Trần Hoàng Blog

Có nhiều vụ Mỹ Lai

Posted by hoangtran204 trên 14/12/2008

TARA MCKELVEY

Ngày 12-12-2008

[Những người dân làng, làm hành động như thể là những chiếc tàu dò mìn, đi bộ trước các toán quân trong những khu vực nguy hiểm để ngăn ngừa cho những người Mỹ khỏi bị mìn làm nổ tung lên]. Các tù nhân bị biến dạng đi vì đòn dìm nước và giật nảy lên vì điện giật. Những cậu thiếu niên câu cá trên một bờ hồ, cũng như những đứa trẻ chăn vịt, đều bị giết. “Có hành trăm bài báo như vậy trong tài liệu lưu trữ về tội ác chiến tranh, mỗi một bài báo đều được ghi lại một cách đầy trách nhiệm, đôi lúc chỉ không hơn một hai dòng thoáng qua ngắn ngủi, cứ như thể sự giết chóc là một thói quen bình thường giống những hoạt động để phá bỏ đi tính đơn điệu,” Deborah Nelson đã viết như vậy trong cuốn Chiến Tranh Phía Sau Lưng, “The War Behind Me.”

Tài liệu lưu trữ, được bảo quản tại trường Đại học Michigan, chứa đựng những tư liệu từ Đại tá Henry Tufts, cựu chỉ huy toán điều tra Quân sự, đã tiết lộ cuộc giết chóc lan rộng và [việc hành hạ ngược đãi] của những toán lính Mỹ tại Việt Nam. Hầu hết những hành động này đều không được công luận biết tới, mặc dù đã được quân đội điều tra.[ Những tội ác nầy thì tương tự với những tội ác] đã phạm phải ở Mỹ Lai năm 1968. Tuy nhiên, như Nelson đoan chắc, hầu hết người Mỹ vẫn nghĩ rằng [bạo lực kiểu nầy] là việc làm của “một vài đơn vị có bản chất xấu xa,” trong khi trên thực tế “mọi sư đoàn lớn phục vụ ở Việt Nam đều có biểu hiện này.” Chính xác là có bao nhiêu binh lính đã dính líu tới, và trên quy mô thế nào, thì không được biết, nhưng bà cho thấy rằng [sự hành hạ ngược đãi đã quá mức bình thường hơn đang được tin vào]. Cuốn sách của bà giúp [giải thích làm sao mà sự hiểu lầm này đã xảy.]

Sau khi câu chuyện Mỹ Lai [được người ta khám phá], các quan chức đã hành động [một cách nhanh chóng]. Họ ngó vào trong những hành động tội ác khác — ví như, nghiên cứu những bức thư [nặc danh được gửi lên thượng cấp bởi chẳng hạn như “một người trung sĩ rất quan tâm,”] trong đó mô tả những cái chết của hàng trăm dân thường, hay [“một vụ Mỹ Lai mỗi tháng trong hơn một năm trời.” Cuối cùng những tội nghiêm trọng đã được điều tra], và 23 người đã bị phát hiện là phạm tội, mặc dù hầu hết đều được tha bổng một cách dễ dàng. Bản án nặng nhất là 20 năm lao động khổ sai, cho hành động hãm hiếp một bé gái 13 tuổi bởi [một nhân viên điều tra trong một khu vực giam giữ tù nhân chiến tranh. Tên cưỡng dâm ấy đã bị phạt tù 7 tháng 16 ngày.]

[“Hãy tránh đưa vấn đề Quân đội vào trang đầu của báo chí,” Tổng thống Richard Nixon đã nói thế theo tin tường thuật]. Những cuộc điều tra là con đường đúng đắn để giải quyết vấn đề đó. [Một hành động che đậy thường thu hút sự chú ý; trái lại một tội ác đang được điều tra thường không lôi cuốn sự chú ý]. Các cuộc điều tra của quân đội, bà Nelson biện luận, đã được mưu tính [để không bắt những kẻ hiếp dâm và kẻ giết người phải chịu trách nhiêm, nhưng là để làm chệch hướng sự chú ý]. Khi các phóng viên nghe về một hành động tội ác chiến tranh, [họ gọi điện thoại cho Quân đội Mỹ để xem quân đôi có cung cấp thông tin gì không]. Nếu họ [đã nghi là có một hành động che đậy, họ sẽ theo dõi bám theo câu chuyện]. Nếu [một phát ngôn viên quân đội nói rằng một cuộc điều tra đang được tiến hành, câu chuyện thường thường] được bỏ qua.

Nelson, người đã viết về một loạt các hành động tội ác trong [chiến tranh cùng với một sử gia quân đội] khi bà còn làm ở tờ The Los Angeles Times, hiện là một phóng viên mẫn cán, say mê nghề nghiệp. Tuy nhiên, [niềm say mê của bà đôi lúc cũng dẫn tới những khoảnh khắc ngoài ước muốn]. Tại Việt Nam, những dân làng đang kể cho bà biết về những vụ giết chóc diễn ra trong một hẻm núi, [làm cho cho bà “hy vọng” rằng bà đã phát hiện ra một thôn xóm] nơi có một cuộc tàn sát xảy ra năm 1968. Nhưng hóa ra đó là một vụ tàn sát khác, bà có vẻ gần như thất vọng lắm.

Tuy nhiên, đây là một cuốn sách quan trọng. Bà Nelson chứng minh rằng những vụ che đậy thường xảy ra trong một cái nhìn đơn giản và rằng tìm kiếm một sự kiện đơn độc có thể bịt mắt các phóng viên trước một câu chuyện thật .

Bà cũng chỉ ra rằng những hành động tội ác này [là đặc trưng của các cuộc hành quân chống lại chiến tranh du kích]. [Khi các toán quân giữa hai phe đang đánh nhau giữa lòng một khối thường dân, trong các cuộc tranh chấp đang kéo dài nhiều năm trời, những hành động man rợ dính dáng tới chiến tranh hầu như luôn luôn xảy ra.]

“Nếu chúng ta [nghĩ các hành động man rợ ấy như là những hành động có tính chất cô lập, như khi chúng ta đã làm tại Việt Nam và khi chúng ta đang làm ở] Abu Ghraib, Iraq” [1], một viên thiếu tướng hồi hưu nói với bà như vậy, “chúng ta sẽ không bao giờ [sửa chửa được những lỗi lầm]. [Những cuộc hành quân chống lại chiến tranh du kích có liên quan tới các lực lượng quân đội nước ngoài sẽ có kết quả bằng những hành động như vậy một cách không thể nào tránh được], và chúng ta sẽ trá cái giá liên quan tới đạo-lý. “Dẫu đó làViệt Nam hay Iraq, sự thật đang làm cho chúng ta bối rối. “Sau khi biết được như thế,” T.S. Eliot viết, chúng ta nên “Tha thứ cái gì đây?”

Tara McKelvey, một biên tập viên kỳ cựu của tờ The American Prospect, người đóng góp thường xuyên cho mục Book Review và là tác giả của cuốn “Monstering: Inside America’s Policy of Secret Interrogations and Torture in the Terro War.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

—————————————————————–

The New York Times

————-

Many My Lais

By TARA MCKELVEY

Published: December 12, 2008

Villagers, acting as human minesweepers, walked ahead of troops in dangerous areas to keep Americans from being blown up. Prisoners were subjected to a variation on waterboarding and jolted with electricity. Teenage boys fishing on a lake, as well as children tending flocks of ducks, were killed. “There are hundreds of such reports in the war-crime archive, each one dutifully recorded, sometimes with no more than a passing sentence or two, as if the killing were as routine as the activity it interrupted,” Deborah Nelson writes in “The War Behind Me.”

The archive, housed at the University of Michigan, holds documents from Col. Henry Tufts, former chief of the Army’s investigative unit, that reveal widespread killing and abuse by American troops in Vietnam. Most of these actions are not known to the public, even though the military investigated them. The crimes are similar to those committed at My Lai in 1968. Yet, as Nelson contends, most Ameri­cans still think the violence was the work of “a few rogue units,” when in fact “every major division that served in Vietnam was represented.” Precisely how many soldiers were involved, and to what extent, is not known, but she shows that the abuse was far more common than is generally believed. Her book helps explain how this misunderstanding came about.

After the My Lai story broke, officials acted quickly. They looked into other crimes — for example, studying anonymous letters sent to superiors by “Concerned Sgt.,” which described the deaths of hundreds of civilians, or “a My Lai each month for over a year.” Serious offenses were indeed investigated, and 23 men were found guilty, though most got off easy. The harshest sentence was 20 years’ hard labor, for the rape of a 13-year-old girl by an interrogator in a prisoner-of-war compound. The rapist served seven months and 16 days.

“Get the Army off the front page,” President Richard Nixon reportedly said. Investigations were a good way to do that. A cover-up attracts attention; a crime that is being looked into does not. The military investigations, Nelson argues, were designed not to hold rapists and murderers accountable, but to deflect publicity. When reporters heard about a war crime, they’d call the Army to see if it would provide information. If they suspected a cover-up, they’d pursue the story. If a military spokesman said an investigation was under way, the story was usually dropped.

Nelson, who wrote a series on war crimes with a military historian when she was at The Los Angeles Times, is a diligent, passionate reporter. Her zeal, though, sometimes leads to awkward moments. In Vietnam, villagers tell her about killings that took place in a ravine, giving her “hope” that she has discovered a hamlet where a massacre occurred in 1968. It is a different massacre, as it turns out; she seems vaguely disappointed.

Still, this is an important book. Nelson demonstrates that cover-ups happen in plain sight and that looking for an exclusive can blind reporters to the real story. She also points out that these crimes are endemic to counterinsurgency operations. When troops fight among a civilian population, in conflicts that extend for years, atrocities are almost bound to happen. “If we rationalize it as isolated acts, as we did in Vietnam and as we’re doing with Abu Ghraib,” a retired brigadier general tells her, “we’ll never correct the problem. Counterinsurgency operations involving foreign military forces will inevitably result in such acts, and we will pay the costs in terms of moral legitimacy.” Whether it’s Vietnam or Iraq, the truth is disturbing. “After such knowledge,” T. S. Eliot wrote, “what forgiveness?”

Tara McKelvey, a senior editor at The American Prospect, is a frequent contributor to the Book Review and the author of “Monstering: Inside America’s Policy of Secret Interrogations and Torture in the Terror War.”

More Articles in Books » A version of this article appeared in print on December 14, 2008, on page BR20 of the New York edition.

Một phản hồi to “Có nhiều vụ Mỹ Lai”

  1. TranHoang said

    “C lời những tự sự của chiến binh rằng : khi tham gia chiến trường Campuchia 1979–1989 , ti mới hiểu v cm thng lnh viển chinh Mỷ… Chiến trường Campuchia c hằng ngn lng Mỷ Lai v lm sao phn biệt được đu l Ponpot ! đu l dn lnh khờ me ? chỉ thấy đồng đội mnh bị giết hại sau lưng khi vo lng … Thế đấy !” Bosu

    Bạn BOSU đọc rất kỹ v đưa ra một th dụ c mối tương quan rất xc đng trong cuộc chiến tranh giữa bộ đội VN với qun đội Pn Pốt Kampuchea (1979-1991).

    Chuyện nầy cũng đang xảy ra giữa qun đội Mỹ v người dn Iraq.

    V bất cứ l do g, qun đội giết chc dn lnh l điều khng thể no chấp nhận được. Tất cả ai lm thế đều phải bị ra ta, bị t.

    Trog cuộc chiến tranh Mỹ v Iraq, phiến qun Iraq (hay tụi khủng bố) np sau dn chng, lợi dụng dn chng bo co tin tức hnh qun của Mỹ, rồi chng đặt mn bẩy lnh Mỹ, bắn tỉa qun đội Mỹ. Khi một lnh Mỹ bị chết, bạn b của họ Mỹ đin ln bắn bừa vo dn lnh Iraq. V tội c xảy ra. (Nhưng cũng c vụ lnh Mỹ giết hại dn Iraq m người dn Iraq theo bo ch tường thuật l họ khng lm g để lnh Mỹ tức giận.)

    Một người trong FL của TH chia sẻ kiến nầy với TH như sau (v ngại comment trn blog của bc Basam)

    “Đại để l khi một thế lực mạnh đối đầu với kẻ yếu, kẻ yếu c xu hướng sử dụng những thủ thuật tựa như khủng bố, lợi dụng dn chng (gọi l chiến tranh nhn dn, trong cuộc sống gọi l đn bẩn ). Nn kẻ mạnh sẽ rất dễ vướng vo chnh ci m mnh thường ln tiếng bảo vệ: đ l sinh mạng dn lnh.”

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: