Trần Hoàng Blog

Diễn Văn Nhậm Chức Của TT Obama

Posted by hoangtran204 trên 21/01/2009

Barack Obam đã được tuyên thệ là vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ và là vị TT người Mỹ gốc Phi châu đầu tiên.

Đọc lúc 12: 05 chiều ngày thứ Ba, 20-1-2009 (- 8 độ C)

Người dịch: Trần Hoàng

Thưa các công dân,

Hôm nay tôi đứng đây, bé nhỏ trước những nhiệm vụ (to lớn) trước mắt của chúng ta, cảm kích lòng tin cậy mà các bạn đã dành cho tôi, nhớ tới sự hy sinh của tổ tiên chúng ta. Tôi cảm ơn tổng thống Bush vì sự phục vụ của ông dành cho đất nước của chúng ta, cũng như lòng đại lượng và sự hợp tác mà ông đã bày tỏ suốt quá trình chuyển giao (quyền lực) này.

Cho đến nay có 44 người Mỹ đã đọc lời tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Có những lời tuyên thệ được nói ra trong lúc có các làn sóng dâng cao về sự thịnh vượng và thanh bình. Nhưng, cũng rất thường khi những lời tuyên thệ được thực hiện giữa sự tụ tập của các đám mây và các cơn bảo đang gầm thét. Giờ phút này đây, nước Mỹ đang tiếp tục làm việc không chỉ đơn thuần bởi vì kỹ năng và tầm nhìn của những người nắm giữ chức vụ cao của đất nước, mà bởi vì chúng ta vẫn còn trung thành với các lý tưởng của tổ tiên, và làm đúng theo những văn kiện từ thời dựng nước của chúng ta.

Moi việc đã và đang diễn ra như vậy. Mọi việc (rồi đây) sẽ tiếp tục như thế trong thế hệ này của người dân Mỹ.

Chúng ta đang ở trong thời kỳ khủng hoảng mà giờ đây ai cũng hiểu rõ. Đất nước chúng ta đang có chiến tranh, chiến tranh chống lại mạng lưới bạo lực và lòng thù hận đang vươn ra quá xa. Nền kinh tế của chúng ta đang rất suy yếu, đó là hậu quả của sự tham lam và vô trách nhiệm của một số phần tử nào đó, nhưng đó cũng là sự thất bại của toàn thể chúng ta trong việc đưa ra những sự chọn lựa đầy khó khăn và chuẩn bị đất nước cho một thời đại mới. Nhiều gia đình đã và đang bị mất nhà cửa; nhiều công việc làm đã bị cắt giảm; nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa. Sự chăm sóc y tế của chúng ta quá đắt đỏ; các trường học của chúng ta không đạt được thành công như lòng mong đợi của của nhiều người; và mỗi ngày đều mang lại những bằng chứng rằng những phương cách mà chúng ta đang xử dụng năng lượng đang làm gia tăng sức mạnh những kẻ thù của chúng ta và đang đe dọa hành tinh của chúng ta.

Đấy là các dấu hiệu điềm chỉ của cuộc khủng hoảng, dựa theo các dữ kiện và thống kê. Ít được đo lường hơn nhưng cũng không kém phần sâu xa là sự xói mòn của niềm tin khắp đất nước của chúng ta – một sự sợ hãi đeo đuổi cho rằng sự suy sụp của nước Mỹ là không thế nào tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp nên hạ thấp tầm nhìn của họ.

Hôm nay, tôi nói với các bạn rằng những thử thách mà chúng ta đang đối diện là sự thật. Những thử thách ấy rất nghiêm trọng và những thử thách ấy thì rất nhiều. Những thử thách ấy sẽ không dễ gì vượt qua hay sẽ tồn tại trong một thời gian ngắn (đâu). Nhưng các bạn nên biết rằng, nước Mỹ sẽ vượt qua những thách thức đó.

Vào ngày hôm nay, chúng ta tụ họp nhau lại đây bởi vì chúng ta đã và đang chọn lựa niềm hy vọng thay vì nỗi sợ hãi, chúng ta tụ họp nhau ở đây để đoàn kết có mục đích thay vì bất hòa và chia rẽ.

Vào ngày hôm nay, chúng ta đến đây để tuyên bố chấm dứt những thương tiếc nhỏ bé và những lời hứa suông, chấm dứt sự buộc tội lẫn nhau và xói mòn các niềm tin, mà từ quá lâu nay đã và đang bóp nghẹt nền chính trị của nước ta.

Chúng ta hiện vẫn còn là một quốc gia trẻ trung, nhưng theo những chữ trong kinh thánh, đã tới lúc để dẹp để đặt qua một bên những điều của trẻ con (hay nông nổi). Đã tới lúc để xác định lại tinh thần kiên định của chúng ta, để lựa chọn một lịch sử tốt đẹp hơn cho chúng ta; để mang theo về phía trước món quà tươi trẻ đáng yêu đó, tư tưởng đáng khâm phục đó, đã được truyền lại từ đời này sang đời khác (ấy là): Thượng đế đã ban cho lời hứa rằng tất cả mọi người đều bình đẳng, tất cả mọi người đều được hưởng tự do và tất cả mọi người đều xứng đáng có cơ hội được theo đuổi cái tiêu chuẩn đầy đủ của họ về hạnh phúc.

Để tái xác nhận lại một lần nữa về sự vĩ đại của đất nước chúng ta, chúng ta phải hiểu rằng sự vĩ đại không bao giờ được ban cho. Mà sự vĩ đại là phải tự mình làm ra. Cuộc hành trình của chúng ta không bao giờ là một trong những con đường tắt hay chấp nhận phần thua thiệt ít ỏi. Cuộc hành trình của chúng ta không phải là con đường dành cho những kẻ nhút nhát — hay dành cho những người ưa thích sự lười biếng mà không chịu làm việc, hoặc chỉ tìm kiếm các niềm vui của sự giàu có và danh tiếng. Đúng hơn, cuộc hành trình của chúng ta dành cho những người chấp nhận rủi ro, những người dám làm việc, những người làm ra những sản phẩm – một số người đã nổi tiếng và được nhận ra, nhưng thường hơn là các người nam và nữ bị che khuất đi vì các công việc lao động của họ, những người nầy tiếp tục làm việc mang chúng ta đi lên dọc theo con đường hướng tới thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã gói ghém một ít đồ dùng sở hữu của họ và vượt qua các đại dương để tìm kiếm một cuộc sống mới.

Vì chúng ta, họ đã làm việc cực nhọc trong các công xưởng bóc lột công nhân tồi tệ và định cư ở (các tiểu bang) miền Tây; họ đã chịu đựng đòn roi và cày những mảnh đất cằn cỗi.

Vì chúng ta, mà họ đã chiến đấu và hy sinh, ở những nơi như Concord và Gettysburg, Normandy và Khe Sanh. (Việt Nam)


Thời gian trôi qua và một lần nữa những người phụ nữ và nam giới này đã tranh đấu và đã hy sinh và làm việc cho tới khi đôi tay của họ đã bị chảy máu để cho chúng ta có thể sống một cuộc đời tốt đẹp hơn. Họ đã nhìn thấy nước Mỹ to lớn hơn là tổng số các tham vọng cá nhân của chúng ta họp lại; nước Mỹ vĩ đại hơn tất cả những khác biệt về nơi sinh ra, hay sự giàu có, hay (nguồn gốc) thiểu số.

Đây là cuộc hành trình mà chúng ta tiếp tục hôm nay. Chúng ta vẫn là một cường quốc thịnh vượng nhất và hùng mạnh nhất trên trái đất nầy. Các công nhân của chúng ta không kém năng suất hơn khi cuộc khủng hoảng đã bắt đầu. Đầu óc chúng ta không kém sáng tạo hơn, hàng hóa và dịch vụ của chúng ta không kém cần thiết hơn tuần trước, tháng trước hay năm trước. Khả năng của chúng ta vẫn chưa bị suy giảm. Tuy nhiên, cái thời mà chúng ta đứng vỗ vai nhau để đồng cảm, thời của sự bảo vệ các quyền lợi hẹp hòi và trì hoãn các quyết định không vui – thời ấy chắc chắn đã qua rồi. Bắt đầu hôm nay, chúng ta nên xốc lại bản thân của chúng ta, chuẩn bị dùng khả năng của chính chúng ta và bắt đầu lại công việc tạo dựng lại nước Mỹ.

Vì ở bất cứ nơi đâu mà chúng ta nhìn thấy, đều có công việc ở đó cần phải hoàn thành. Tình trạng kinh tế nầy đòi hỏi sự hành động, sự táo bạo và sự chuyển đổi, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ tạo ra những việc làm mới mẻ mà còn đặt ra một nền tảng mới cho sự phát triển. Chúng ta sẽ xây dựng các con đường và các cây cầu, mạng lưới điện và các đường truyền kỹ thuật số để giúp ích cho nền thương mại của chúng ta và liên kết chúng ta lại với nhau. Chúng ta sẽ phục hồi lại nền khoa học tới vị trí đúng đắn của nó, và xử dụng một cách có hiệu quả những sự kỳ diệu của kỹ thuật để nâng cấp phẩm chất chăm sóc y tế và hạ giá thành của bảo hiểm y tế. Chúng ta sẽ khai thác một cách có hiệu quả (năng lượng) mặt trời, gió và đất đai (địa nhiệt) để làm nhiên liệu cho các xe hơi của chúng ta và dùng làm chạy các nhà máy cùa chúng ta. Và chúng ta sẽ chuyển đổi các trường phổ thông và đại học và các viện đại học để hội đủ các nhu cầu của một thời đại mới. Tất cả những điều nầy chúng ta có thể làm được. Tất cả những điều nầy chúng ta sẽ phải làm.

Hiện nay, có một số người chất vấn về mức độ của các tham vọng của chúng ta – họ cho rằng hệ thống (chính quyền) của chúng ta sẽ không thể nào chịu đựng nổi quá nhiều kế hoạch to lớn. Trí nhớ của họ hơi bị kém. Vì họ đã quên những gì mà đất nước này đã làm được; khi sự tưởng tượng được tham gia với một mục đích chung, và cần có lòng can đảm, các người nam và nữ có được cuộc sống tự do đều có thể để đạt được bất cứ điều gì.

Điều mà các người hoài nghi không hiểu là mặt đất đang chuyển động dưới chân của họ — rằng các tranh luận về chính trị đã ngấu nghiến chúng ta trong thời quá lâu không còn mang ra áp dụng được nữa. Vấn đề mà chúng ta hỏi hôm nay là: Không phải chính quyền của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, nhưng là chính quyền ấy có làm được việc không Liệu chính quyền ấy có giúp đỡ các gia đình tìm kiếm việc làm ở một mức lương xứng đáng, liệu chính quyền có đặt ra một chương trình y tế mà các gia đình có thể có được, và một sự về hưu có một cuộc sống xứng đáng. Nơi nào câu trả lời là CÓ, chúng ta có khuynh hướng đi theo. Ở nơi nào mà câu trả lời là KHÔNG, các chương trình đó sẽ chấm dứt. Những ai trong số chúng ta đang kiểm soát số tiền (thuế) của công chúng sẽ nắm giữ trách nhiệm – chi tiêu một cách khôn ngoan, cải thiện các thói quen xấu, và thực hiện công việc rõ ràng như ánh sáng ban ngày – bởi vì chỉ khi đó chúng ta mới phục hồi được niềm tin sống còn giữa người dân và chính quyền của họ.

Câu hỏi đang đứng trước chúng ta không phải là liệu thị trường là một lực lượng tốt hay xấu. Sức mạnh của thị trường sinh ra sự giàu có và mở rộng sự tự do của chúng ta thì không gì sánh được, nhưng cuộc khủng hoảng nầy đã và đang nhắc nhở chúng ta rằng nếu không chăm chú nhìn, thị trường có thể xoay vòng vòng ngoài tầm kiểm soát – và rằng một quốc gia không thể thịnh vượng dài lâu khi quốc gia ấy chỉ ưa thích sự thịnh vượng. Sự thành công của nền kinh tế của chúng ta luôn luôn lệ thuộc không chỉ vào kích thước của tổng sản phẩm và dịch vụ của chúng ta (GDP), nhưng mà còn dựa vào tầm mức đạt được hiệu quả của sự thịnh vượng; dựa vào khả năng của chúng ta để kéo dài cơ hội đến cho mỗi con người có lòng ước muốn (thịnh vượng)– không ra khỏi lòng từ thiện, nhưng bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất đưa tới mục đích tốt đẹp chung của chúng ta.

Khi nghĩ tời sự tự vệ chung của chúng ta, chúng ta không sai lầm về lựa chọn sự an toàn của chúng ta và lý tưởng của chúng ta. Các người cha thành lập đất nước của chúng ta đã đối diện với nhiều nguy hiểm mà chúng ta hiếm khi có thể tưởng tượng được, họ đã thảo một hiến chương để khẳng định các đạo luật và các quyền của con người, một văn bản đã được trải rộng ra bởi máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng ấy vẫn còn thắp sáng cho cả thế giới, và chúng ta sẽ không từ bỏ những lý tưởng ấy vì quyền lợi của chính trị và cơ hội.

Và như thế xin gởi tới tất cả nhân dân và chính quyền của các nước khác đang chăm chú nhìn chúng ta hôm nay, từ những thủ đô to lớn nhất cho tới cái thôn làng nhỏ bé nơi cha của tôi đã được sinh ra: Các bạn nên biết rằng Hoa Kỳ là một người bạn của mỗi quốc gia và bạn của mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ em, những người đang tìm kiếm một tương lai hòa bình và xứng đáng, và rằng chúng tôi đang chuẩn bị để lãnh đạo thế giới một lần n
a.

Các bạn phải nhớ rằng các thế hệ cha anh của chúng tôi đã đánh bại chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản không chỉ bằng hỏa tiễn và xe tăng, mà còn bằng các quốc gia đồng minh vững mạnh và niềm tin bền bỉ. Họ đã hiểu rằng sức mạnh của nước Mỹ không thể nào bảo vệ chúng tôi, sức mạnh ấy không cho phép chúng tôi làm bất cứ chuyện gì mà chúng tôi thích. Thay vì đó, các thế hệ cha anh của chúng tôi đã biết rằng sức mạnh của chúng tôi gia tăng xuyên qua sự xử dụng phán xét giải quyết vấn đề một cách khôn ngoan và sáng suốt; sự an ninh của chúng ta xuất phát từ sự công bằng trong lý lẽ của chúng ta, sức mạnh của kiểu mẫu của chúng ta, các phẩm chất của sự khiêm nhường và thận trọng.

Chúng ta là người gìn giữ di sản này. Chúng ta được dẫn dắt một lần nữa bởi những nguyên lý nầy, chúng ta có thể đương đầu với những sự hăm dọa mới, những thứ nầy đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn – chúng ta thậm chí có được sư hợp tác nhiều hơn và sự cảm thông giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ bắt đầu phải để Iraq lại cho dân chúng của họ một cách có trách nhiệm, và nổ lực mang lại một hòa bình khó đạt được tại Afganistan. Với những bạn xưa và kẻ thù cũ, chúng ta sẽ làm việc không mệt mỏi để giảm nguy cơ hăm dọa của hạt nhân, và quay ngược lại cái bóng ma ám ảnh của trái đất đang ấm dần dần lên.

Chúng tôi sẽ không xin lỗi cho lối sống của mình, chúng tôi cũng không bỏ qua sự phòng thủ của đất nước, và đối với những kẻ tìm kiếm để đạt được các mục đích của họ bằng khủng bố hay giết người vô tội, chúng tôi muốn nói với các bạn rằng bây giờ tinh thần chúng tôi đang vững mạnh hơn và không thể nào bị phá vỡ; các bạn không thể vượt chúng tôi, và chúng tôi sẽ đánh bại các bạn.

Vì chúng ta biết rằng di sản bồi đắp của chúng ta là rất mạnh mẻ. Chúng ta là một quốc gia của những người Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ấn Độ Giáo — và cả những người không có tôn giáo. Chúng tôi được hình thành bởi nhiều ngôn ngữ và văn hóa, đến từ mọi chân trời của trái đất; và bởi vì chúng tôi đã nếm trái đắng của nội chiến và cách ly, và đã trổi đậy từ cái chương đen tối ấy (của lịch sử) chúng tôi mạnh mẻ hơn và đoàn kết hơn, chúng tôi không thể nào giúp đỡ, nhưng tin rằng tất cả những thù ghét cũ một ngày nào đó sẽ qua đi; những bờ ranh của bộ tộc sẽ sớm phai mờ; rằng thế giới sẽ trở nên nhỏ hơn, lòng nhân đạo của chúng ta sẽ tự nó được phô bày; và rằng nước Mỹ nên đóng vai trò của họ để hướng dẫn thế giới đi đến một kỷ nguyên mới của hòa bình.

Đối với thế giới Hồi Giáo, chúng tôi đang tìm một cách mới mẻ hướng tới phía trước, căn cứ trên quyền lợi hổ tương và kính trọng lẫn nhau.

Đối với những thủ lãnh khắp nơi trên địa cầu, những ai đang tìm cách gieo rắc mâu thuẩn, hoặc đổ thừa những khó khăn và sự tổn hại của đất nước họ là do phương Tây làm ra: Các ông phải biết rằng nhân dân của các ông sẽ phán xét các ông trên những gì các ông có thể xây dựng, chứ không phải cái gì các ông tàn phá.

Đối với những người bám chắc quyền lực xuyên qua tham nhũng, che đậy và bóp méo sự thật với mục đích lừa gạt và làm im tiếng nói của những người không đồng chính kiến, các ông hãy biết rằng các ông đang ở bên phía sai lầm của lịch sử; nhưng chúng tôi sẽ mở rộng vòng tay nếu như các ông có ý muốn nới lỏng bàn tay đang siết chặt của các ông.


Đối với những người dân của các quốc gia nghèo khổ, chúng tôi xin hứa làm việc bên cạnh bạn để làm cho ruộng đồng của các bạn màu mở và để cho nước sạch chảy qua; để nuôi dưỡng những tấm thân đang bị đói khổ và nuôi dưỡng các tinh thần đang khát khao. Và đối với các quốc gia khác (đang ở điều kiện) giống như quốc gia của chúng tôi, đang an hưởng đầy đủ tiện nghi, chúng tôi nói rằng chúng tôi không còn có thể nào chấp nhận sự lãnh đạm thờ ơ đối với những sự khổ đau xảy ra bên ngoài biên giới của chúng tôi nữa; chúng tôi cũng không có thể nào tiêu thụ các tài nguyên của thế giới mà không chú ý gì tới những hậu quả để lại. [2] Vì thế giới nẩy đã và đang thay đổi, và chúng ta cần phải thay đổi theo với thế giới.

Khi chúng ta xem xét lại đoạn đường đang mở ra trước mặt, chúng ta hồi tưởng lại với lòng kính cẩn biết ơn những người Mỹ can đảm đó, những người mà ngay vào lúc nầy đây, đang tuần tiểu ngoài những sa mạc xa xôi hay trên các triền núi xa thẳm. Họ có một số điều để nói với chúng ta, giống như các anh hùng đã ngã xuống và đang nằm trong nghĩa trang Arlington đang nói thì thầm xuyên qua nhiều thời đại. Chúng ta vinh danh họ không chỉ bởi vì họ là những người bảo vệ cho sự tự do của chúng ta, mà bởi vì họ là hiện thân của tinh thần phục vụ; một ý muốn để tìm ý nghĩa trong những gì lớn hơn bản thân của chính họ. Và giờ đây, tại thời điểm nầy – một thời điểm sẽ xác định một thế hệ — nói một cách chính xác là tinh thần nầy cần phải sống cùng với tất cả chúng ta.

Chính quyền có thể làm nhiều và cần phải lảm nhiều hơn nữa, đó là niềm tin và sự khẳng định của những người Mỹ mà qua đó quốc gia nầy tin cậy vào. Đó là lòng tốt để mời một người lạ vào nhà tá túc ăn ở khi mà các con đê đang bị vỡ, đó là lòng vị tha quên mình của các công nhân tự nguyện sẽ cắt bớt giờ làm việc
còn hơn là nhìn thấy một người bạn nào đó bị mất việc làm, dó là các câu chuyện mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay qua các giờ phút đen tối nầy.
Đó là lòng can đảm của các người lính cứu hỏa chạy lên một cầu thang tràn ngập khói lửa để cứu những người khác đang bị mắc kẹt trên gác, chuyện ấy cũng giống như ước muốn của một bậc cha mẹ để nuôi dưỡng một đứa trẻ, tất cả những chuyện ấy sau cùng quyết định vận mạng của chúng ta.

Các thử thách của chúng ta có thể là mới mẻ. Những công cụ máy móc mà qua đó chúng ta gặp có thể là mới. Nhưng các giá trị mà qua đó sự thành công của chúng ta lệ thuộc vào là – sự làm việc chăm chỉ và sự thành thật, lòng can đảm và công bình, sự chịu đựng và tính hiếu kỳ, lòng trung thành và tinh thần yêu nước – những giá trị ấy là những gì cũ (chẳng có gì mới mẻ hết). Những giá trị ấy là thật, là đúng. Những giá trị ấy là những lực lượng tiến bộ thầm lặng xuyên suốt lịch sử của chúng ta. Bất luận có một đòi hỏi nào, thì rồi câu trả lời cũng quay trở về lại với các giá trị thật nầy. Điều đòi hỏi chúng ta cần có hiện nay là một kỷ nguyên mới của tinh thần trách nhiệm – một sự nhận ra, về phần của mỗi người Mỹ, rằng chúng ta có những trách nhiệm đối với chúng ta, trách nhiệm đối với quốc gia của chúng ta, và đối với thế giới, những trách nhiệm mà chúng ta không chấp nhận một cách miễn cưỡng, nhưng mà tốt hơn là nắm lấy một cách hãnh diện, nắm chặt trong sự nhận biết rằng chẳng có gì làm thỏa mãn tinh thần, chẳng có gì xác định rõ đặc tính của chúng ta, hơn là ban cho tất cả chúng ta một sứ mệnh khó khăn.

Đó là lòng hãnh diện và lòng hứa hẹn về bổn phận người công dân.

Đó là nguồn tự tin của chúng ta – là sự nhận biết rằng thượng đế kêu gọi chúng ta để thi hành một sứ mệnh nào đó.

Đây là ý nghĩa tự do và tín điều của chúng ta – tại sao những người đàn ông, đàn bà và trẻ em thuộc mọi chủng tộc và có niềm tin (tôn giáo riêng) đều có thể tham dự buổi lễ chào mừng tại quãng trường tráng lệ nầy, và tại sao một người đàn ông mà cha của ông ta cách đây gần 60 năm đã không thể được phép ngồi ăn trong một nhà hàng địa phương mà bây giờ lại có thể đứng trước quí vị để đọc lời tuyên thệ thiêng liêng nhất.

Vì vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày này bằng việc nhớ lại rằng, chúng ta là ai và chúng ta đã và đang tiến được bao xa. Trong cái năm sinh ra nước Mỹ (1776), trong tháng lạnh giá nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước tụ tập quanh một đóng lửa trại sắp tàn bên bờ sông đã đóng băng. Thủ đô (Philadelphia) đã bị bỏ rơi. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết đã bị nhuộm máu. Vào lúc đó khi mà kết quả của cuộc cách mạng của chúng ta bị đặt trong tình trạng nghi ngờ nhất, người cha của đất nước chúng ta ( TT George Washington) đã ra lệnh đọc những lời này với nhân dân:

“Chúng ta hãy nói với thế giới tương lai điều nầy… rằng giữa mùa đông, khi không có điều gì ngoài lòng hy vọng và đức hạnh là có thể tồn tại… rằng thành phố nầy và đất nước nầy, đã báo động về mối nguy hiểm chung, chúng ta đã bước đến phía trước để đương đầu với (nguy hiểm)”.

Nước Mỹ ngày nay, đang đối diện với các hiểm nguy chung, cũng vào mùa đông gian khổ, chúng ta hãy nhớ lại những hàng chữ vượt thời gian ấy. Với niềm hy vọng và đức hạnh, chúng ta hãy can đảm thêm một lần nữa để chống chọi với băng giá, và chịu đựng những cơn bão có thể đang ập đến. Hãy để cho con cái của chúng ta kể lại cho các con của chúng rằng: khi chúng ta gặp thử thách, chúng ta đã không để cho cuộc hành trình này kết thúc, rằng chúng ta đã không hề quay lưng đi ngược trở lại, mà chúng ta cũng không hề do dự nao núng, và với cặp mắt kiên định nhìn về chân trời và với ân huệ của thượng đế ban cho, chúng ta đã mang theo về phía trước món quà tặng vĩ đại nhất là sự tự do và chuyển giao nó một cách an toàn tới các thế hệ tương lai.

Cám ơn quí vị. Cầu xin Thượng đế hãy ban phước lành cho quí vị. Và cầu xin Thượng đế ban phước lành cho nước Mỹ.

*TH thêm vào các phần trong ngoặc đơn dành cho các bạn chưa quen thuộc với lịch sử Mỹ.

[1] Trận Chiến Khe Sanh
Trận Chiến Khe Sanh
Linh Vũ , Jan 24, 2009 Trong một tuần qua trên các báo chí cũng như những diễn đàn đều có post bài dịễn văn nhậm chức của Tổng Thống Barack Hussein Obama thứ 44 của Hoa Kỳ trong đó ông đã nhắc đến điạ danh ‘Khe Sanh’ vùng cực Bắc Nam Việt. Địa danh Khe Sanh không chỉ có những người lính của hai miền Nam Bắc Việt Nam biết đến mà hầu như những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến ở VN đều không thể quên được trong suốt hơn 42 năm qua. Trận chiến Khe Sanh một trong những trận chiến lớn nhất thế giới ngang tầm vóc với các trận như Concord , Gettyburg và Normandy . Một điạ danh nơi đèo heo hút gió đã viết đậm nét trong trang quân sử Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH.

Khe Sanh như thế nào mà bài diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Hoa kỳ phải nhắc đến và người Việt chúng ta khi nghe đến điạ danh đó đều bùi ngùi xúc động. Và trong những bài dịch, một số dịch gỉa không biết vô tình hay cố ý đã bỏ sót điạ danh ‘ Khe Sanh’ đã làm cho nhiều người trong cộng đồng bất mãn. Sau đây tôi xin mượn bài viết của Phạm Cường Lễ ‘ Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968’ để chúng ta nhìn lại trang sử Việt và cho những ai chưa từng biết Khe Sanh là gì có cơ hội tìm hiểu Khe Sanh như thế nào?

1. Khe Sanh Bẩy Mươi Bẩy Ngày Trong Một Nghìn Chín Trăm Sáu Mươi Tám

KHE SANH… m
t địa danh đèo heo hút gió ở vùng cực bắc Nam Việt Nam cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam, và 6 miles (10 km) về phía Đông của vương quốc Làọ Nếu không có chiến tranh, nét yên tĩnh và phong cảnh nơi đây có thể sẽ được kể là một trong những gì đẹp nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng kể từ tháng 5 năm 1959, nét an lành của thiên nhiên tại nơi này bắt đầu bị giao động. Năm đó, bộ đội Bắc Việt thiết lập hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh để khởi động công cuộc xâm lăng miền Nam . Lúc ấy, Khe Sanh chưa phải là căn cứ hay tiền đồn. Nhưng vì nằm gần biên giới và giáp ranh Đường Số 9 –trục lộ giao điểm của ba quốc gia Nam Việt, Bắc Việt, Lào– nên Khe Sanh đã nghiễm nhiên trở thành một trong những cứ điểm quan trọng nhất trên bản đồ của cuộc chiến Việt Nam.

Đến 1967, các hoạt động của Cộng quân quanh vùng này bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Quân đội Hoa Kỳ tăng cường quân số ở vùng nàỵ Họ tu bổ để Khe Sanh để trở thành một tiền đồn kiên cố. Khe Sanh nằm sát biên giới Việt-Lào, cạnh bên Quốc Lộ 9, án ngữ cửa ngõ xâm nhập của Bắc Việt vào Nam Việt Nam ở tỉnh Quảng Trị. Khi Hoa Kỳ tăng cường lực lượng quân sự để giữ Khe Sanh, tướng Võ Nguyên Giáp của Bắc Việt đã có kế hoạch bao vây để biến nơi này thành Điện Biên Phủ của người Mỹ.

Năm 1968, Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng nhất nhì thế giớị Nhưng đó chẳng phải vì nổi tiếng qua phong cảnh đẹp nhất, khí hậu trong lành nhất, hoặc có du khách ngoại quốc đến thăm nhiều nhất. Khe Sanh thật sự đã nổi tiếng vì có nhiều trận đánh lớn xảy ra tại vùng này trong hai năm 1967 và 1968.

Một Nghìn Chín Trăm Sáu Mươi Tám là thời điểm mà Khe Sanh được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến Tết Mậu Thân khi Việt Cộng mở chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòạ Trong chiến dịch này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đã được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến cùng khoảng 200 tay súng Biệt Đ���ng Quân miền Nam. Nhưng Khe Sanh đã chẳng thất thủ. Trận chiến trận kéo dài 77 ngày với Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất.

o O o

Nằm trên một vùng cao nguyên rộng lớn, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp, Khe Sanh là một căn cứ quân sự vô cùng quan trọng ở tỉnh Quảng Trị. Năm 1962, căn cứ này được Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh (Green Berets) Hoa Kỳ xử dụng đầu tiên làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đi sâu vào vùng đất Làọ Vị trí chiến lược của Khe Sanh do đó đã gây nhiều trở ngại lớn lao cho công cuộc xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt.

Năm 1966, Bắc Việt phản ứng mạnh mẽ bằng cách dùng trọng pháo bắn vào Khe Sanh. Cũng trong năm này, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ có mặt tại Khe Sanh để canh gác và ngăn chận các cu ộc xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) từ bên Làọ Giữa năm 1967, nhiều vụ chạm súng lẻ tẻ xảy ra quanh khu vực. Rồi sau đó là các trận chiến lớn dành giật những ngọn đồi được kéo dài đến gần cuối tháng 1 năm 1968 thì chiến trường bùng nổ dữ dộị Ba sư đoàn chính quy Bắc Việt bao vây, pháo kích, và dùng chiến thuật xa-luân-chiến đánh Khe Sanh trong 77 ngàỵ Như đã nhắc đến ở phần trên, quân Bắc Việt bị đại bại với từ 10,000 đến 13,000 cán binh tử thương (Tom Carhart: Batles And Campaigns In Vietnam, tr.130). Trong khi đó, lực lượng trú phòng Khe Sanh chỉ bị thiệt hại nhẹ. Hoa Kỳ có 199 binh sĩ Mỹ chết và 1,600 bị thương. Về phía Việt Nam Cộng Hòa, tổn thất gồm 34 quân nhân tử trận và 184 thương binh (Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-75, tr.175).

MẶT TRẬN VÙNG KHE SANH NĂM 1967

Vào tháng 3 năm 1967, căn cứ Khe Sanh được phòng thủ vỏn vẹn chỉ bởi một đại đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Lúc đầu, hỏa lực tại đây chỉ gồm một pháo đội 105 ly, 2 khẩu 155 ly, cùng 2 súng cối loại 4.2 inch. Lực lượng yểm trợ gồm một đại đội Địa Phương Quân (ĐPQ) và một toán TQLC Hoa Kỳ đóng ở làng Khe Sanh (ngôi làng này cũng tên là Khe Sanh) cách căn cứ chỉ hơn 2 miles (3.5 km). Và tất cả đều được yểm trợ bởi các khẩu pháo binh 155 ly và 175 ly ở hai căn cứ hỏa lực Carroll và Rock Pile gần đó.

Ngày 24 tháng 4 năm 1967, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bất ngờ đụng độ với bộ đội Bắc Việt ở một địa điểm về phía Bắc của Đồi 861. Sau đó tinh tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt đã tập trung đông đảo quân số về vùng nàỵ Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến lập tức được lệnh tăng cường cho Khe Sanh.

Ngày 25 tháng 4, Tiểu Đoàn 3/3 (đọc là “Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung Đoàn 3”) TQLC Hoa Kỳ đến Khe Sanh. Sang ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC lập tức tăng cường. Sang đến ngày 27, Pháo Đội B thuộc Tiểu Đoàn 1/12 Pháo Binh có mặt tại căn cứ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1967, sau khi được pháo binh yểm trợ, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC Hoa Kỳ tiến chiếm Đồi 861. Cùng lúc đó, Tiểu Đoàn 3/3 cũng mở cuộc tấn công lên Đồi 881. Đây là những cụm đồi nằm gần Khe Sanh, và đã được quân đội Hoa Kỳ chọn làm những tiền đồn bảo vệ căn cứ. Trong những ngày tiếp đến, lực lượng Cọp Biển Hoa Kỳ lần lượt chiếm hết những cao điểm lân cận: đó là các ng���n đồi 861, 881-Bắc, và 881-Nam.

Ngày 13 tháng 5/1967, Đại Tá J.J. Padley nhậm chức chỉ huy trưởng căn cứ Khe Sanh, thay thế Đại Tá J.P. Lanigan. Lúc đó, lực lượng phòng thủ được tăng cường thêm 3 tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 TQLC để thay thế cho Trung Đoàn 3. Trong khi ấy, từ 24 tháng 4/1967 đến 12 tháng 5/1967, bộ đội Bắc Việt tiếp tục công kích với nhiều màn chạm súng lẻ tẻ. Các vụ đụng độ này đã gây tử thương cho 155 binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng quân Bắc Việt bị thiệt hại nặng hơn với 940 cán binh bỏ mạng.

Mùa Hè 1967, sau khi bị thiệt hại nặng trong một thời gian ngắn (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5), quân Cộng Sản phải tạm ngưng các hoạt động. Áp lực quân sự quanh vùng Khe Sanh giảm sút khá nhiềụ Ngày 12 tháng 8/1967, Đại Tá ẸẸ Lownds được chỉ định thay thế Đại Tá J.J. Padley trong chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 26 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Khe Sanh. Vì tình hình lúc đó đang lắng diệu, hai trong ba tiểu đoàn TQLC của Trung Đoàn 26 Hoa Kỳ được phép rút khỏi căn cứ. Nhưng tháng 12, Tiểu Đoàn 3/26 nhận lệnh tăng cường cho Khe Sanh. Tinh tình báo cho biết hoạt động của các lực lượng Cộng Sản đã bắt đầu gia tăng quanh vùng nàỵ

TRẬN CHIẾN KHE SANH TRONG NĂM 1968

Đêm 2 tháng 1/1968, gần hàng rào phòng thủ phía Tây Khe Sanh, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phục kích và bắn hạ 5 cán bộ Cộng Sản. Giấy tờ tịch thu cho biết họ là những sĩ quan cao cấp Bắc Việt, trong đó có cả một người giữ chức trung đoàn trưởng. Còn hai người kia là cán bộ cao cấp về ngành truyền tin và hành quân. Tình báo Hoa Kỳ lo ngại một lực lượng hùng hậu của Bắc Việt đã có mặt tại vùng nàỵ Khi ấy, Trung Đoàn 26 TQLC tại Khe Sanh lập tức được lệnh phải bổ sung quân số.

Đến ngày 20 tháng 1/1968, một trận đánh dữ dội đã xảy ra trên Đồi 881-Nam (Ghi Chú: Có hai ngọn đồi mang tên “881”, một ngọn nằm về hướng Bắc của Khe Sanh, và ngọn kia nằm về hướng Nam. Xem bản đồ). Ngọn đồi này được phòng thủ bởi một cánh quân của Tiểu Đoàn 1/3 TQLC Hoa Kỳ, gồm Bộ Chỉ Huy của Đại Đội M, hai trung đội bảo vệ, và toàn thể lực lượng của Đại Đội K. Trong tài liệu Nam, Vietnam 1965-75, Đại Úy William H. Dabney (đại đội trưởng Đại Đội I) cho biết đại đội của ông chỉ huy có vài khẩu bích kích pháo 81 ly, 3 đại bác 105 ly, và hai súng không-giật 106 lỵ

Lúc trời vừa sáng còn dầy đặc sương mù, một toán quân của Đại Đội I lục soát vòng quanh khu vực. Mọi vật trong không gian và thời gian đang lắng đọng yên lành. Nhưng đến trưa khi sương mù tan biến. Nét lặn yên của buổi sáng bị giao động giữ dộị Hai trung đội đi đầu lọt vào ổ phục kích của địch quân. Một rừng đạn đủ loại từ súng cá nhân cho đến vũ khí cộng đồng bay veo véọ Trong vòng chưa đến một phút mà đã có 20 binh sĩ Hoa Kỳ ngã gục. Những người còn lại nằm rạp xuống tránh đạn. Họ vừa bắn trả, vừa gọi máy truyền tin xin hỏa lực pháo binh tiếp cứụ

Các căn cứ hỏa lực quanh vùng lập tức đáp lờị Những khẩu đại bác được quay nòng về hướng Đồi 881-Nam rồi ì ầm tác xạ. Một rừng đạn pháo bay đến cày nát chiến trường. Bom Napalm từ phi cơ không-yểm ném xuống cản được đợt xung phong của Cộng quân. Toán Cọp Biển bị thiệt hại nặng. Họ lui về vị trí cũ trên Đồi 881-Nam.

Trong khi ấy, hai trung đội Thủy Quân Lục Chiến của Đại Đội M/3/26 (đọc là “Đại Đội M thuộc Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 26”) được trực thăng vận đến Đồi 881-Nam. Toán quân này chuẩn bị hợp sức với Đại Đội I/3/26 để ngày hôm sau mở cuộc lục soát về hướng Đồi 881-Bắc. Theo tài liệu của Khe Sanh Veterans Home Page, cuộc hành quân này đưa đến một vụ đụng độ ác liệt dưới chân Đồi 881-Bắc. Lúc ấy, nương vào hỏa lực phi pháo và không yểm, Đại Đội I/3/26 của Đại Úy Dabney đã đánh cho một tiểu đoàn Cộng quân tan tành manh giáp. Trong trận này, Hoa Kỳ mất 7 người, Bắc quân mất 103 (Khe Sanh Veterans Home Page, Time Line).

Ngày 20 tháng 1/1968, một biến chuyển quan trọng bất ngờ xảy rạ Lúc 2 giờ chiều, một viên trung úy Bắc Việt tên Lã Thanh Tòng thuộc Sư Đoàn 325C đột nhiên ra đầu thú. Trung Úy Tòng cho biết đêm nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, người tù binh cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Đúng như lời khai của Trung Úy Tòng, lúc 12 giờ 30 rạng ngày 21 tháng 1/1968, Cộng quân dùng đại bác bắn vào Đồi 861. Trước hết, kho chứa đạn của Thủy Quân Lục Chiến ở trên đồi trúng đạn pháo kích rồi nổ tan. Kế đến, lực lượng Cộng Sản gớm 300 cán binh chuẩn bị xung phong lên đồị Nhưng Đại Đội K/3/26蠄уàbiết trước. Họ gờm súng c hờ đợị Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác. Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sĩ tử trận.

Trong khi ấy ở căn cứ Khe Sanh, quân trú phòng luôn chú tâm theo dõi các diễn biến trên Đồi 861. Khi trận đánh kết thúc gần 6 giờ sáng, họ nghe nhiều tiếng “depart” từ xa vọng lạị Bầu trời đột nhiên đổ cơn mưạ Những hạt mưa to bằng sắt thép với đường kính từ 81 đến 130 lỵ

Khi quả đạnh đầu tiên lao vào căn cứ, những người lính tại Khe Sanh lập tức xuống hầm. Một số khác co lại trong giao thông hàọ Tay họ ôm nón sắt, và miệng đếm theo tiếng nổ của đạn pháo binh. Trong phút chốc, kho chứa đạn khổng l��� trong căn cứ với 1,500 tấn đã phát nổ tan tành. Phi đạo ở Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, bị rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m). Thế mà ngày hôm đó một vài chiếc vận-tải cơ của Hoa Kỳ cũng xuống phi đạo để mang các kiện hàng cho binh sĩ ở Khe Sanh.

Ngày 22 tháng 1/1968, tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đến tăng cường Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9. Họ đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa quạ

Ngày 26, một lực lượng tăng viện khác được không vận vào Khe Sanh. Đó là Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân của Đại Úy Hoàng Phổ. Đây là một đơn vị bộ chiến già dặn, đầy gan lì và kinh nghiệm của Việt Nam Cộng Hòạ Trách nhiệm của họ là tạo vòng đ ai phòng thủ tại khu vực ở hướng Đông ở căn cứ Khe Sanh.

CÁC DIỄN BIẾN CHÁNH YẾU TRONG TRẬN CHIẾN TẠI KHE SANH

20 tháng 1 Đụng độ mạnh giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và bộ đội Bắc Việt trên Đồi 881-Nam. Hai bên đều thiệt hại nặng. Trong ngày này, một Trung Úy Bắc Việt ra đầu thú và đã cho biết kế hoạch tấn công của Cộng quân vào căn cứ Khe Sanh.

21 tháng 1 Cộng quân pháo kích vào Khe Sanh. Kho đạn trong căn cứ nổ tung, phi đạo bị hư hạị Đồi 861 bị pháo kích, nhưng các binh sĩ Hoa Kỳ trên đồi đẩy lưi cuộc tấn công của bộ đội Bắc Việt.

22 tháng 1 Căn cứ Khe Sanh được tăng viện bởi Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ.

26 tháng 1 Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH của Đại Úy Hoàng Phổ đến Khe Sanh. Đây là lực lượng tăng viện sau cùng trong khoảng thời gian căn cứ bị bao vâỵ

30 tháng 1 Cộng Sản mở chiến dịch “Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa” trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Nhiều thị xã bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

6 tháng 2 Đêm 6 tháng 1/1968, bộ đội và chiến xa Bắc Việt tấn công Trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ Ngày hôm sau, Làng Vei thất thủ.

9 tháng 2 Một trận kịch chiến xảy ra trên Đồi 64, quân Cộng Sản để lại 134 xác chết. Phía bên Hoa Kỳ có 26 binh sĩ TQLC tử thương.

11 tháng 2 Hai vận tải cơ C-130 đáp xuống Khe Sanh. Mộ
t chiếc nổ tung vì trúng đạn pháo kích. Chiếc còn lại gấp rút được sửa chữa rồi bay “khập khễnh” về phi trường Đ à Nẵng bình an.

21 tháng 2 Bắc Việt tấn công vào vòng đai phòng thủ tại khu vực hướng Đông ở Khe Sanh. Nhưng không chọc thủng được bức tường phòng thủ kiên cố của Biệt Động Quân VNCH.

Tháng 2-3 Từ tháng 2 đến cuối tháng 3, cường độ pháo kích của Cộng quân tại Khe Sanh quá ác liệt. Phương pháp tiếp tế duy nhất là móc các kiện hàng vào những cánh dù rồi thả xuống từ các vận tải cơ trên vòm trờị

23 tháng 2 Cộng quân bắn 1,300 quả đạn đại bác vào Khe Sanh. Trận địa pháo kéo dài 8 tiếng đồng hồ. Mười (10) quân nhân Hoa Kỳ bị thiệt mạng, 51 người khác bị thương.

29 tháng 2 Bộ đội Bắc Việt mở cuộc tấn công ác liệt vào vòng đai phòng thủ ở phía Đông căn cứ, nhưng gặp phải mức kháng cự mãnh liệt của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quâ n. Cả ba đợt xung phong của Cộng quân bị đẩy luị Họ để lại 70 xác chết trên trận địạ

1 đến 15 tháng 4 Ngày 1 tháng 4/1968, cuộc hành quân PEGASUS (của quân đội Mỹ) và LAM SƠN 207 (của quân đội VNCH) được tiến hành. Chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 4/1968. Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏạ

.
Tổn Thất: Hoa Kỳ: 199 tử thương, 1,600 bị thương, Việt Nam Cộng Hòa: 34 tử thương, 184 bị thương, Cộng Sản Bắc Việt: 10,000 đến 13,000 tử thương.

Lúc ấy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một tiểu đoàn thiện chiến Biệt Động Quân Việt Nam, Khe Sanh lại được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh riêng biệt gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly, và một pháo đội đại bác 155 lỵ Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đ���i chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

Phía bên kia, lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém. Tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy nắm trong tay ít nhất 3 sư đoàn. Ngoài ra, ông còn có thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng Sản được ghi nhận như sau:

Sư Đoàn 325C CSBV đóng quân về phía Bắc của Đồi 881 Bắc
Sư Đoàn 304 CSBV (xuất phát từ bên Lào) đóng quân về phía Tây Nam của Khe Sanh
Một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 324 CSBV đang có mặt ở gần vùng phi quân sự, cách Khe Sanh 15 miles (24 km) về hướng Tây Bắc
Sư Đoàn 320 CSBV giữ vị trí về phía Bắc của căn cứ hỏ a lực Rock Pile
Ngoài ra, Cộng Sản huy động thêm một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54 cùng hai trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh
Ngày 30 tháng 1/1968, Cộng Sản phát động chiến dịch Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa (thường được gọi là cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân) trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Tại những thành phố lớn, các đơn vị Việt Cộng cố các trận đánh lớn để gây tiếng vang. Nhưng gần Khe Sanh, tình hình tương đối yên tĩnh. Nhưng sự yên tĩnh chỉ kéo dài được 6 ngàỵ

Hôm 5 tháng 2/1968, tiếng súng khởi sự nổ trên đồi 861Ạ Một tiểu đoàn Việt Cộng (thuộc Sư Đoàn 325) mở cuộc tấn công. Địch quân chiếm một phần tại vòng đai phía Bắc trong khu vực trách nhiệm của Đại Đội E/2/26. Nhưng sau đó, Bắc quân bị đánh bật trở ra trong một cuộ c phản công quyết liệt của các binh sĩ Cọp Biển. Tổng kết trận đánh có 7 quân nhân Mỹ tử trận, phía bên kia Cộng quân thiệt mất 109 cán binh (Khe Sanh Veterans Home Page: Time Line).

Ngày 6 tháng 2/1968, quân Cộng Sản đánh vào trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, nằm gần Khe Sanh chừng 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ Quân Bắc Việt có cả chiến xa PT-76. Và đó cũng là lần đầu tiên Thiết Giáp Bắc Việt trực tiếp lâm chiến tại miền Nam . Do Nga Sô chế tạo và cung cấp cho Cộng Sản miền Bắc, các xe PT-76 chạy trên xích sắt, được trang bị nòng súng 76 ly, và có khả năng lội nước. Tuy vỏ bọc bên ngoài tương đối mỏng, nhưng độ cứng của thép cũng đủ để ngăn chận các loại đạn trung liên từ 7.62 ly trở xuốn g.

Trong trận Làng Vei, 11 chiến xa PT-76 của Cộng quân dẫn đầu. Theo sau là một tiểu đoàn bộ đội yểm trợ. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 66 dưới quyền điều động của Sư Đoàn 304. Trận đánh tại Làng Vei kéo dài chỉ một ngày. Chín (9) trong số 11 chiếc PT-76 bị tiêu diệt, nhưng quân trú phòng không ngăn nổi trận biển người của đối phương. Chết trong trận này gồm hơn 200 binh sĩ Dân Sự Chiến Đấu Việt Nam cùng 10 trong số 24 sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ.

Ngày 9 tháng 2/1968, một tiểu đoàn Bắc Việt tấn công (tiểu đoàn này thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325) Đồi 64 do Đại Đội A/1/9 Cọp Biển trấn giữ. Các vị trí phòng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn ngập. Trong tình huống nguy cập, các binh sĩ TQLC liên lạc xin phi pháo yểm trợ. Không chút chậm trễ, các kh���u đại bác quanh vùng đều nhắm hướng Đồi 64 và tác xạ. Khi ấy, một lực lượng TQLC khác được lệnh phải đến tiếp viện Đồi 64. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 150 bộ đội Bắc Việt chết và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.

Sau trận đánh ở Đồi 64, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Đến 21 tháng 2/1968, căn cứ Khe Sanh lại bị tấn công. Lần này, một đại đội địch quân gây áp lực tại phòng tuyến của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đã vững vàng cố thủ. Trận này kết thúc mau lẹ. Đợt tấn công của đối phương đã bị Biệt Động Quân bẻ gảỵ

Hai ngày sau, 23 tháng 2/1968, Bắc quân tập trung pháo binh để phục hận. Một nghìn ba trăm (1,300) quả đạn đủ lo���i đã được bắn vào Khe Sanh (Tom Carhart: Battles And Campaigns In Vietnam, tr.129). Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Đêm 29 tháng 2, mặt trận vây-hãm Khe Sanh chợt bùng nổ với một trận bộ chiến sau cùng. Chín giờ 30 tối, một tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư Đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của các binh sĩ Biệt Động Quân VNCH.

Nhưng sau một màn pháo kích dọn đường, và sau ba lần trận biển-người xung phong, tiểu đoàn Bắc Việt cũng không phá được phòng tuyến thép của lính “rằn rị” Đêm hôm đó, các binh sĩ Biệt Động Quân bình tĩnh chiến đấụ Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới kha i hỏạ

Lúc đó trong giao thông hào khói lửa mịt mù. Nón sắt, áo giáp, cài kỹ lưỡng. Súng trường M-16 được gắn lưỡi lê (bayonet). Lựu đạn đeo ở bụng, trước ngực, hoặc choàng vaị Băng đạn sát bên người, ở hông và đầy trong túị Khi Bắc quân tấn công, tiểu đoàn Biệt Động Quân chống trã mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong của Bắc quân. Ngày hôm sau, một toán Biệt Động Quân vượt hàng rào kiểm điểm tình hình. Họ đếm được 70 xác chết địch quân trên trận địạ

Trong tác phẩm Battles And Campaigns In Vietnam, Tom Carhart có ghi lại một cách ngắn gọn về trận đánh của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân như sau: “Rạng sáng ngày 29 tháng 2/1968, mũi tấn công duy nhất đư���c nhắm vào vòng đai trách nhiệm của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Khi Cộng quân xung phong đến gần hàng rào, họ bị lính Mũ Nâu chào đón họ bằng một rừng Claymore (mìn chống cá nhân), lựu đạn và súng cá nhân. Địch quân chẳng qua được hàng rào kẽm gai chằng chịt bên ngoàị Bảy mươi (70) xác chết của họ vì vậy đã được xem như như một công cuộc bại thảm nặng nề.”

Trong các tài liệu Anh ngữ nói về trận chiến tại Khe Sanh, hầu như các tác giả và ký giả Hoa Kỳ chỉ ghi nhận mức chịu đựng bền bỉ của người lính Thủy Quân Lục Chiến. Nhưng ít ai biết đến hoặc nhắc nhở gì về sứ mạng phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. May mắn thay, công trạng của họ đã được Trung Tướng Phillip Davison nhắc đến trong tài liệu Vietnam At War, The History 1946-75″: “.. .[Tướng] Giáp tưởng tấn công vào tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân VNCH sẽ dễ dàng hơn là đánh vào những nơi có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn giữ, nhưng đây không thể gọi là dễ dàng được bởi vì đơn vị Biệt Động Quân VNCH này chính là một đơn vị thiện chiến rất giỏị”

Trận tấn công vào đêm 29 tháng 2 (cho đến rạng ngày 1 tháng 3) là trận tấn công cuối cùng của quân Bắc Việt vào căn cứ. Ngày 1 tháng 4/1968, chiến dịch giải tỏa Khe Sanh bắt đầụ Cuộc hành quân mệnh danh “PEGASUS” (của Mỹ) và Lam Sơn 207 (của Việt Nam Cộng Hòa) được khởi động với sự tham dự của nhiều đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và Nhảy Dù Nam Việt Nam . Trục tiến quân giải tỏa Khe Sanh được thiết lập dọc theo Quốc Lộ 9.

Vài ngày sau, 8 tháng 4, căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏạ Giấc mộng tạo dựng một Điện Biên Phủ thứ hai của Võ Nguyên Giáp kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10 đến 13,000 bộ độị Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không yểm.

Sau này, các sách vở về chiến tranh Việt Nam đều có nhiều nhận xét khác nhau về chiến thuật của đôi bên. Một lập luận cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Một lập luận khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa K ỳ phải nhượng bộ rồi đầu hàng. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã “tương kế tựu kế.” Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã không theo vết xe lăn của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, Cộng quân đã không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ độị Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.

Nguồn:
http://calitoday.com/news/view_article.html?article_id=48f4d55c483faec9e65b26e3edcb6fe4

—————-
Barack Obama was sworn in as the 44th president of the United States and the nation’s first African-American president Tuesday. This is a transcript of his prepared speech.

My fellow citizens:

I stand here today humbled by the task before us, grateful for the trust you have bestowed, mindful of the sacrifices borne by our ancestors. I thank President Bush for his service to our nation, as well as the generosity and cooperation he has shown throughout this transition.

Forty-four Americans have now taken the presidential oath. The words have been spoken during rising tides of prosperity and the still waters of peace. Yet, every so often, the oath is taken amidst gathering clouds and raging storms. At these moments, America has carried on not simply because of the skill or vision of those in high office, but because We the People have remained faithful to the ideals of our forebearers, and true to our founding documents.

So it has been. So it must be with this generation of Americans.

That we are in the midst of crisis is now well understood. Our nation is at war, against a far-reaching network of violence and hatred. Our economy is badly weakened, a consequence of greed and irresponsibility on the part of some, but also our collective failure to make hard choices and prepare the nation for a new age. Homes have been lost; jobs shed; businesses shuttered. Our health care is too costly; our schools fail too many; and each day brings further evidence that the ways we use energy strengthen our adversaries and threaten our planet. Video Watch the full inauguration speech »

These are the indicators of crisis, subject to data and statistics. Less measurable but no less profound is a sapping of confidence across our land — a nagging fear that America’s decline is inevitable, and that the next generation must lower its sights.

Today I say to you that the challenges we face are real. They are serious and they are many. They will not be met easily or in a short span of time. But know this, America: They will be met.

On this day, we gather because we have chosen hope over fear, unity of purpose over conflict and discord.

On this day, we come to proclaim an end to the petty grievances and false promises, the recriminations and worn-out dogmas, that for far too long have strangled our politics.

We remain a young nation, but in the words of Scripture, the time has come to set aside childish things. The time has come to reaffirm our enduring spirit; to choose our better history; to carry forward that precious gift, that noble idea, passed on from generation to generation: the God-given promise that all are equal, all are free, and all deserve a chance to pursue their full measure of happiness.

In reaffirming the greatness of our nation, we understand that greatness is never a given. It must be ear

10 phản hồi to “Diễn Văn Nhậm Chức Của TT Obama”

  1. Phương Nguyên said

    Bi dịch hay lắm, đang chờ bạn TH dịch tiếp. Hi hi, bo ch trong nước “lược dịch” cắt xn mất những đoạn “nhạy cảm”, chỗ ni về trận Khe Sanh, về chủ nghĩa cộng sản, về những người tham quyền cố vị đn p người bất đồng chnh kiến….
    Tết tới rồi bận qu m cứ lo nghin ku chnh trị wi!

  2. TranHoang said

    Người xưa c ni: thầy no, tr nấy.

    C một bi diễn văn của một TT Mỹ ở xa lắc xa lơ như vậy m vẫn sợ hải, lấm la lấm lt giấu diếm khng cho người dn biết. Đ l thi độ của kẻ gian phi, trộm đạo.

    C bi bo viết về chuyện Trung Quốc đy n:
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2009/01/090121_obamaspeech_censorship.shtml

    ————————————-
    Obama khiu vũ tới 4 giờ sng, vậy m thức dậy lc 7 giờ sng lm vic rồi. Một trong cc việc đầu tin l thực hiện lời hứa lc cn tranh cử:

    _Ngưng tăng lương năm nay (c thể cc năm tới) đối với tất cả nhn vin (khong 100 người) c lương cao hơn 100.000 đang lm việc tại dinh Tổng Thống. Chuyện ngưng tăng lương nầy ng đ từng ni tới: phải tiết kiệm v những ai đang lnh lương của chnh phủ phải lm việc tận tụy v lm c hiệu quả, nếu khng lm được việc nữa th nn về hưu hoặc chuyển qua lm việc khc, nhường chỗ cho người xứng đng hơn. Chuyện nầy ng Obama ni tới cch đy hơn 23 thng trước, khi cn đang vận động tranh cử v nay thi hnh.

    _xa bỏ nh t, đề nghị đnh chỉ xử phạt t, v cho biết ng xin cho ng thời gian 120 ngy để ng đch thn đọc lại ton bộ tội trạng của tất cả cc t nhn.

    _thị trường chứng khong rớt xuống 4% sau khi TT Obama đọc bi diễn văn.

  3. Đen said

    Cảm ơn bạn Trần Hong đ bỏ cng chuyển ngữ diễn văn tuyệt vời ny.

    Năm Mới an khang nh.

  4. Muối said

    Cm ơn anh TH nhiều 🙂
    Chc anh , anh Ba Sm v gia đnh cng BBT TTX Vỉa H những ngy Tết thật ấm cng .

  5. TranHoang said

    Nhn dịp năm Kỷ Sửu, mến chc bạn Muối v gia đnh một năm mới an lnh, hạnh phc v vui vẻ.

  6. TranHoang said

    Nhn dịp năm Kỷ Sửu, mến chc bạn Đen v gia đnh một năm mới nhiều hạnh phc bnh an.

  7. VOI said

    Khi xem bi viết ph bnh BBC việt ngữ trn Blog của Trương Nhn Tuấn, ni BBC dịch sai một số đoạn. Em coi lại bản dịch của Anh Trần Hong, thấy anh dịch st v chuẩn hơn BBC. Tuy BBC c vẻ “văn chương” hơn, nhưng đ lm người đọc hiểu sai , nếu khng xem nguyn bản Anh ngữ. Cm ơn anh.

  8. TranHoang said

    @VOI: Cm ơn Voi. TH dịch chnh xc để cố gắng chuyển lại những g m Obama muốn ni.

    TH mong l qua cng việc dịch thuật, TH c thể lm được một phần no để nng cao dn tr của người VN trong nước; trong nước chng ta c nhiều người c thức v dn tr rất cao (đặc biệt l những người trong friend list của TH), nhưng đại đa số cn lại của người dn trong nước th bị kềm kẹp qu lu, đang sống trong ngho kh v tuyệt vọng, nn họ khng c điều kiện tiếp xc với cc tư tưởng mới v hiện đại; nếu họ c điều kiện ngang bằng như cc Việt kiều v sống trong một chế độ khc th họ cn giỏi hơn ta nữa.

    Nhưng c thể ni l hiện nay họ đang sống trong ci lồng, bn ngoi ci lồng c che thm 1 tấm mn c để hở một vi chỗ. Người trong lồng th chỉ được nhn thấy những g m “người ta” muốn cho họ nhn, v chỉ nghe được những g m “người ta” muốn cho họ nghe. Dn chng muốn nhn ci g v nghe ci g th phải thng qua một sự “chuẩn thuận”. Họ c tự do, nhưng l tự do trong khun khổ v khng được lựa chọn 🙂

    ——-
    Về chuyện dịch, (khng phải chỉ giới hạn trong bi nầy m l ni chung cho tất cả cc tc phẩm dịch thuật) phải ni cho ngay l chỉ c những người no sống ở nước Mỹ lu năm, thng hiểu lịch sử qu khứ v đương đại của Mỹ, nắm bắt được tnh thế hiện tại v tnh cảm của dn chng hiện nay, c học chuyn mn về ngnh ấy (khng phải l chuyn mn về ngnh dịch bo ch nghen)…th mới c thể c đủ khả năng (nhiều hơn) để dịch một bi một bi no ấy gần chnh xc với của tc giả.

    C thể ni rằng những người dịch no khng hội đủ cc điều kiện trn, th họ c thể dịch rất hay theo kiểu văn chương, dịch rất thuận tai v dễ nghe theo ngn ngữ tiếng mẹ đẻ của họ, NHƯNG một phần no đ của bi dịch l “tư tưởng của người dịch” đ hiểu sai của tc giả, chứ khng phải l “tư tưởng của chnh tc giả”; v tc giả khng ni thế v khng viết thế. Đa số những người dịch khng hội đủ cc điều kiện trn th họ chỉ dịch được chừng 60-80% những g tc giả hay người diễn thuyết muốn ni đến. Hy vọng những phản biện của đọc giả c thức sẽ lm cho họ thay đổi, cải thiện, v tiến bộ hơn. Nhưng ni thật với VOI l rất kh cho họ đạt được sự chnh xc cao độ nếu như họ khng hội đủ một số đ/k ni trn.

    Ni thm l vấn đề dịch lầm nầy hiện đang xảy ra ở VN v xảy ra trong tất cả cc bộ mn ton, l, ha, sinh học, y khoa, dược khoa,…v cc ngnh bộ mn khc như văn học, kỹ thuật, luật, x hội…nn ta phải cẩn thận v coi lại bản gốc.

    ——————

    Ni về bi diễn văn của Obama, người Mỹ khen bi diễn văn nầy rất nhiều. Họ ni l bi diễn văn nầy đng mực với tnh thế hiện nay v gy xc động. Nhiều người nghe bi diễn văn nầy đ khc d lc ấy họ đang ở Washington DC, hay ngồi ở nh, hay đang ở một nơi no đ bn Iraq, Afghanistan, hay đang ở cc tiểu bang xa xi…

    Người ta ni rằng cc diễn văn nhậm chức của cc vị TT tiền nhiệm đều khng gy ra sự xc động trong lng dn chng như bi diễn văn nầy. C lẻ v trong 48 năm qua, kể từ thời TT Kennedy, nước Mỹ đ v đang trải qua những biến động rất lớn của x hội như chiến tranh VN, đang xảy ra sự suy sụp của ti chnh v kinh tế …Nhưng trn hết, 53% dn Mỹ đ v đang mong chờ một sự thay đổi mới trong chnh quyền qu lu, nhưng mấy nhiệm kỳ qua đi rồi m chẳng c ai lm được g để thay đổi về cc vấn đề m dn chng đang rất quan tm như: bảo hiểm sức khỏe, cải thiện gio dục, cải thiện ti chnh, cải thiện chnh sch…v vậy, người đi bầu quyết tm lm cuộc thay đổi, họ đ chọn Obama, v họ đ đạt được v họ khc v vui mừng đạt được sự chọn lựa ấy. Obama hiện nay l niềm hy vọng của họ, v họ muốn Obama lm một ci g đ để thay đổi.

    Obama c những ci chung m những người khc khng ai c. ng l người lin hệ đến 4 đại lục.

    _Sinh ra ở Mỹ Chu (Hawaii),
    _cha l người gốc Phi Chu,
    _mẹ l người da trắng gốc u Chu (Irish),
    _sống qua thời nin thiếu ở Chu (Indonesia)

  9. TranHoang said

    Với một hon cảnh như thế của Obama, dn chung trong v ngoi nước hy vọng rằng ng c thể hiểu được những tnh huống kh khăn của thế giới ngy nay để giải quyết được phần no những kh khăn của nước Mỹ, của thế giới, v trn hết l cải thiện gio dục, sức khỏe, đời sống của đa số người dn (nhm người ngho) trong nước.

    ————————

    Lin quan tới VN:

    Chnh sch đối ngoại của Obama đi theo giống hệt nhiệm kỳ 2 (2005-2008) của TT Bush. Mỹ v TQ sẽ mu thuẩn nhau về chuyện ti chnh, v đảng Dn Chủ thường rất mạnh mẻ về bảo vệ quyền lợi đất nước, v thế sẽ rất căng thẳng với TQ. Trong khi TQ cố hạ gi trị đồng nhn dn tệ để xuất khẩu hng ha, cải thiện kinh tế đang tr trệ, th Mỹ cho rằng TQ hạ giảm Nhn Dn tệ l lm thiệt hại cho ngnh mậu dịch của Mỹ (nhập cảng nhiều hơn xuất cảng), lm Mỹ mắc nợ nhiều hơn, lm hng ha mỹ trở nn rất đắc khng bn hng được, lm dn Mỹ mất job, …nhưng hạ giảm gi trị đồng nhn dn tệ l sự sống cn của TH, cn gia tăng đồng nhn dn tệ lại l lm cho kinh tế Mỹ thịnh vượng. Chnh sự mu thuẩn quyền lợi nầy sẽ lm căng thẳng giữa Mỹ v TQ. Bằng chứng đầu tin l hy đọc bản tin trn VOA v RFA tuần trước l thấy r (phần điểm tin của anhbasam.tk c điểm qua v nhắc đến TQ v Mỹ đang xch mch nhau tuần trước).

    Trong bối cảnh ấy, VN nn lm g trước hai con th đang tm cch dnh nhau?

    TQ khng bn hng được qua Mỹ nhiều, th hng ha của họ sẽ trn ngập Đng Nam dẫn đến cc ngnh cng nghiệp trong nước của VN sẽ v cng nguy khốn v hng ha TQ rẽ hơn, đẹp hơn, bền hơn hng ha VN.

    V vậy VN lin minh với TQ hay VN ng theo TQ l hết thời, v sẽ bị mất thm nhiều đất đai lnh hải nữa, sẽ bị thiệt hại nền kinh tế v ngho hơn nữa (đy chnh l muốn của TQ v TQ khng bao giờ muốn VN hng mạnh)

    Mỹ sẽ khng nhường Chu v Đng Nam cho TQ v Mỹ chỉ c pht triển ở Chu m thi (v Mỹ khng thể pht triển thm nữa ở u Chu). Vậy l sẽ c chuyện đối đầu tranh dnh của Mỹ v TQ ở đy về kinh tế, về qun sự, về lin minh.

    Mỹ sẽ lin minh với Nhật, Nam Hn v VN để giữ đường hải lộ Biển Đng v vng biển giữa Nhật v TQ, Nm Hn v TQ. Nhật sẽ lin minh với VN để bao đảm hải lộ Biển Đng khng rơi vo tay TQ v Nhật sẽ c hng khng mẫu hạm cạnh tranh với TQ. VN vo lin minh với Nhật, Nam Hn v Mỹ th cn c cơ may để giữ nước, lấy lại phần bin giới trn pha Bắc v độc lập. Phần Hong Sa v Trường Sa th giả quyết bằng con đường ngoại giao v luật biển quốc tế v Nhật, Nam Hn v Mỹ lẫn u chu sẽ về phe VN nếu c tranh chấp.

    VN m lin minh với Nga l thất thế v Nga chỉ c dn số dưới 200 ngn người v c qu nhiều vấn đề giải quyết nội bộ, ngoi ra Nga đang muốn dnh lại ưu thế ở u Chu nn phải lin minh với TQ để ha hon v chuyện lin minh ấy đ xẩy ra 2005.

    Loạt bi chnh sch đối ngoại trong blog của TH loạt bi được dịch từ cc chnh khch đương đại, cc học giả, cc tạp ch chnh thống v l những bi hay nhất chưa từng c website no hay blog no phong ph hơn. Tập trung cc vấn đề lin quan tới VN v TQ, Mỹ v TQ, TQ v Lo, TQ v Kampuchea, Việt Nam v TQ tranh nhau ở Lo v Kampuchea, nếu TQ c ảnh hưởng ở Kampuchea v Lo mạnh hơn VN th VN sẽ nguy hiểm v cng v bị bao vy ở Biển Đng, bị p st cạnh sườn ở pha Ty v bị p lực ở bin giới Pha Bắc…th VN sẽ ra sao?

    Chỉ tiếc rằng người VN chng ta đang bận rộn với vấn đề dn chủ (m đng l phải giả quyết vấn đề nầy trước). Thm vo đ, dn chng ở trong nước v nước ngoi qu bận rộn với đời sống nn CHƯA ch tới chnh sch đối ngoại trong loạt bi ấy một cch đng mức v hiện nay cũng chưa c blogger no nghĩ đến việc phổ biến loạt bi ấy cho rộng ri hơn để cng ngy cng c nhiều người cng nhn thấy. Thật l đng tiếc.

  10. Phương Nguyên said

    Ah! hm nay đọc vụ BBC dịch sai diễn văn bc Obama, v đy coi lại mới thấy mấy ci cm của bạn TH. Một lần nữa cm ơn TH bỏ th giờ dịch rất hay v chnh xc nhiều bi vở để “khai dn tr”.
    Dn VN m biết v net đọc & viết l thnh phần kh trong x hội rồi nhưng ở trong nước bị “chuyn chnh v sản” thế no th TH cũng biết rồi, ai cũng sợ. C lẽ vậy m người dn trong nước t (dm) quan tm tới chnh trị, chỉ khi no bức xc qu th mới quan tm chuyện trước mắt, cn những chuyện chnh sch đối ngoại th khng “trước mắt” lắm, hic.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: