Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai 6th, 2009

Cuộc Chiến tại Kampuchea 1979

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2009

Những thời điểm khó khăn

cho chính quyền Hà Nội

Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Các nhà lãnh đạo ở Hà Nội vẫn thường khoác lác với những vị khách ngoại quốc có cảm tình với họ rằng dân chúng Việt Nam sẵn sàng “chịu đựng với tinh thần cống hiến.” Thế nhưng, những đoàn xe tải vào tuần trước chất đầy xác chết và người bị thương từ biên giới Trung Quốc và từ Cambodia trở về đã chứng tỏ rằng sức chịu đựng đó vẫn còn lâu mới vượt qua được. Một câu hỏi không được trả lời, và có thể không thể trả lời được là mức độ cống hiến của 51 triệu công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn lại là bao nhiêu đối với một ban lãnh đạo không có khả năng tạo nên một đất nước ổn định và thịnh vượng thậm chí sau bốn năm tương đối hòa bình.

Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn và thậm chí là nạn đói tràn lan khắp Việt Nam. Mức sản xuất nông nghiệp sụt giảm 15% vào năm 1978, trong khi những triển vọng cho năm nay là rất kém quá đến nổi Hà Nội đã phải giảm định mức đánh giá cho vụ mùa so với các mục tiêu công bố ban đầu.

Tiếp theo sau nạn lụt lan rộng trên các đồng lúa vào tháng 9 năm 1978, khẩu phần lương thực bình quân đầu người đã bị cắt giảm từ 15 kg (33 lb) xuống còn 13kg. Với mức đó, những nông dân và công nhân bình thường chỉ được cấp phát hơn 0,9kg gạo chút xíu, gạo là món thực phẩm cơ bản hàng ngày của người Việt.

Đường, thịt và bột mì là thứ hiếm có và rất đắt đỏ. Các công nhân nhà máy đã trở nên mất khả năng lao động vì thiếu ăn và suy dinh dưỡng, theo các giám đốc phương Tây của những nhà máy do nước ngoài xây dựng cho biết.

Các cơn bão, hạn hán và những thảm hoạ thiên nhiên khác đã góp phần vào những vấn nạn nông nghiệp của Việt Nam, song sự bất tài của chính phủ đã là nguyên nhân chủ yếu. Những xáo trộn trong bộ máy quan liêu gây trở ngại cho việc gieo trồng các giống lúa mới có sức kháng cự tốt hơn với hạn hán, và việc phân phát thuốc trừ sâu trong những vùng bị tàn phá bởi các giống côn trùng gây hại đã bị đình hoãn. Sản lượng lúa gạo đang sút giảm trong vùng Châu thổ sông Mekong đã từng một thời thịnh vượng. Hà Nội trước đó đã loan báo rằng họ sẵn sàng trao đổi các loại hàng tiêu dùng như quạt máy chạy bằng điện để lấy gạo, hy vọng khuyến khích nông dân bán sản phẩm vụ mùa của họ cho chính phủ thay vì bán ra chợ đen. Khi chính phủ thất bại trong việc phân phát các hàng tiêu dùng như đã hứa, những người nông dân thất vọng bắt đầu sản xuất kém đi. Tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam, tờ Nhân Dân, đã than phiền rằng nhiều nông dân bỏ ruộng đồng không chịu cày cấy hoặc dùng gạo nấu rượu hoặc cho lợn ăn.

Cuộc sống đặc biệt khó khăn ở miền bắc. Các gia đình ở Hà Nội được cấp chỗ ở chỉ 7 mét vuông cho một người – xấp xỉ mức đề nghị được cấp cho những tù nhân trong trại tù liên bang Hoa Kỳ. Các công nhân trong công xưởng phải làm việc sáu ngày một tuần, và sử dụng ngày thứ bảy của tuần cho các cuộc hội họp chính trị hoặc “lao động tình nguyện” trong các dự án xây dựng. Xe hơi cá nhân không còn tồn tại nữa, và các phụ tùng thay thế cho xe đạp thì bị thiếu hụt. “Có sự bất mãn rất lớn,” một nhà ngoại giao ở Hà Nội nhận xét. “Dân chúng bắt đầu kêu ca ở những chốn riêng tư. Một trong những câu hỏi xì xào to nhỏ thường nghe được là một câu châm biếm: ‘Chúng ta đang làm cái quái gì ở Căm-pu-chia thế?’ “

Trong nam vẫn còn tương đối khá thịnh vượng hơn. Phụ nữ vẫn mặc những chiếc áo dài màu sắc sáng sủa, tương phản với những chiếc quần dài đen và sơ mi trắng phù hợp cho cả nam lẫn nữ vẫn thường được mặc ở phía bắc. Thức ăn thì phần nào có sẵn sàng nhưng ít ai có đủ khả năng để mua, kể từ khi tỉ lệ lạm phát vượt trên 100% mỗi năm. Nhìn chung, kinh tế của miền nam đã phải chịu đựng quyết định từ bỏ “thương mại tư bản” và đưa vào sử dụng một loại tiền chung trong cả nước của Hà Nội vào năm ngoái (đổi tiền lần thứ 2 vào năm 1978). Công nghiệp ở miền Nam hiện đang chạy chậm lại ở mức độ chỉ vào khoảng 40% của mức khả năng của nó. Khoảng 20% trong 3 triệu cư dân Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) bị thất nghiệp. Thừa nhận rằng tình trạng quản lý tồi tệ lan rộng trong công nghiệp và nông nghiệp, báo Nhân Dân giải thích: “Trong những cuộc chiến đấu dài lâu chống chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã trở nên dạn dày trong đấu tranh chính trị và vũ trang và có kỹ năng tổ chức các trận đánh lớn. Thế nhưng chúng ta vẫn còn chưa quen thuộc với việc tổ chức sản xuất và kinh doanh trên quy mô lớn.”

Những vấn nạn kinh tế của Việt Nam đã gia tăng trầm trọng thêm đáng kể do việc đuổi 200.000 người Hoa trong chín tháng trước. Những người Hoa nầy đã trở thành mục tiêu bởi vì sự dính líu phổ biến và rộng rãi của họ trong thị trường chợ đen; thế nhưng họ tạo nên cả một tầng lớp thương lái chính ở Việt Nam. Họ kiểm soát việc buôn bán lúa gạo, các hải cảng lớn, các hệ thống phân phối và một số ngành công nghiệp chủ chốt – đáng chú ý là than đá.

300.000 người tị nạn đã và đang trốn thoát khỏi Việt Nam kể từ sự sụp đổ của chính quyền ông Thiệu năm 1975 cũng đã làm suy giảm nguồn nhân lực của đất nước này. Theo các giới chức tại Thái Lan và Hong Kong, nơi mà nhiều người tị nạn đã tới, các cán bộ Việt Nam đang kiếm lợi riêng từ cuộc di tản của những công dân nước của họ những người tị nạn nầy đang tìm kiếm thức ăn và tự do nơi xứ người. Sau khi phỏng vấn những người tị nạn, các nhân viên điều tra tin rằng có tới 50% số tiền mà những người tị nạn này trả để rời khỏi Việt Nam sau cùng đã rơi vào túi của các đảng viên Cộng sản địa phương.

Theo những người tị nạn cho biết, một trong những thay đổi nổi bật nhất thấy rõ gần đây ở Việt Nam là khả năng tham nhũng của các cán bộ đảng cấp trung. Nhiệt tình cách mạng đã nhường chỗ cho một tâm trạng hoài nghi trước những vấn đề kinh tế của Việt Nam. Các cán bộ Cộng sản tham nhũng đã tham gia vào thị trường chợ đen từng được điều hành bởi người Hoa. Tất cả các tuyến giao thông huyết mạch chính của vùng châu thổ Sông Hồng ở phía nam Hà Nội đều đặc trưng cho tình trạng “thả nổi thị trường” do những người Cộng sản điều hành cung cấp những hàng hóa bị ăn cắp từ các chuyến tàu biển hoặc trực tiếp từ các bến cảng ở Hải Phòng. Lối tiêu xài đáng nghi giữa các cán bộ Cộng sản đã trở nên quá trắng trợn đến nỗi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy cần thiết phải phát ra một mệnh lệnh chung:Vào thời điểm khi mà người dân tại một số vùng đang phải trải qua tình trạng thiếu thốn và đói kém, tuyệt đối cần thiết hạn chế tổ chức các lễ kỷ niệm và tiệc tùng hoang phí. Tất cả các ngành các cấp cần phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất kinh tế và một lối sống tiết kiệm tránh lãng phí.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————————————

TIME

————————————————————————————————————

Cán cân quân sự

Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Hai lực lượng giao tranh trên vùng núi đá lởm chởm, không người ở, trong những điều kiện không thuận lợi của miền bắc Việt Nam là đối tượng của việc khảo sát rất kỹ lưỡng bởi các chuyên gia quân sự vào tuần trước. Tại Washington, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập từ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã bắt đầu họp lại trong nhiều giờ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc, đánh giá xem dữ liệu nào có thể thu được từ các thông báo chính thức của quân đội và bởi việc quan sát qua vệ tinh về quang cảnh trận đánh. Tại Moscow, các chiến lược gia đã chú ý tới những mối liên hệ rộng lớn hơn của cuộc chiến. Quân Giải phóng Nhân dân [QGPND] TQ đang đánh nhau ra sao trong cuộc thử nghiệm chiến trận thực sự đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên cách đây gần 30 năm có thể cung cấp những manh mối về khả năng của họ chống lại quân đội Sô Viết trên vùng biên giới phía bắc Trung Quốc. Trận tuyến được dàn ra để chống lại QGPND là một công cụ quân sự ghê gớm được tôi luyện của Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyến Giáp, người chiến thắng tại Điện Biên Phủ, mà các lực lượng của ông ta đã đánh bại quân đội của người Pháp và Mỹ trong hơn ba thập kỷ chiến đấu. Sức mạnh và những yếu kém của cả hai lực lượng, như đã được đánh giá bởi các nhà phân tích quân sự vào tuần trước, có vẻ như đang trong thế cân bằng mong manh.

Với 3,5 triệu người, đội quân đông nhất thế giới, Bắc Kinh có một lợi thế áp đảo về số lượng đối với 615.000 quân của Hà Nội. Trong một đòn tấn công trừng phạt có giới hạn, quân đội Trung Quốc chắc có lẻ đã không tung ra hơn 200.000 bộ đội, mặc dù những cánh quân trừ bị sẵn sàng của QGPND đang ở tại phía nam Trung Quốc vẫn đông đảo nếu như cuộc xung đột có thể lan rộng. Hiện Trung Quốc có khoảng 1,6 triệu quân đóng dọc theo biên giới với Liên Xô – một lực lượng mà Bắc Kinh có thể quyết định tăng thêm nếu như Moscow gia tăng hành động chuẩn bị chiến đấu của đội quân 1 triệu người của họ trên vùng biên giới để đáp trả lại cơn khủng hoảng (tại biên giới Việt – Trung). Một lợi thế chiến thuật thêm nữa cho QGPND là phần đông các lực lượng của Hà Nội đang bị mắc kẹt tại Cambodia và Lào và không thể di chuyển nhanh chóng tới tham chiến tại phía bắc.

Mặc dù người Trung Quốc không “bị đổ máu” qua kinh nghiệm trận mạc, song các nhà phân tích ở Ngũ Giác Đài tin rằng họ là những chiến binh giỏi. Một bộ đội của QGPND chưa từng đánh nhau, giống như người chỉ huy của anh ta, có thể háo hức hơn với trận mạc – và một cơ hội hiếm có để thăng chức. Kinh nghiệm mà người trưởng phòng hành quân các trận đánh của họ, Tướng Yang Teh-chin, 68 tuổi, đã thu được tại cuộc Chiến tranh Triều Tiên có thể đang dùng vào việc nâng cao niềm tin cho bính lính. Việc tấn công trước cũng mang lại một lợi thế tinh thần nội tại. Tuy nhiên, QGPND đang bị khó khăn trong nhiều năm trời vì dính líu quá mức vào tình hình chính trị trong nội bộ Trung Quốc. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ khó khăn nhất của quân đội TQ là ngăn chặn các sự thái quá của cuộc Cách mạng Văn hóa.

Đối với quân đội Việt Nam, họ có được lợi thế từ thực tế rằng họ đang bảo vệ đất nước của họ chống lại một kẻ thù đáng ghét theo truyền thống lịch sử. Họ đã chứng tỏ là những bộ đội với sức mạnh bền bỉ không thể chối cãi. “Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói quân đội nào có ưu thế hơn,” theo nhận xét của một chuyên gia Bộ Quốc phòng Hoa kỳ. “Nếu so sánh về tương quan giữa các cá nhân, thì cán cân kinh nghiệm sẽ nghiêng về phía Việt Nam.”

Nội có một ưu thế rõ ràng hơn hẳn Bắc Kinh trong các loại vũ khí tinh vi. Mặc dù cả hai lực lượng này đều đang chiến đấu với những vũ khí sản xuất tại Liên Xô hoặc với những phiên bản của Liên Xô, nhưng nhiều vũ khí của QGPND kiếm được từ trước cuộc xung đột chia rẽ Trung Quốc-Liên Xô vào những năm cuối 1950. Người Việt Nam cũng có một số thiết bị thu giữ được của Mỹ, đáng chú ý là loại đại bác 177mm, có thể đè bẹp hỏa lực của bất cứ khẩu pháo nào trong kho vũ khí của Trung Quốc. Một trong những vũ khí nổi tiếng và hiệu quả nhất của Hà Nội, mà người Mỹ từng được biết đến tại Khe Sanh, là trọng pháo 130mm. Theo lời một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong: “Người Việt Nam ưa thích loại 130mm và thực sự biết cách sử dụng nó. Chắc chắn họ thích có tầm bắn xa hơn người Trung Quốc.”

Người Trung Quốc có khoảng 10.000 xe tăng, so với 900 chiếc của Việt Nam. Thế nhưng địa thế miền núi của cuộc chiến tuần qua đang ngăn chặn việc sử dụng các xe tăng trong ngoại trừ trong những tuyến đường rất chật hẹp, và loại xe tăng T-34 cũ kỹ của Trung Quốc là rất dễ bị tổn hại trước những tên lửa chống tăng Sagger vô cùng chính xách được Liên Xô cung cấp cho người Việt Nam trong ba năm qua. Quân đội Trung Quốc không có thứ gì có thể so sánh được với loại Sagger này. “Đây là một trong những khiếm khuyết lớn trong chiến trận mà họ đang cố hiệu chỉnh bằng cách mua những tên lửa (chống tăng) HOT từ người Pháp,” một chuyên gia của Hoa Kỳ lưu ý.

Không quân Việt Nam thua kém nhiều so với Trung Quốc về số lượng, song chất lượng thì lại cao hơn hẳn. Hà Nội có tất cả 300 chiến đấu cơ; khoảng 700 phi cơ của Trung Quốc thì đang trong tầm truy kích Việt Nam. Mặc dù, hầu hết trong số các máy bay sẵn sàng lâm trận là những chiếc MiG-17 và MiG-19 đã cổ lỗ, trong khi đón quân đội Việt Nam không chỉ có những chiếc MiG-21 tiên tiến hơn mà họ còn có cả những “chiến đấu cơ” F-5 chiếm được từ người Mỹ.

Quân đội Việt Nam cũng có một lợi thế trong tiếp viện và vận chuyển. Vì những thiếu hụt của xe tải và xe chở hàng, quân đội Trung Quốc theo tin tức cho hay đã phải chuyên chở một số hàng quân nhu với khu vực chiến sự bằng xe có ngựa kéo. Trong khi quân đội Trung Quốc di chuyển chủ yếu bằng đi bộ, thì các đơn vị của Việt Nam có nhiều phương tiện chuyên chở hiện đại, một số lượng lớn trong đó được tịch thu từ (sự bỏ lại của) quân đội Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, quân đội Trung Quốc có những phương tiện liên lạc chiến trường cổ lỗ; đôi lúc họ vẫn sử dụng người hoặc xe đạp. Người Việt Nam được trang bị điện đài và điện thoại dã chiến hiện đại, nhiều loại trong số đó được sản xuất tại Mỹ.

Mặc dù thế mạnh của Hà Nội là về kinh nghiệm, các loại vũ khí và hậu cần, song tinh thần chiến đấu thấp trong quân đội Việt Nam có thể làm cùn đi lợi thế của họ. Tổn thất nặng nề ở Cambodia đã làm tổn hại ghê gớm ý chí chiến đấu của một số binh lính Việt Nam. Các tân binh đã hối lộ sĩ quan của mình để được về nhà. Tỉ lệ vắng mặt không phép là rất cao đến nổi một quân lệnh được loan báo cho kế hoạch tái tổ chức hai năm để hợp nhất tốt hơn với các toán quân phía nam vốn bị mất tinh thần thành một lực lượng chiến đấu hăng hái hơn. Mao Trạch Đông có lẽ đã đúng

khi ông ta nói, “Vũ khí là một yếu tố quan trọng trong chiến tranh song không phải là yếu tố quyết định; Chính con người chứ không phải thứ gì khác mới là có tính chất quyết định.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

—————————————————————————-

Từ đồng chí thành kẻ thù

Vì sao cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979 xảy ra? Một số nhà phân tích nhấn mạnh vai trò của những tranh chấp trên bộ và trên biển giữa hai nước; xung đột Việt – Trung tại Campuchia; và vai trò của người Hoa trong quan hệ Việt – Trung.

Những người khác thừa nhận tầm quan trọng của những yếu tố này, nhưng đặt chúng trong bối cảnh xung đột lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc (TQ). Phân tích của tôi dựa trên cái nhìn sau để xem lại những sự kiện lớn xảy ra trước cuộc chiến 1979.

Quan hệ Việt – Trung sau 1975

Những người cộng sản TQ xem quan hệ với cộng sản Việt Nam (VN) chủ yếu qua lăng kính của mâu thuẫn Xô – Trung gia tăng sau khi quan hệ đồng minh Xô – Trung sụp đổ đầu thập niên 1960.

Từ cái nhìn này, những diễn biến trong 10 năm trước 1975 thật làm họ lo ngại. Trong cuộc chiến Đông Dương lần Hai (1965-75), Liên Xô thay thế TQ, trở thành nhà cung cấp chính về quân sự và kinh tế.

Sau 1975, TQ không rõ về ý định chiến lược của Hà Nội đối với Moscow. Sự triệt thoái của Mỹ khỏi Đông Nam Á sau Hiệp định Paris 1973 giúp gỡ bỏ một đối trọng của Liên Xô trong vùng, và làm phức tạp cố gắng phản kích Liên Xô của Trung Quốc.

Tháng Tám 1975, trong chuyến đi quan trọng nhờ giúp đỡ kinh tế, Phó Thủ tướng và Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Lê Thanh Nghị đã thăm Bắc Kinh trước khi sang Moscow. Họ không thể đạt thỏa thuận về gói viện trợ của TQ cho VN.

Những người cộng sản TQ xem quan hệ với cộng sản Việt Nam chủ yếu qua lăng kính của mâu thuẫn Xô – Trung

Sang tháng Chín 1975, VN lại thử tìm viện trợ. Mặc dù lần này có thỏa thuận về gói kinh tế, nhưng TQ không giúp về quân sự. Trong dấu hiệu chứng tỏ họ lo ngại về quan hệ Việt – Xô, một chủ đề quan trọng được thảo luận trong chuyến thăm là về mục tiêu của LX ở Biển Đông. Đáng chú ý, vào cuối chuyến thăm, hai bên không ra tuyên bố chung.

Có vị thế kinh tế tương đối mạnh hơn TQ, Liên Xô hào phóng hơn với VN. Trong chuyến thăm Moscow tháng Mười của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Liên Xô đồng ý viện trợ 3 tỉ đôla từ 1976 đến 80.

TQ hẳn cũng để ý lời ngợi ca dạt dào dành cho Liên Xô trong tuyên bố chung cuối chuyến thăm của lãnh đạo VN. Đáng nói, tuyên bố chung ủng hộ chính sách hòa hoãn (detente) của Liên Xô, vốn bị TQ chống đối.

Tháng 12.1976.

Một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ Việt – Xô là Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần Bốn tháng 12.1976. Những nhân vật gắn bó với TQ bị cô lập. Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ Chính trị từ 1956 và Đại sứ ở TQ từ 1950-57, mất hết chức vụ trong đảng. Ba cựu đại sứ tại TQ cũng mất chức Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng.

Ngày 7.6.1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghé Bắc Kinh trước lúc sang Moscow. Khi gặp Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm hôm 10.6, hai bên thẳng thắn bàn nhiều chủ đề, kể cả cáo buộc một số viên chức VN có tuyên bố chống Tàu, bất đồng về biên giới đất liền và biển, và sự ngược đãi người Hoa ở VN. TQ nói họ vẫn sẵn sang cho việc cải thiện quan hệ.

Hơn ba tuần sau, Lê Thanh Nghị thăm Moscow để ký nhiều thỏa thuận kinh tế. Trên đường về, ông ghé Bắc Kinh nhưng không tìm thêm được gói kinh tế nào.

Ngày 30.7.1977, hai tuần sau khi VN và Lào ký hiệp ước đồng minh, Ngoại trưởng TQ Hoàng Hoa có bài diễn văn nhắc nhiều tới sự nguy hiểm của “chủ nghĩa xét lại Sô Viết”, và công khai cảnh cáo VN về hậu quả của một cuộc xâm lấn Campuchia.

Vấn đề Campuchia

Càng lúc Campuchia càng trở thành trường đấu cho xung đột Xô – Trung và Việt – Trung. TQ kiên quyết chính sách bảo đảm sự tồn tại của một Campuchia độc lập, cai trị bởi chính thể Khmer Đỏ thân cận với TQ.

LX thì bảo trợ cho VN, trong khi VN thì muốn Campuchia và Lào nằm gọn trong vòng ảnh hưởng của mình. Đã thắng Pháp, Mỹ và nay làm đồng minh của Liên Xô, VN sẽ không để ảnh hưởng với Lào và Campuchia bị TQ và Khmer Đỏ đe dọa.

Cuối tháng Chín 1977, xung đột nổ ra tại biên giới VN – Campuchia, cùng với nó là sự xấu đi trong quan hệ Việt – Trung. Lê Duẩn thăm Bắc Kinh tháng 11.1977, muốn có thêm viện trợ kinh tế.

Nhưng lấy cớ gặp khó khăn mấy năm qua, TQ cho hay họ không thể cấp viện trợ. VN cũng không làm bữa tiệc đãi chủ nhà như thông lệ. Ngày hôm sau, Tân Hoa xã đăng bài lên án COMECON, khối tương trợ kinh tế Sô Viết mà VN mới nộp đơn gia nhập.

Sau chuyến thăm của Lê Duẩn, TQ bày tỏ sự gắn bó với Campuchia. Ngày 3.12.1977, Phó Thủ tướng TQ Trần Vĩnh Quý dẫn phái đoàn tới Campuchia. Không lâu sau đó, các đợt đánh phá của Khmer Đỏ vào VN khiến VN mở cuộc tấn công lớn.

Đến ngày 18.1.1978, để chứng tỏ cam kết bảo vệ, quả phụ của Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, thăm Phnom Penh.

TQ thấy có bàn tay của Liên Xô đằng sau hành động của VN. Trong lúc xảy ra các va chạm ở biên giới Việt – Cambodia, ngày 19.1.1978, Tân Hoa xã khẳng định Moscow hy vọng lợi dụng thù địch giữa VN và Campuchia để tăng ảnh hưởng ở Đông Á.

Những diễn biến sau đó trong chính sách của VN với người Hoa làm TQ càng tin Hà Nội theo đuổi chính sách gắn kết với Liên Xô chống TQ.

Tại hội nghị của Đảng tháng Hai 1978, Hà Nội quyết định đánh tư sản mại bản ở miền Nam. Ngày 23.3, Hà Nội loan báo quốc hữu hoa toàn bộ doanh nghiệp tư.

Trong một chiến dịch dùng bạo lực, đến giữa tháng Tư, chính quyền đã thu gom hơn 30.000 doanh nghiệp tư ở miền Nam, mà đa số do người Hoa sở hữu. Nó đã tạo ra cuộc trốn chạy lớn cả ở biên giới Việt – Trung phía bắc và ra đến Biển Đông.

Ngày 30.4, Bắc Kinh chính thức có tuyên bố, bày tỏ lo ngại cho người tị nạn và nói họ đang theo dõi tình hình. Cùng ngày hôm đó, đảo chính ở Afghanistan đã đưa lãnh đạo thân Xô, Nur Mohammed Taraki, lên nắm quyền. Nó được VN thừa nhận ngày 3.5.

Nhìn từ Bắc Kinh, đây là thêm một bước bao vây của Liên Xô. Ngày 26.5, TQ loan báo gửi tàu đến VN để đón về những người Hoa đang trốn chạy. Ngày 7.6, Đặng Tiểu Bình nói thẳng “VN đang ngả về Liên Xô, kẻ thù của TQ.”

Ngày 16.6, TQ loan báo sẽ đóng cửa tòa lãnh sự ở TP. HCM và lãnh sự quán VN ở Quảng Châu, Côn Minh và Nam Ninh.

Tháng Sáu năm đó, VN chính thức gia nhập COMECON. Ngày 3.7, Bắc Kinh dừng mọi viện trợ cho Hà Nội. Hội đàm song phương về người Hoa cũng bế tắc.

VN quyết tâm chống lại cố gắng hạn chế ảnh hưởng của họ tại Campuchia. Trong một cuộc gặp tại Hà Nội giữa Lê Duẩn và đại sứ Nga, ông Duẩn bày tỏ ý định “giải quyết cho xong vấn đề [Campuchia] trước đầu năm 1979.” Hiệp ước Việt – Xô được ký ngày 3.11.1978.

Phản ứng của TQ là chuẩn bị tâm lý cho quốc tế cho một đáp trả mạnh mẽ chống lại trục Hà Nội – Moscow.

TQ tìm cách thắt chặt quan hệ với Nhật và ASEAN. Đặng Tiểu Bình thăm Tokyo tháng Tám 1978, ký hiệp định hữu nghị và hòa bình. Đáng chú ý, nó có đoạn “chống sự độc bá” mà được xem là nhắm vào Liên Xô.

Rồi đến tháng 11, sau khi Thứ trưởng Ngoại giao VN Phan Hiền (tháng Bảy) và Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tháng Chín) thăm Đông Nam Á, Đặng Tiểu Bình cũng công du Malaysia, Singapore, Thái Lan.

Sau khi đã mở màn công tác ngoại giao, Trung Quốc bày tỏ thái độ cứng rắn với VN. Bức điện Bắc Kinh gửi Hà Nội ngày 13.12 cảnh báo “sự kiên nhẫn và kiềm chế của TQ có giới hạn”.

Ngày 25.12.1978, quân VN bắt đầu đánh Campuchia. TQ phản ứng bằng cách lên kế hoạch cho cuộc chiến biên giới. Trong khi đi thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình thông báo cho chính quyền Carter rằng VN sẽ trả giá.

Theo Cố vấn An ninh của Tổng thống Carter, Zbigniew Brzezinski, Đặng nói với chủ nhà rằng TQ “xem là điều cần thiết khi kiềm hãm tham vọng của VN và cho chúng bài học hạn chế thích hợp”.

Đúng như lời Đặng, ngay sau khi ông trở về nhà, TQ mở cuộc chiến chống VN trong tháng Hai và Ba 1979. Các cựu “đồng chí và anh em” (lời của Hồ Chí Minh) nay hóa ra là kẻ thù.

…………………………………………………………………………………………………………………

Về tác giả:Ông Nicholas Khoo lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Columbia, Mỹ với luận án về quan hệ giữa Trung Quốc với Liên Xô và Việt Nam thời Chiến tranh Lạnh. Quyển sách của ông, dựa trên luận án, dự kiến sẽ được NXB ĐH Columbia in. Ông hiện dạy tại ĐH Liverpool, Anh.


Vinh, Sài Gòn
Trung quốc ủng hộ Pôn Pốt để nhân dân chỉ còn là những cái xác không hồn và ai sẽ là người bạn thống trị. Trung quốc hỗ trợ Miến điện để nhân dân Miến điện như thế nào qúy vị cũng đã nhìn thấy rồi.

Cho nên cái khéo léo của Chính Phủ Việt Nam ở cạnh Trung quốc không phải dễ. Đường lối làm bạn với tất cả các nước một cách nhất quán đã giúp Việt Nam đạt nhiều kết quả tốt hơn.

Dĩ nhiên chúng ta còn quá nhiều việc không thể chấp nhận; có thể thay đổi được nhưng Chính phủ VN chưa đủ bản lĩnh thay đổi. Xu thế thế giới tiến bộ người rồi cũng sẽ biết thay đổi. Ai chơi xấu với ta dè chừng, nhưng thái độ của ta là luôn đối xử tốt với họ thì thời gian và xu thế chung của vùng, của khu vực và của thế giới tiế bộ buộc ng! ười ta sẽ thay đổi.

Thuần Việt
Việt Nam cũng chỉ là nạn nhân của xung đột Trung – Xô và cuộc chiến Việt nam – Cambodia là kịch bản mà TQ muốn thử thách ảnh hưởng của minh ở á châu mà thôi.

Thận trọng là nguyên tắc cốt lõi trong mọi quan hệ với TQ. Lịch sử sẽ phán xét những ai đã và sẽ đặt quan hệ với TQ lên cao hơn những thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt.

Mr.Neo
Khác với các bài bình luận khác, tôi cảm thấy hợp lý trước bài viết này của tiến sĩ. Đúng là người ngoài cuộc bao giờ cũng có cái nhìn sáng suốt và công tâm.

Nhưng chỉ muốn bổ sung 1 điều: Việt Nam chẳng có tham vọng gì khi đưa quân sang đánh Campuchia, vì ngay cả Mỹ chỉ cần thấy người Irag ho 1 tiếng là họ tràn quân sang đánh ngay, trong khi đó chế độc Pol Pot thường xuyên tràn sang biên giới cướp bóc, bắn giết, không đánh trả thì sao được.

Rõ ràng ở đây chỉ  vì quyền lợi và mâu thuẫn kiểu giận cá chém thớt với Liên Xô mà người Trung Quốc đã trở mặt. Buồn thay cái kẻ thù mình lại ở sau lưng mình, vậy mà Đảng và Chính Phủ bây giờ cứ theo mà vuốt đuôi riết.

Chủ tịch Hồ Chi Minh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông
Hồ Chủ tịch từng ví quan hệ Việt – Trung như ‘đồng chí và anh em’
Khmer Đỏ
Chính thể Khmer Đỏ dựa vào Trung Quốc để chống Việt Nam
———————————

TIME

———————————————————–

Hard Times for Hanoi

Monday, Mar. 05, 1979

Hanoi‘s leaders have often boasted to sympathetic foreign visitors that the Vietnamese people were willing to “suffer with dedication.” Last week truckloads of war-wounded and dead returning from the Chinese border and from Cambodia testified that the suffering was far from over. One unanswered, and perhaps unanswerable, question is how dedicated the 51 million citizens of the Vietnamese Socialist Republic remain to a leadership that has been unable to create a stable or prosperous country even after four years of relative peace.

Malnutrition and even hunger prevail throughout Viet Nam. Agricultural output declined 15% in 1978, while prospects for this year are so poor that Hanoi has already scaled down its crop estimates from the stated targets. Following widespread flooding of rice lands last September, the monthly ration of food per person was cut from 33 Ibs. to 29 Ibs. Of that, ordinary peasants and workers are allowed only a little over 2 Ibs. of rice, the staple of the Vietnamese diet.

Sugar, meat and flour are rare and prohibitively expensive. Factory workers have become inefficient because of malnutrition, according to the Western managers of foreign-built plants.

Typhoons, droughts and other natural disasters have contributed to Viet Nam’s agricultural problems, but government incompetence has been the principal cause. Bureaucratic foul-ups hindered the planting of new strains of rice that are more resistant to drought, and the distribution of pesticides in areas infested by plant pests has been delayed. Rice production is declining in the once prosperous Mekong Delta. Hanoi had announced that it was willing to trade consumer goods such as electric fans for rice, hoping to induce peasants to sell their crops to the government instead of on the black market. When the government failed to deliver the promised consumer goods, disappointed farmers began producing less. The Vietnamese party newspaper Nhan Dan has complained that many peasants leave paddyfields uncultivated or use rice to distill alcohol or feed pigs.

Life is especially hard in the north. Families in Hanoi are permitted only 75 sq. ft. of living space per person— roughly the recommended allowance for prisoners in U.S. federal penitentiaries. Factory hands must work six days a week, and spend the seventh at political meetings or on “volunteer” construction projects. Privately owned automobiles are all but nonexistent, and spare parts for bicycles are in short supply. “There is a great deal of unhappiness,” says a Hanoi-based diplomat. “People are starting to complain privately. One of the whispered questions heard most often is an ironic one: ‘What the hell are we doing in Cambodia?’ “

The south remains relatively more prosperous. Women there still wear the brightly colored ao dai, in contrast to the unisex black pants and white shirt commonly worn in the north. Food is somewhat more available but less affordable, since the inflation rate exceeds 100% a year. In general, the economy of the south has suffered from Hanoi’s abolition last year of “bourgeois trade” and the introduction of a uniform currency throughout the country. Southern industry is currently running at 40% of capacity. About one-fifth of the 3 million residents of Ho Chi Minh City (Saigon) are unemployed. Conceding widespread mismanagement of industry and agriculture, Nhan Dan explained: “In the long struggles against imperialism, we became well versed in political and armed struggles and skilled in organizing major battles. But we are still unfamiliar with the organization of large-scale production and business.”

Viet Nam‘s economic problems were greatly aggravated by the expulsion of 200,000 ethnic Chinese in the past nine months. The Chinese were targeted because of their wide spread involvement in the black market; but they constituted Viet Nam’s major entrepreneurial class. They managed the rice trade, the major ports, the distribution systems and several key industries—notably coal.

The 300,000 refugees who have fled Viet Nam since the fall of the Thieu government in 1975 have also cut into the country’s human resources. According to officials in Thailand and Hong Kong, where many of the refugees arrive, Vietnamese officials are privately profiting from the exodus of their citizens who are seeking food and freedom abroad. After interviewing refugees, investigators believe that as much as 50% of the money would-be refugees pay to leave Viet Nam ends up in the pockets of local Communists.

According to the refugees, one of the most striking recent changes apparent in Viet Nam is the corruptibility of middle-level party officials. Revolutionary zeal has given way to a cynical exploitation of Viet Nam’s economic problems. Corrupt Communist officials have moved into the black market trade once operated by the ethnic Chinese. All of the Red River delta’s major arteries south of Hanoi feature Communist-run “floating markets” that offer goods stolen from ships or directly off the docks at Haiphong. Conspicuous consumption among Communist officials has become so flagrant that Premier Pham Van Dong felt it necessary to issue a prevailing order: “At a time when the people in several areas are experiencing privations and hunger, it is absolutely necessary to refrain from organizing wasteful celebrations and feasts. All sectors and all levels should uphold an exemplary spirit by practicing economy in production and a way of life that avoids all waste.”

———————————————————————–

TIME

———————————-

The Military Balance

Monday, Mar. 05, 1979

The two forces engaged on the rugged, inhospitable terrain of northern Viet Nam were the object of intense scrutiny by military analysts last week. In Washington, a task force raised from the U.S. intelligence community began meeting within hours of the Chinese invasion, evaluating what data could be obtained from military communiques and by satellite observation of the battle scene. In Moscow, strategists were equally attentive to the broader implications of the war. How well the People’s Liberation Army does in its first real combat test since the Korean War nearly 30 years ago could provide clues to its capability against Soviet armies on China’s northern border.

Arrayed against the PLA was a formidable military instrument forged by Defense Minister Vo Nguyen Giap, the conqueror of Dien Bien Phu, whose forces had defeated French and U.S. armies in more than three decades of fighting. The strengths and weaknesses of both forces, as evaluated by the analysts last week, appeared to be in delicate balance.

With 3.5 million men, the world’s largest standing army, Peking has an overwhelming numerical advantage over Hanoi’s 615,000 troops. In a limited punitive strike, the Chinese would probably not deploy more than 200,000 men, though the PLA’s available reserves in southern China are immense if the conflict should widen.

China currently has about 1.6 million men along the Soviet border—a force that Peking may decide to augment if Moscow raises the combat readiness of its own 1 million troops on the frontier in response to the crisis. One tactical plus for the PLA is that many of Hanoi’s forces are tied down in Cambodia or Laos and cannot be readily transferred to the war in the north.

Although the Chinese are not “blooded” by battle experience, Pentagon specialists believe that they are good fighters. The untried PLA soldier, like his commander, may be eager for combat—and a rare chance for promotion.

The experience that their operations chief, General Yang Teh-chin, 68, gained in the Korean War may have served to boost the troops’ confidence. Being on the attack also confers an intangible morale advantage. The PLA, however, is troubled by years of excessive involvement in China’s internal politics.

For a long time its most arduous duty has been curbing the excesses of the Cultural Revolution.

As for the Vietnamese, they benefit from the fact that they are defending their own country against a historically hated enemy. They are proven fighters with undeniable staying power. “It’s too early to tell who is better,” says a U.S. Defense Department expert. “Man for man, the weight of experience would be on the Vietnamese side.”

Hanoi has a clear superiority over Peking in sophisticated weaponry. Although both forces are fighting with arms made in the U.S.S.R. or with copies of Soviet models, many of the PLA’s weapons were acquired before the Sino-Soviet split in the late 1950s. The Vietnamese also have some captured American equipment, notably the 177-mm howitzer, which outguns any artillery piece in the Chinese inventory.

One of Hanoi’s favorite and most effective weapons, as Americans learned at Khe Sanh, is the 130-mm howitzer. Says one military analyst in Hong Kong: “The Vietnamese love the 130 and really know how to use it. They must love to have the Chinese outranged.”

The Chinese have about 10,000 tanks, compared to Viet Nam’s 900. But the mountainous terrain of last week’s fighting precludes the use of tanks except in very narrow corridors, and China’s aged T-34 tanks are vulnerable to the extremely accurate Sagger antitank missiles supplied to the Vietnamese by the Soviet Union in the past three years. The Chinese have nothing comparable to the Sagger. “This is one of their major combat deficiencies, which they are trying to correct by buying HOT (antitank) missiles from the French,” notes one U.S. expert.

The Vietnamese air force is vastly inferior to the Chinese in quantity, but the quality is vastly superior. Hanoi has 300 combat aircraft in all; about 700 Chinese planes are within striking range of Viet Nam. Most of those ready for combat, however, are outdated MiG-17s and MiG-19s, whereas the Vietnamese have not only the slightly more advanced MiG-21s but also the versatile F-5 “freedom fighters” captured from the Americans.

The Vietnamese also have an advantage in supply and transport. Because of shortages of trucks and freight cars, the Chinese are reported to have brought some supplies to the combat area by horse-drawn vehicles. While the Chinese army moves primarily on foot, the Vietnamese forces have plenty of modern transport, much of it seized from the U.S.

Army. The Chinese, moreover, have primitive battlefield communications; they still sometimes use runners and bicyclists. The Vietnamese are equipped with modern radio and field telephones, many of them American-made.

Despite Hanoi’s superiority in experience, weaponry and logistics, low morale in the Vietnamese forces could blunt their advantages. Heavy casualties in Cambodia have severely impaired some Vietnamese soldiers’ will to fight. Recruits have bribed their officers to let them return home.

The AWOL rate is so high that the army command has announced a two-year reorganization plan that will better integrate the demoralized southern troops into a more aggressive fighting force. Mao Tse-tung may have been right when he said, “Weapons are an important factor in war but not the decisive factor; it is people not things that are decisive.”

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »