Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Mười Hai 2008
    C H B T N S B
    « Th11   Th1 »
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Mười Hai 29th, 2008

Chính Sách Đối Ngoại Mỹ và Trung Quốc (phần 2)

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Sự Tham Dự Kinh Tế Chiến Lược Làm Mạnh Thêm Các Mối Quan Hệ Giữa Mỹ và Trung Quốc

Henry M. Paulson Jr.

Bộ trưởng Tài Chánh 2005-2009.

Vụ Đối Ngoại

Số báo: Tháng 9/ Tháng 10 năm 2008

Người dịch: Trần Hoàng

Phần II

CÁC QUYỀN LỢI TRÙNG NHAU

Bằng cách tập trung vào các lãnh vực chính sách mà trong đó chương trình nghị sự cải cách của TQ có cùng một điểm chúng với các quyền lợi của Mỹ, Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) đã và đang tìm ra các phương cách mới và có tính chất xây dựng để thảo luận một số các vấn đề quan trọng nhất và các vấn đề đang còn tranh cải nhau trong mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và TQ, bao gồm sự bất quân bình về phát triển, an ninh năng lượng và sự quan trọng của môi trường, các đề tài thương mại và đầu tư (bao gồm an toàn của các sản phẩm), và vị trí của TQ trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Nói ra các vấn đề nầy không chỉ phục vụ cho các quyền lợi của người TQ nhưng còn là việc sống còn đối với sức mạnh kinh tế của Mỹ (quốc gia được đón chào bước vào thị trường xuất khẩu quan trọng nầy) và sức mạnh lâu dài của nền kinh tế toàn cầu. Những người Mỹ nào đang lo ngại rằng TQ có thể vượt qua Hoa Kỳ là họ đang nhầm lẫn. Thay vì đó họ nên lo ngại rằng Bắc Kinh có thể không thực hiện các cuộc cải cách then chốt, hay rằng Bắc kinh sẽ đối diện với các khó khăn kinh tế về sau nầy. Những khó khăn nghiêm trọng trong nền kinh tế của TQ có thể hăm dọa sự ổn định của Hoa Kỳ và các nền kinh tế toàn cầu.

Mặc dù sự nổi lên của TQ như một cường quốc kinh tế toàn cầu – TQ hiện giờ có mức tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ làm ra trong 1 năm (GDP) đứng vào hàng thứ 4 của thế giới – TQ vẫn còn là một quốc gia đang phát triển, chỉ xếp hạng thứ 100 trên thế giới về sản lượng và dịch vụ mà một người dân làm ra được trong một năm.

Sự gia tăng lợi tức của TQ đã và đang trải rộng, nhưng không đều; hậu quả, sự bất bình đẳng trong lợi tức (hay lương, tiền làm ra của mỗi người – TH ) đã gia tăng rất nhanh trong 30 năm qua. Một điều biểu thị cho sự bất bình đẳng nầy là tỉ lệ ghi danh vào các trường trung học cấp III ở tỉnh, (cha mẹ sẽ phải đóng các thứ lệ phí).

Lúc ban đầu của thời kỳ cải cách (1982), chỉ có những khác biệt nhỏ bé trong tỉ lệ ghi danh khắp các tỉnh, nhưng vào năm 2003, việc ghi danh gần như là 100% trong các tỉnh giàu có, so sánh với chưa tới 40% trong các tỉnh nghèo khó hơn.

Với sự ổn định xã hội, TQ đã buộc chặt niềm tin rằng sự phát triển về mức giàu có (cuối cùng) sẽ xuống tận tới tay mọi người, sự phát triển lâu dài vẫn là điều ưu tiên quan trọng nhất của các lãnh tụ Trung Quốc. Nhưng những thách thức về duy trì sự phát triển và giảm bớt về bất bình đẳng về lợi tức đang trở nên dữ dội hơn khi mà nền kinh tế của TQ phát triển ngày càng phức tạp hơn, mức xuất khẩu của TQ đang bắt đầu bảo hòa ở thị trường các nước ngoài, dân số của TQ bắt đầu già nua, và các đòi hỏi của người trong nước về một môi trường sạch sẽ đang gia tăng.

Trái với lòng mong đợi, chính kiểu mẫu phát triển đã khuyến khích và lèo lái sự cất cánh của TQ trong thời gian gần đây có thể trở thành một chướng ngại vật cho sự phát triển kinh tế cao độ của đất nước nầy và sự ổn định của xã hội trong tương lai.

Hơn 40 năm qua, tất cả các thị trường xuất hiện ở Đông – Á đang chứng kiến sự phát triển về lãnh vực kỹ nghệ của họ, và nhiều quốc gia cũng đã và đang trải qua những sự gia tăng về mức độ bất bình đẳng về lợi tức (tiền, lương kiếm được). Nhưng những thay đổi nầy thì rất lớn ở TQ. Sự lệ thuộc nặng nề của TQ vào các ngành xuất khẩu và đầu tư trong nền kỹ nghệ sản xuất đòi hỏi bỏ ra quá nhiều tiền bạc để mua máy móc và trang thiết bị để hổ trợ cho phát triển đã và đang cổ vũ sự gia tăng nhanh chóng của việc tiêu thụ năng lượng (cũng như làm gia tăng sự tàn phá môi trường), sự xây dựng của các khu vực gần bờ biển nhanh hơn quá nhiều so với vùng nội địa của TQ (nơi có 740 triệu người sinh sống, hơn nửa dân số), và sự gia tăng quá nhanh trong thặng dư mậu dịch của TQ (chuyện nầy đã và đang làm gia tăng cao độ các căng thẳng với các quốc gia đối tác).

Một trong những điểm chỉ đáng ghi nhận nhất của sự phát triển không cân đối của TQ là sự thặng dư tiền bạc quá lớn, năm ngoái, số tiền nầy lên tới trên 11% của GDP. [1] Điều nầy phản ảnh thực tế rằng TQ đang tiêu dùng ít hơn là họ sản xuất và kiếm được và rằng TQ có một tỉ lệ cao về tiền tiết kiệm. Mức tiêu thụ của mỗi gia đình TQ chỉ bằng 35% của GDP trong năm 2007, giảm xuống gần 50% so với cách đây 30 năm, khi Bắc Kinh mới bắt đầu những cải cách thị trường. (Mức tiệu thụ của gia đình hiện nay là gần bằng 70% của GDP ở Mỹ và 60% ở Ấn Độ.) Ngược lại, mức tiết kiệm gia đình thì rất cao, vì những người TQ cố gắng (tiết kiệm) để bù trừ lại cho mạng lưới an toàn xã hội mong manh của quốc gia nầy, h
đã giới hạn các chọn lựa để trả tiền cho các món chi tiêu lớn như là giáo dục, và một số ít lựa chọn đầu tư khác ngoài chuyện bỏ tiền vào ngân hàng tiết kiệm.

Các đặc trưng thống kê về dân số (tuổi tác và mức lợi tức) (Demographics) sẽ làm gia tăng các khuynh hướng nầy: khi dân số trở nên già đi, các nguồn tiền bạc truyền thống hổ trợ cho người già – là con cái – sẽ trở thành hiếm hoi.

TQ nên phát triển xa hơn trong lãnh vực tài chánh của họ để giúp giảm bớt tỉ lệ tiết kiệm cá nhân quá độ như hiện nay và gia tăng mức tiêu thụ cá nhân. Với nhiều sản phẩm về tài chánh và các dịch vụ có sẵn để trả tiền cho các chi phí lớn lao và bảo hiểm chống lại chuyện không may (như tai nạn), và với các lựa chọn đầu tư sinh lợi cao hơn, các gia đình người TQ sẽ ở trong một vị trí để tiết kiệm ít lại và tiêu thụ nhiều hơn. Một lãnh vực tài chánh cạnh tranh và năng động cũng sẽ thu hút các nguồn đầu tư vào trong các kỹ nghệ mới ít tiền mua trang thiết bị, chẳng hạn như các công nghệ thông tin và phục vụ, những thứ nầy sẽ lèo lái sự phát triển ủa TQ trong tương lai.

Để bảo đảm sự ổn định, sự phát triển không có tính chất lạm phát trong ngắn hạn và sự phát triển duy trì trong dài hạn, TQ cũng cần các mức giá cả uyển chuyển, đặc biệt, một tỉ lệ hối đoái (trao đổi ngoại hối) linh động. Sự kiểm soát chặc chẻ của Bắc kinh về đồng nhân dân tệ, đi kèm với một sự thặng dư mậu dịch to lớn và số lượng tiền đầu tư của nước ngoài vào TQ quá lớn, đã và đang dẫn tới một sự tích tụ đình trệ về dự trữ trao đổi ngoại tệ. Điều nầy đã và đang khuyến khích Ngân Hàng Nhân Dân của TQ phát ra một số lượng lớn của đồng nhân dân tệ để ngân hàng nầy có thể mua tiền dự trữ ngoại tệ và giữ cho đồng nhân dân tệ khỏi gia tăng giá trị quá nhanhvà rằng, đến lượt, chuyện ấy đã và đang giúp nạn lạm phát về nhiên liệu mặc cho các nổ lực của ngân hàng trung ương hấp thu lượng tiền quá nhiều bằng cách bán ra các công khố phiếu và gia tăng các mức đòi hỏi về mức tiền dự trữ của các ngân hàng trong nước.

Nâng gia trị đồng nhân dân tệ và sự thoải mái linh động lớn hơn trong tỉ lệ trao đổi ngoại tệ có khả năng giới hạn tác động của việc làm gia tăng giá dầu của thế giới và giá cả các nguyên liệu, thực phẩm ở TQ, và cùng lúc ấy cho phép chính sách tiền tệ của TQ trở thành một công cụ có tính hiệu quả trong sự bảo đảm một sự phát triển ổn định.

Giá trị đồng nhân dân tệ mạnh hơn cũng sẽ khuyến khich hoạt động kinh tế trong các lãnh vực của nền kinh tế TQ – đặc biệt là các lãnh vực phục vụ — những lãnh vực nầy sản xuất cho thị trường nội địa. Và điều nầy sẽ giúp gia tăng phần nào của mức tiêu thụ trong gia đình trong nền kinh tế TQ, gia tăng vai trò của nhu cầu trong nước trong việc làm mạnh mẻ sự phát triển của TQ và làm cho sự phát triển ấy có thể kéo dài lâu hơn trong tương lai.

Các đề tài nầy đã và đang là trọng tâm của nhiều cuộc thảo luận ở SED. Kết quả của các cuộc nói chuyện như thế, các nhà lãnh đạo TQ đã và đang nhận ra giá trị của việc điều chỉnh lại tỉ lệ trao đổi tiền bạc, đặc biệt, quan trọng nhất là tăng tốc độ gia tăng giá trị của đồng nhân dân tệ.

Giữa tháng 7-2005, khi chính quyền TQ lần đầu tiên thả lỏng đồng nhân dân tệ khỏi tiền đô Mỹ, và giữa tháng 6- 2008, Bắc Kinh đã chấp thuận cho đồng nhân dân tệ tăng giá so với tiền đô Mỹ khoảng 20% trên cơ bản định danh và 23% trên cơ bản thật sự.

70% của việc tăng giá ấy đã và đang diễn ra kể từ khi SED bắt đầu, và một nửa của sụ tăng giá ấy xẩy ra vào năm ngoái. Rõ ràng TQ đang có nhiều khả năng để tăng giá thêm, nhưng sự tiến bộ ấy cho đến hôm nay là một thí dụ về chuyện làm cách nào mà việc đối thoại chiến lược có thể sinh ra các thành quả.

Nhờ Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), Washington đã và đang làm việc đều đặn để giúp Bắc kinh mở lãnh vực tài chánh của TQ, đang tạo ra các cơ hội mới cho các học viện và cơ quan TQ đầu tư ở ngoại quốc và đầu tư vào ngân hàng Mỹ, công khố phiếu, và các công ty bảo hiểm hoạt động ở TQ, bao gồm luôn cả chuyện cho phép các công ty bảo hiểm nầy đầu tư vào trong thị trường chứng khoáng ở TQ.

Hoa Kỳ và các tổ chức tài chánh ngoại quốc khác là các thủ lãnh kỹ nghệ ở TQ, nhưng họ đang đối diện với các hãng cạnh tranh nội địa đang thúc đẩy việc bảo vệ (hàng nội địa). The SED tiếp tục tìm kiếm các con đường qua đó chính quyền TQ có thể tự do hóa xa hơn nữa các khu vực tài chánh của TQ, bao gồm việc cho phép các công ty nước ngoài phát hành những công khố phiếu và các công trái và mở rộng lãnh vực kinh doanh được cho phép đối với các hãng phát hành công trái.

NHỮNG THỬ THÁCH MẠNH MẺ

Như là hai nhà tiêu thụ lớn nhất và hai nhà nhập cảng dầu nhiều nhất thế giới, Hoa kỳ
và TQ là những đồng minh tự nhiên khi nói đến an ninh năng lượng. Mỹ đã và đang chọn lựa những chính sách thiên về thị trường, thúc đẩy cho sự minh bạch về cung -cầu năng lượng, và cổ vỏ sự phát triển của các nguồn năng lượng thay thế (dầu và xăng), và Mỹ đang khuyến khich TQ làm tương tự. Nhưng Mỹ (một cách khẩn cấp) vẫn còn đang cần một chính sách năng lượng toàn diện để bảo đảm an ninh năng lượng. Và TQ thì cũng như vậy.

Thực tế TQ, nếu ngày nay TQ đã đạt được sự hiệu quả giống như Mỹ đã có trong năm 1970, TQ sẽ tiết kiệm tương đương của 16 triệu thùng dầu mỗi ngày, hay vào khoảng 20% sự tiêu thụ dầu hàng ngày của thế giới.

Có những dấu hiệu thay đổi. Sau nhiều năm xem năng lượng như một đầu vào thuần túy cho sự phát triển kinh tế, hiện nay chính quyền TQ càng ngày càng nhận ra sự cần thiết (thiên về tích cực) kiểm soát nhu cầu năng lượng của họ. Ba yếu tố then chốt đã và đang thúc đẩy sự chuyển tiếp nầy.

Yếu tố thứ nhất là có tính chất kinh tế. Một cách điển hình là TQ đã và đang đặt ra những qui định về giá điện và trợ cấp giá dầu trong một nổ lực để cổ vỏ sự ổn định của xã hội, nhưng các giá cả thấp có tính chất nhân tạo như thế đã và đang khuyến khích sự tiêu thụ không có hiệu quả và tiêu thụ phí phạm, mặc dầu khi cái giá của các chương trình nầy đối với chính quyền đã và đang gia tăng với việc giá cả năng lượng toàn cầu gia tăng. Kết quả, TQ hiện giờ đang đối diện với những thiếu hụt liên tục về dầu cặn diesel và xăng, và nhiều lần khủng hoảng, chính quyền TQ không còn bảo đảm một sự cung cấp đều đặn về năng lượng cho dân chúng của họ — như đã từng xẩy ra suốt thời gian có cơn bảo tuyết đầu năm 2008.

Lý do thứ nhì, các nhà lãnh đạo TQ đã và đang nhận ra rằng sự khan hiếm về tài nguyên đang ngăn chặn khả năng của họ là duy trì sự ổn định chính trị bằng cách cải thiện phẩm chất đời sống của dân chúng. Hiện giờ chính phủ nhận ra sự cần thiết phát triển một mô hình mới ít hao tốn năng lượng cho sự phát triền kinh tế. Một cách đơn giản hiện giờ không có đủ tài nguyên năng lượng để cho phép toàn bộ dân số thế giới, hay ngay cả 1/3 dân số thế giới đại diện là người TQ, hướng tới một kiểu sống có nguồn tài nguyên dồi dào mà người Mỹ đang được hưởng hiện nay. Một cách nào đó để hổ trợ làm gia tăng các mức lợi tức cao hơn, trong lúc đặt ít gánh nặng vào các nguồn tài nguyên nên được tìm ra.

Lý do thứ 3, Bắc kinh biết rõ sự cần thiết kiểm soát năng lượng tiêu dùng đang làm gia tăng sự quan tâm của dân chúng (đặc biệt giữa các tầng lớp cao và trung cao ở Trung Quốc) qua chuyện xuống cấp của môi trường đã gây ra vì xử dụng năng lượng không có hiệu quả. Khoảng 1000 vụ tranh cải nhau về chuyện bảo vệ môi trường đang diễn ra hàng mỗi tuần ở TQ. Đang có sự tổn hại môi trường nghiêm trọng quá đến nổi theo Ngân Hàng Thế Giới đánh giá là các giá cả của sức khỏe và không phải sức khỏe cộng lại và ô nhiễm nước ở TQ lên tới 100 tỉ mỗi năm, hay vào khoảng 5,8% tổng sản lượng hàng hóa và phục vụ sản xuất trong một năm (GDP) của Trung Quốc.

Mặc cho sự lo âu của quốc tế đang qui kết việc xử dụng năng lượng của TQ và những biểu hiện thay đổi môi trường dẫn tới sự thay đổi của khí hậu, điều nầy vẫn chưa phải là một điểm gây sức ép đối với TQ. Các nhà lãnh đạo TQ một cách sắc sảo và nhạy bén đang biết rõ về cái giá khổng lồ của các vấn nạn môi trường và về các giá cả mà Trung Quốc phải trả. Chúng là các cơn lũ và các thiên tai khác, hay sự hăm dọa của các mực nước biển dâng lên tới các thành phố miền duyên hải của quốc gia nầy. Nhưng TQ đang đối diện nhiều đề tài môi trường địa phương có tính chất ngắn hạn và cấp bách hơn – chẳng hạn như không khí và nước bị ô nhiễm, các thứ nầy làm tổn hại sức khỏe dân chúng của họ — và họ xem sự thay đổi khí hậu như là một vấn nạn đã sinh ra bởi các quốc gia kỹ nghệ và bởi vậy các quốc gia ấy phải giải quyết chuyện ấy.

Bắc kinh vẫn còn xem các bàn thảo và các cuộc thương lượng quốc tế về đề tài nầy như là một cơ hội để bắt các quốc gia khác trả cho TQ để giảm bớt tác động lên môi trường về sự phát triển kinh tế của TQ. Những thỏa hiệp hiện hữu đã và đang cho Bắc Kinh lý do để hy vọng cho sự thành công với chiến lược nầy: vào năm 2007, TQ đã nhận được 73% của của các tín dụng về carbon chuẩn bị sẵn sàng dưới Cơ Chế Phát Triển Sạch, một nét đặc điểm của Thỏa Hiệp Kyoto, thỏa hiệp nầy cho phép các quốc gia đã kỹ nghệ hóa chịu nghĩa vụ dưới hòa ước này bằng cách cung cấp tiền bạc cho các dự án giảm sự phát ra các loại khí thải kỹ nghệ trong các quốc gia đang phát triển.

Khi Trung Quốc trỏ thành nước phát ra khí than (carbon) gia tăng nhanh nhất và nhiều nhất thế giới, các nước còn lại của cộng đồng quốc tế đang nhận ra rằng họ không thể đạt được mục đích của họ trong việc thay đổi khí hậu mà không có một sự cam đoan gánh vác chính bởi Bắc Kinh.

May mắn thay, có một phương cách mang tính xây dựng ở phía trước. Khi TQ thực hiện các tiến bộ về năng lượng hi
n nay và những thách thức môi trường bằng cách làm cho nền kinh tế của họ giảm ít cường độ về xử dụng năng lượng hơn xuyên qua việc thực hiện đầy đủ các chính sách như ít khí than (carbon) thải ra, dùng các chiến lược bảo vệ năng lượng và dùng các kỹ thuật mới ít hao tổn năng lượng, thì một phúc lợi có hệ quả tất yếu sẽ là một sự giảm thiểu trong tỉ lệ gia tăng của các khí thải than (carbon) của TQ. Và dầu cho vai trò phát triển của TQ trong nền kinh tế toàn cầu, phúc lợi ấy chẳng bao lâu sẽ trở thành rõ ràng, (trước nhất là đối với phần còn lại của thế giới và rồi đến Bắc Kinh), rằng chính quyền TQ nên gánh vác nhiều trách nhiệm hơn nữa trong việc đáp ứng với thử thách của sự thay đổi khí hậu.

Trong lúc nầy, mặc dầu Mỹ và các quốc gia khác đang túm lấy nhau những thương nghị hiệp định về chuyện thay đổi khí hậu, SED đã và đang tập trung những bàn thảo của họ về các giá cả của sự thay đổi khí hậu đối với Mỹ và TQ. Các sự chia nhánh của chính sách năng lượng của TQ đã và đang là một đề tài phù hợp của cuộc thảo luận tại Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), và tôi đã và đang khuyến khich chính quyền TQ tiến tới một giá cả năng lưởng được xác định bỏi thị trường (thay vì bao cấp giá cả như hiện nay – TH). Bắc Kinh đã và đang có kế hoạch dành cho việc giới thiệu những giá cả thị trường thêm trong lãnh vực năng lượng trong một thới gian tới, nhưng đang lo lắng về sự bất ổn định mà biện pháp ấy có thể gây ra. Quyết định của Bắc Kinh gia tăng giá cả nhiên liệu và xóa bỏ các phụ cấp vào tháng 6 năm vừa qua, ngay sau khi có cuộc họp lần thứ 4 của SED (Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ) và vào lúc có một cuộc viếng thăm của phó thủ tường Wang tới Washington, đã là một bước đi đúng đắn: hành động ấy rất quan trọng cho sự ổn định của TQ mà các cuộc cải cách nên được làm trong lúc kinh tế của TQ vẫn còn mạnh mẻ.

Mỹ và Trung Quốc đang nhận ra rằng cả hai việc an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường là có tính chất cốt yếu đối với sự phát triển lâu dài của họ. Mặc dầu cả hai quốc gia đều có những nhu cầu khác nhau và đối diện với các thử thách khác nhau, cả hai nước muốn đạt được an ninh năng lượng trong lúc duy trì một môi trường lành mạnh. Một trong những thành đạt chính của SED nằm trong số các điều ghi nhận sắp tới là: việc ký kết Khuôn Khổ Làm Việc 10 năm Hợp tác Năng Lượng và Bảo Vệ Môi Trường tại SED vào tháng 6/2008. Khuôn khổ làm việc nầy đang là một cơ chế song phương tập trung vào sự thành lập ra một kiểu mẫu mới có hiệu quả về năng lượng dành cho sự phát triển kinh tế lâu dài và nói lên các yếu tố gây ra sự thay đổi khí hậu xuyên qua những hành động cụ thể. Nhận ra những vấn nạn như thế là quá to lớn cho bất cứ chính quyền nào để sửa chửa một mình, sáng kiến nầy liên quan đến tất cả các cấp của chính quyền, doanh nghiệp, và các lãnh vực khác của xã hội trong cả hai quốc gia và tập trung vào sự phát triển và sự ứng dụng của kỷ thuật mới, việc xem xét lại các chính sách hiện hành, sự triển khai các điều lệ mới và các khả năng tăng cường kiểm soát việc thi hành, và giáo dục cho công chúng có ý thức. Khuôn khổ làm việc nầy đã và đang sản sinh ra những kết quả rất rõ ràng trong các lãnh vực sản xuất ra điện và truyền tải điện, phẩm chất của không khí và nước, giao thông vận tải, và việc bảo vệ rừng và vùng đất ngập nước – gợi lên sự hứa hẹn hợp tác tương lai giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có.

Thông qua khuôn khổ làm việc ấy, Mỹ và TQ đang hợp tác vào việc cùng nhau nghiên cứu về các nhiên liệu có khả năng tái sinh (mặt trời, gió, sóng biển – TH) và các nguồn nhiên liệu thay thế (xe điện, khí hydro, dầu bắp) dành cho giao thông và nghiên cứu về các nổ lực để cải thiện phẩm chất nước của các sông ngòi, các hồ, và các con suối ở Trung Quốc. Những tiến bộ lớn hơn có thể nằm trong những năm sắp tới đây, và khung hình làm việc nầy đã cung cấp cho chính phủ sắp tới (của TT Obama) của nước Mỹ một nền tảng quan trọng cực độ để tiếp tục “mối hôn nhân” kinh tế của Washington với Bắc Kinh.

(Còn tiếp)

Mời các bạn đón đọc phần III

Lời tựa (phác thảo 🙂 để ở cuối: Đây là bài nằm trong một loạt bài chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc và tại Châu Á. Phần thứ nhất của loạt bài nầy dài khoảng 30 ngàn từ, đươc viết bởi các nhà ngoại giao, tài chánh, chính trị đã tham dự từ đầu trong chiến cuộc VN, và với Trung Quốc 1972-1978 cho đến hiện nay. Họ đã và đang đảm nhiệm các chức vụ chính trị, ngoại giao, tài chánh rất quan trọng là tiếng nói của Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, tại Á Châu, Âu Châu và người kia thì có quyền lực tài chánh quan trọng đứng hàng thứ hai của Mỹ.

Loạt bài phần thứ hai (sau 2 tác giả nầy) cũng sẽ được dịch dần dần cho bạn đọc thưởng thức. Loạt bài phần hai có sự tham gia của các chính trị gia khác, (theo sự tiên đoán của TH), đang viết tổng kết mối quan hệ 30 năm giữa Mỹ và TQ (1978-2008) sắp được kỷ niệm vào năm 2009.

Mối hôn nhân giữa Mỹ và TQ ra sao trong 30 năm qua (1978-2008) kể từ khi họ mới quen nhau năm 1972? Mối hôn nhân ấy sẽ như thế nào trong 10 năm sắp tới? và sẽ về đâu trong những năm sau đó? Mối tình Mỹ-Việt, rồi kế đó đã và đang là Mỹ-Trung Quốc, và rồi sẽ là Mỹ …với ai trong 2010-2020?

Loạt bài chính sách đối ngoại với các chuyện bí mật về chính sách ngoại giao, tài chánh, kinh tế, quân sự… có một không hai, bảo đảm sẽ làm quyến rũ say mê từ nh
ng sinh viên cho đến các cụ 90 tuổi và tất cả những ai còn có lòng nghĩ đến đất nước.

Trong loạt bài đó, bạn đọc sẽ nhận ra rất nhiều phần đã và đang được giữ bí mật đến nổi các nhà chính trị gia hàng đầu của Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, và các nhà bình luận về kinh tế báo chí Hoa Kỳ đã, đang vả sẽ ăn ngũ không yên và cũng chỉ đoán già đoán non và không hiểu tại sao Mỹ đã, đang và sẽ làm vậy (Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, …làm vậy) trong 30 năm qua và quan trọng nhất là 10 năm sắp tới Mỹ và TQ sẽ còn làm gì nữa đây…

Loạt bài bằng tiếng Việt nầy chưa từng được dịch ra và đăng trong tất cả các báo chí và website nào ở Việt Nam và báo chí của người Việt ở nước ngoài…đã và đang được TTX Ba Sàm dịch thuật gởi đến bạn đọc để đáp lại những gì các bạn đã và đang đọc trên blog của TTX Ba Sàm.

Đọc loạt bài nầy để hiểu rõ chuyện quá khứ và đang diễn ra của Mỹ và TQ, nhìn thấy tương lai của mối quan hệ nầy, và những mâu thuẩn đang sôi sùng sục trong quốc hội Mỹ trong hơn 10 năm qua và chực chờ ngày bùng nổ vào lúc TT Obama đang lên nắm quyền vào năm 2009.

Các thế hệ trẻ của Việt Nam nên nắm vững các vấn đề nầy để biết mình, biết người, từ đó cần rút ra được bài học gì, làm gì hôm nay, chuẩn bị gì cho tương lai, và khai thác được gì từ những bất đồng về tài chánh, kinh tế sắp nổ ra rất gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc sắp tới… để từ đó biết mình sẽ làm gì …(liệu có thể nắm lấy thời cơ giành lại các vùng biên giới trên bộ đã bị mất vào tay TQ và lấy lại Trường Sa và Hoàng Sa trong các thập niên sắp đến.)

Các bài liên quan với bài nầy:

*Phần 1:

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=644#comments

*Mở cửa Trung Quốc, Khi Đó và Bây Giờ của Richard Holbrooke, từng tham chiến trong lãnh vực Bình Định Nông Thôn tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 1961, và sau đó là cố vấn cho các đại sứ Mỹ Maxell Taylor và Henry Cabot Lodge Jr. VN 1962-1969 (có thể ông nầy có biết ít nhiều về vụ ám sát TT Ngô Đình Diệm(?), là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Đông Á và Thái Bình Dương Sự Vụ 1977-1991, Đại sứ Mỹ tại Đức 1993-1994, phụ tá bộ trưởng ngoại giao Mỹ tại Âu Châu 1994-1996, và đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc 1999-2001. Ông nằm trong ban cố vấn ngoại giao của bà Clinton, và nếu Hillary Clinton thắng cử, người ta nói rằng ông có thể sẽ được cử chức vụ làm bộ trưởng ngoại giao vì sự tham gia công tác ngoại giao suốt 40 năm qua của ông ở Châu Á, Châu Âu,

đọc ở đây:

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=648#comments

*

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Việt Nam Đang Hy Vọng rằng

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Giải pháp Kích thích Có thể

Vực dậy nền Kinh tế

Kế hoạch này Đã làm Sống lại Cuộc tranh luận về Vai trò và những Đòi hỏi của các Doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ.

JAMES HOOWAY

The Wall Stret Journal

Ngày 29-12-2008

Các nhà lãnh đạo Cộng sản của Việt Nam [đang đặt lòng tin] vào một chương trình kích thích trị giá 6 tỉ đô la nhằm bơm [một ít sức mạnh] vào nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại của đất nước này và giúp các nhà xuất khẩu tư nhân thoát khỏi tình cảnh trì trệ trên toàn cầu.

Thế nhưng kế hoạch kinh tế, được loan báo vào tháng này, cũng đang làm sống lại cuộc tranh luận sôi nổi về sự lệ thuộc của chính thể Hà Nội vào [các tập đoàn kinh tế to lớn do nhà nước điều hành], nơi mà các nhà phê bình cho rằng đang đòi hỏi một phần chia sẻ [vượt quá khuôn khổ] các nguồn tài chính của Việt Nam.

Các chi tiết đầy đủ về khoản kích thích cả gói của Việt Nam được mong đợi sẽ công bố vào thứ Tư. Trong số những vấn đề khác, chính phủ đã phát đi dấu hiệu về các kế hoạch đưa ra mức giảm thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân nhỏ để giúp họ đương đầu với tình trạng tăng trưởng được dự đoán là sẽ chậm lại. Chính phủ đã dự kiến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam sẽ là 6,2% – giảm từ mức 8,5% năm ngoái và là tỉ lệ tăng trưởng chậm nhất trong chín năm qua. Họ nhắm giữ mức tăng trưởng trên 6% năm 2009.

Một số doanh nghiệp nhà nước – đóng góp khoảng 40% GDP của Việt Nam – cũng muốn một khoản phân phát tài chính từ chính phủ. Tại một cuộc họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng này, các thành viên hội đồng quản trị của các tập đoàn nhà nước [đã xin được giúp đỡ], làm dấy lên những mối quan ngại rằng các doanh nghiệp lớn đang toan tính sử dụng cuộc khủng hoảng kinh tế để siết chặt ách kìm kẹp của họ đối với nền kinh tế Việt Nam.

Tập đoàn Vận tải Biển Việt Nam, là một ví dụ, đã báo cáo với thủ tướng là họ cần thêm [tiền vốn] và đề nghị chính phủ nới rộng thời hạn cuối cho những [khoản chi trả trể hạn] cho nhà cung cấp chính của mình là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Mạng lưới đường sắt do chính phủ quản lý cũng đề nghị có thêm thời gian cho những khoản nợ phải trả, trong khi Tập đoàn Thép Việt Nam đề nghị có thêm tiền và [được tự do] trong việc ấn định giá bán thép, bất chấp một tình trạng sụt giảm trong nhu cầu tiêu thụ. “Chúng tôi đề nghị chính phủ cấp thêm cho chúng tôi vốn để xây dựng các nhà máy lớn hơn,” ông Đậu Hùng, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn thép đã nói trong cuộc họp, theo truyền thông trong nước cho biết.

Một số nhà kinh tế trong nước đã phản ứng trước những đòi hỏi của các tập đoàn này với thái độ chống đối hiếm thấy trong một đất nước Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ.

[“Các tập đoàn nhà nước là lỗ hổng, là sự thất bại, là điểm yếu nhất trong nền kinh tế của chúng ta,”] đó là nhận xét của ông Nguyễn Quang A, viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển, một nhóm các chuyên gia cố vấn kinh tế ở Hà Nội. “Chính phủ cần phải nhận thức rõ rằng các tập đoàn này làm cho nền kinh tế Việt Nam kém hiệu quả. Với việc ngồi lại và có một cuộc họp với họ, là chứng tỏ rằng chính phủ vẫn đặt họ vào một vị trí cao.”

Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã lao vào một cuộc chi tiêu ồ ạt và đa dạng trong những năm qua khi mà nền kinh tế từng đóng cửa đã chuyển sang bùng phát mạnh mẽ.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hay còn gọi là PetroVietnam, đã bắt đầu xây dựng một khách sạn năm sao tại Hà Nội, trong khi một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất bắt đầu sản xuất bia, khi các nhóm này tìm cách bành trướng ảnh hưởng của mình trong nền kinh tế trước khi [Việt Nam] mở cửa hơn nữa cho các đối thủ cạnh tranh ngoại quốc theo sau việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam năm 2007.

Một số doanh nghiệp nhà nước đã mở các ngân hàng riêng của mình để cung cấp tài chính cho các kế hoạch phát triển của họ và đã sử dụng [tiền thu được từ việc bán công-trái được chính phủ bảo đảm] để xây thành đắp lũy cố thủ cho mình trong những gì thường được được coi là tình trạng độc quyền.

Song các nhà phê bình tin chắc rằng sự ủng hộ của chính phủ cho những tập đoàn này đã bóp nghẹt các doanh nghiệp Việt Nam nhỏ hơn và [làm ăn hiệu quả hơn], và đã kêu gọi ông Dũng hãy giảm bớt tốc độ hỗ trợ khu vực nhà nước này.

Thủ tướng đang có những biện pháp trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ hơn — nơi cung cấp nhiều hàng dệt may của Việt Nam, với lượng hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ra lớn nhất nước – [đang cố gắng chống chỏi] tình trạng suy sụp của nền kinh tế. Ông đã trưng ra những kế hoạch giảm thuế doanh nghiệp ở mức 30% cho các doanh nghiệp nhỏ hơn này trong quý cuối của năm 2008 và cho toàn bộ năm 2009, trong một nghị quyết của chính phủ được đưa ra đầu tháng này.

Chính phủ cũng đã cho biết sẽ cắt giảm một số biểu thuế nhập khẩu và cho phép một số công ty hoãn nộp thuế trong chín tháng đầu năm 2009, [thêm vào đó chính phủ đang hoàn trả lại khoản tiền thuế] giá trị gia tăng của năm nay cho tất cả nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu.

Nội đã có những giải pháp khác nữa để giúp cho các nhà xuất khẩu bằng cách cắt giảm lãi suất ngân hàng năm lần kể từ tháng Mười và cho phép đồng tiền Việt Nam giảm giá đều đặn so với đô la để hàng sản xuất tại Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Hối suất chính thức đã tuột xuống một mức thấp kỷ lục vào hôm thứ Sáu khi 17.495 đồng ăn một đô la và giảm 9% giá trị cho tới lúc này của năm.

Các giới chức [ngân hàng] trung ương trước đây cho biết họ dự định để tiền đồng được định giá thấp dần nhằm giúp Việt Nam vốn phụ thuộc vào xuất khẩu sống sót qua cơn suy thoái toàn cầu và tránh được tình trạng thất nghiệp. [Các hợp đồng tương lai về tiền bạc chỉ ra rằng tiền đồng đang được trông đợi giảm xuống] khoảng 19.000 đến 20.000 đồng ăn một đô la vào thời điểm này của năm sau.

Nếu như ông Dũng xoay xở để chống lại những lời đề nghị từ các doanh nghiệp nhà nước lớn đang mong đợi một miếng to hơn trong chương trình kích cầu, thì theo các nhà kinh tế, Việt Nam có thể nổi lên từ cuộc suy giảm kinh tế toàn cầu thành một quốc gia mạnh hơn. Thế nhưng thủ tướng phải đối mặt với sức chống cự bên trong [hệ thống chỉ huy] của Đảng Cộng sản, nơi mà một số quan chức bảo thủ coi một vai trò lớn của các tập đoàn nhà nước như là biện pháp để duy trì sự kiểm soát của đảng đối với nền kinh tế của Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước là những ông chủ lớn và [tình trạng cho nghĩ việc trên quy mô lớn] có thể làm [yếu đi sức tiêu xài] trong nền kinh tế tiêu thụ mới ra ràng của Việt Nam.

“Vẫn còn có một nguy cơ rất thực rằng chính phủ, trong những thời điểm của cuộc khủng hoảng, sẽ quay lại cậy nhờ vào cơ chế nhà nước,” theo nhận xét của một kinh tế gia đang làm việc trong nhóm tư vấn chính sách của chính phủ.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

DECEMBER 29, 2008

Vietnam Hopes Stimulus Can Lift Economy

Plan Revives Debate on Role and Demands of State-Run Firms

By JAMES HOOKWAY

Vietnam’s Communist leaders are counting on a $6 billion stimulus program to inject some zip into the country’s slowing economy and help its privately owned exporters survive the global slump.

But the economic plan, announced this month, is also reviving a hot debate about Hanoi’s dependence on its huge, state-run conglomerates, which critics say are demanding an outsized share of Vietnam’s financial resources.

Full details of Vietnam’s stimulus package are expected to be announced by Wednesday. Among other things, the government has signalled plans to offer tax breaks to the country’s smaller, privately owned businesses to help them cope with expected slower growth. The government projects Vietnam’s gross domestic product to expand 6.2% in 2008 — down from 8.5% last year and the slowest growth rate in nine years. It aims to keep growth above 6% in 2009.

Some state-owned enterprises — which contribute about 40% of Vietnam’s GDP — also want a financial handout from the government. At a meeting with Prime Minister Nguyen

Tan Dung this month, executives of state conglomerates asked for help, raising concerns that the big companies are looking to use the economic crisis to tighten their grip on Vietnam’s economy.

Vietnam Shipping Lines Group, for instance, told the premier it needed more capital and asked the government to extend the deadline for overdue payments to its main supplier, state-run Vietnam Shipbuilding Industry Group. The state-run railway network also asked for more time to repay debts, while Vietnam Steel Group asked for more cash and for a free hand in setting steel prices, despite a slump in demand. “We propose the government

provides us with more capital to build larger plants,” steel executive Dau Hung told the meeting, according to local media reports.

Some local economists have reacted to the conglomerates’ demands with hostility rarely seen in tightly controlled Vietnam.

“They are the flaw in our economy,” said Nguyen

Quang A, president of the Institute of Development

Studies, a Hanoi-based economic think tank. “The

government should realize that these conglomerates

make Vietnam’s economy less efficient. By sitting down

and have a meeting with them, it shows that the government still puts them on a higher level.”

Vietnam’s state-run enterprises embarked on a massive spending and diversification spree in recent years as the country’s once-closed economy has boomed. The state-run Vietnam Oil and Gas Group, or PetroVietnam, began building a five-star hotel in Hanoi, while one of the largest steelmakers began brewing beer, as the groups sought to expand their influence in the economy before it opens up to more foreign competition following Vietnam’s joining the World Trade Organization in 2007.

Some state enterprises have opened their own banks to finance their expansion plans and have used the proceeds of government-backed bonds to entrench themselves in what are often monopolies.

But critics contend the government’s support for these conglomerates has stifled smaller, more efficient Vietnamese businesses, and have called on Mr. Dung to ease off the statesector

acceleration.

The prime minister is taking steps to help smaller businesses — which produce much of Vietnam’s textiles, its largest manufactured export — weather the economic downturn. He set out plans to reduce corporate tax by 30% for these smaller businesses in the last quarter of 2008 and for the whole of 2009, in a government resolution released earlier this month.

The government also said it would cut some import tariffs and allow some companies to defer tax payments for the first nine months of 2009, in addition to refunding this year’s value-added tax on all materials used for making exported goods.

Hanoi has taken other steps to help exporters by cutting interest rates five times since October and allowing the Vietnamese currency, the dong, to steadily depreciate against the dollar to make Vietnam-made goods more competitive on the international market. The official exchange rate slipped to a record low on Friday to 17,495 dong to the U.S. dollar and has fallen 9% against the currency so far this year.

Central-bank officials have said previously they intend to allow the dong to de
preciate gradually to help export-dependent Vietnam survive the global downturn and avoid job losses. Futures contracts on the currency indicate the dong is expected to fall to around

19,000 to 20,000 to the dollar by this time next year.

If Mr. Dung manages to resist the overtures from the large state enterprises looking for a bigger slice of the stimulus program, economists say Vietnam could emerge from the global slowdown in a healthier state. But the premier faces resistance within the

Communist Party hierarchy, where some conservative officials see a large role for state conglomerates as a means of maintaining party control over Vietnam’s economy. The state enterprises are major employers and large-scale lay offs could crimp the spending

power of Vietnam’s fledgling consumer economy.

“There is still a very real risk that the government, in times of crisis, will revert back to relying on state mechanisms,” said one Vietnamese economist working at government policy-advisory panel.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Việt Nam Đang Hy Vọng rằng

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »