và ra đi với mục đích trong lành, mà phải tận cùng cuộc đời u tối như thế nầy?

Vì Ðâu Nên Nỗi?
Trên mạng báo điện tử của VietNam Net ngày 25.12.2008, phóng viên Phương Loan đã phỏng vấn cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ về sinh hoạt ngoại giao đối ngoại của chính phủ Việt-Nam; ông cho biết như sau: “Khi bạn thấy người Việt cướp bóc lẫn nhau, buôn rượu lậu, cờ bạc thì đó là hình ảnh rất xấu về con người Việt Nam. Người Việt ở nước ngoài, chưa nói tài năng, công việc như thế nào, nhưng lối sống như thế khó được chấp nhận. Mà việc này là do chúng ta chưa chuẩn bị kĩ, thiếu sự giáo dục từ trong nước. Đây là vấn đề thuộc về “nội trị”. Chữ “nội trị” được viết đậm là do tôi muốn nhấn mạnh ý nghĩa của nó. Bạn đọc đã nghe tôi tường thuật, một cách chủ quan và bán phần, về hoàn cảnh sinh sống khó khăn của đồng bào Việt-Nam tại Mã-Lai. Những hình ảnh thương tâm về con người Việt-Nam như đĩ điếm và ở lậu, bị bóc lột và ức hiếp, không thiếu thứ chi cả. Anh bạn tôi còn biết đích xác về trường hợp của một người lao động, vì sa cơ thất thế nên biến thành tay sát nhân, hiện lẫn tránh và bị cảnh sát Mã truy lùng để tống khứ về lại Việt-Nam. Tenaganita của Mã và CAMSA của Mỹ đều nắm vững tất cả những trường hợp trên. Bạn nào chưa tin, thì tôi bắt chước bác tài-xế Aru thách thức, “Không tin tôi, thì quí vị cứ đi xem thử!”. Trách nhiệm yêu thương và bảo vệ người dân lành hay công nhân lao động là do sự dạy bảo, cách chuẩn bị, và phương sách cải tạo nếp sống xã hội của đảng lãnh đạo từ Việt-Nam mà ra. Vấn đề thuộc về “nội trị” là như thế. Ðó là lý do tại sao cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã phải bay qua Singapore để hợp tác với cảnh sát địa phương dẫn độ 7,000 chị-em-ta về lại quê xưa chốn cũ. Tuy chưa phải là cách giải quyết rốt ráo, nhưng phần nào bà Bình đã đem đến một hy vọng ngoại giao tốt.

Ngày Bảy: Thứ Hai, 12 Tháng Giêng

Gốc-Mã, Gốc-Việt Có Dính Dáng Gì Với Nhau?
Tôi đọc sách khảo-cổ-học, được biết là Mã-Lai cũng có trống đồng, một loại quốc bảo như của ta. Để được toại nguyện tôi phải đi thăm bảo tàng viện quốc gia của Mã-Lai xem họ có chứa trống đồng hay không. Biết đâu gốc-Mã và gốc-Việt có họ hàng với nhau! Viện bảo tàng cách xa trung tâm thành phố chừng 15 phút xe bas (bus) với vé vào cửa quá rẻ, chỉ có 2 RM một người. Viện bảo tàng cao hai tầng, chia thành bốn gian rất rộng và sang trọng. Một gian chứa các di vật thời cổ sử; một gian chứa các kỹ vật thời cận đại, khi Mã còn là thuộc địa của tây-phương; và hai gian còn lại, đặc biệt chuyên về thời hiện tại, nói về sự độc lập, liên lập, và phát triển của Mã-Lai trong giai đoạn toàn cầu hóa. Dĩ nhiên, tôi dành nhiều thời giờ cho gian cổ vật hơn. Ðúng vậy! 15 ngàn năm về trước, đất Việt-Nam, Thái-Lan, Malaya, Sumatra, Kalimantan (Borneo), và Jawa dính chùm thành một mảng to, được giới khảo cổ gọi là Pentas Sunda (tiếng Anh là Sundaland). Từ 12 đến 8 ngàn năm về trước, nước biển dâng tràn, chia cắt lục địa Sundaland thành nhiều mảng, làm cho đại gia đình các dân tộc cổ của Ðông-Nam-Á phải tách rời đôi bờ đôi ngã. Do đó, dân Mã và dân Việt vào thời xa xưa, cả chục ngàn năm về trước, phần nào, có thể liên hệ bà con với nhau! Giống Rồng của Lạc-Long-Quân đã nhập quốc tịch Malaya hết rồi!

Trống đồng Malaya, tìm được ở bang Terengganu phía bắc, gần giáp ranh giới đất Thái-Lan. Ở ngoài khơi của Terengganu có Pulau Bidong (Pulau là cù-lao), một địa danh rất quen thuộc với thuyền-nhân (boat people) người Việt. Ðường thẳng từ mủi Cà-Mau của Việt-Nam đến đảo Bidong củ
a Terengganu là đoạn đường đi ngắn nhất. Cổ nhân ta chắc cũng đã đi lại nhiều lần trên con đường định mệnh nầy: Trãi qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (Nguyễn Du) [Bể dâu: ngày xưa khi biển chưa tiến thì là ruộng trồng dâu, giờ đây bể cả đã tràn ngập, khiến con người đau khổ]. Trống Terengganu bị hư hại nhiều, chỉ còn lại mặt trống, tang và đáy đã bị tiêu hủy. Các hoa văn trên mặt trống đồng như hình nai và chim giống y hệt như trên các loại trống đồng Ðông-Sơn (Ngọc-Lũ, Hoàng-Hạ, Sông Ðà, …) của tiền nhân ta. Người Mã trân trọng mặt trống Terengganu lắm, họ giữ trong tủ kính để người xem không thể sờ được.

Bóng Mờ Cộng Sản
Sẵn dịp, tôi cũng xin nói qua đôi chút về gian bảo tàng thời cận đại, vì trong đó có chứa nhiều tài liệu về phong trào cộng sản Mao-ít, do Trung-cộng chủ mưu. Dân tộc Mã không thích hợp và không chấp nhận chủ nghĩa cũng như lối sống cộng sản, nên đã từ bỏ chúng rất sớm. Chỗ đứng còn lại của cộng sản là dăm ba quyển sách tuyên truyền, nhập cảng từ Trung-cộng, và hai cái nón đảng viên màu xanh lục với ngôi sao đỏ. Chúng được cất giữ rất kỹ lưỡng trong hai lồng kính trong sáng để người đời sau xem biết mà chừa.

Tôi nghĩ thầm: giá mà cộng sản thành công ở Mã-Lai thì bảo tàng viện ngày nay chứa đầy cả bốn gian về hình ảnh các lãnh tụ anh hùng cộng sản, và chắc chắn, nền kinh tế cũng như nếp sống của Mã sẽ tụt hậu, thua xa của Việt. Không chừng Việt-Nam cũng có thể nhập cảng lao động Mã-Lai vào giúp việc! Nhưng thực tế đã xảy ra một cách ngược lại. Càng nghĩ càng thấy mắc cở!

Nhảy-Lên-Nhảy-Xuống: Vòng Một Tua Kuala Lumpur
Hôm nay là ngày cuối ở KL, tôi quyết định ôn/xem lại 22 địa điểm nổi danh của thành phố trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dễ thôi! Dùng chuyến xe bus đặc biệt hai tầng, tên là “KL Hop-On Hop-Off”, tốn 38 RM, có thể xài trong vòng 24 giờ. Thích ở đâu, xuống trạm ở đó; chơi xong rồi, nhảy lên đi tiếp. Mỗi chuyến cách nhau chỉ có 30 phút; xe bắt đầu từ 8:30 sáng và ngừng chạy lúc 8:30 tối mỗi ngày.

Chào tạm biệt Mã-Lai. Tạm biệt KL. Tạm biệt Melaka. Tạm biệt các bạn Mã nhân từ. Tạm biệt các đồng bào lao động thân thương người Việt! Tôi còn giữ tất cả địa chỉ của các bạn. Hy vọng một ngày nào đó được gặp lại các bạn trong một bối cảnh tự do và thoải mái hơn. Không phải tại đất Mã, mà ở ngay tại quê hương yêu dấu Việt-Nam của chúng mình!

Mồng Một, Xuân Kỷ-Sửu (2009)

2 phản hồi to “Entry for February 20, 2009”

  1. Phương Nguyên said

    ở chỗ PN cũng c nhiều người đi xuất khẩu lao động ở M Lai, by giờ phong tro đi M Lai xẹp rồi.

  2. TranHoang said

    Tất cả cc hng giới thiệu việc lm đều hưởng 35-45% mức lương hng thng của người cng nhn.

    Nếu lương của người cng nhn VN l 800 RM/ 1 thng (khoảng 235 đ la Mỹ), th ta c thể suy ra mức lương thật sự của người cng nhn VN ấy được chủ hng ở M Lai trả l 1300- 1500 RM. ($382-$440)/ 1 thng

    cần nhớ GDP của người M Lai l 15.000 US / 1 năm. nghĩa l lương tối thiểu của người cng nhn M Lai l 500-600 U.S./ 1 thng.

    Số tiền chnh lệch 147 đ- 235 đ hng thng /1 cng nhn (382-235= $147; 470-235=235) chnh l tiền lợi tức của hng giới thiệu cng việc lm cho chủ hng M Lai. Số tiền ny được chủ hảng trả trực tiếp cho cc hng giới thiệu việc lm ở VN.

    Như vậy tiền bạc ăn chận của người cng nhn sau cng rơi vo tay của cc hng xin việc lm của cc gia đnh cn bộ cao cấp. (một hnh thức đứng trung gian v bc lột sức lao động của người cng nhn VN)

    Hng xin việc lm cung cấp người lao động v hưởng lợi theo cch ấy. Ở Mỹ, cc hng cung ứng việc lm cho cc hng bị chi phối bởi php luật. Họ phải đng gp nhiều thứ tiền bảo đảm quyền lợi của người cng nhn v thuế cho nh nước:

    1./ tiền thuế an sinh x hội (tức l hng phải xin việc lm tư phải đng vo quỹ hưu bổng cho người cng nhn) nhờ đ khi về gi 62-66 tuổi, người cng nhn dựa vo tiền hưu ấy để sống những cn lại của mnh.

    2./ Tiền trợ cấp đng gp vo quỹ thất nghiệp cho người cng nhn

    3./ Tiền nghĩ h hng năm cho người cng nhn.

    4./ tiền 9 ngy lễ hng năm (cng nhn vo ngy lễ được ở nh, nhưng vẫn lnh lương của ngy ấy) …

    5./ tiền hưu bổng cho cho người cng nhn…

    v sau một thời gian lm việc 1 năm, cc hng phải nhận cng nhn nầy vo bin chế chnh thức (theo luật65 lao động). Cc hng giới thiệu việc lm chấm dứt việc ăn tiền “c” của người cng nhn.

    Cc hng giới thiệu việc lm ở Mỹ khc với cc hng giới thiệu việc lm ở VN l ở chỗ đ. Ci nhn đạo m luật php bảo vệ cho người dn khỏi bị bắt chẹt l ở chỗ buộc cc hng giới thiệu việc lm phải c trch nhiệm với cng nhn.

    Tnh trạng bc lột cng nhn xảy ra v:

    1./ V chnh quyền cố tnh che dấu v bảo vệ những hng giới thiệu việc lm ở VN (cc hng nầy thực sự l của con ci cc cn bộ cao cấp v b con anh em của họ),

    2./ Quốc hội khng c cc đạo luật lao động nhằm bảo vệ người cng nhn,

    3./ dn tr của người VN mnh khng cao. Nn khng hiểu những mối lin hệ giữa : người cng nhn v luật lao động – hng giới thiệu việc lm — hng xưởng — thuế — hưu bổng…

    4./ Một số luật sư VN như Nguyễn văn Đi, L Th.Cng Nhn c thể đ nhn thấy vấn đề ăn chận v bc lột nầy của cc hng giới thiệu việc lm, cc hng nước ngoi, v nhiều vấn đề khc như:

    _mức lương bổng của cng nhn VN ở trong nước đ khng được chủ hng gia tăng hng năm theo kịp nạn lạm pht ở VN (25% năm 2008)

    _C thể họ cũng muốn chất vấn cc hng ngoại quốc ở VN để biết r l cc hng ấy c đng tiền vo quỹ hưu bổng dnh cho người cng nhn VN hay khng; v số tiền ấy l do chnh phủ VN đang giữ hay ai giữ…

    (điều nầy chẳng c g b mật với bất cứ người no từng đi lm việc ở cc nước c, Mỹ, Canada, Anh, Php, Đức…) Mỗi năm, chnh phủ đều phải gởi 1 thư vo khoảng thng 1 để bo co số tiền chnh phủ đang giữ cho người cng nhn tnh đến nay l bao nhiu. V nếu họ về hưu vo năm 62-66 tuổi, th họ lnh bao nhiu tiền mỗi thng…

    _ thức đem lại quyền lợi của người cng nhn VN trong nước, họ đ đi thnh lập cng đon độc lập vo năm 2006 để bảo vệ quyền lợi cho người cng nhn VN. Nhưng họ đ bị chnh quyền VN bắt bỏ t ngay. Họ ở t v hnh động của họ sắp động chạm tới mn tiền bo bở của cc hng giới thiệu việc lm v cc vấn đề ni trn. Chuyện trn bo ch viết về họ th ai m tin.

    Cứ tnh 1 người cng nhn VN xuất khẩu lao động qua M Lai , th hng giới thiệu việc lm ở VN hưởng 35-50% mức lương mỗi thng. Với 200.000 cng nhn VN lm ở đấy, mỗi thng cc hng xin việc lm bỏ ti tối thiểu l 29.400.00 đ (200.000 X $147).

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: