Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai 26th, 2008

Quan Hệ Ngoại Giao Mỹ và Trung Quốc 1978

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2008

Mở cửa Trung Quốc,

Khi đó và Bây giờ

Richard Holbrooke

Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ tại vùng Đông Á và Thái Bình Dương 1977-1991

Richard Holbrooke
Richard Holbrooke

Tiểu sử: Phục vụ tại VN từ 1962-1969 như đại diện dân sự của cơ quan Phát Triển Quốc tế, hoạt động ở Đồng Bằng Sông Cửu Long phụ trách về kinh tế cho chương trình bình định và phát triển nông thôn, và rồi trở thành phụ tá cho Đại sứ Maxwell Taylor and Henry Cabot Lodge, Jr. Sau đó trở thành Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ tại vùng Đông Á và Thái Bình Dương 1977-1991, Đại sứ Mỹ tại Đức 1993-1994, Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ tại Âu châu 1994-1996, và Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc 1999-2001

*****

WASHINGTON, DC – Quyết định mở cửa của Mỹ đối với Trung Quốc do Tổng thống Richard Nixon và cố vấn Henry Kissingger thực hiện vào năm 1971-1972 là một cú đột phá có tính chất lịch sử. Ít nổi tiếng, nhưng quan trọng tương đương, là [bước tiến chính thức] tiếp theo, được thực hiện bởi Tổng thống Jimmy Carter đúng 30 năm trước, bằng việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao [toàn diện] giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nếu như không có hành động này, được loan báo vào ngày 15-12-1978, thì các mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc [không thể nào vượt quá] một cuộc tiếp xúc nhỏ nào đó, ở cấp cao với một chương trình nghị sự có giới hạn.

Khi họ [rời khỏi chức vụ] vào năm 1977, Tổng thống Gerald Ford và ông Kissinger đã để lại [đàng sau một mối quan hệ còn dang dỡ] và (bởi vậy) không ổn định với Trung Quốc. Hoa kỳ [lúc ấy] vẫn còn công nhận Đài Loan, dưới cái tên Cộng hòa Trung Hoa, [như là chính phủ duy nhất và hợp pháp ở Trung Quốc]. Từ năm 1972, Mỹ và Trung Quốc đã duy trì “các văn phòng liên lạc” nhỏ tại thủ đô mỗi nước, mà không có sự thừa nhận. Những liên lạc [chính thức] rất hạn chế, và mậu dịch song phương hàng năm chỉ dưới 1 tỉ đô la. (Ngày nay, nó là một con số đáng kinh ngạc 387 tỉ đô la).

Tổng thống Carter khi nhận chức đã hy vọng bình thường hóa các mối quan hệ với Trung Quốc. Điều đó sẽ đòi hỏi phải [chuyển hướng công nhận của Mỹ ] từ Đài Loan sang đại lục. Một số người nhìn nhận nó tựa như là một sự [thừa nhận đơn giản về thực tế], nhưng sự thật đó là] một bước đi quan trọng đòi hỏi sự khéo léo về ngoại giao và thái độ can đảm chính trị.

[Đối với Hoa Kỳ một các nào đó phải được tìm ra, trong khi vừa công nhận Trung Quốc, vừa tiếp tục cư xử] với chính phủ ở Đài Loan theo cách không thừa nhận yêu sách của họ đòi đại diện cho Trung Quốc; điều quan trọng nhất, là Hoa Kỳ phải giữ quyền bán vũ khí cho Đài Loan. Từ một quan điểm chính trị, đã có cuộc vận động hành lang nổi tiếng của Đài Loan, một trong những hoạt động mạnh mẽ nhất tại Hoa Kỳ, vẫn bị chế ngự bởi cánh bảo thủ trong giới chính trị Mỹ.

Được dẫn dắt bởi “Ngài Bảo Thủ” của Mỹ, Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, và đối thủ hàng đầu cho đợt bổ nhiệm của Đảng Cộng hòa năm 1980, ông Ronald Reagan, nhóm vận động hành lang cho Đài Loan định chống lại việc bình thường hóa [với Trung Quốc] bằng mọi cách. (Ông Goldwater đã đưa chính phủ Hoa Kỳ ra Tòa án Tối cao để thách thức hành động của ông Carter, nhưng không thành; ông Reagan, trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm 1980, đã hứa [trong chừng mực nào đó rằng sẽ hủy bỏ việc bình thường hóa, và rồi từ bỏ lập trường đó sau khi ông đã thắng cử.)]

Câu chuyện dài đã mở ra trong hai năm đầu tiên của chính quyền Carter, hoàn toàn thoát khỏi tầm nhìn của công chúng, ngoại trừ hai chuyến đi quan trọng tới Trung Quốc, một của Ngoại trưởng Cyrus Vance, và một của Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brezinski. [Không thể nào tin rằng là những người chúng tôi] từng dính líu vào tiến trình này (tôi lúc đó là trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương) [đã thành công giữ những cuộc thương nghị căng thẳng ấy trong vòng bí mật hoàn toàn.]

Người Trung Quốc đã đòi hỏi một quyết định cắt đứt hoàn toàn các quan hệ chính thức giữa Đài Loan và Hoa Kỳ, bao gồm cả việc bán vũ khí. Hiểu rõ rằng một động thái như vậy sẽ kích động một thái độ giận dữ ghê gớm ở trong nước, [chúng tôi] đã tìm kiếm một công thức cho việc tiếp tục các mối liên lạc chính thức và việc mua bán vũ khí với Đài Loan thậm chí sau khi [chúng tôi] đã [không công nhận họ] và chấm dứt hiệp ước an ninh chung được phê chuẩn trong những năm dưới thời Tổng thống Eisenhower.

Không có tiền lệ cho vấn đ
ề này trong luật của Mỹ hay luật pháp quốc tế. Với lời khuyên của [cựu Tổng trưởng Tư pháp] của Tổng thống Eisenhower, ông Herbert Brownell, các luật sư của Bộ Ngoại giao đã phác thảo Luật về Các mối Quan hệ với Đài Loan, một bộ luật không giống với bất cứ bộ luật nào khác trong lịch sử nước Mỹ, luật cho phép chính phủ Hoa Kỳ [tiến hành hoạt động thương mại với Đài Loan, bao gồm cả mua bán vũ khí, mà không công nhận Đài Loan là một quốc gia].

Thế nhưng khi [chúng tôi] giải thích với Trung Quốc lý do vì sao điều này là cần thiết [để công nhận họ, họ đã từ chối một cách đột ngột]. Họ muốn giao thương và các lợi ích khác qua việc công nhận, là thứ đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia trong thời buổi Chiến tranh Lạnh đó, khi Trung Quốc là kẻ thù ghê gớm đối với Liên bang Xô Viết, với những biểu hiện gần như sắp đi tới chiến tranh chỉ trong một vài năm trước đó. Song Đài Loan vẫn còn là một chướng ngại vật khổng lồ có vẻ như không thể vượt qua được.

Cú đột phát đã đến vào cuối năm 1978, và được chọn đúng thời điểm một cách thận trọng bởi Tổng thống Carter theo sau các cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ. Nhân tố quan trọng nhất nằm trong [cú đột phá này chắc có lẽ] là sự xuất hiện của ông Đặng Tiểu Bình như là nhà lãnh đạo tối cao mới nổi lên của Trung Quốc. (Ông Mao đã chết năm 1976).

Ông Đặng, người đã bị buộc phải đội một chiếc mũ lừa bằng giấy và tự tố cáo mình [trong thời kỳ điên đảo] của cuộc Cách mạng Văn hóa, [đã thành công thực hiện được một sư trở lại] vĩ đại nhất mà ta có thể mường tượng được, và vào mùa thu năm 1978, [sau cùng ông đã có đủ quyền lực để thỏa thuận với Hoa kỳ]: Trung Quốc sẽ [không “đồng ý” việc bán vũ khí hay các hoạt động khác của Mỹ với Đài Loan, nhưng hai quốc gia sẽ tiến tới bình thường hóa quan hệ ngoại giao]. Đó là một ví dụ thuộc hàng kinh điển trong lối thương thuyết của Trung Quốc: cứng rắn trên nguyên tắc, [mềm dẻo trong những chi tiết.]

Tôi đang bỏ quên nhiều điều ở đây – đây là một cuộc thương thảo phức tạp – song đó là bản chất của nó. Vào tháng Một năm 1979, ông Đặng đã thực hiện một chuyến đi lịch sử của mình tới Hoa Kỳ, bắt đầu bằng một bữa tối riêng tư tại nhà của ông Brzezinski và đã đạt đến thành công tột đỉnh với bữa tối theo nghi thức Quốc gia hiếm hoi nhất trong những năm Tổng thống Carter tại vị [(cũng điều đáng ghi nhận] đối với chuyến viếng thăm đầu tiên của Tổng thống Nixon tới Wasington kể từ khi ông từ chức; tôi ngồi cùng bàn với Nixon, và đã giữ lại một cái thực đơn mà mọi người cùng ký vào buổi tối hôm đó).

Tại nhà ông Brzezinski, ông Đặng đã kể về những giấc mơ của mình cho một nước Trung Hoa mà ông biết mình có lẽ sẽ không còn sống để nhìn thấy. Ông tin rằng Trung Quốc [có khả năng nhảy vọt để bù đắp lại những năm tháng mà thế giới đã vượt qua mặt TQ], song chỉ với sự trợ giúp của mỹ. Ông sẵn sàng hợp tác [để bao vây Liên Xô], thậm chí thỏa thuận thiết lập những trạm nghe lén tình báo bí mật của Mỹ dọc theo biên giới Trung Quốc để theo dõi tên lửa Sô Viết.

Ông Đặng đã đoán trước một cách chính xác những trao đổi rộng lớn về đào tạo sinh viên, phát triển công nghệ hiện đại, và thương mại. Hơn bất cứ quan chức Mỹ nào khác, ông ta đã lường trước được những gì mà việc mở cửa của Mỹ với Trung Quốc sẽ đạt tới. [Nhưng dầu vậy] ông Đặng có thể đã không hình dung ra hoàn toàn những gì được mở ra bởi thông báo vào ngày 15-12-1978 – [không có gì ít hơn] sự phát triển mối quan hệ song phương quan trọng giữa hai quốc gia trên thế giới lúc này.

Richard Holbrooke, trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương vào thời điểm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1978, ông thường viết cho chuyên mục hàng tháng của tờ The Washington Post.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

———————————

Project Syndicate

————

Opening China, Then and Now

by Richard Holbrooke


WASHINGTON, DC – America’s opening to China by Richard Nixon and Henry Kissinger in 1971-1972 was a historic breakthrough. Less famous, but of equal importance, was the next major step, taken by Jimmy Carter exactly 30 years ago, establishing full diplomatic relations between China and the United States. Without this action, announced on December 15, 1978, US-China relations could not have moved beyond a small, high-level connection with a limited agenda.

As they left office in 1977, President Gerald Ford and Kissinger left behind an incomplete and therefore unstable relationship with China. The US still recognized Taiwan, under the name of The Republic of China, as the legitimate and sole government of China. Since 1972, America and China maintained small “ liaison offices” in each other’s capitals, without recognition. Official communications were very limited, and annual bilateral trade was under $1 billion. (Today, it is a staggering $387 billion.)

Carter took office hoping to norm
alize relations with China. This would require switching American recognition from Taiwan to the mainland. Some saw this as a simple acknowledgement of reality, but in fact it was a momentous step that required diplomatic skill and political courage.

A way would have to be found for the US, while recognizing China, to continue dealing with the government on Taiwan without recognizing their claim to represent China; most important, the US had to retain the right to sell arms to Taiwan. From a political point of view, there was the famed Taiwan lobby, one of the most powerful in the US, still dominated by the conservative wing of American politics.

Led by America’s “Mr. Conservative,” Senator Barry Goldwater, and the leading contender for the 1980 Republican nomination, Ronald Reagan, the Taiwan lobby would fight normalization all the way. (Goldwater took the US government to the Supreme Court to challenge, unsuccessfully, Carter’s action; Reagan, in the 1980 presidential campaign, pledged partially to undo normalization, only to abandon that position after he was elected.)

The saga unfolded over the first two years of the Carter administration, entirely out of public view, except for two important trips to China, one by Secretary of State Cyrus Vance, the other by National Security Advisor Zbigniew Brzezinski. Incredibly, those of us involved in the process (I was then Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs) managed to keep our intense negotiations completely secret.

The Chinese demanded a complete severing of all official ties between Taiwan and the US, including arms sales. Knowing that such a move would provoke an enormous backlash domestically, we looked for a formula for continuing official contacts and arms sales with Taiwan even after we had de-recognized them and terminated the mutual security treaty ratified during the Eisenhower years.

There was no precedent for this in American or international law. With advice from Eisenhower’s former Attorney General, Herbert Brownell, State Department lawyers drafted the Taiwan Relations Act, a law like no other in American history, which allowed the US government to conduct business with Taiwan, including arms sales, without recognition.

But when we explained to China why this was necessary in order to recognize them, they balked. They wanted trade and other benefits of recognition, which would benefit both nations in those Cold War days, when China was fiercely hostile to the Soviet Union, with which it had almost gone to war only a few years earlier. But Taiwan remained a huge, seemingly impossible obstacle.

The breakthrough came in late 1978, and was carefully timed by Carter to follow the mid-term congressional elections. The most important factor in the breakthrough was probably the emergence of Deng Xiaoping as China’s new paramount leader. (Mao had died in 1976).

Deng, who had been forced to wear a dunce cap and denounce himself during the insanity of the Cultural Revolution, had achieved the greatest comeback imaginable, and in the fall of 1978, he finally got enough power to cut a deal with the US: China would not “agree” to American arms sales or other activities with Taiwan, but they would proceed with normalization anyway. It was a classic example of Chinese negotiating style: firm on principle, flexible on specifics.

I am leaving a lot out here – this was a very complicated negotiation – but that was the essence of it. In January 1979, Deng made his historic trip to the US, which began with a private dinner at Brzezinski’s house and climaxed with the most sought-after State dinner of the Carter years (also remarkable for Richard Nixon’s first visit to Washington since he had resigned; I sat at Nixon’s table, and retain a menu that everyone signed that night).

At Brzezinski’s house, Deng talked of his dreams for a China that he knew he would not live to see. He believed China could

leapfrog the lost years in which the world had passed it by, but only with American support. He was ready to cooperate on containing the Soviet Union, even agreeing to the installation of secret American intelligence listening posts along China’s border to track Soviet missiles.

Deng accurately foresaw a vast exchange of students, modern technology, and trade. More than any American official, he anticipated what the American opening to China would accomplish. But even Deng could not fully imagine what would be unleashed by that announcement of December 15, 1978 – nothing less than the development of the most important bilateral relationship in the world today.

Richard Holbrooke, assistant secretary of State for East Asian and Pacific Affairs at the time of normalization of relations with China in 1978, writes a monthly column for The Washington Post.

Copyright: Project Syndicate, 2008.
http://www.project-syndicate.org


Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Chính Sách Đối ngoại giữa Mỹ và Trung Quốc-phần 1

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2008

Sự Tham Dự Kinh Tế Chiến Lược Làm Mạnh Thêm Các Mối Quan Hệ Giữa Mỹ và Trung Quốc

Henry M. Paulson Jr.

Bộ trưởng Tài Chánh 2005-2009.

Vụ Đối Ngoại

Số báo: Tháng 9/ Tháng 10 năm 2008

Người dịch: Trần Hoàng

Tóm tắt: Sự thịnh vượng của Hoa kỳ và Trung Quốc đang lệ thuộc vào sự giúp đỡ TQ hội nhập xa hơn vào trong hệ thống kinh tế địa cầu.

Phần I

*****

Một trong những thách thức đầu tiên mà vị tổng thống Mỹ sắp tới đây sẽ đối diện sẽ là làm thế nào đáp ứng tới sự xuất hiện của TQ như là một cường quốc của địa cầu. Một số người gợi ý rằng TQ là một sự hăm dọa nên bị tấn công hay bị bao vây. Những người khác bàn rằng sự phát triển của TQ là một cơ hội cho nền kinh tế Mỹ và rằng Washington nên quản lý cường quốc đang trổi dậy nầy thông qua sự tham dự. Tôi tin rằng tham dự là con đường duy nhất để thành công.

Tổng thống George W. Bush đã chọn lựa đường lối nầy, và đang thành công. Những mối quan hệ giữ Mỹ và TQ thì tích cực ngày nay hơn từng có trước đây, một phần là bởi vì TT Bush đã thu được sự chú ý và giành được cảm tình của Bắc Kinh và ông đã làm thế dựa trên sự nhận ra hai mục tiêu ưu tiên của TQ: toàn vẹn lãnh thổ và phát triển kinh tế. Mặc dầu nếu có thể ngăn chận sự phát triển của TQ, chuyện ấy đã không phải là điều quan tâm của Mỹ để thử làm. Sự nổi lên nhanh chóng của TQ như một cường quốc kinh tế trên toàn cầu đang bày ra một số thách thức trên nhiều lãnh vực từ thương mại và đầu tư tới những thị trường hàng hóa và lãnh vực môi trường. Nhưng sự lệ thuộc liên đới không thể thoát ra được của sự phát triển của TQ và sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi một chính sách của sự tham dự. Thực tế, sự quan trọng không thể nào cải được của sự phát triển kinh tế đối với các nhà lãnh đạo TQ đang bày ra những ý nghĩa tốt đẹp nhất của ảnh hưởng của sự nổi lên của TQ như một cường quốc và khuyến khích sự hội nhập của TQ vào trong hệ thống quốc tế.

Tuy nhiên, để có tính chất hiệu quả, Washington trước hết nên hiểu những niềm quyền lợi của Bắc Kinh và những thủ thách mà TQ đang đối diện. Người TQ xem sự phát triển kinh tế như là có điều chủ yếu tới sự ổn định của họ. 30 năm phát triển kinh tế đã và đang biến đổi quốc gia của họ, đang mang lại hòa bình và ổn định và mang nhiều trăm triệu người thoát khỏi sự nghèo khổ. Những người TQ hãnh diện sâu xa về những sự thành đạt của họ nhưng cũng quan tâm về khả năng của họ để chấp nhận những thành đạt ấy. Các nhà lãnh đạo của họ, trong lúc nầy, đang nhận ra rằng tương lai của TQ lệ thuộc vào sự gia tăng hội nhập vào trong nền thương mại, đầu tư, và thị trường tài chánh toàn cầu

Mỹ và Trung Quốc chia chung nhau nhiều quyền lợi, nhưng như trong bất cứ mối quan hệ phức tạp và rộng rãi nào thì cũng không thể nào tránh được, họ cũng có những điểm khác biệt quan trọng. Khi nói đến sự hiện đại hóa quân đội của TQ, sự tăng cường về các quyền sở hữu trí tuệ, và hồ sơ nhân quyền của họ, Washington và Bắc Kinh có những quan điểm khác nhau mạnh mẻ và đôi khi tranh chấp nhau về các quyền lợi. Đối với những đề tài như thế, Washington nên vừa trực tiếp và cương quyết trong các nổ lực của họ để theo đuổi các quyền lợi của Mỹ một cách song phương hay, nơi thích hợp, đa phương. Một đường lối như thế sẽ gây ra những căng thẳng một cách không đổi, vì đôi khi nó cũng xảy ra trong các mối quan hệ của Mỹ với các quốc gia khác. Nhưng, những khác biệt với TQ thì không nên cho phép cản trở con đường tiến bộ và hợp tác.

Mỹ và TQ – và, tóm lại, cộng đồng quốc tế — chia sẻ cùng nhau một niềm quan tâm mạnh mẻ vào sự hội nhập thành công của TQ vào trong hệ thống kinh tế địa cầu. Sự thịnh vượng của cả hai quốc gia lệ thuộc vào khả năng của mỗi nước để đạt được sự phát triển kinh tế quân bình, trên sự ổn định và thương mại và các thể chế tài chánh, trên sự khác biệt và các nguồn năng lượng đáng tin cậy, và trên tiến bộ có thể xác nhận được để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

HIỂU BIẾT Trung Quốc

Trong năm 2006, TT Bush và chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đề ra chương trình Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) để điều hành và giải quyết những căng thẳng trực tiếp giữa hai quốc gia và những mối quan hệ mở rộng của cả hai nước trong dài hạn. Đường lối nầy đã và đang thành công, phần lớn bỏi vì Mỹ đã và đang nhận ra những thực tế của TQ, không như nhiều người Mỹ tưởng tượng TQ. Thí dụ, Washington hiểu rằng sự phát triển kinh tế kéo dài và mạnh mẻ của TQ là một nhu cầu xã hội đối với TQ và rằng Bắc Kinh xem các mối quan hệ quốc tế chủ yếu xuyên qua những lăng kính kinh tế. Vì vậy, tiến gần Bắc Kinh xuyên qua các đề tài quan tâm về kinh tế đối với cả hai nước là một cách rất hiệu quả để sản sinh ra các kết quả rất rõ ràng trong các lãnh vực kinh tế lẫn không phải là kinh tế.

Có lẻ, hậu quả của những kỷ niệm khó khăn của họ về kế hoạch tập trung, nền kinh tế độc lập tự sản -xuất- tự -tiêu thụ, và huy động hóa toàn dân (đi theo một phong trào) cách đây mấy chục năm trước, các nhà lãnh đạo ngày nay đang cam kết cải thiện, ít nhất là suốt thời gian TQ cải thiện sự ổn định về kinh tế và chính trị của quốc gia nầy. Mỗi viên chức TQ trên lớp tuổi 50 đã trải qua những tai họa của thời kỳ Đại Nhảy
Vọt và cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Trong một nước hiện nay quá năng động quá đến nổi mà toàn bồ nhiều khu nhà có thể bị phá sập và xây dựng lại trong hai tuần, người ta đang tìm kiếm sự ổn định và quân bình. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói rằng công việc của chính quyền Trung Quốc là bảo đảm sự “hài hòa và cân đối,”

Và niềm tin nầy đang củng cố khuynh hướng của Bắc Kinh là hướng tới sự chú ý trong khi đưa ra các quyết định. Vì vậy, với mỗi chính sách, Bắc kinh đều xem xét liệu có cơ nguy gì hơn để đi một cách nhanh chóng, hay đi chậm chậm trên con đường cải cách. Sự thách thức đối với Washington là để hiểu sự nhận thức của TQ về quyền lợi riêng của chính họ, xác định các cơ hội để khuyến dụ TQ rằng quyền lợi của họ và quyền lợi của Hoa kỳ thường thường là giống nhau, và thu hẹp các khó khăn thật sự bất cứ khi nào có thể được.

Mặc dù lịch sử lâu dài về sự tương tác của hai quốc gia nầy, thường thường họ biểu lộ một khả năng đáng kinh ngạc nào đó để rồi hiểu lầm lẫn nhau. Một mối quan hệ phong phú đòi hỏi rằng các nhà làm chính sách người Mỹ và người TQ phải gặp gỡ nhau tại các cấp cao nhất trong nhiều cách để giảm thiểu những nhận thức sai lạc và những cuộc trao đổi nói chuyện với nhau thiếu rõ ràng và không hiểu nhau.

Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) đoạt được điều nầy bằng cách tập trung vào các cuộc đối thoại giữa những viên chức hàng đầu, những người nầy đối xử lẫn nhau trong sự bình đẳng và nói về các đề tài ở mức độ chiến lược. Thí dụ, một hiệp định phục vụ hàng không dân dụng song phương đã được bao gồm trong cuộc họp SED lần thứ nhì vào tháng 5/ 2007. Những cuộc thảo luận ở mực độ thấp hơn về đề tài nói trên trước đó đã bị tắc nghẽn trong một khoảng thời gian bởi vì Trung Quốc đã từng tập trung vào sự phát triển cạnh tranh kỷ nghệ hàng không trong nước của họ và giới hạn sự cạnh tranh có tính chất quốc tế. Nhưng thông qua SED, nhóm Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ, tôi đã mang đề tài nầy ra nói chuyện với người có cùng chức vụ với tôi là phó thủ tướng Wu Yi, và tôi đã cắt nghĩa bằng cách nào sự trao đổi của người và hàng hóa gia tăng giữa hai quốc gia chúng ta sẽ làm tăng cường mối quan hệ giữa hai nước. Nhờ hiệp định nầy, các chuyến bay của Mỹ tới TQ và rời khỏi TQ sẽ gia tăng hơn gấp hai lần trước năm 2012, và các công ty không vận hàng hóa từ cả hai quốc gia sẽ thỏa mãn hoàn toàn sự tự do hóa của nền kỹ nghệ nầy, bao gồm bãi bỏ các giới hạn về số lân các chuyến bay và giá cả của các chuyến bay, trước năm 2011.

BÌNH DẲNG VÀ TIN CẬY

Những người TQ thì rất hãnh diện về sự nổi lên của nước họ vào sân khấu của thế giới và tìm kiếm danh tiếng dành cho những thành đạt của họ. Sau gần 200 năm bị cai trị bởi các cường quốc, TQ hiện nay cảm thấy thật là quan trọng để bảo vệ các quyền lợi quốc gia của họ, một cách đặc biệt là chống lại các đòi hỏi của ngoại quốc. Không may, Mỹ thường thường bị người khác nhận thức là kẻ kiêu ngạo và gây hấn trong các tác động qua lại với TQ, ngay cả khi Mỹ đã và đang theo đuổi các quyền lợi hợp pháp.

Các giới chức người Mỹ đạt được hiệu quả nhiều hơn khi họ hiểu biết viễn cảnh của người TQ. Đây là một lý do tại sao tôi du hành tới TQ rất thường xuyên; không có điều gì có thể thay thế cho những cuộc gặp gỡ cá nhân với các nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định, đặc biệt ở TQ, nơi mà lòng kính trọng và tình thân hữu là đặc biệt rất có giá trị. Các nhân vật có cùng chức vụ với tôi trong Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), như Phó thủ tướng Wang Qishan và, người tiền nhiệm của ông ta, lúc ấy là phó thủ tướng Wu, đã và đang nhấn mạnh rằng về sự quan trọng của sự tin cậy lẫn nhau. Thiết lập các mối quan hệ ở hàng cao cấp nhất của chính quyền TQ đã và đang là điều then chốt đối với sự thành công của chính quyền Hoa kỳ bằng chương trình SED.

Một trong những lý do xây dựng mối liên hệ là rất quan trọng đó là những quyết định của chính quyền ở TQ thường được làm theo sự đồng thuận và sau khi có nhiều cuộc tham khảo. Sự cải cách tiến bộ tốt nhất khi mà một cái dù của sự hổ trợ ở mức hàng cao cấp nhất giúp thay đổi các nhân vật ở chức vị thấp hơn. Một cách chính thức, những quyết định quan trọng nhất được đưa ra bởi chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, nhưng một cách không chính thức, nhiều quyết định (càng ngày càng gia tăng) được đưa ra thông qua một tiến trình hướng về sự đồng thuận liên quan giữa các bộ trưởng có quyền lực nhất.

Cơ quan liên hệ nhau ở bậc cao của SED đang nhận ra được thực tế nầy và mời những người có quyền quyết định nầy tới bàn hội nghị để xây dựng sự hổ trợ rộng rãi cho sự cải tổ.

Khi Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) lần đầu tiên được đưa ra vào tháng 9 – 2006, rất ít người tin rằng nhiều sự tiến bộ là có thể xẩy ra. Nhiều người ở Mỹ và TQ đã cảnh giác tôi rằng thời điểm hiện tại rất xấu không thể nào thảo luận về các vấn đề kinh tế. Các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ chỉ cách chừng vài tháng nữa, chiến dịch vận động bầu cử tổng thống Mỹ đã và đang thành hình, và Bắc Kinh đang chuẩn bị để bổ nhiệm một thế hệ mới của các nhà lãnh đạo. Tuy vậy, tôi đã tin rằng tham dự trực tiếp là con đường duy nhất hướng tới phía trước: đã có quá nhiều đề tài chỉ trích giữa Mỹ và TQ mà đơn giản là không thể nào chấp nhận để mặc cho trôi đi mà không có phương hướng chiến lược

Kết quả là Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), ở TQ ban nầy được sự lãnh đạo bởi cấp phó thủ tướng ở TQ, và ở phía Mỹ được lãnh đạo bởi vị bộ trưởng kinh tế tài chánh, và có người đại diện ở cấp bộ từ tất cả các bộ trong chính quyền với các trách nhiệm dành cho các đề tài về kinh tế. Để phá vở những cái hầm cố thủ truyền thống trong chính quyền, các bộ trưởng trong nội các của Mỹ và Trung Quốc tham dự mỗi cuộc họp, tất cả các cuộc gặp gỡ đều do vị phó thủ tướng và tôi chủ trì. Những cuộc bàn luận đủ thứ các đề tài chiến lược khác nhau, về các điều lo ngại tức thì thời và lâu dài, và hầu hết là các đề tài chưa có trong qui định. Không như trong các cuộc đối thoại kinh tế giữa Mỹ và TQ, trong Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) những điều cam kết của mỗi bên được thâu băng lại và được phát thanh ra cho mọi người nghe công khai vào cuối những cuộc họp, và rồi được xem xét lại ở các vị có chức vụ cao cấp nhất để bảo đảm rằng các vấn đề hoàn toàn đang được thi hành đầy đủ.

Nhận ra rằng sự hổ trợ và sự tham dự tích cực của văn phòng của tổng thống Mỹ và chủ tịch nước TQ trong những vấn đề kinh tế rộng lớn hơn là rất quan trọng trong cả hai quốc gia, mỗi năm hai lần các chính quyền TQ và Mỹ tổ chức các cuộc gặp gỡ ở cấp bộ trưởng, những cuộc hội họp ấy luôn có sự tham dự của vị nguyên thủ quốc gia đứng ra tổ chức cuộc họp. Tôi đã và đang có sự thường xuyên và chào đón việc gặp gỡ chủ tich Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia bảo để nói về các đề tài kinh tế quan trọng nhất trong mối liên hệ TQ và Mỹ.

Vào tháng 8 năm 2007, tôi đã bàn luận về tác động ngược lại của dân tộc chủ nghĩa kinh tế trong cả hai nước Mỹ và TQ với chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Tôi đang tin rằng cuộc bàn luận ngay thẳng của chúng tôi, là đặt trọng tâm lên các lãnh vực quyền lợi cả hai bên, chẳng hạn như mở cửa thị trường của quốc gia nầy cho sự đầu tư và thương mại của quốc gia kia và ngược lại, chuyện nầy đã làm cho Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào hiểu biết rõ hơn tại sao sự ổn định và phát triển của TQ lệ thuộc vào sự di chuyển của TQ hướng về phía trước với sự tự do hóa, mặc cho sự chống cự từ nền công nghệ nội địa.

Phương pháp liên lạc giữa cơ quan nầy và cơ quan kia của SED (Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ) cũng cho phép tất cả các bộ trưởng TQ và các nhân viên trong nội các của Mỹ lắng nghe những cuộc bàn cải từ khắp các phía, và rằng, đến lượt họ, thông báo tiến trình đưa ra quyết định. Thí dụ, vị thống đốc của Ngân Hàng Nhân Dân của TQ, tên là Zhou Xiaochuan, không tự mình quyết định tốc độ gia tăng giá trị của đồng nhân dân tệ; thông qua SED, tất cả các bộ trưởng TQ có liên quan trong quyết định ấy có thể thảo luận với các đại diện của Hoa Kỳ. Vào cuộc họp lần thứ 2 của SED, ở Washington vào tháng 5-2007, vị thống đốc của hệ thống ngân hàng dự trử Liên Bang Ben Bernanke đã nhấn mạnh với 15 vị bộ trưởng TQ về sự khẩn cấp của tái cân bằng lại sự phát triển của TQ và cải thiện lại chính sách trao đổi tỉ giá hối đoái. Hiếm khi nào trong lịch sử của các mối quan hệ của TQ và Mỹ đã có cơ hội để nói chuyện trực tiếp như thế đó tới toàn bộ các nhà lãnh đạo kinh tế cùng một lần về một thử thách kinh tế quan trọng thúc bách như thế. Tương tự, sự hiểu biết của nội các của Mỹ về các cải tổ của TQ khi họ lắng nghe lần đầu các nhà làm chính sách hàng đầu người TQ cắt nghĩa những nguyên lý cơ bản về các vị trí của họ.

Khuyến khích sự liên lạc giữa các viên chức trong chính phủ tối đa hoá những thành quả đạt được. Trước cuộc gặp gỡ vào tháng 12-2007 của SED’s, Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường của TQ, hay SEPA (được gợi vậy kể từ khi được nâng cấp lên trở thành Bộ Bảo Vệ Môi Trường), đã và đang làm việc với Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường của Mỹ trong nhiều năm trời về chương trình trao đổi khí thải chất lưu huỳnh (Sulfur dioxide) ở Trung Quốc. Bộ Môi Trường của TQ đã chỉ đạo các dự án hướng dẫn tại địa phương nhưng đã không thành công trong việc mở rộng nổ lực của bộ trên toàn quốc. Sau khi SED đã mang cuộc thảo luận nầy tới các văn phòng của Hội Đồng Bộ Trưởng, các bộ trưởng TQ liên hệ đến vấn đề nầy, và các công ty, các nhà lãnh đạo của một số các lãnh vực ở TQ, đã giúp Bộ Môi Trường chiếm được sự hổ trợ giữa các nhà lãnh đạo TQ cao cấp, dọn đường cho Bắc Kinh thông báo tại cuộc họp lần thứ 3 vào tháng 12 – 2007, rằng nó sẽ phát triển một chương trình toàn quốc về trao đổi khí thải chất độc lưu huỳnh (sulfure dioxide). Đây là một bước tiến rất có ý nghĩa trong việc dùng các lực lượng của thị trường để nói về nạn ô nhiễm môi trường và cung cấp khí trời trong sạch hơn ở TQ. Bước tiến nầy cũng sẽ mở rộng các thị trường xuất khẩu của Mỹ và tạo ra việc làm cho các công ty bảo vệ môi trường của Mỹ, các công ty nầy đứng hàng đầu thế giới trong việc phát triển các loại kỹ thuật cần thiết cho một chương trình như đã nói ở trên.


President Hu Jintao (R) shakes hands with US Treasury Secretary Henry Paulson in Beijing December 13, 2007. Paulson led the US delegation for the China-US Strategic Economic Dialogue which ended on Thursday. [Xinhua]

http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2007-12/14/content_6321199.htm

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Entry for December 26, 2008

Posted by hoangtran204 trên 26/12/2008

Xem robot của Lê Trung ở Canada:

Có thể dùng giúp đỡ cho những người bị mất, đứt tay vì tai nạn, chỉ cần dùng tay giả để làm các nhiệm vụ cơ bản thường ngày vẫn làm như :có thể cầm ly uống nước, cầm muỗng quậy đường, nhặt các đồ vật trên bàn như viết, ly, nắp chai bia…Đặc biệt tay giả có thể “cảm nhận” chuyển các cử động từ tay thật và bắt chước làm theo một cách thông thạo

_nhận ra nét mặt, nói chuyện, vả vào mặt ai đó nếu được ra lệnh,
_biết đọc tên thuốc, biết phân biệt hộp thuốc không, và chai có thuốc,
http://www.youtube.com/watch?v=tJLMeS2Y8LY&NR=1

và cuộc biểu diễn gần đây nhất ở Ontario 2008
có thể hỏi tên người, nhận ra nét mặt người quen thuộc, nhận ra 250 người tên người, nét mặt trong một giây, cảm nhận được nếu ai sờ vào tay, vào đầu, và nói, biết đọc chữ, đọc truyện, chữ nào không biết thì đánh vần, và có khả năng học thêm, chỉ phương hướng tới phòng đi tiểu, biết chào, biết bắt tay khi ai đưa tay ra muốn bắt và nói cầu chào, nói thời tiết ở bên ngoài, để mang theo dù hay áo mưa…

http://www.youtube.com/watch?v=yHFZVwQ53bk&feature=related

Đọc thêm về Dự án Aiko và nhiều chuyện liên quan về robot tại website của Lê Trung.

projectaiko.com

Posted in Khoa Học | Leave a Comment »