Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 10th, 2009

Entry for February 10, 2009

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2009

TIME

————————————————————————————————————

Một cuộc chiến

của những người

anh em họ hàng

cáu giận nhau

Thứ Hai, ngày 2-3-1979

Đồng Đăng. Lạng Sơn. Những địa danh Việt Nam từ đó đến nay vẫn nghe du dương mà êm ái, gợi lại lịch sử, đẫm máu và chết chóc.

Tại thành phố Đồng Đăng có nhà ga đầu mối, một chiếc cổng màu vàng cao 10 mét đánh dấu cuộc xâm lăng của Nhật Bản vào Đông Dương năm 1940, gợi lại lời tuyên hứa không biết có chính xác hay không của Tổng thống Franklin Roosevelt rằng “chúng ta sẽ không tham chiến về chuyện Đinh Đông chết tiệt nào hết.” [1] Tại Lạng Sơn, một thị trấn đông đúc cách 15 km về phía đông bắc, một ngọn núi hình mào gà mà những đội quân thực dân đặt tên là “bộ ngực của nữ nam tước” trông xuống những tàn tích của một pháo đài bị phá huỷ thậm chí trước khi nổ ra cuộc chiến đấu của Việt Minh chống lại người Pháp.

Tuần trước Đồng Đăng và Lạng Sơn đã trở thành những vùng chiến địa khổ đau một lần nữa. Trong một cuộc chiến leo thang giữa hai nước láng giềng Cộng sản đầy giận dữ, họ đã và đang đối nghịch nhau suốt 2.000 năm qua, ba sư đoàn Trung Quốc xâm lược đã tràn xuống Đồng Đăng và vùng đồng bằng ven biển phía đông Việt Nam theo thế một gọng kìm khổng lồ nhắm vào Lạng Sơn.

Các tiểu đoàn quân chính quy Việt Nam kéo theo những vũ khí hạng nặng vội vã lên hướng bắc để gặp gỡ đối đầu với các toán quân Trung Quốc và thúc đẩy một cuộc chạm trán có thể là trận chiến chính thức đầu tiên trong cuộc chiến tranh kéo dài một tuần.

Được chuẩn bị từ trước, Trung Quốc đã ném ba sư đoàn chống lại các lực lượng phòng thủ tiền phương của Việt Nam. Vào cuối tuần, các lực lượng của Việt Nam đã mở một cuộc phản công tại ba tỉnh biên giới.

Trong khi đó các tàu vận tải của Liên Xô tại Hải Phòng đang bốc dỡ xuống các hàng hóa tái cung cấp các loại vũ khí hạng nặng hiện đại, bao gồm những tên lửa và thiết bị rada. Hệ thống do thám của Liên Xô đã tiếp tục xem xét những trận địa tiền phương với các chuyến bay ở những tầm cao so với mặt biển trên Vịnh Bắc Bộ. Một đội tàu nhỏ gồm 13 chiếc đã thực hiện tuần tra trên Biển Đông, chờ đợi sự góp mặt của tàu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương Sô Viết, tàu nầy mang tên đô đốc Senyavin có trọng tải 16.000 tấn.

Tại Moscow, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Dmitri Ustinov công kích dồn dập “hành động khiêu khích nguy hiểm” của Trung Quốc và buộc tội Bắc Kinh đang cố “nhấn chìm thế giới vào một cuộc chiến tranh.” Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc đã chuẩn bị tổ chức một cuộc họp khẩn cấp, theo lời đề nghị của Washington, để đối phó với hành động xâm lăng của Trung Quốc cũng như việc xâm chiếm Cambodia của Việt Nam trước đó.

Cuộc đột kích của Trung Quốc vào Việt Nam đã được mong đợi và quãng cáo rất rõ ràng. (qua các sự kiện dưới đây)

_Những căng thẳng trước đó đã tích tụ lại kể từ khi có hành động cưỡng bức trục xuất của Hà Nội đối với nhóm người Hoa thiểu số tại Việt Nam vào mùa xuân năm 1978, và

_một cuộc chiến thắng nhanh chóng của VN (đánh vào) chế độ thân Bắc Kinh ở Cam Bốt vào tháng Giêng 1979,

_một loạt những biến cố ngày càng tăng trên vùng biên giới Việt-Trung.

_Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã gửi điện tín nhiều lần và công khai nói về cú đấm trừng phạt trong suốt thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của ông tới Hoa Kỳ, xỉ vả những tham vọng “bá quyền” của “con gấu bắc cực” Liên Xô và chống lại “hành động xâm lược” của Việt Nam tại Đông nam Á. Hà Nội “phải được dạy cho một bài học cần thiết,”

_ông cảnh báo. Tại Tokyo trên đường về nước của mình, ông Đặng một lần nữa đã nói rõ về “hành động trừng phạt” chống lại “những tên Cuba ở phương Đông.”

Nhận ra được những lời tuyên bố công khai có giá trị thật đó của Bắc Kinh, các chuyên gia tình báo phương Tây đã tiên đoán rằng cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ có tính chất giới hạn trong một “bài học trừng phạt,” và một khi sự trừng phạt đã đượ
c đưa ra từng phần theo kế hoạch, các đơn vị chiến đấu của TQ sẽ rút lui.

Thế nhưng tại các thủ đô trên khắp thế giới đã có những sự run sợ ám chỉ toàn cầu đang bị hăm dọa nếu như cuộc chiến tranh nầy không được kiểm soát trong giới hạn và nhanh chóng chấm dứt, nếu như cuộc chiến nầy khiêu khích sự can thiệp trực tiếp hoặc hành động trả đũa của Liên Xô với tư cách khách hàng Việt Nam của họ. Đã từng có thời hoàng kim cho những nhà chuyên môn về báo động: “Tôi đánh cuộc rằng nó sẽ không xảy ra – nhưng chúng ta đang ở rất gần trong một hiểm họa về một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Chiến tranh thế giới lần III có thể bắt đầu vào thời điểm này,” Thượng nghị sĩ New York Daniel Moynihan đã cảnh cáo. Các cố vấn của chính phủ và các chiến lược gia quân sự thì ít lo ngại hơn, song không một ai sẵn sàng phủ nhận rằng cuộc chiến mới nhất của thế giới đã chứa đựng tiềm năng rộng lớn hơn nhiều, và thậm chí những dấu hiệu rõ ràng của sự bùng nổ không thể kiểm soát được,.

Cuộc giao tranh, diễn ra trên những ngọn đồi có cây cối rậm rạp và những thung lũng nhiều ruộng nương của một vùng có thắng cảnh đẹp được gọi là Việt Bắc, vùng nầy đã bị che dấu đàng sau các bí mật quân sự của cả hai bên và bởi một đám mây che phủ ngăn trở việc quan sát của vệ tinh.

Nội đã đưa ra những thông báo chỉ dùng trong nội bộ như thường lệ;

các thông cáo của Bắc Kinh thì ý nghĩa rất huyền bí, thiếu rõ ràng đến độ có vẻ như vô nghĩa.

Một nhà quan sát ở Hong Kong phát biểu: “Cứ như thể đang nghe một cặp mèo gào thét và la khóc với nhau giữa đêm khuya – chúng đang tạo ra những âm thanh ồn ào quái quỉ, thế nhưng bạn không thể biết là chúng đang đánh nhau hay là làm tình đâu nhé.”

Tuy vậy, từ lúc bắt đầu những hành động chiến tranh, tất cả đều rất rõ ràng rằng các đơn vị ở tuyến đầu thuộc về 3 phần trăm của lực lượng bộ binh có hàng triệu người nầy [1] và các đơn vị thuộc lực lượng 615.000 quân, ít ỏi hơn, nhưng dạn dày hơn của Việt Nam đã không ôm ấp nhau gì cả.

Vào rạng sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Hai 1979, các lực lượng người Trung Quốc, tập trung hơn 300.000 tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, phía cực bắc của Việt Nam, đã bắn một loạt đại pháo dày dặt vào các vị trí then chốt ở vùng biên giới (trước khi dùng bộ binh tấn công).

Cú đánh mạnh mẽ nhất là vào những nơi tập trung nhiều người thường dân Việt Nam quanh các thị xã thị trấn như Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chưa từng được thử thách trong cuộc chiến tranh dàn trận với đội hình lớn kể từ khi họ vượt qua sông Áp Lục vào tháng Mười năm 1950 để gây bất ngờ và đánh tan tác các đơn vị quân đội của Liên hiệp quốc tại Triều Tiên, đã dội bão lửa qua biên giới vào 26 điểm khác nhau [trên lãnh thổ Việt Nam].

Hành động tuyên chiến đã đến trong một thông cáo rõ ràng là không thành thật của Bắc Kinh rằng các đơn vị quân đội của họ đã tham dự vào một cuộc “phản công” chống lại các hành động khiêu khích của Việt Nam. “Các lực lượng quân đội ở biên giới Trung Quốc đã hành động khi tình thế trở nên không thể nào chịu đựng nổi nữa và không còn giải pháp thay thế nào khác,” hãng thông tấn nhà nước Tân hoa xã loan báo. “Chúng tôi không muốn một tất đất đai nào của Việt Nam. Điều mà chúng tôi mong muốn là một vùng biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả những kẻ gây hấn lùi xa tới mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ trở lại canh giữ chặt chẻ các vùng biên giới của tổ quốc chúng tôi.”

Vào 9 giờ sáng ngày thứ Bảy, 17-2-1979, đạn súng cối đã rơi xuống gần Lạng Sơn, theo một thông tín viên hãng thông tấn Pháp AFP tại hiện trường cho hay. Ở phía bắc, đạn trọng pháo có thể nghe được cách khoảng nhau từ 10 tới 30 giây một loạt. “Các toán lính Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công đều khắp, tất cả các cứ điểm biên giới đều bị dội những loạt đạn trọng pháo nặng nề,” một viên chức cấp tỉnh của Việt Nam thông báo. “Các trận đánh đẫm máu đang diễn ra, số người thương vong chắc chắn là nặng nề.” Theo lời kể của một thương binh Việt Nam 18 tuổi tên là Trần Văn Miên, anh lảo đảo chạy vào thị trấn và ngã xuống con đường: “Bọn Trung Quốc đang ở gần đây, chúng nó có mặt ở khắp nơi.”

Sau khi rải thảm một đợt hỏa lực đại pháo để làm yếu đi lực lượng phòng thủ của Việt Nam, một đoàn quân Trung Quốc ượng ước khoảng 60.000 người đã tiến lên mạnh mẻ dọc theo vùng biên giới núi non hiểm trở rộng 772 km. Bộ binh, được sự yểm trợ của các xe tăng T-59, đã lao qua những con đường đồi núi chật hẹp gồ ghề, đánh tràn vào và chiếm các tiền đồn của Việt Nam và m
rộng ra (như hình cái quạt) một cuộc tiến- quân- có-phối- hợp tiến sâu vào khoảng 10 km. Theo sự tự thừa nhận của Hà Nội, người Trung Quốc sau hai ngày đã chiếm được mười một thị trấn và làng bản và đã bao vây Đồng Đăng bằng xe tăng và các súng được gắn trên xe.

Thế rồi họ dường như dừng lại.

Tại Bắc Kinh, ông Đặng đã quả quyết với một nhà ngoại giao Argentine đang viếng thăm rằng cuộc xâm lấn đã được “xem xét rất thận trọng” và “sẽ không được kéo dài hoặc mở rộng trong bất cứ tình huống nào.” Phát biểu đó có vẻ như xác nhận lại sự phiên dịch của phương Tây từ ban đầu về mục tiêu khả thi của Trung Quốc là: một cuộc di chuyển (quân) rất nhanh, tấn công đánh rồi bỏ chạy, và tiếp đó là rút (quân) về.

Thế nhưng người Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng để rút lui. Tại thời điểm nầy những toán quân phản ứng nhanh của Trung Quốc, được chỉ huy bởi Tướng Yang Teh-chih, phó tư lệnh chiến trường của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1953, đã không trực tiếp đánh nhau với lực lượng chính quy tinh nhuệ của Việt Nam – từng được thử sức trận mạc bằng những chiến dịch liên tiếp chiến thắng tại Nam Việt Nam, Lào và Cambodia và được trang bị bằng những vũ khí tối tân mới nhất của Liên Xô.

Được cảnh báo trước, người Việt Nam đã để cho các lực lượng biên phòng khu vực và dân quân địa phương làm mũi nhọn chính trong các cuộc tấn công ban đầu.

Theo ước tính có từ ba cho tới năm sư đoàn chính quy VN (ít nhất là 30.000 quân) đã được giữ lại phía sau. Các đơn vị này rõ ràng được dàn trận trong một tuyến phòng thủ hình trăng lưỡi liềm trải dài từ Yên Bái cho tới Sông Hồng tại phía tây Quảng Yên thuộc bờ biển phía đông. Nhiệm vụ của họ là: bảo vệ vùng đồng bằng ven biển bao quanh Hà Nội và Hải Phòng, và chờ đợi người Trung Quốc xuất hiện.

Vào hôm thứ Ba (20-2-1979), ngày thứ tư của cuộc chiến, cuộc tiến quân của quân đội Trung Quốc đã tiếp tục trở lại bằng một cách hung bạo hơn. Một mặt trận tiền phương dường như không có hình dáng rõ rệt đã nhanh chóng phát triển thành hai gọng kềm tấn công chính và rất bài bản:

_một nằm ở phía tây bắc trên con đường xe lửa hướng về phía nam tới Hà Nội,

_một gọng kềm khác nằm ở phía đông trên mối nối của tuyến đường sắt chính song song với Quốc lộ 1, con đường huyết mạch xuất phát từ Hữu nghị Quan. Cả hai mũi tấn công bằng lực lượng bộ binh nầy xem ra đều nhắm trực tiếp vào thủ đô của Việt Nam.

_Cùng lúc ấy, một lực lượng quân trừ bị của Trung Quốc, gồm các đơn vị tấn công chính (trong chiến thuật gọng kềm) của hơn ba sư đoàn theo ước tính, đã lục soát hướng về vùng bờ biển cho một cuộc rút lui có thể xảy ra được nhắm vào việc chia cắt Quốc lộ 4 tới Lạng Sơn và sau đó, chắc có lẻ, cả quân tăng viện chính của Việt nam và tuyến đường tiếp tế của Quốc lộ 1, nơi mà mấy năm trước đã nhận được biệt danh đau buồn là “đường phố không có niềm vui.”

Tại phía tây, khi mà phần chính yếu trong cuộc tấn công của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi về mức độ xâm nhập tới 16 hoặc 24 km, bộ binh QGPND Trung Quốc đã chiếm được Lào Cai, một thị trấn có 100.000 người có nhà ga chính nằm bên Sông Hồng. Để chống lại mối đe doạ này đối với Hà Nội, quân đội Việt Nam đã tiến đến sát phía bắc để giao tranh với quân Trung Quốc tại Lạng Sơn và Đồng Đăng.

“Vài ngàn quân bao gồm cả các đơn vị chính quy và địa phương của Việt Nam với vũ khí hạng nặng đang di chuyển về phía các vị trí của quân Trung Quốc,” một thông tín viên của tờ Asahi Shimbun ở Tokyo đã tường thuật từ Lạng Sơn. Ông đã miêu tả những đoàn xe tải Việt Nam với những khẩu súng 105 mm tiến lên phía bắc trên Quốc lộ 1; những chiếc xe khác chở theo các toán quân, vũ khí, quân trang quân dụng và xăng dầu lên hướng lên vùng biên giới. Trong khi đó, dưới hỏa lực trọng pháo tầm xa 130mm, nhiều đoàn người lánh nạn chạy về phía nam, bỏ lại thị xã Lạng Sơn cho những toán quân, lực lượng an ninh và viên chức nhà nước tràn ngập quanh các khu vực đóng quân.

Hà Nội đã la om sòm rằng lực lượng phòng thủ của Việt Nam ở Lạng Sơn đã gây thương vong cho hơn 3.000 quân Trung Quốc, và rằng chỉ trong một trận chiến bên bờ biển cách 80 km về phía đông nam, các lực lượng Việt Nam “đã đánh bại 3 tiểu đoàn và quét sạch 700 kẻ xâm lược Trung Quốc.” Tổng cộng, theo phía Việt Nam loan báo, lực lượng của họ đã tiêu diệt từ 5.000 đến 8.000 quân Trung Quốc trong năm ngày, trong khi họ chỉ tổn thất chưa tới một nửa số đó.

Những tuyên bố thiên vị một chiều đó làm ta nhớ lại “những vụ đếm xác” kẻ thù được thổi phồng một cách
trơn tru mỗi ngày qua các bản tin tóm tắt của Hoa kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Các nguồn tin phương Tây tại Bắc Kinh đánh giá rằng phía Việt Nam đã phải chịu đựng tổn thất nhiều nhất trong cuộc giao tranh ban đầu: 10.000 người chết hoặc bị thương, so với 2.000 tới 3.000 thương vong của Trung Quốc.

Người Việt Nam rõ ràng giỏi hơn Bắc Kinh trong chiến thuật chiến tranh tuyên truyền nếu không phải là trên chiến trường. Họ đã đưa ra những lời tố cáo hiểm độc về lối đối xử của người Trung Quốc, bao gồm những hành động tàn ác man rợ có tính cáo buộc và chiến tranh sinh học. Đài Hà Nội khẳng định rằng các chiến đấu cơ Trung Quốc đã bỏ bom vào những xí nghiệp, các nhà máy điện và các trung tâm liên lạc viễn thông (điện thoại), gây ra những tổn hại “ghê gớm” và thương vong cho dân thường, và rằng pháo binh Trung Quốc đã nã “đạn hóa học” vào các mục tiêu ở biên giới.

Ủng hộ cho đồng minh của mình, Liên Xô đã cáo buộc các lực lượng quân sự Trung Quốc về hành động đốt cháy bừa bãi các làng mạc và bắn vào các phụ nữ và trẻ em. Tờ Pravda, trong một bản tin phát đi từ Lạng Sơn, đã khẳng địng rằng một đơn vị Trung Quốc đã chặn một chiếc xe buýt chở dân thường trên một tuyến quốc lộ và hành quyết tất cả các hành khách đi trên xe.

Nội cũng khẳng định rằng họ có bằng chứng vững chắc về kế hoạch từ lâu của Bắc Kinh cho cuộc xâm lăng này. Những nhà báo trú đóng tại thủ đô Hà Nội, được hướng dẫn qua một chuyến đi tới vùng biên giới, đã được trưng ra những cuốn sách có những câu được in bằng tiếng Việt tìm thấy trong xác của các binh lính Trung Quốc tử trận. Trong những vật dụng khác, có những tập sách nhỏ tám trang, chứa đựng những chỉ dẫn cho các tù binh Việt Nam (”Bạn sẽ được đưa tới nơi an toàn và được phép nghỉ ngơi … Đừng lo lắng. Vết thương của bạn sẽ được chữa trị ngay.”)

Ngòi nổ trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trước đó đã nói ra bằng lời giận dữ trong gần một năm nay.

+Vào mùa xuân năm ngoái, 1978, tập trung vào chuyện củng cố cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm cho con người thanh khiết hơn, các giới chức Việt Nam đã quyết định nhổ tận gốc các nhà “thương mại tư bản” và “những nhân tố nguy hiểm,” cụ thể là người Hoa từng sống nhiều năm ở những vùng mỏ phía bắc, tại Đà Nẵng và trong khu vực Chợ Lớn đông đúc của Sài Gòn (giờ là Thành phố Hồ Chí Minh). Một con số ước khoảng 160.000 người Hoa tị nạn đã chạy trốn khỏi đất nước này, trên những con thuyền đánh cá hoặc chạy bộ qua Cửu khẩu Hữu nghị, tái định cư tại các xã thuộc tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Trong khi đó, hàng loạt các cuộc đột kích và giao tranh nhỏ lác đác đã gia tăng cường độ lên trong những tháng kế tiếp đã bùng lên các cuộc cải vả không ngừng xuyên qua biên giới.

+Nổi giận về hành động ngược đãi người Hoa ở Việt Nam, Bắc Kinh – trước đó đã từng cung cấp cho Hà Nội với một lượng viện trợ ước tính 14 tỉ đô la trong hai chục năm qua – đã đột ngột cắt giảm 21 dự án trợ giúp hiện thời.

+Vào tháng Sáu 1978, khi những cán sự kỹ thuật Trung Quốc cuối cùng trở về nước, Hà Nội đã chấp thuận trước những lời tán tỉnh từ lâu của Liên Xô và chính thức nhảy bổ vào quỹ đạo kinh tế của Moscow như là một thành viên của khối liên minh thương mại Cộng sản COMECON.

+Vào tháng Mười một 1978, Moscow và Hà Nội đã chính thức hóa mối liên kết của họ trong một hiệp ước hữu nghị Liên Xô-Việt Nam kéo dài 25 năm, được ký kết với nhiều cuộc lễ lạc tại Moscow bởi [Tổng bí thư] Leonid Brezhnev, Thủ tướng Aleksei Kosygin và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bên trong lời chúc tụng thông thường cho những thỏa thuận thương mại và văn hóa, không có nhầm lẫn gì nữa là một vài chữ vắn tắt hiển nhiên về quân sự: một mức độ hỗ trợ phòng thủ lẫn nhau có vẻ mơ hồ, trong phạm vi “những bàn bạc tham khảo và những biện pháp có hiệu quả thích hợp để đảm bảo hòa bình và an ninh cho các quốc gia của họ.” Đối với Bắc Kinh hiệp ước này là một lời trách cứ chính trị rất nhức nhối.

+Tiếp theo là đến cuộc chinh phục chớp nhoáng Cambodia của Việt Nam. Trong vòng một tháng với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn của họ vào ngày lễ Giáng Sinh 1978, quân nổi dậy thiên về Hà Nội được hậu thuẩn bởi quân đội chính quy Việt Nam đã đánh tan chế độ Khmer Đỏ Pol Pot tàn bạo được Trung Quốc trợ giúp. Chỉ một ít giọt nước mắt từ các nước trên thế giới đã nhỏ xuống khi Pol Pot và những tàn dư rải rác còn sót lại trong quân đội của ông ta bị lùa vào những hang hốc trong rừng rậm phía tây. Từ những vị trí cố thủ này, quân Khmer Đỏ đã và đang kháng cự mạnh mẽ chống lại chính quyền mới, một chính phủ ủng hộ Việt Nam được lãnh đạo bởi một cựu thành viên Khmer Đỏ đào ngũ, ông Heng Samrin, và được yểm trợ bởi một lực lượng Việt Nam ước
khoảng 130.000 quân.

Đối với Trung Quốc, thất bại ở Cambodia có nghĩa là một sự mất mặt ghê gớm. Kể từ đó, khi ông Đặng được chấp thuận viếng thăm Washington, Trung Quốc đã hướng các loại vũ khí và quân dụng cung cấp sang cho quân nổi dậy của Pol Pot trong một nỗ lực nhằm lật ngược lại những gì đang xẩy ra và báo thù cho tình trạng bẽ mặt của chính họ.

(còn tiếp)

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

TIME

——————————————————

A War of Angry Cousins

Monday, Mar. 05, 1979

Dong Dang. Lang Son. Blunt yet musical Vietnamese place names, redolent of history, blood and death. At the railhead city of Dong Dang, a 30-ft. yellow gate marks Japan’s invasion of Indochina in 1940, which prompted President Franklin Roosevelt’s perhaps apocryphal vow that “we will not go to war over any damn Ding Dong.” At Lang Son, a crowded market town nine miles to the southeast, a nipple-crested mountain that colonial troops named the “baroness’s breast” overlooks the ruins of a fort demolished even before the Viet Minh’s war against the French.

Last week Dong Dang and Lang Son had been turned into tormented battlegrounds again. In an escalating war between angry Communist neighbors and cultures that have been antagonistic for 2,000 years, three divisions of invading Chinese troops descended on Dong Dang and on the Vietnamese coastal plain to the east in giant pincers aimed at Lang Son. Battalions of the Vietnamese regular army hauling heavy weapons rushed north to meet them head-on and force a confrontation that could be the first major battle of the week-long war. In preparation, China threw three fresh divisions against forward Vietnamese defenses. At week’s end Vietnamese forces launched a counter attack in three border provinces.

Meanwhile Soviet freighters at Haiphong were unloading resupplies of sophisticated hardware, including missiles and radar equipment. Soviet reconnaissance kept watch on the battlefronts with high-altitude sorties over the Gulf of Tonkin. A flotilla of 13 Soviet ships cruised the South China Sea, awaiting the arrival of the flagship of the Soviet Pacific Fleet, the 16,000-ton cruiser Admiral Senyavin.

In Moscow, Soviet Defense Minister Dmitri Ustinov assailed China’s “dangerous provocation” and accused Peking of try ing to “plunge the world into a war.” The U.N.’s Security Council prepared to meet in urgent session, at Washington’s request, to deal with the Chinese invasion as well as the earlier Vietnamese invasion of Cambodia.

China’s assault on Viet Nam was expected and well advertised. Tensions had been building up ever since Hanoi’s forced expulsion of ethnic Chinese last spring, Viet Nam’s lightning rout of Peking’s client regime in Cambodia last month, and an intensifying series of incidents on the China-Viet Nam border. Vice Premier Teng Hsiao-p’ing repeatedly and publicly telegraphed the punch during his U.S. visit this month, railing against the “hegemonistic” ambitions of the Soviet “polar bear” and against Vietnamese “aggression” in Southeast Asia. Hanoi “has to be taught a necessary lesson,” he warned. In Tokyo on his way home, Teng again pointedly talked of “punitive action” against “those Cubans of the Orient.”

Taking Peking’s avowals at face value, Western intelligence experts predicted that the Chinese offensive would be limited to a “punitive lesson,” and once the punishment had been meted out, the troops would withdraw. But in capitals around the world there were shudders at the ominous global implications if the war were not contained and short-lived, if it were to provoke direct Soviet intervention or retaliation on behalf of their Vietnamese client. It was a heyday for alarmists: “I would bet that it won’t happen—but we are very much in danger of a third world war. It could be starting at this moment,” warned New York Senator Daniel Moynihan. Administration advisers and military strategists were less worried, but no one was prepared to deny that the world’s newest war contained the potential for much wider, and even uncontrollable, conflagration.

The fighting, in the wooded hills and tilled valleys of a scenic region called the Viet Bac, was shrouded behind military secrecy on both sides and by a cloud cover that thwarted satellite observation. Hanoi issued regular self-serving communiques; Peking’s announcements were so cryptic as to be meaningless. Said one Hong Kong observer: “It’s like hearing a couple of cats squawling in the middle of the night —they’re making a helluva racket, but you don’t know if they are fighting or making love.” From the start of hostilities, however, it was all too obvious that the front-line units of China’s huge, 3% million-man land army and those of Viet Nam’s leaner but highly honed 615,000 troops were not embracing. At dawn on Saturday, Feb. 17, Chinese forces, massed more than 300,000 strong north of Viet Nam in Yunnan and Kwangsi provinces, loosed a massive artillery barrage on key border positions. Hardest hit were Vietnamese concentrations around the cities of Lao Cai, Muong Khuong, Cao Bang, Lang Son and Mong Cai. The People’s Liberation Army, untested in major formation warfare since it crossed the Yalu River in October 1950 to surprise and rout the U.N. forces in Korea, stormed across the border at 26 different points.

The declaration of war came in a transparently disingenuous Peking announcement that its forces were engaged in a “counterattack” against Vietnamese provocations. “The Chinese frontier forces took the action when the situation became intolerable and there was no alternative,” said the official Hsinhua News Agency. “We don’t want a single inch of Vietnamese soil. What we want is a stable and peaceful frontier. After hitting back at the aggressors as far as necessary, our frontier forces will turn to guard strictly the frontiers of our motherland.”

B.y 9 a.m. on Saturday, mortar shells descended near Lang Son, according to an Agence France-Presse correspondent on the scene. To the north, heavy artillery shells could be heard every ten to 30 seconds. “Chinese troops have launched a general attack, all the frontier posts are being shelled by heavy artillery,” a Vietnamese provincial official announced. “Bloody fighting is taking place, human casualties are certainly heavy.” Said a wounde
d 18-year-old Vietnamese soldier named Trien Van Mien, who staggered into town and fell in the road: “The Chinese are close by, they are everywhere.”

After laying a carpet of artillery fire to soften Vietnamese defenses, an estimated 60,000 Chinese troops advanced in a broad surge along the jagged 480-mile border. Infantry, supported by T-59 tanks, spurted through the passes of the rugged, hilly terrain, bowled over Vietnamese outposts and fanned out in a broad, coordinated advance about six miles deep. By Hanoi’s own admission, the Chinese after two days had occupied eleven towns and villages and had surrounded Dong Dang with tanks and self-propelled guns.

Then they appeared to pause.

In Peking, Teng assured a visiting Argentine diplomat that the invasion would be “circumspect” and “will not be extended or expanded in any way.” That statement seemed to confirm the initial Western interpretation of the possible Chinese objective: a swift, hit-and-run offensive, and then go home. But the Chinese were not yet ready to withdraw. At this point the Chinese shock troops, led by General Yang Teh-chih, China’s deputy field commander in the Korean War, had not tangled directly with Viet Nam’s crack regular army— battle-tested by victorious successive campaigns in South Viet Nam, Laos and Cambodia and equipped with the latest sophisticated Soviet hardware.

Abundantly forewarned, the Vietnamese let regional border forces and local village militia take the brunt of the initial attack. An estimated three to five regular divisions (at least 30,000 troops) were held back. They were apparently arrayed in a crescent-shaped defense line that stretched from Yen Bai on the Red River in the west to Quang Yen on the east coast. Their mission: to defend the coastal plain surrounding Hanoi and Haiphong, and wait for the Chinese to show their hand.

On Tuesday, the fourth day of the war, the Chinese advance resumed with a vengeance. A seemingly formless front rapidly developed two main, logical prongs of attack: one in the northwest on the railroad line leading south to Hanoi, the other in the the east on the major rail link that parallels Highway 1, the jugular thoroughfare from Friendship Pass. Both thrusts appeared to aim directly at Viet Nam’s capital. At the same time, an auxiliary Chinese force, spearhead units of an estimated three more divisions, probed toward the coast for a possible end run aimed at cutting off Highway 4 to Lang Son and later, perhaps, the main Vietnamese reinforcement and supply route of Highway 1, which years ago gained the dolorous nickname “street without joy.”

In the west, as the bulk of the Chinese offensive doubled its penetration to ten or 15 miles, PLA infantry captured Lao Cai, a rail center of 100,000 on the Red River. To counter this threat to Hanoi, the Vietnamese marched north to engage the Chinese at Lang Son and Dong Dang.

“Several thousand men of both regular and regional Vietnamese units with heavy arms are advancing toward Chinese positions,” a correspondent for Tokyo’s Asahi Shimbun reported from Lang Son. He described Vietnamese trucks with 105-mm. guns rolling north on Highway 1; other vehicles carried troops, weapons, ammunition and fuel toward the border. Meanwhile, under the fire of long-range 130-mm. howitzers, columns of refugees fled south, leaving Lang Son to the troops, security cadres and government officials who teemed around staging areas.

Hanoi radio blared that Viet Nam’s defense of Lang Son had inflicted more than 3,000 Chinese casualties, and that in just one coastal battle 50 miles southeast, Vietnamese forces had “trounced three battalions and wiped out 700 Chinese aggressors.” In all, Viet Nam announced, its forces had killed 5,000 to 8,000 Chinese in five days, while losing less than half as many. The lopsided claims were remindful of the inflated enemy “body counts” reeled off each day by U.S. briefers during the Viet Nam War. Western sources in Peking estimated that the Vietnamese had suffered the most in the early fighting: 10,000 killed or wounded, compared with 2,000 to 3,000 Chinese casualties.

The Vietnamese easily outmaneuvered Peking in the propaganda war if not on the battlefield. They issued virulent denunciations of Chinese conduct, including alleged atrocities and biological warfare. Radio Hanoi claimed that Chinese warplanes bombed factories, power plants and communications centers, inflicting “terrible” damage and civilian casualties, and that Chinese artillery fired “chemical shells” at border targets. Backing up its ally, the Soviet Union accused Chinese troops of indiscriminately burning down villages and shooting women and children. Pravda, in a dispatch from Lang Son, alleged that a Chinese unit intercepted a civilian bus on a country road and executed all the passengers.

Hanoi also claimed that it had firm evidence of Peking’s long planning for the invasion. Newsmen based in the capital, taken on a guided tour of the front, were shown printed Vietnamese phrase books found on the bodies of dead Chinese soldiers. Among other things, the eight-page pamphlets contained instructions to be given Vietnamese prisoners (”You will be taken to a safe place and allowed to rest … Don’t worry. Your wound will be treated immediately.”)

The fuse under the China-Viet Nam explosion had been sputtering for nearly a year. Last spring, intent on consolidating their purer-than-thou socialist revolution, the Vietnamese authorities decided to root out “bourgeois trade” and “dangerous elements,” namely ethnic Chinese who had lived for years in northern mining areas, in Danang and in the bustling Cholon district of Saigon (now Ho Chi Minh City). An estimated 160,000 Chinese refugees fled the country, aboard fishing boats or on foot across Friendship Pass, to resettle on communes in Kwangtung and Kwangsi provinces. Meanwhile, a sporadic series of raids and skirmishes that were to intensify in the next months flared back and forth across the border.

Irate at the maltreatment of the Chinese, Peking—which had provided Hanoi with an estimated $14 billion in aid over the past two decades— abruptly cut off 21 current assistance projects. In June, as the last Chinese aid technicians went home, Hanoi yielded to long standing Soviet blandishments and formally jumped into Moscow’s economic orbit as a member of the Communist trade alliance, COMECON.

In November Moscow and Hanoi formalized their alliance in a 25-year Soviet-Vietnamese treaty of friendship, which was signed with much ceremony in Moscow by Leonid Brezhnev, Premier Aleksei Kosygin and the Vietnamese Communist Party head, Le Duan, as well as Premier Pham Van Dong. Inside the usual bouquet of trade and cultural agreements there was no mistaking the glaring military nutshell: an ambiguous degree of mutual defense, to the extent of “consultations and appropriate effective measures to ensure the peace and security of their countries.” For Peking the treaty was a stinging political rebuke.

Then came Viet Nam’s lightning conquest of Cambodia. Within a month of its full-scale invasion on Christmas Day, pro-Hanoi insurgents backed by Vietnamese regulars routed the barbarous China-supported Khmer Rouge regime of Pol Pot. Few international tears were shed as Pol Pot and the stragg
ling remnants of his army were driven into western jungle pockets. From these redoubts, the Khmer Rouge has carried on vigorous resistance against the new regime, a pro-Vietnamese government headed by a former Khmer Rouge defector, Heng Samrin, and propped up by an estimated 130,000 Vietnamese troops. For China the fall of Cambodia meant an enormous loss of face. Ever since, as Teng admitted in Washington, China has steered weapons and supplies to Pol Pot’s insurgency in an effort to reverse its fortunes and avenge its own humiliations.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »