Trần Hoàng Blog

Du Lịch Mã Lai Á 2009 (bài 2)

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2009

Một chuyến nghỉ đông [2]

Tác Giả Trương Như Thường 12-2-2009
Ghé Tới Phố Tàu (China Town)
Chật chội, đông đúc, kém vệ sinh là đặc điểm của các khu phố Tàu trên toàn thế giới. Phố Tàu của KL không là một ngoại lệ. Chưa hết, thêm đặc điểm “trả giá” nữa. Không trả giá là sẽ bị mua lầm!

Anh bạn tôi dặn rằng chỉ trả 1/3 là đúng giá. Tôi chưa tin lắm. Cái áo ngắn tay họ đòi 45 RM, tôi trả 20, họ bán ngay! Thế là mình mua hố mất 5 RM. Ðúng lý, chỉ phải trả 15 RM mà thôi. Ðể chứng minh, bạn tôi hỏi giá một cái áo ngủ bằng lụa cho đàn bà; họ thách 95 RM, bạn tôi trả giá 30 RM, tới lui một vài câu, qua lại một vài giá, rồi bỏ đi, họ kêu lại chịu bán. Anh bạn của tôi hay thật! Ảnh mua luôn hai cái, vừa rẻ lại vừa tiện. Ðặc biệt ở đây là dù mình trả giá thật thấp, họ không chịu bán, mình cười trừ rồi đi luôn mà vẫn bình an vô sự. Ở Việt-Nam phải cẩn thận hơn nhiều! Lạng quạng là bị nghe chửi!

Vật dụng hằng ngày được bày bán đầy đủ như áo quần, dày dép, máy móc, vật dùng gia chánh, đồ chơi con trẻ. Phẩm chất mới xem qua, tưởng chừng là hàng nhập cảng của Made in China. Giá cả rất phải chăng. Hỏi kỹ ra, mới biết là được sản xuất chính hiệu tại Malaysia.

Hàng Mã có thể cạnh tranh ngang cơ với hàng Tàu. Nguyên nhân xa và nguyên nhân gần, được tóm tắt như vầy: (1) lực lượng lao động thiện nghệ, giá thành rẻ; (2) giới sản xuất đa số là người-Mã-gốc-Hoa, có chí làm giàu; (3) giới nhân công lại được chính quyền bảo vệ bằng luật pháp nghiêm minh; và nhất là có (4) các công đoàn độc lập rất hữu ích, giúp cho người lao động tránh cảnh bị chủ bóc lột. Hậu quả là, hàng sản xuất của Mã còn có thể xuất khẩu ra ngoài, cạnh tranh cùng khắp thế giới.

Lực lượng lao động của Mã vào năm 2007 có 10.94 triệu nhân lực, với tỉ số 3.6% thất nghiệp, mang đến 186.5 tỉ đôla Mỹ cho tổng sản lượng quốc nội (GDP) với độ tăng trưởng là 6.3%. Ðây là những chỉ dấu phát triển kinh tế rất hiệu năng, nâng xứ Malaysia thành một trong những con rồng nhỏ, lượn dưới vòm trời Ðông-Nam-Á.

Kể từ năm 2005, nhân lực Mã chia ra 51% làm dịch vụ, 36% cho kỹ nghệ, và chỉ còn 13% dựa vào nông nghiệp. Giới kỹ nghệ đang cần thêm một số nhân công để có thể phát triển lớn mạnh trong tương lai. Do đó, các nhà sản xuất Mã-Lai có nhu cầu nhập cảng nhân công ngoại quốc, vì nhân công rẻ, đặc biệt là cho các ngành may mặc, điện tử, và xây cất.

Một số hãng với chủ nhân và ban giám đốc, thường là người Mã-gốc-Tàu, rất chuộng nhân công nhập cảng người Việt để làm công việc, chỉ vì giá nhân công khá rẻ, và nhất là không bị ràng buộc bởi luật pháp Mã-Lai, không theo lương bổng tối thiểu, cũng như không bị các tổ chức lao động địa phương can thiệp. Các hãng xưởng ở những bang xa như Malacca, Johor ở miền nam; và Kedah, Perak, và Terengganu ở miền bắc là những trung tâm sử dụng đến cả trăm ngàn nhân lực lao động người Việt.

Ðây cũng chính là các món quà béo bở cho chính quyền Việt-Nam xuất cảng: bán lao động người Việt sang Mã-Lai, qua trung gian của các công ty môi-giới (chủ của các công ty môi giới nầy là con cái của đám cán bộ cao cấp ở Hà Nội và Sài Gòn — theo báo chí VN), ở giữa lấy tiền huê hồng. Sản phẩm bày bán tại thương trường hào nhoáng bao nhiêu, một phần, do công khó của người lao động Việt-Nam bấy nhiêu (Made-in-Malaysia-by-imported-Vietnamese-labors).

Ngày Bốn: Thứ Sáu, 9 Tháng Giêng

Bác Tài-xế Teksi Người-Mã-gốc-Ấn
Mấy ngày qua, tôi đã thử nhiều loại xe công quản chuyên chở khác nhau. Hôm nay làm sang, chúng tôi lấy teksi dạo phố chơi thử. Một chuyến taxi (teksi) không nên trả quá 20 RM, vừa phải là 10 RM. Ðây là lời khuyến cáo của bác tài-xế, tên Aru, người Mã-gốc-Ấn, dặn anh bạn tôi như thế, trong những lần đi trước.

Nhờ vào kinh nghiệm này mà anh bạn tôi rất sành điệu trong việc đối phó với các bác tài-xế teksi. Lên xe, bảo chỗ mình muốn đến, và đừng bao giờ mở miệng hỏi “how much”. Tại sao lại phải hỏi giá cả? Bởi vì tài-xế teksi ở KL, đại đa số, cố ý không bao giờ mở máy đồng hồ; cho đến khi xuống xe, mình hỏi họ tốn bao nhiêu, thì tha hồ họ chém. Lắm khi, tốn đến gấp đôi ba lần của giá đúng (giá tính theo đồng hồ được mở). Trong thành phố KL, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, cao tay lắm là khoảng 10 đến 15 RM là cùng, khi đồng hồ được mở. Khi xuống xe, cứ đưa cho tài-xế 10 RM. Nếu họ đòi 20 RM, thì hỏi họ ngược lại: sao anh không mở máy đồng hồ? Nếu họ không chịu giá mình trả, bảo họ mời cảnh sát đến. Thế là êm ngay! Không chịu mở máy đồng hồ thì sao tính giá chính xác được. Chịu êm với giá 10 RM là phải!

Dân Mã, tương đối tuân thủ kỷ luật, theo gương Singapore, ngoại trừ các bác tài-xế teksi: không chịu mở đồng hồ. Nhưng mấy bác cũng biết sợ cảnh sát lắm! Một lần nữa, đây là lời khuyến cáo quí báu của bác tài-xế Aru! Anh bạn tôi đã chứng minh một cách tài tình bằng chuyến đi teksi, từ Jalan Alo đến Beach Club: tốn chỉ có 10 RM.

Beach Club: Thiên Ðàng Ðịa Ngục Hai Bên! Bác tài-xế Aru cũng cho biết: tại bar Beach Club ở trên đường Jalan Sultan Ismal, có nhiều gái giang-hồ từ Việt- Nam sang làm ăn lắm. Mỗi đêm có
tới mấy chục cô. Rất trẻ, độ 20, 30 tuổi mà thôi. “Thật vậy sao anh Aru?” bạn tôi hỏi. “Không tin tôi, thì mấy anh cứ đi xem thử!”, Aru trả lời liền một cách thách đố. Lâu lắm rồi, có một lần ở bên Mỹ, mấy anh học trò trong lớp tôi ăn liên hoan mãn khóa, chúng rủ/đãi tôi đi quán bia ôm. Ði một lần cho biết. Tôi tỡn tới già luôn! Nay có người thách đố đi thăm “chị-em-ta”, trong lòng tôi cũng hơi nao núng; nhưng có gì đâu mà sợ! Biết đâu thâu thập được nhiều chuyện hay, về kể lại cho bà con nghe chơi! Qua Mã du lịch, lại nghe đến vụ “chị-em-ta”, chưa biết thực hư như thế nào. Nếu mình vững tin, không ngán lời thách thức, đi thử một lần. Bụng bảo dạ, vào bar làm quen, tà tà nói chuyện, hỏi rõ ngọn ngành đầu đuôi. OK, cứ vào Beach Club xem thử! Bar khá rộng rãi, có chừng năm, sáu chục khách đang ngồi uống nước. Chung quanh quán không có vách ngang, đèn đuốc mơ-mơ-huyền-huyền, khoảng 30 chục bàn vây quanh một sàn nhảy. Quầy rượu đủ loại, chạy dài từ hành lang ngoài đường, lấn sâu vào tới vách bên trong. Một vài cặp nam thanh nữ tú đứng ngồi hàn huyên bên quầy rượu một cách êm thắm. Thấy có vẻ đầm ấm lắm! Rãi rác đó đây, từng nhóm dăm ba cô gục gật đầu trò chuyện. Cô nào cô nấy, ngực mông đồ sộ, lộ khoe hương sắc. Ðồ sơn đồ thiệt, khó lòng phân biệt, vì đèn đuốc tối thui, lờ mờ chừng 60 watts.

Giờ nầy còn hơi sớm, mới 9 giờ tối, thiên hạ vào cửa miễn phí. Giá nước uống gấp đôi bên ngoài. Tiếp đãi viên toàn là phái nam. Sau 10 giờ, bar sẽ được dựng rào bao quanh bằng dây vải với cổng ra vào, đàn ông vào cửa giá 10 RM một mạng, đàn bà tự do tung tăng thả giàn. Ðiều nghiên tình thế kỹ càng, ba anh em chúng tôi chững chạc bước vào bar. “Ðừng ngồi gần quầy rượu, nhạc ồn lắm, ra xa xa ngoài nầy, dễ nói chuyện hơn!” anh bạn tôi nói hơi lớn, nói bằng tiếng Việt, để chúng tôi nghe cho rõ. (Cố ý cho người chung quanh, nếu là người Việt, nghe cũng rõ luôn). Ba cô từ xa rà tới. Ráp vô liền. “Ủa, mấy anh là người Việt hả?”, giọng một cô lộ vẻ mừng rỡ. Cô thứ nhì, độ trên dưới 30, lặng thinh, không nói năng chi cả, kéo ghế tự động ngồi xuống. Cô thứ ba xổ một tràng tiếng Hoa, nhưng thấy cả đám xài tiếng Việt, cô ta bẻn lẻn bỏ đi. Dù sao, cùng một ngôn ngữ cũng dễ bắt mối hơn. Cô thứ nhất, quay đầu vào một hướng tối vẩy tay, hai cô khác đứng trong góc chạy tới, toàn là bà con Việt-Nam cả. Chúng tôi mời vào ngồi bàn sâu phía bên trong để hỏi chuyện. Bốn bà và ba ông, người Việt tứ xứ, không đếm xỉa gì đến chuyện người mua kẻ bán, chỉ dùng tiếng Việt để thổ lộ cảnh đời ngang trái. Vừa uống nước sinh tố, đủ loại trái cây miền nhiệt đới, lại nghe chuyện tha phương cầu thực của người đồng hương với những chi tiết éo le như được đi xem một vở kịch chứa đầy đủ những yếu tố bi-hài-ái-ố. Bốn mẩu chuyện đời, từ bốn người đẹp, được kể lại khác nhau, nhưng tựu trung đều hướng về một mối: đất nước nghèo túng, chính phủ không thể cung ứng bối cảnh sinh sống thích đáng, khiến người dân phải tìm đường bung ra ngoài biển làm ăn. Thứ nhất, cô TR. trẻ nhất, mới 25 tuổi, đã có bằng đại học nhưng kiếm không ra việc, bạn rủ qua Singapore tìm việc tốt, dính chấu! Cô PH., thứ nhì, có hai con, chồng thất nghiệp lại thêm bịnh; cô phải chạy băng qua cốc bên Thái-Lan (Bangkok), thoát ly tìm đường cứu gia đình. Cô TH., thứ ba, lấy/theo chồng Ðại-Hàn được hai năm, không chịu nổi xứ lạnh: lạnh khí hậu chỉ một, nhưng lạnh thế thái nhân tình tới mười, bèn ly dị đổi nghiệp mới; may mắn chưa có mụn con nào để lo, đã có kinh nghiệm hành nghề hai năm tại Singapore. Thứ tư, cô H. lớn nhất, được 34 tuổi, có một con, có nhà cửa nhưng vừa mới ly thân; buôn bán nhà đất thất bại, bon chen thương trường lỗ vốn; nghe theo lời cô TH. rủ rê tìm cách phá vòng vây túng quẩn vì không còn gì để mất; mới qua KL được một tháng, tối ngày vái van rồi than khóc!

“Ðang sống ngon lành ở Singapore, chạy qua đây chi vậy?”, anh bạn tôi nóng lòng, nhắm vào cô TH. hỏi thẳng. “Tụi em làm ăn khá lắm…”, cô TH. đáp lời ngay, “… mỗi tuần có thể kiếm được năm, sáu trăm đôla dễ dàng; nhưng bị con mẹ Bình chạy qua Singapore a-tòng với bọn cảnh sát bố ráp, làm tụi em chạy thụt mạng!”. Cô TR., có vẻ ăn học hơn, giải thích: “Bị chính phủ Singapore làm áp lực dữ lắm, nên bả (ám chỉ bà Nguyễn Thị Bình) tuyên bố không bắt đủ 5,000 gái chơi thì không về”; cô H. cười nhạo: “Mới có ba tuần, mà bả hốt được 7,000 gái VN, chắc con mẻ đem về Sài-Gòn làm nem cho chồng nếm thử”. Cô TH. kết luận: “Tụi em bị động ổ, nên chạy qua KL lánh nạn!”.

Mấy cô than lắm! Cả hai ba tuần rồi mà mối vô ít quá, không đủ tiền sống; bốn cô phải tụ lại ở chung một chỗ, tiền nhà là 600 RM một tháng. Sáng nào, cô H. cũng đốt nhang, cúng vái ông bà cho mọi việc hanh thông lợi lộc; nhưng cả tuần qua không có mối vô, con gái 9 tuổi từ Sài-Gòn lại gọi qua nhớ mẹ than khóc.

Cô H. vừa kể vừa cúi gầm mặt, nhưng với giọng nói không lộ vẻ hối tiếc. Không thể ngờ được, cô H. nói rặt giọng Nam, tuy sinh từ Bắc nhưng lớn ở trong Nam, lại có cha làm thiếu tướng gốc Nghệ-An, đánh trận Kăm-pu-chia, sau đó về hưu và hiện nay tối ngày lo kinh kệ. Cô cho biết, ông bố cô ta buồn phiền và hối hận về quá khứ lắm, nhưng không biết vì lý do gì; ổng bỏ lại con cháu trong Nam và về miền Bắc lo chuyện tu hành, không tha thiết gì với cảnh trần tục nữa!

Nói chuyện với mấy cô nầy, càng khuya càng thấy ấm lòng. Phần nào, nó phá bỏ được thành kiến về chị-em-ta trong đầu óc thanh giáo của tôi. Nếu mình không hiểu rõ hoàn cảnh xã hội của đất nước, chưa thấy được sự bất xứng của chính phủ và bất lực của lãnh đạo, thì rất dễ hiểu lầm và khó thứ tha nỗi đau khổ của người dân. Tôi ngáp dài vài cái, bạn tôi hiểu ý. Anh ta tặng cho mỗi cô một số tiền “bo” rất hậu hỉnh (“bo” từ chữ pour boire của Pháp, có nghĩa là tiền trà nước, giống như tiền “tip” của tiếng Anh). Các cô vui vẻ, cám ơn, và chào từ giã. Thật là một bài học sáng mắt cho tôi tối nay, mặc dù mắt nhắm mắt mở vì buồn ngủ. Ngày mai chúng tôi định đi chơi xa để thăm bang Melaka.

(Còn tiếp)

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: