Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Mười Hai 2008
    C H B T N S B
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28293031  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Mười Hai 1st, 2008

Ổ Nhiễm Môi Trường

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2008

Thảm thương thay cho một nền báo chí vẫn còn phải bị canh giữ như ở trong chuồng

Ngày 01.12.2008 Giờ 07:50

“Lề phải” và “dám đương đầu”

Trong khi bộ trưởng bộ Thông tin và truyền thông Lê Doãn Hợp từng nói báo chí nên đi đúng “lề đường bên phải” thì tuần trước Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền lại yêu cầu báo chí khi tham gia phòng chống tham nhũng “phải dám đương đầu”

Để báo chí làm đúng tôn chỉ mục đích của mình, cần xác định điều quan trọng nhất là báo chí và các cơ quan quản lý báo chí phải làm đúng theo Hiến pháp và pháp luật, xem đó là cơ sở vững chắc nhất để hoạt động chứ không phải là chuyện “lề phải” hay “dám đương đầu”.

Thật ra, phát biểu của bộ trưởng Lê Doãn Hợp với báo chí khi ông vừa nhậm chức nằm trong bối cảnh xác định cách quản lý báo chí với một bộ vừa mới được thành lập. Lúc đó ông cho rằng quản lý bằng mệnh lệnh thì báo chí sẽ mất tự do và cho rằng báo chí sẽ hoàn toàn tự do nếu đi đúng lề đường bên phải.

Vấn đề là trong một thế giới biến đổi từng ngày, thế nào là “phải”, thế nào là “trái” không thể dựa vào ý kiến chủ quan của bất kỳ cá nhân hay cơ quan nhà nước nào. Giả thử đầu năm còn ưu tiên phát triển kinh tế, giữa năm ưu tiên chống lạm phát và cuối năm tập trung kích cầu cho nền kinh tế, vậy “phải” hay “trái” ở đây sẽ thay đổi theo từng thời kỳ. Cái mà báo chí cần tuân thủ là pháp luật, cụ thể là các bộ luật Hình sự, luật Dân sự, luật Báo chí… còn lại nhà báo sẽ phải chịu trách nhiệm cho những điều mình viết ra và công bố trên báo chí. Từ đó, báo chí mới có thể đăng tải những ý kiến phản biện chính sách, ngỏ hầu tìm ra các giải pháp tốt nhất cho nước nhà trong từng thời điểm cụ thể.

Phát biểu của Tổng thanh tra Trần Văn Truyền cũng nằm trong bối cảnh việc đưa tin chống tham nhũng được dư luận đánh giá là có chững lại, chính ông cũng nhận xét: “Không thể phủ nhận hiện nay tâm lý một số phóng viên có phần lo ngại”. Thế nhưng để thay đổi tình hình đó, không phải chỉ có thể kêu gọi phóng viên dám đương đầu là đủ. Các cơ quan phòng chống tham nhũng nước ta phải cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác cho báo chí và phải có trách nhiệm trả lời báo chí khi có yêu cầu.

Lấy ví dụ vụ ông Huỳnh Ngọc Sĩ, giám đốc ban quản lý dự án đại lộ đông tây và môi trường nước TP.HCM, được cho là có liên quan trong vụ án công ty tư vấn PCI của Nhật khai có hối lộ cho ông này để được trúng thầu nhiều dự án. Giả thử báo chí làm theo cách cũ của nhiều năm trước, khi ông Sĩ chưa bị toà kết luận có tội hay không, mà đã viết bài cáo buộc theo hướng ông này có nhận hối lộ là chuyện hoàn toàn đáng chê trách vì không chuyên nghiệp. Nhưng im lặng trong một thời gian dài vì thiếu thông tin như mấy tháng trước cũng là biểu hiện báo chí thiếu tin tưởng vào quyền được thông tin của báo chí hay do những ràng buộc khác. Báo chí hoàn toàn có thể và phải được phép điều tra về tài sản công khai của ông Sĩ hay viết quá trình làm việc của ông Sĩ khi cũng đã để xảy ra các sai sót ở những công trình khác. Báo chí phải được quyền tiếp cận với cơ quan quản lý ông Sĩ trực tiếp để truy vấn về quá trình kiểm tra cách gọi thầu, cách giao thầu xem có sơ hở gì có khả năng bị lợi dụng không. Báo chí cũng phải được quyền tiếp cận thông tin để xem chất lượng tư vấn của PCI ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng công trình. Và theo luật, các quan chức liên quan phải trả lời báo chí vì họ là đại diện cho một nhu cầu của người dân – nhu cầu được thông tin. Cuộc sống của họ đang ngày đêm bị tác động bởi những dự án có sự tham gia của PCI, một hãng có nhân viên bị chính ngay nước họ điều tra, truy tố vì tội hối lộ.

Một nền báo chí chuyên nghiệp không cần được chỉ đâu là lề đường phải đi cũng như không cần phải được khuyến khích “mạnh dạn chống tham nhũng”.

Quốc Học

http://www.sgtt.vn/detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=44051&fld=HTMG/2008/1130/44051

———————————————————
Người gốc Việt tranh cử vào Quốc hội Mỹ

Bùi Văn Phú
Viết cho BBCVietnamese.com từ California

Người Việt ở bang Louisiana nói riêng và ở Hoa Kỳ nói chung đang chú ý đến cuộc tranh cử vào Quốc hội Hoa Kỳ, Đơn vị 2, vùng New Orleans, với một ứng viên gốc Việt là ông Joseph Cao được Đảng Cộng hòa tiến cử.

Cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào ngày 6 tháng 12 tới đây.

Cơ hội?

Joseph Cao
Ông Joseph Cao được Đảng Cộng hòa tiến cử

Luật sư Joseph Cao, năm nay 41 tuổi, cũng còn là giáo sư đại học, một nhà hoạt động xã hội, cộng đồng, đang đối đầu với dân biểu Dân chủ đương nhiệm William Jefferson, đã tái đắc cử 9 lần, để giành chức đại diện tại quốc hội trong một cuộc đua được coi là rất gay cho ông Cao.

Đơn vị 2 của bang Louisiana có đến 60% cư dân người da đen và Dân biểu Jefferson cũng là người da đen.

Hơn nữa, ở đây có đến hai phần ba cử tri đăng kí theo Đảng Dân chủ, trong khi Cộng hoà chỉ có hơn 10%, còn lại là thành phần cử tri độc lập hay thuộc các đảng khác.

Nhưng dân biểu Jefferson trong vài năm qua đã bị điều tra, bị cáo buộc nhiều tội liên quan đến tham nhũng và sẽ phải ra toà
chỉ vài ngày trước khi cuộc bầu cử diễn ra.

Một dấu chỉ khác cũng cho ứng viên Joseph Cao thêm hi vọng là cuối năm ngoái cử tri Louisiana đã chọn một người Mỹ gốc Ấn Độ, ông Bobby Jindal của Đảng Cộng hoà, lên làm thống đốc thay thế người tiền nhiệm vì cách làm việc thiếu hiệu quả sau khi bão Katrina thổi vào đây trong mùa hè 2005.

California có thêm 5 dân cử gốc Việt

Trong kì bầu cử 4 tháng 11 vừa qua, chỉ hơn một phút sau khi phòng phiếu ở các bang miền tây đóng cửa vào lúc 8 giờ tối thì cử tri Mỹ đã biết Thượng nghị sĩ Barack Obama được bầu chọn làm tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ.

Nhưng kết quả kiểm phiếu của nhiều cuộc bầu cử điạ phương, như ở Quận Cam và vùng Thung lũng Điện tử San Jose, đã không xác nhận rõ ràng được ai thắng hay thua cho đến mấy tuần lễ sau vì số phiếu của cử tri gửi qua bưu điện năm nay khá cao. Hội đồng tổ chức bầu cử tại nhiều nơi đã mất nhiều tuần lễ để đếm tất cả các phiếu bầu.

Kết quả sơ khởi ngay sau ngày bầu cử cho thấy hầu hết ứng viên gốc Việt không đạt kết quả, trừ những dân cử đương nhiệm tái tranh cử được cử tri tiếp tục tín nhiệm.

Nhưng sau khi tổng kết các phiếu bầu gửi qua bưu điện và phiếu bầu tạm thời, kết quả sau cùng vừa được công bố trong tuần qua đã đem đến cho cộng đồng người Việt ở California thêm 5 dân cử.

Nam California

Ứng viên Andrew Đỗ đắc cử vào Hội đồng Thành phố Garden Grove. Như thế cơ quan dân cử này sẽ có 2 đại diện gốc Việt trong số 5 nghị viên.

Tại thành phố Westminster, ứng viên Trường Diệp trúng cử, nâng số nghị viên gốc Việt trong hội đồng thành phố này lên 3 trong tổng số 5 nghị viên.

Ông Trường Diệp mới được bầu vào Hội đồng Thành phố Westminster ở Quận Cam

Cuộc tranh cử của ứng viên Trường Diệp được xem là gay go. Số phiếu đếm từng ngày cho thấy ông chỉ hơn hay kém ứng viên đứng trước hoặc sau ông vài ba chục phiếu. Kết quả sau cùng ông được 10.383 phiếu, hơn ứng viên đứng sau chỉ có 49 phiếu.

Như thế tại hai Thành phố Garden Grove và Westminter, trung tâm của Little Saigon, là những nơi hiện có nhiều dân cử gốc Việt nhất, tất cả 12 người, là thị trưởng, là đại diện trong hội đồng giám sát quận hạt, hội đồng thành phố cũng như trong hội đồng giáo dục.

Bắc California

Tại San Francisco có ứng viên Steve Ngô trúng cử vào Hội đồng Đại học Cộng đồng.

Vùng San Jose, ứng viên Khoa Nguyễn được bầu vào Hội đồng Giáo dục Berryessa.

Tại Quận San Joaquin cách San Jose chừng hơn một giờ lái xe, nổi tiếng với những cánh đồng hoa quả, một ứng viên gốc Việt trúng cử vào Hội đồng Giáo dục Lincoln là bà Vân-Hà Tô-Cowell.

Bang California là nơi có đông người Việt sinh sống nhất ở Mỹ. Với 5 người mới được bầu chọn, số dân cử gốc Việt ở bang này hiện là khoảng 20 người, tại các cấp từ hội đồng giáo dục đến quốc hội tiểu bang.

Mặt tối ở Việt Nam

Hãng thông tấn Pháp AFP

Ngày 1-12-2008

THẠCH SƠN (Việt Nam) – Nhìn kỹ vào cái nhà máy thuộc kỷ nguyên Sô Viết hiện ra lờ mờ qua làng quê miền bắc Việt Nam của mình, Quảng Văn Vinh nhớ tới hình ảnh những gì mà khu đất chăn nuôi trồng trọt ở đây [đã từng giống như trong quá khứ] trước khi nó trở nên nổi tiếng như là một ‘làng ung thư’.

‘Nơi đây từng là một khu vườn rộng lớn những tre, chuối, mít và nhãn,’ người đàn ông 62 tuổi nhắc lại, trong lúc viếng thăm căn nhà thời thơ ấu bị bỏ hoang từ lâu của mình, giờ đây là một khu đất hoang bùn lầy với những cái lò gạch.

[‘Thật đáng buồn vì hầu như chẳng có dấu hiệu nào của sự sống ở nơi đây nữa.]’

Ông Vinh cho biết là mọi thứ đã thay đổi nhanh chóng trong những làng quê vùng Châu thổ sông Hồng từ năm 1962 sau khi nhà máy phân bón Lâm Thao được xây dựng và bắt đầu xả nước thải vào các con sông và đồng lúa, và tuôn khói đen lên bầu trời.

‘Anh có thể ngửi thấy mùi khói của nhà máy ở mọi nơi,’ ông nói. ‘Người dân đã bắt đầu bị ho. Tất cả cây cối ở đây đều đã chết. Dân địa phương đã không biết vì sao. Thế rồi các nhà chức trách [ đã di chuyển tất cả chúng tôi] đi khỏi đây từ khoảng 15 năm trước.’

Ông Vinh cho biết đứa con trai của ông đã chết vì bị ung thư vòm họng vào năm 2000 khi mới 23 tuổi.

[‘Tôi thật sự nghĩ rằng con trai tôi đã chết do ung thư vì sự ô nhiễm công nghiệp,’] ông Vinh nói, mặc dù ông không có bằng chứng khoa học [để hổ trợ] cho niềm tin của mình.

Bác sĩ Lê Văn Tôn, người lãnh đạo trạm y tế địa phương, đã cho biết sự thiệt hại do tử vong từ bệnh ung thư [trong cộng đồng có 7000 người dân đã gia tăng hầu như mỗi năm trong gần mười năm nay] – từ 3 người năm 1999 lên tới 15 người vào năm ngoái.

Vị bác sĩ nói rằng ông hiện đang điều trị cho 41 ca ung thư, trong đó có [một học sinh tiểu học.]

‘Hầu hết các nạn nhân ung thư trong xã của chúng tôi từng sống trong những vùng gần với nhà máy,’ ông nhận xét.

[Cách đây một vài năm], Thạch Sơn đã được lên tựa đề trên báo toàn quốc như là một ‘làng ung thư’.]

Các giới chức nhà nước đã tới đây, lấy những mẫu nước và theo dõi những thống kê về sức khỏe dân ch
úng, theo phó chủ tịch ủy ban nhân dân Nguyễn Văn Thắng.

Thế rồi họ ra đi và xã này không nghe tin tức gì về họ nữa kể từ đó, ông nói thêm.

Giống như nhiều quốc gia đang phát triển, Việt Nam cộng sản đã chọn lựa cuộc công nghiệp hóa nhanh chóng, thứ đã tạo nên phồn vinh song lại nhận được thường là một sự thiệt hại thảm khốc về môi trường tự nhiên và sức khỏe cộng đồng.

Việt Nam giờ đây có hàng trăm khu công nghiệp và hàng ngàn nhà máy, và chưa tới một phần ba chất thải lỏng từ đây được xử lý trước khi được cho chảy ra sông ngòi, chính phủ cho biết.

Các nhân viên thanh tra môi trường phải thông báo trước cho nhà máy về các cuộc kiểm tra của họ và các mức phạt là quá thấp nên nhiều nhà máy thiên về chấp nhận trả tiền phạt còn hơn là phải lắp đặt hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí và nước đắt tiền.

Các nhà đầu tư nước ngoài tại hội nghị Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) một năm hai lần ở Hà Nội hôm nay thứ Hai đã nói rằng họ quan ngại sâu sắc về sự suy giảm ngày càng tệ hơn của môi trường sống ở Việt Nam.

‘Tình trạng xả các chất thải công nghiệp trực tiếp vào nguồn nước sinh hoạt [đã đạt tới những tỉ lệ đáng báo động], gây hủy hoại nghề nuôi trồng thủy sản và những nghề kiếm sống trong nông nghiệp của hàng triệu nông dân,’ theo nhận xét của luật sư Fred Burke thuộc hãng Baker và mcKenzie, khi ông trình bày bản báo cáo của VBF về khu vực sản xuất.

[Xác suất để cho “ Một cơ sở sản xuất bị sét đánh hầu như dễ xảy ra hơn là chuyện cơ sở ấy gánh chịu bất cứ hậu quả pháp lý nghiêm trọng nào từ việc lờ đi những luật chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt nếu như công ty đó thuộc sở hữu nhà nước.”]

Những dòng sông và các con suối tại hai thành phố lớn nhất, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí minh, nơi nhiều ngôi nhà [đào giếng nước ngầm để xử dụng], thường là những rãnh nước lộ thiên đầy rác thải, nơi mà các nhà khoa học địa phương nhận xét là [đã trở thành ‘những khu vực không còn có sự sống’.]

Một đợt bùng nổ dịch tả gần đây, một trong vài đợt tại Việt Nam trong năm qua, đã làm 23 người mắc bệnh tại tỉnh miền trung Nghệ An. [Nguồn gây bệnh được truy tìm xuất phát từ] vi khuẩn ở trong cá và con hàu được đánh bắt từ dòng Sông Mai Giang bị ô nhiễm.

Ở Việt Nam, không giống như Trung Quốc, [người ta đã không nhìn thấy những cuộc biểu tình phản kháng chống lại các nhà máy, hoặc biểu tình phản kháng về những vấn đề môi trường khác], song các nhà lãnh đạo nước này [đã và đang bừng tỉnh trước] thực tế rằng sự tàn phá môi trường không còn có thể lờ đi được nữa.

Trong những tháng gần đây, các giới chức đã đưa ra một hành động nghiêm khắc chưa từng thấy [chống lại] vài cơ sở gây ô nhiễm nặng – cho thấy cả ý chí mới mẻ muốn hành động và những hạn chế trong các quy định luật pháp về môi trường của Việt Nam và của các cơ quan quyền lực.

Nhà sản xuất [chất phụ gia thực phẩm] Đài Loan Vedan đã bị bắt quả tang vào đầu tháng Chín khi được cho là đang đổ 100.000 mét khối rác thải chưa được xử lý ra Sông Thị Vải mỗi tháng thông qua những đường ống được che giấu, làm ô nhiễm cả một khúc sông.

Các cư dân địa phương đã than phiền trong hơn một chục năm qua song chính quyền chỉ hành động sau khi các công ty vận tải tàu biển nói rằng họ sẽ không còn cập bến tại một cảng sông gần đó nữa bởi vì tình trạng ô nhiễm gây ăn mòn vỏ các con tàu.

Bộ môi trường vào đầu tháng Mười đã ra lệnh cho [hảng sản xuất bột ngọt] (MSG) phải chấm dứt xả nước thải, song các giới chức địa phương vài tuần sau lại nói rằng họ không có quyền để hành động chống lại công ty này hoặc đóng cửa nó.

Các tin tức báo chí từ đó cho hay Vedan đã chấm dứt xả nước thải song công ty này đã từ chối bình luận khi liên lạc với AFP.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói với quốc hội vào tháng trước rằng Việt Nam phải bảo vệ môi trường, song trong trường hợp Vedan, cũng cần nghĩ tới việc bảo vệ hàng ngàn công ăn việc làm trong nhà máy.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

—————————

Straits Times

————-

The dark side of Vietnam

AFP

Dec 1, 2008

THACH SON (Vietnam) – GAZING at the Soviet-era factory that looms over his northern Vietnamese commune, Quang Van Vinh remembers what the farmland here looked like before it became known as a ‘cancer village’.

‘This used to be a vast garden of bamboo, banana, jackfruit and longan trees,’ says the 62-year-old, visiting his long-abandoned childhood home, now a muddy wasteland of brick kilns.

‘It’s sad that there’s almost no sign of life anymore.’

Mr Vinh says things changed quickly in the Red River village in 1962 after the Lam Thao fertiliser plant was built and started pumping waste water into streams and rice fields, and black smoke into the sky.

‘You could smell the factory’s smoke everywhere,’ he says. ‘People started to cough. All those trees died. Local people didn’t know why. Then the authorities moved us all out about 15 years ago.’

Mr Vinh says his son died of throat cancer in 2000 aged 23.

‘I really think my son died of cancer because of industrial pollution,’ says Mr Vinh, though he has no scientific proof to back his belief.

Dr Le Van Ton, the head of the local clinic, said the annual death toll from cancer in the commune of 7,000 had climbed almost every year for nearly a decade – to 15 deaths last year from three in 1999.

The doctor said he is now treating 41 cancer cases, including a primary school student.

‘Most of the cancer victims in our commune used to live in areas close to the factory,’ he said.

A few years ago, Thach Son made national headlin
es as a ‘cancer village’.

Government officials came, took water samples and looked at health statistics, said people’s committee deputy chairman Nguyen Van Thang.

Then they left and the commune has not heard from them since, he added.

Like many developing countries, communist Vietnam has opted for rapid industrialisation which has created prosperity but also taken an often catastrophic toll on the natural environment and public health.

Vietnam now has hundreds of industrial parks and thousands of factories, and less than one third of their liquid waste is treated before it is discharged into waterways, the government says.

Environmental inspectors must announce their factory visits in advance and fines are so low that many companies prefer to pay up rather than fit expensive air and water pollution control systems.

Foreign investors meeting at the biannual Vietnam Business Forum (VBF) conference in Hanoi on Monday said they were ‘deeply concerned about the worsening degradation of Vietnam’s environment’.

‘The dumping of industrial pollutants directly into human water supplies has reached alarming proportions, destroying aquaculture and agricultural livelihoods of millions of farmers,’ said Baker and McKenzie lawyer Fred Burke, delivering the VBF report on the manufacturing sector.

‘A manufacturing facility is literally more likely to get hit by lightning than suffer any serious legal consequences of ignoring the pollution laws, especially if it is state-owned.’

Rivers and streams in the biggest cities, Hanoi and Ho Chi Minh City, where many houses have groundwater wells, are often garbage-strewn open sewers which, local scientists say, have become biological ‘zero-life zones’.

A recent cholera outbreak, one of several in Vietnam over the past year, sickened 23 people in central Nghe An province. It was traced to bacteria in fish and oysters harvested from the polluted Mai Giang River.

Vietnam, unlike China, has not yet seen protests against factories or over other environmental issues but its leaders have woken up to the fact that the environmental carnage can no longer be ignored.

In recent months, authorities have launched an unprecedented crackdown against several major polluters – showing both a new will to act and the limitations of Vietnam’s environmental laws and enforcement agencies.

Taiwanese food additive maker Vedan was caught in early September allegedly dumping 100,000 cubic metres of untreated effluent a month through hidden pipes into the southern Thi Vai River, killing a stretch of the waterway.

Local residents had complained for more than a decade but the government acted only after shipping companies said they would no longer dock at a nearby river port because the pollution was corroding the hulls of their boats.

The environment ministry in early October ordered the MSG-maker to stop discharging wastewater but provincial officials several weeks later said they did not have authority to act against the company or close it down.

Press reports since then have said Vedan had scaled back its wastewater discharge but the company declined to comment when contacted by AFP.

Prime Minister Nguyen Tan Dung told the national assembly last month that Vietnam had to protect the environment but, in the Vedan case, also needed to think of protecting the thousands of factory jobs at the plant. — AFP

Straight Times

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Sự kết thúc của Vấn đề Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2008

Trong đời sống Chính trị ở Mỹ

Ông McCain đã là bộ mặt của một cuộc chiến tranh không được nhiều người ưa thích

John Zogby

Ngày 7-11-2008

Một lần nữa, lịch sử đã không tỏ ra tử tế đối với những người lính của cuộc chiến tranh gây chia rẽ nhất và ít được lòng dân nhất của nước Mỹ. Cuộc bầu cử này có lẽ đã khép lại cuốn sách về một cựu binh ở Việt Nam từng được chọn để bầu làm tổng thống.

Chiến thắng của ông Barack Obama trước ông John McCain đánh dấu đúng [sự thất bại thẳng thớm lần thứ ba] của một ứng viên từng phụng sự bổn phận của mình một cách tích cực ở Việt Nam. Những động lực của cuộc bầu cử có thể đã rất khác trong năm 2000 và 2004 so với năm 2008, [chẳng hạn như là những thành tích trong chiến tranh cũng khác nhau và ngay cả đối với các đảng phái chính trị của Al Gore, John Kerry và McCain cũng khác nhau]. Thế nhưng mỗi người trong bọn họ đã thất bại trước những người đàn ông chưa bao giờ phục vụ tại Việt Nam.

Cuộc thăm dò dư luận của Zogby International được thực hiện vào tuần trước cuộc bầu cử đã nhận ra rằng một lượng lớn cử tri, qua việc đánh giá ứng cử viên về vị thế chính trị, đã coi trọng quá trình phục vụ trong quân đội. Tuy nhiên, quan điểm của họ về Việt Nam và sự thành công của quân đội chúng ta ở đó [thì rất ít được ưa thích hơn so với các đề tài ấy ở] các cuộc chiến tranh khác.

Cuối cùng, [chỉ có những người đàn ông bước vào lứa tuổi trưởng thành trong những năm 1960] đã ngồi vào Phòng Bầu dục là Bill Clinton và George W. Bush, không ai trong số họ từng phục vụ tại Việt Nam. Các đối thủ đã miêu tả Clinton như là một kẻ trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Thời gian ở trong lực lượng Không lực Phòng vệ Quốc gia của ông Bush được đáng dấu bởi những lời kết tội rằng ông đã sử dụng thế lực của cha mình để trốn tránh nhiệm vụ trong quân ngũ, và rằng ông đã không hoàn thành lời cam kết của mình. Tuy nhiên, [hai người thuộc thế hệ những người Mỹ đã được sinh trong cuộc bùng nổ dân số của các trẻ em được sinh ra đời sau khi đệ nhị thế chiến kết thúc 1945 [1], [một thì ham học nhưng đam mê cuộc sống tự do, còn người kia là một kẻ] bảo thủ vênh váo về cái gia đình có liên hệ chính trị của mình, đã lãnh đạo đất nước trong 16 năm qua.

Ông Clinton đã đánh bại hai nhân vật kỳ cựu được gắn huân chương từ Đệ nhị Thế chiến. Ông George H.W. Bush [cha] từng là một phi công Hải quân bị bắn hạ ở Thái Bình Dương. Ông Bob Dole đã phải chịu những vết thương khủng khiếp và tình trạng ốm yếu suốt đời với tư cách là một quân nhân ở Âu châu. Cả hai ông đã cố gắng tô vẽ ông Clinton như là người kém xứng đáng — và đã thất bại.

Ông Gore đã gia nhập Quân đội sau khi tốt nghiệp trường Harvard và là một ký giả quân sự. Cả những lý lịch quân nhân của ông cũng như ông Bush đều không đóng vai trò đáng kể trong cuộc bầu cử đó.

Vào n

ăm 2004, Việt Nam trở thành một vấn đề trung tâm. Ông Kerry đã chỉ huy [một giang đỉnh] tại Việt Nam và đã giành được [hai chiến thương bội tinh]

[Trong khi một cuộc chiến mới mẻ và gây nhiều tranh cãi diễn ra ác liệt tại một nước khác (Iraq), [công trạng chiến tranh] của ông Kerry có thể trở thành một [yếu tố tích cực cho ông ta. Nhưng một nhóm các nhân vật bảo thủ đã xuất hiện và nhận định rằng] ông Kerry đã xuyên tạc hồ sơ của mình tại Việt Nam. Họ đã phát động một chiến dịch truyền thông toàn quốc để làm mất tín nhiệm ông và đã thành công trong việc nuôi dưỡng mối nghi ngờ về những gì thực sự đã xảy ra trên các con tàu đó. [“Chiếc giang đỉnh” nổi danh của ông Kerry cũng đã tô điểm cho ông như ] đang làm suy yếu hình ảnh quân đội [Mỹ] ở Việt Nam khi ông trở thành một phát ngôn viên cho các cựu binh chống chiến tranh.

Những người thuộc đảng Cộng hòa cũng đã phản ứng một cách mạnh mẽ khi đài CBS đã đưa ra những tài liệu có nội dung khẳng định ông Bush đã nhận những ưu đãi để tránh phải tham gia nhiệm vụ quân sự tại Việt Nam. Họ đã có thể làm dấy lên những câu hỏi về tính xác thực của các tài liệu và bác bỏ một cách hiệu quả câu chuyện này.

Không có mối nghi ngờ nào từng dấy lên về [kinh nghiệm của ông McCain] trong vai trò một tù binh chiến tranh [POW] trong năm năm rưỡi sau khi bị bắn rơi ở Việt Nam. Ông McCain trong vai một người hùng đã luôn là trung tâm điểm trong lai lịch chính trị của mình và thường được đem ra chào hàng trong chiến dịch tranh cử của ông. Thế nhưng cuối cùng thì điều này lại ít có ý nghĩa đối với toàn bộ cử tri năm 2008.

Điều đó có ích tới đâu cho một cựu binh có thể trở thành tổng thống? Liệu một cựu binh Việt Nam có là điều bất lợi cho ông Gore, Kerry hay McCain hay không? Hay [tham dự chiến tranh VN thì ít tích cực hơn so với việc tham gia trong các cuộc] chiến tranh khác hay không? Theo Zogby International, chúng tôi đã cố gắng có được các câu trả lời trong một cuộc khảo sát trong 1.200 người cho ý kiến được thực hiện một tuần trước Ngày Bầu cử.

Một đa số (53%) đã nói rằng quân dịch là rất hoặc có phần quan trọng trong việc quyết định cho lá phiếu bầu Tổng thống của họ. Quan điểm này phù hợp theo tuổi tác và giới tính, cho thấy nó đi liền với các cử tri. Tuy nhiên, những phản ứng của các đảng viên Cộng hòa và Dân chủ là rất khác nhau. Ba phần tư đảng viên Cộng hoà nói rằng quân dịch là quan trọng, so với 35% đảng viên Dân chủ có cùng quan điểm như vậy. [Một cách nào đó chuyện ấy dường như có ý nghĩa mang tính ý thức hệ, [song vấn đề ấy để lại cho người ta tự hỏi rằng có phải các đảng viên Cộng hòa đã cảm nhận mạnh mẻ như thế khi ông Bush là ứng cử viên
TT hay không.]

Chúng tôi đã hỏi hai câu hỏi về Đệ nhị Thế chiến, [chiến tranh Việt Nam], Cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 và Cuộc chiến Iraq hiện tại. Mỗi cuộc chiến có tầm quan trọng tới đâu đối với nền an ninh quốc gia? Mức độ thành công trong quân sự của mỗi cuộc chiến?

Với cả hai câu hỏi, Cuộc chiến Việt Nam đều đứng sau cùng. Như người ta vẫn trông đợi, cuộc Đệ nhị Thế chiến có 90% trả lời là rất hoặc có phần quan trọng cho an ninh Hoa Kỳ, và 93% nói là quân đội chúng ta đã rất hoặc khá là thành công trong [việc tham dự chiến tranh rộng lớn khắp toàn cầu đó]. Với Cuộc chiến vùng Vịnh, 73% cho biết nó quan trọng cho an ninh của chúng ta, và 78% nói là quân đội đã thành công. Với Cuộc chiến Iraq, kết quả là 64% và 54%.

Thế nhưng, đối với Việt Nam, 54% nói là cuộc chiến này quan trọng cho an ninh của Hoa Kỳ, và chỉ 38% nói là quân đội chúng ta đã thành công tại đó.

Những người Mỹ [luôn yêu mến] một kẻ thắng cuộc. Chiến tranh Việt Nam] được liên tưởng với sự thất bại và được nhìn nhận như là thời đại chia rẽ nhất kể từ [Cuộc Nội chiến 1865]. Điều đó là không công bằng cho thế hệ của những nam nữ từng được gửi đi can thiệp vào một cuộc nội chiến tại những khu rừng rậm Đông nam Á, [song cuộc chiến tranh ấy là di sản của họ.]

Khi họ trở về, [đã không có những cuộc diễu binh chào đón những cựu binh từng phụng sự ở vùng đất Việt Nam, và sẽ không có những cuộc diễu binh trong ngày nhậm chức TT cho những ai trong số các cựu binh Việt Nam đã từng mong muốn lãnh đạo đất nước nầy]

Advancedmd.com

John Zogby là chủ tịch và Tổng giám đốc hãng Zogby International và là tác giả của cuốn The Way We’ll Be: The Zogby Report on the Transformation of the American Dream.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


—————————–

Forbes.com

————

The End Of Vietnam In American Politics

John Zogby, 11.07.08, 03:32 PM EST

McCain was the face of an unpopular war.

Once again, history is not kind to the soldiers of America’s least popular and most divisive war. This election may have closed the book on a Vietnam veteran ever being elected president.

Barack Obama’s win over John McCain marks the third straight defeat of a candidate who served active duty in Vietnam. The electoral dynamics may have been very different in 2000 and 2004 than they were in 2008, as were the war records and even the political parties of Al Gore, John Kerry and McCain. But each of them lost to men who never served in Vietnam.

Zogby International polling done in the week prior to the election found that a majority of voters, in evaluating political candidates, did value military service. However, their opinions about Vietnam and the success of our military there were much less favorable than those of other wars.

In the end, the only men who came of age in the 1960s to sit in the Oval Office will be Bill Clinton and George W. Bush, neither of whom served in Vietnam. Opponents portrayed Clinton as a draft dodger. Bush’s time in the Air National Guard was marked by accusations that he used his father’s influence to avoid active duty, and that he failed to fulfill his commitment. Still, these two baby boomers, one a studious but self-indulgent liberal, the other a swaggering conservative from a politically connected family, have led the nation for the past 16 years.

Clinton defeated two decorated veterans of World War II. George H.W. Bush was a Navy flier shot down in the Pacific. Bob Dole suffered terrible wounds and life-long disabilities as a soldier in Europe. Both tried to paint Clinton as less than honorable–and failed.

Gore enlisted in the Army after graduation from Harvard and was a military journalist. Neither his nor Bush’s military records played much of a role in that election.

In 2004, Vietnam became a central issue. Kerry had commanded a swift boat in Vietnam and won two Purple Hearts. As a new and controversial war raged in a foreign land, Kerry’s war record could have become a positive for him. Along came a conservative group that felt Kerry had misrepresented his Vietnam record. They launched a national media campaign to discredit him and were successful in fostering doubts about what really happened on those boats. The now famous “swift-boating” of Kerry also painted him as undermining the Vietnam troops when he became a spokesman for anti-war veterans.

Republicans also reacted forcefully when CBS (nyse: CBSnews people ) reported on documents that purported to claim Bush received preferential treatment to avoid active duty in Vietnam. They were able to raise questions about the authenticity of the documents and effectively killed the story.

No doubts have ever been raised about McCain’s ordeal as a POW for five and a half years after being shot down in Vietnam. McCain as a war hero has always been central to his political identity and was often touted by his campaign. But in the end it meant little to the 2008 electorate.

How helpful is it for a would-be president to be a war veteran? Was being a Vietnam veteran a negative for Gore, Kerry or McCain? Or was it less of a positive than serving in other
wars? At Zogby International, we tried to get at the answers in a survey of 1,200 likely voters taken during the week prior to Election Day.

A majority (53%) said military service was very or somewhat important in casting their vote for President. This opinion was consistent across age and gender, showing it does resonate with voters. However, responses of Republicans and Democrats were very different. Three-fourths of Republicans said military service was important, compared with 35% of Democrats. That certainly seems to make ideological sense, but leaves one wondering if Republicans felt as strongly when Bush was the candidate.

We asked two questions about World War II, Vietnam, the 1991 Gulf War and the current Iraq War. How important was each to national security? How successful was the military in each?

On both, Vietnam placed last. As expected, 90% said World War II was very or somewhat important to U.S. security, and 93% said our military was very or somewhat successful in that world wide engagement. For the Gulf War, 73% said it was important to our security, and 78% said the military was successful. For the Iraq War, the same measures were 64% and 54%.

However, for Vietnam, 54% said it was important to U.S. security, and only 38% said our military was successful there.

Americans love a winner. Vietnam is associated with losing and is seen as the most divisive era since the Civil War. That isn’t fair to the generation of men and women sent to intervene in a civil war in the jungles of Southeast Asia, but it is their legacy.

When they returned, there were no parades greeting veterans who served on the ground in Vietnam, and there will be no inaugural parades for those among them who wanted to lead the nation.

John Zogby is president and CEO of Zogby International and author ofThe Way We’ll Be: The Zogby Report on the Transformation of the American Dream.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »