Trần Hoàng Blog

Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ (30-10-2008)

Posted by hoangtran204 trên 30/11/2008

Blog này được thành lập sau khi có tin 360.yahoo.com đóng cửa vào mùa Hè 2008.

Trần Hoàng và Ba Sàm bàn bạc nhau và quyết định dùng wordpress.com để viết bài, dịch bài, và điểm tin như đã làm bên 360.yahoo.com. Đồng thời, đem các bài cũ từ 360.yahoo.com dời qua wordpress. com.

 

 

 

Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ.  

Rồi nay lại ca tụng:  Đại tướng Lê Đức Anh với nhịp cầu quan hệ Việt – Mỹ

Sự thật  có phải như vậy không? Mời các bạn đọc 3 phần sau đây.

Thực tế là đảng CSVN và nhà nước VN đã bỏ lỡ một cơ hội lớn để bang giao với Hoa kỳ năm 1976.

Đảng CSVN gồm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Đỗ Mười, Võ Chí Công,..và bọn cán bộ cao cấp dưới quyền muốn nắm quyền lực cai trị đất nước để giành bổng lộc và chia chác chiến lợi phẩm cướp được ở Miền Nam. Kết quả là cả nước nghèo và bị tụt hậu đến 50-200 năm so với các nước ở vùng Đông Nam Á.

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/ 1975, Jimmy Carter đắc cử tổng thống Mỹ vào tháng 11/ 1975. Khi nhậm chức TT ngày 20/1/1976, chính sách ngoại giao hàng đầu của TT Jimmy Carter lúc ấy là bang giao với VN.

Vì quyền lợi chiến lược ở Á châu, Mỹ muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN ngay lúc ấy mặc dầu cuộc chiến VN từ lúc đã và đang xảy ra cho đến sau khi kết thúc đã để lại nhiều sự chia rẽ và nhiều nổi buồn cho người dân ở quốc gia nầy. Tuy vậy, đầu năm 1976, TT Jimmy Carter đã cử một phái đoàn Mỹ liên lạc với VN để đàm phán và xúc tiến bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hoa kỳ với VN.

Suốt 24 tháng trường ròng rã của năm 1976 và 1977, Mỹ đã tìm đủ cách thuyết phục VN ( kể cả hứa hẹn tái thiết VN) để mong hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, nhưng cuối cùng Mỹ đã thất bại.

Nhà cầm quyền CSVN lúc ấy vốn đa nghi, thiếu hiếu biết về hệ thống tổ chức chính quyền và chính trường của Mỹ, thiếu tầm nhìn chiến lược, (vì chịu ảnh hưởng của Liên Sô lẫn Trung Quốc), nên đã có những đòi hỏi vô lý, quan điểm của VN lúc ấy lại BẮT BUỘC Mỹ phải bồi thường chiến tranh VN (một sự kiện gần như Mỹ chưa từng làm với quốc gia nào hết). Sau đệ nhị thế chiến 1945, Mỹ tự nguyện viện trợ tái thiết Âu châu 12 tỷ đô la với kế hoạch Marshall; Mỹ cũng tự nguyện viện trợ Nhật 4 tỷ đôla với sự quản lý và giám sát của lực lượng Mỹ đang đóng quân gần 600 ngàn quân ở Nhật. Âu Châu và Nhật không van xin, không đòi hỏi, không ra điều kiện. Còn Hà Nội đã làm gì vào năm 1976?

Khi ra điều kiện không được, LD và bộ chính trị quyết định quay lưng với Mỹ và bắt tay với Liên Sô tấn công chiếm Campuchia 25-12-1978.

Cuộc đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam hoàn toàn thất bại khi Việt Nam tấn công qua Kampuchea 1978. Trong khoảng vài tháng đầu tiên, hoàng thân Shihanouk kêu cứu LHQ, và yêu cầu thế giới, Mỹ, Âu châu, hãy lên tiếng yêu cầu VN rút khỏi Kampuchea, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội đã từ chối.

Mỹ và Tây Âu hăm dọa sẽ cấm vận nếu VN không chịu rút ra khỏi Kampuchea.

Khi VN không chịu rút quân ra khỏi Kampuchea, lệnh cấm vận bắt đầu có hiệu lực 1979-1989.

Trong khoảng thời gian 1978-1990, ông Lê Đức Anh và Lê Đức Thọ sang kampuchea để quần thảo với quân đội Pôn Pốt cho đến khi VN hoàn toàn kiệt quệ kinh tế 1986, và cả nước VN ở bên lề nạn đói. Hơn 200.000 bộ đội VN đã chết ở Campuchia, và hàng trăm ngàn bị thương  từ 1978-1991.

Sau khi ông Lê Duẩn chết 7/1986, hai ông Nguyễn văn Linh cùng ông Võ văn Kiệt nhìn thấy quá nguy hiểm vì khối Đông Âu và Liên Sô đã cắt viện trợ cho VN do giá dầu chỉ còn 12-20 đôla/1 thùng. Liên Xô đã hết tiền mua lúa mì của Mỹ và gần như vỡ nợ. LX bán dầu, nhưng không thu được nhiều tiền để trang trải.

Hai ông Linh và Kiệt đành phải chấp nhận ngồi vào bàn thương thuyết với Liên Hiệp Quốc để rút khỏi Kampuchea trong thời hạn 3 năm, từ 1986-1989. Đổi lại, Mỹ bắt đầu viện trợ  thuốc men, viện trợ y tế và thực phẩm cho VN 1986, 1987, 1988 . Đồng thời, Mỹ bật đèn xanh cho Nam Hàn, Thái Lan, Singapore, Mã lai Á vào VN để thiết lập hãng xưởng và các xí nghiệp may, giày, và xuất cảng hải sản bắt đầu ra đời.

Tình hình kinh tế của Mỹ và Nhật rất xấu trong giai đoạn TT Bush (cha) 1988-1992. Ở Mỹ, nạn thất nghiệp lên cao, và lãi suất cũng lên cao. TT Bush (cha) gia tăng thuế làm giới trung lưu oán ghét và vì không giải quyết được vấn đề kinh tế nên ông đã bị thất cử. Và TT Clinton đã đắc cử 11/1991.

Khi lên nhậm chức 1992, TT Clinton đã hạ lãi suất, ký hiệp định NAFTA cho các nước trong vùng Bắc Mỹ và Nam Mỹ giao thương rộng rãi để kích thích nền kinh tế, các hãng Mỹ dời qua Mexico và Canada để lợi dụng nhân công thấp và hạ giá thành sản phẩm xuống thấp.

Sau khi ổn định được kinh tế quốc nội, TT Clinton bắt đầu nghĩ đến bình thường quan hệ ngoại giao với VN như chính sách đã vạch sẵn.

Vì vậy Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN 1995 xuất phát từ thời hai ông NVL và VVK. Người có công không phải là LĐA như bài báo dưới đây ca ngợi.

(* Chắc ông LĐA hiện đang bị bệnh nặng lắm nên mới có bài báo dưới đây. Hoặc những đảng viên đệ tử của  ông ta muốn đánh bóng tên tuổi để dành các vị trí lãnh đạo nào đó)

———————————–
Đại tướng Lê Đức Anh với nhịp cầu quan hệ Việt – Mỹ

http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/5460/index.aspx
30/11/2008 09:31 (GMT + 7)

Những câu chuyện, nhận định về Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò là nhà ngoại giao chiến lược, người góp phần tái thiết chiếc cầu quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ.

Đại tướng Lê Đức Anh không chỉ là nhà quân sự đã từng trực tiếp chiến đấu, chỉ huy suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc (chống Pháp, chống Mỹ) và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Polpot; là một trong những nhà lãnh đạo tầm cỡ trong thời kỳ Đổi mới đất nước đất nước mà còn là một nhà ngoại giao chiến lược…

Làm ngoại giao từ tinh thần của Bác

“Mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này, trở nên có lợi cho toàn thế giới” – Đại tướng Lê Đức Anh thường nhắc lại câu nói ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã làm được như vậy.

Có thể nói Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam là một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ trong công tác ngoại giao.

Ông là người tái thiết chiếc cầu quan hệ Việt – Mỹ vốn bị gián đoạn trong lịch sử, hay nói chính xác hơn: Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những người thiết yếu góp phần quan trọng trong việc bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ từ khâu đột phá ban đầu đến việc thúc đẩy, mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ để ngày càng phát triển tốt đẹp.

Trong một lần trao đổi gần đây, tôi mạnh dạn hỏi Đại tướng Lê Đức Anh: Sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), phía ta và Mỹ còn có nhiều mặc cảm định kiến về nhau, nói thẳng là trong nội bộ lãnh đạo cấp cao của ta cũng chưa nhất trí lắm trong việc nhìn nhận, xử lý các mối quan hệ với Mỹ. Vậy xuất phát từ đâu, Đại tướng dám đứng mũi chịu sào mở đột phá khẩu đầu tiên trong việc bình thường hóa quan hệ giữa nước ta và Mỹ?

Ông cười: Xuất phát từ đâu ư? Xuất phát từ lịch sử bang giao của cha ông ta, từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi làm đến cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông vẫn chưa hiểu hết Bác.

Đến khi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sau này làm Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh mới có điều kiện nghiên cứu về Bác và vỡ bao nhiêu điều.

Ông tâm sự: “Càng nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ta mới biết Người vĩ đại biết nhường nào! Bác luôn đi trước thời đại trong mọi vấn đề.

Tư tưởng của Bác Hồ bao la như biển rộng. Nói là học tập, làm theo gương Bác Hồ; không phải dễ. Trước hết phải có trí tuệ, thứ nữa là niềm tin và lòng dũng cảm. Nếu không, chúng ta sẽ không hiểu thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh, dẫn đến vận dụng một cách lệch lạc, lúc hữu, lúc tả…

Một trong những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát hết thẩy là sự bao dung và lòng nhân ái…”

Đại tướng Lê Đức Anh trầm ngâm một lát, hình như ông đang nhớ lai những sự kiện đã qua và thận trọng sàng lọc, cân nhắc xem cái gì đáng nói.

Ông kể: Khi Mậu Thân (1968) nổ ra, tình hình càng phức tạp không chỉ đối với phía Mỹ, mà còn đối với ta. Ngay trong nội bộ Đảng đến ngoài xã hội cũng có thái đội nhìn nhận đánh giá khác nhau, kể cả quốc tế trước bối cảnh Mỹ tiến hành chiến tranh quyết liệt ở Việt Nam.

Chính vào thời điểm đó Bác Hồ có thơ Chúc Tết: “”Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào””.

Bác không dùng từ tiêu diệt Mỹ. Bởi Bác biết thế nào Mỹ cũng rút khỏi nước ta, vì phong trào đòi Mỹ rút quân về nước của nhân dân Mỹ nổi lên rất cao. Ngay trong phái chủ chiến của Mỹ cũng có một số người phản đối cuộc chiến ở Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nước của ta ngày càng được nhân dân Mỹ và Quốc tế ủng hộ thành phong trào rầm rộ. Điều đó tác động mạnh mẽ đến nước Mỹ và các nước trên thế giới.

Còn đối với Ngụy, Bác bảo đánh cho chúng nhào, chứ không có ý tiêu diệt, thù hận…

Mục đích của Bác Hồ đặt ra cho quân, dân ta chỉ đánh để Mỹ cút, Ngụy nhào. Điều này thể hiện sự nhất quán tư tưởng bao dung, nhân ái của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bất cứ hoàn cảnh lịch sử cụ thể nào.

Thấm nhuần tư tưởng bao dung, nhân ái của Bác, nên sau khi giải phóng Miền Nam những người đã từng tham gia quân đội, chính quyền ngụy không bị chúng ta bắt bớ, mà chỉ cho họ học tập chính trị hiểu rõ đúng, sai…

Tướng ngụy và một số người giữ các chức vụ cao trong chính quyền ngụy, ta cũng thả.

Sau giúp các bạn Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của PônPốt cũng vậy, mặc dù bọn Polpot đã giết hại dã man hàng triệu người, chúng ta không hề có sự trả thù.

Nhờ vậy, ta đã tạo điều kiện mở đường cho những ai trót lầm lỡ, sau này được quay về xây dựng quê hương, đất nước.

Rõ ràng ngay trong cuộc chiến tranh, Bác Hồ đã tính đến quan hệ Việt – Mỹ sau này, nên chỉ đánh cho Mỹ cút, tức là buộc Mỹ phải bỏ ý đồ xâm lược nước ta. Còn nếu sau này Mỹ sang Việt Nam với tinh thần thiện chí, hữu nghị, thái độ ta sẽ khác. Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, nếu ai có thiện chí! Đây cũng là truyền thống hòa hiếu của dân tộc ta mà Bác Hồ lĩnh hội được từ cha ông qua những bài học giữ nước.

Tôi lắng nghe Đại tướng Lê Đức Anh nói, thầm nghĩ: “”Ông già” này ghê thật, làm bất cứ điều gì đều có cơ sở, nền tảng vững chắc, khoa học. Đại tướng Lê Đức Anh dựa vào tư tưởng bao dung, nhân ái của Bác Hồ để dám đứng mũi chịu sào, nối lại quan hệ Việt – Mỹ.

Thật vậy, về quan hệ Việt – Mỹ, ngay từ đầu năm 1941, Bác Hồ đã sớm thấy vai trò to lớn của nước Mỹ đối với thế giới. Trong cuốn Why Viet nam? (Tại sao Việt Nam?), Archimedes Patti viết: “”Nhờ có đầu óc phân tích và sự thông hiểu sâu sắc tình hình chính trị thế giới, ông Hồ Chí Minh đã sớm rút ra kết luận, phải tranh thủ tình cảm của nước Mỹ””.

Và sự thực, khi biết có một phi công Mỹ bị bắn rơi ở vùng biên giới, Bác Hồ đã chỉ thị giúp người phi công này (Trung úy Shaw) trở về với quân đồng minh ở Côn Minh.

Về việc này, theo cứ liệu: Fenn, Trung uý hải quân ở Ban Không trợ mặt đất. (AGAS) kể lại: “”Tướng Mỹ Chennault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát. Tướng Chennault đã ký tặng ông Hồ tấm ảnh chân dung của mình với dòng chữ: “”Bạn chân thành của anh””. Claire L. Chennault.

Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 12/1946, một số người đại diện của Mỹ, cả cơ quan tình báo quân sự OSS đã có quan hệ hợp tác với phía ta (Việt Minh) như: Đại úy Lucien Concin, thiếu tá Allison Thomas, thiếu tá Patti…

Vì thế sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, vài tháng sau, Bác Hồ đã cho thành lập “”Việt – Mỹ thân hữu hội””.

Ngày 16/ 02/ 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ, Franklin D. Roosvelt: “”Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”” – Hồ Chí Minh toàn tập (1,2,3) NXB Chính trị Quốc gia – 2000.

Rất tiếc do hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động, nên quan hệ Việt – Mỹ bị gián đoạn.

Người công dân danh dự thành phố New York

Đại tướng Lê Đức Anh tiếp tục câu chuyện một cách sôi nổi: Sau ngày giải phóng, nước ta gặp không ít khó khăn về mặt kinh tế. Tình hình Campuchia đã vậy, quan hệ nước ta với Liên Xô, không nói làm gì, nhưng quan hệ với Trung Quốc không ít khó khăn.

Phải tính đường quan hệ với Mỹ. Nhưng lúc này giữa ta và Mỹ còn nhiều bất đồng. Phía Mỹ thì kiêu căng, tự cho mình là nước lớn, giầu mạnh. Phía ta thì dị ứng với Mỹ đủ mọi phương diện.

Đặt lại quan hệ với Mỹ ư? Nói ra, ai cũng sợ. Song, cứ để Mỹ bao vây cấm vận, nước ta khó làm ăn, nghèo lại càng nghèo vì do hậu quả chiến tranh để lại… Phải phá thế cấm vận của Mỹ. Đó là một quyết tâm của Bộ Chính trị. Nhưng bằng cách nào?

Đại tướng Lê Đức Anh đề nghị phải mở rộng quan hệ với thế giới thứ ba, cụ thể là ASEAN trước khi đặt quan hệ bình thường với Mỹ.

Bởi muốn đặt quan hệ với Mỹ, trước tiên phải tìm cách tiếp cận với họ. Nhưng bằng con đường nào?. Bằng chính trị? Không được, vì giữa ta và Mỹ khác nhau về thể chế, quan niệm…

Bằng kinh tế ư? Càng không được, vì Mỹ giàu có, mạnh về tiềm lực; còn ta là nước nghèo, lấy gì mà trao đổi với họ?

Suy nghĩ mãi, cuối cùng Đại tướng Lê Đức Anh thấy chỉ có con đường khoa học là có thể tiếp cận để bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Vì khoa học là thành tựu chung của nhân loại. Khoa học không có biên giới, bản thân nó không mang mầu sắc chính trị hay bất kỳ định kiến nào. Chỉ có con người sử dụng khoa học với mục đích khác nhau mà thôi.

Trong khoa học có nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau, cân nhắc mãi, Đại tướng Lê Đức Anh quyết định chọn ngành Y, vì ngành Y mang tính nhân đạo, phục vụ con người. Không ai có thể phản đối được.

Sau khi bàn bạc, Đại tướng Lê Đức Anh quyết định lấy chuyên ngành phẫu thuật ngoại khoa để tiếp cận với phía Hoa Kỳ.

Đại tướng Lê Đức Anh nói: “”Tôi biết Giáo sư, Tiến Sỹ Y khoa Nguyễn Huy Phan là người có uy tín, hiện là Phó Giám đốc Bệnh viện 108 là người có chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức, lập trường vững vàng. Lúc này tôi đang làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1986), nên tôi mời Giáo sư Phan đến gặp riêng và giao nhiệm vụ.

Đây là một việc hệ trọng, đồng chí phải giữ bí mật, chỉ được thể hiện mình là một nhà khoa học thuần túy. Trong giao tiếp không nói đến các vấn đề chính trị. Nhân Hội nghị phẫu thuật Quốc tế được tổ chức tại Thủ đô Pari , Pháp, tôi liền cử Giáo sư Phan đi dự””.

Tại Hội nghị, Giáo sư Nguyễn Huy Phan trình bày nhiều vấn đề. Nhưng có vấn đề của Giáo sư Phan đưa ra được các đại biểu dự Hội nghị rất quan tâm và quý trọng, nhất là các đại biểu nữ. Đó là việc chỉnh hình giúp những người bị thương, bị bệnh mất dương vật, nay tạo ra dương vật mới để họ lấy vợ, sinh con. Kỹ thuật đó được mang ra thực hành tại Hội nghị và đạt kết quả tốt.

Cả Hội nghị vỗ tay hoan nghênh Việt Nam nhân đạo. Có nhiều tiến sỹ, bác sĩ là nữ đến gặp Giáo sư Phan với lòng kính trọng tài năng. Tại Hội nghị, đại biểu các nước, kể cả Mỹ đều mời Giáo sư Phan sang hướng dẫn. Và Giáo sư Phan được mời đi nhiều nơi nói chuyện, hướng dẫn.

Tại Mỹ nhiều người đến dự nghe Giáo sư Phan thuyết trình. Họ tỏ ra thân thiện, mừng rỡ.

Trong khi trao đổi, Giáo sư Phan thẳng thắn nói: “Việt Nam vừa trải qua chiến tranh còn nghèo khổ, nhiều người bị bệnh tật, tàn phế…”

Phía Mỹ hỏi thẳng: Mỹ có thể giúp Việt Nam cái gì?

Giáo sư Phan trả lời: “Ở Việt Nam nhiều người cần giúp lắm, Nhưng phổ biến và trước mắt là giúp “”phẫu thuật nụ cười”” cho những người hở môi, hàm ếch. Nếu thực hiện, phải làm cho trẻ em trước, rồi đến phụ nữ”.

Phía Mỹ đồng ý ngay. Vài tháng sau, phía Mỹ cử các đoàn y tế Phẫu thuật nụ cười sang Việt Nam. Và họ đã có mặt ở nhiều nơi để triển khai công việc nhân đạo trên.

Sau một thời gian tiếp xúc và làm việc với Giáo sư Phan, phía Mỹ đã mời ông Nguyễn Huy Phan làm Công dân danh dự của Bang New York. Giáo sư Nguyễn Huy Phan điện về xin ý kiến, Đại tướng Lê Đức Anh bảo cứ nhận. Ông sẽ báo cáo Bộ Ngoại giao.

Sau đó Đại tướng Lê Đức Anh gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hỏi ý kiến về trường hợp Giáo sư Phan, Bộ trưởng Thạch đồng ý ngay.

Từ đó, phía Mỹ mới mời ta sang tham quan, trao đổi.

Ở Mỹ, ngành Y rất được coi trọng, họ quý người làm nghề Y. Giới chính khách Mỹ càng quý ngành Y hơn. Qua con người cụ thể: Giáo sư Nguyyễn Huy Phan, phía Mỹ thấy người Việt Nam cũng giỏi như họ, lại nhu mì, hiền hòa. Từ đó rất quý Việt Nam. Và nước ta đặt quan hệ chính trị với Mỹ từ đấy.

Từ Mỹ, Giáo sư Nguyễn Huy Phan báo cáo về có hai tiến sỹ người Việt, Quốc tịch Mỹ hiện làm ở hãng hàng không Boeing muốn làm rể Việt Nam, cụ thể là lấy con gái Giáo sư Phan.

Đại tướng Lê Đức Anh trả lời: ““Nếu anh chị đồng ý thì cho chúng nó lấy nhau. Băn khoăn làm gì, nên để tâm vào làm việc lớn””.

Sau đó con gái út ông Phan tên là Hoa lấy Tiến sỹ Bích, người Mỹ gốc Việt. Và chính người con rể ông Phan sau này đã đi quan hệ với giới chính khách Mỹ, làm cho họ hiều Việt Nam hơn, dần dần thay đổi quan điểm. Nay hai vợ chồng Bích – Hoa đã có con, thỉnh thoảng vẫn về Việt Nam và ghé thăm Đại tướng Lê Đức Anh.

Thời điểm đó ở nước nhà (trong Quân đội) có một số người nghĩ ông Phan theo Mỹ, nên khi Đại tướng Lê Đức Anh ốm, ông Phan về nước muốn vào thăm, nhưng không được. Và Giáo sư Phan phải nhờ bà Võ Thị Lê, vợ Đại tướng Lê Đức Anh dẫn vào mới được gặp.

Khi Đại tướng Lê Đức Anh khỏi bệnh, nói lại với một số cán bộ cao cấp về trường hợp Giáo sư Nguyễn Huy Phan, ông Phan mới được minh oan. Sau này Giáo sư Nguyễn Huy Phan được bầu làm Chủ tịch Hội Việt – Mỹ.

Khi ông Phan mất được tặng Huân chương hạng Ba. Lúc đó, Đại tướng Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước thấy vậy, liền mời Viện Thi đua khen thưởng lên, nói: “”Anh Phan là người có công lớn, tôi sẽ trình Bộ Chính trị sau. Các anh cứ làm thủ tục trao tặng Huân Chương Độc lập hạng nhất cho anh Phan. Tôi xin chịu trách nhiệm””.

Sau đó, Đại tướng Lê Đức Anh báo cáo sự việc trên với Bộ Chính trị, và Bộ Chính trị nhất trí: Đối với Giáo sư Nguyễn Huy Phan, sao lại khen thưởng thấp thế, rất xứng đáng lên hạng cao. Nói thế, nhưng thời kỳ này, phía ta vẫn còn dị ứng với Mỹ. Hồi đó ai được cử đi Mỹ học đều không dám đi, mặc dù chúng ta biết nước Mỹ có một nền kinh tế, khoa học phát triển cao. Cần phải học hỏi họ để áp dụng cho nước nhà.

Khổ nỗi những người được cử đi Mỹ học về, lại thành kiến với họ, không bố trí công việc hay sắp xếp một cách tuỳ tiện với hàng trăm lý do khác nhau. Còn đối với Việt kiều về nước làm ăn lại không tạo điều kiện, mà còn gây khó dễ. Còn nhiều chuyện khó nói lắm.

Để loại bỏ dị ứng và xoá đi những mặc cảm với Mỹ, lúc này con trai Đại tướng Lê Đức Anh là Lê Hà đang công tác ở Bộ Kế hoạch – Đầu tư thi đỗ Đại học Harvard ở Mỹ. Lãnh đạo Bộ Kế hoạch – Đầu tư hỏi Đại tướng Lê Đức Anh: “”Có cho cháu Hà đi không?” Đại tướng Lê Đức Anh nói: “”Cứ cho cháu đi để bớt dị ứng với Mỹ, vì dư luận thấy con Chủ tịch nước còn đi Mỹ học có làm sao đâu, huống hồ là mình””.

Thực tế sang bên ấy, cháu Hà học vào loại giỏi, nhưng khi về nước công tác vẫn gặp một số trục trặc…

Nghe Đại tướng Lê Đức Anh tâm sự, tôi mạnh dạn hỏi: Đồng chí Lê Đức Thọ hồi đó không nhận giải Nobel Hoà bình cùng với ông Kissinger, có phải một phần do lý do còn nhiều người dị ứng với Mỹ? Đại tướng Lê Đức Anh im lặng. Sự im lặng của ông đã trả lời cho tôi.

Song, lịch sử không ngừng vận động. Thời cuộc đã đổi thay! Sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã chuyển sang giai đoạn mới. Quá khứ đã khép lại. Cả hai nước Việt – Mỹ đều hướng tới tương lai trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Ngày 12/7/1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Tháng 8/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ đã khai trương Đại sứ quán tại Washington và Hà Nội.

Và tại New York, (từ ngày 22 – 24/10/1995), Đại tướng Lê Đức Anh với tư cách là Chủ tịch
nước CHXHCN Việt Nam đã đọc diễn văn chào mừng tại Lễ kỷ niệm lần thứ 50 thành lập Liên Hợp Quốc, bài diễn văn đó gây chấn động dư luận, được hoan nghênh nhiệt liệt: ““Liên hiệp quốc cần tự đổi mới, trước hết phải là một tổ chức dân chủ, mối quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa Liên hợp quốc và từng quốc gia phải là mối quan hệ dân chủ và bình đẳng”“.

Thế là sau 140 năm quan hệ Việt – Mỹ bị gián đoạn, giờ được nối lại bởi một người dám đứng mũi chịu sào, tái thiết chiếc cầu đó – Đại tướng Lê Đức Anh – để quan hệ Việt – Mỹ ngày càng phát triển, hợp tác toàn diện một cách tốt đẹp như ngày hôm nay.

Ánh Hồng

———————————————————————–

Cập nhật 16-4-2014

Các bạn đọc kết luận của bài báo nói trên và so sánh với bài của dịch của Ngọc Thu, 15-4-2014  sẽ thấy thêm một trong các bài báo phơi bày sự thật rất nhục nhã cho đảng CSVN đã phải chủ động XIN bang giao với Mỹ; Lê Đức Anh chăngr có công trạng gì như bài báo trên tâng bốc nịnh bợ trong dịp ông LĐA (2008) đang được đánh bóng. Lê Đức Anh là phu cạo mũ cao su, sau trở thành cai đồn điền. Gần đây bị các đảng viên đảng CSVN tố giác  ông ta chưa vào đảng như lý lịch tự khai do ông viết.

Đến năm 1975, ông LĐA chỉ mới là đại tá. Sau 30-4-1975, Lê Đức Thọ biết rằng không thế tranh giành với Lê Duẩn ở VN, ông ta muốn qua Kampuchea làm vương. Nhưng cần có đàn em đi “khai phá mở đường”. Lê Đức Thọ đã giao nhiệm vụ ấy cho một số tướng lãnh chỉ huy đánh Kampuchia cùng với LĐA. LĐA rất khôn khéo, mỗi khi cướp vàng của người Khmer và  chia chác cho Lê Đức Thọ nên được Thọ đỡ đầu . Về sau, khi Lê Duẩn chết 1986, Trường Chinh tạm thời lên ngôi TBT được 5 tháng, và trong thời gian này, kinh tế VN và chính trị VN đang  ở thời kỳ đen tối nhất, lạm phát tăng lên từ 50-900%, không có ngoại tệ, không có xăng dầu, bị cấm vận và cả thế giói bao vây, các phe nhóm có quyền lục nhất ở VN không có đủ tài kinh bang tế thế nên phải tạm hòa hoãn với nhau. Bọn này cử Nguyễn Văn Linh lên ngôi TBT. Lê Đức Thọ chỉ đẩy Lê Đức Anh lên làm bộ trưởng quốc phòng. 

Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Ngọc Thu dịch

15-4-2014

Lời người dịch30-4: Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Bạn có biết: Việt Nam đã từng trả nợ chiến tranh cho Mỹ? Việt Nam đã trả các khoản vay của chính quyền Sài Gòn thời chiến tranh, để đổi lấy các khoản vay mới của Mỹ và phương Tây và đó cũng là điều kiện để Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN.

Đó là cái giá mà chính phủ CSVN, hay nói đúng hơn là người dân VN đã phải trả, do chính phủ CSVN không chịu bình thường hóa quan hệ với Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cứ khăng khăng đòi bồi thường chiến phí 3,25 tỉ Mỹ kim. Tiền bồi thường của Mỹ ở đâu không thấy, chỉ thấy sau đó phía VN phải bỏ tiền ra bồi thường chiến phí.

Thắng trong chiến tranh, nhưng chỉ 20 năm sau chính phủ CSVN đã phải đầu hàng Mỹ về kinh tế.

Đây là bài viết của GS Michel Chossudovsky về những thỏa thuận bí mật giữa chính phủ CSVN với các tổ chức tài chính quốc tế trước năm 1995.

Ngọc Thu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc bằng lực lượng cộng sản chiếm giữ Sài Gòn và sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ấy trong Dinh Tổng thống. Khi đội quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Sài Gòn, các nhân viên Hoa Kỳ và lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã vội vã sơ tán từ nóc tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ. Hai mươi năm sau, một câu hỏi cơ bản vẫn chưa có lời giải đáp: Ai đã thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam?

Việt Nam chưa bao giờ nhận được khoản tiền bồi thường nào cho chiến tranh từ Mỹ về các tổn thất nhân mạng rất lớn và sự tàn phá [của chiến tranh], nhưng một thỏa thuận đã đạt được ở Paris vào năm 1993, yêu cầu Hà Nội nhận các khoản nợ của chính quyền Sài Gòn, một chính quyền không còn tồn tại nữa của Tướng Thiệu. Bản thoả thuận này có nhiều chỗ tương đương với việc bắt buộc Việt Nam bồi thường cho Washington các phí tổn chiến tranh.

Ngoài ra, việc áp dụng sâu rộng cải cách kinh tế vĩ mô dưới sự giám sát của các định chế Bretton Woods cũng là một điều kiện cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Mỹ. Những cải cách thị trường tự do này hiện đã định đoạt học thuyết chính thức của Đảng Cộng sản.

Qua việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Washington vào năm 1994, việc nhắc đến vai trò tàn bạo của Mỹ trong chiến tranh đang ngày càng được xem như không đúng lúc và không thích hợp. Không ngạc nhiên, Hà Nội đã quyết định dịu giọng trong lễ kỷ niệm Sài Gòn đầu hàng để không phải xúc phạm đến kẻ thù trong chiến tranh trước đây của họ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản gần đây đã nhấn mạnh “vai trò lịch sử” của Hoa Kỳ trong việc “giải phóng” Việt Nam từ chế độ Vichy (Pháp) và sự chiếm đóng của Nhật Bản suốt Đệ Nhị Thế chiến.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đặc vụ Mỹ của Cục Tình báo Chiến lược (OSS: tiền thân của CIA ngày nay) đã có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh. Trong khi Washington đã cung cấp vũ khí và hỗ trợ tài chính cho phong trào kháng chiến Việt Minh, chiến lược này phần lớn được thiết kế để làm suy yếu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến, mà không có cam kết gửi lực lượng bộ binh Mỹ tới với số lượng lớn.

Ngược lại với bầu không khí dịu giọng và hạn chế trong kỷ niệm đánh dấu chiến tranh Việt Nam kết thúc, lễ kỷ niệm 50 năm ngày độc lập được cử hành long trọng, với một loạt các nghi lễ và các hoạt động chính thức bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến Tết âm lịch.

Việt Nam bồi thường chiến tranh

Trước khi “bình thường hóa” quan hệ với Washington, Hà Nội đã bị buộc phải trả các khoản nợ xấu phát sinh của chế độ Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Tại hội nghị các nhà tài trợ tổ chức ở Paris hồi tháng 11 năm 1993, các khoản vay và số tiền viện trợ tổng cộng gần 2 tỷ Mỹ kim đã được cam kết để hỗ trợ cho cải cách thị trường tự do ở Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau khi hội nghị, một cuộc họp bí mật đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris (Paris Club).

Tại cuộc họp này, có sự góp mặt của đại diện các chính phủ phương Tây. Về phía Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Oánh, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng, đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán.

Tiến sĩ Oánh, một cựu quan chức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau đó là Quyền Thủ tướng trong chính quyền quân sự của Tướng Dương Văn Minh, mà Mỹ đưa vào hồi năm 1963 sau vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai. Tiến sĩ Oánh, trong khi giữ vai trò trung gian, chính thức thay mặt chính quyền cộng sản, dù sao cũng đã đáp ứng được nhu cầu của các chủ nợ phương Tây.

Các thỏa thuận đã được ký kết với IMF (đã được công bố) phần lớn chỉ là tượng trưng. Số lượng không đáng kể: Hà Nội buộc phải trả cho IMF 140 triệu đô (thuộc sở hữu của chính quyền Sài Gòn) như một điều kiện để nối lại các khoản vay mới. Nhật Bản và Pháp, những chủ nhân thuộc địa cũ của Việt Nam giai đoạn Vichy, hình thành cái gọi là “Những người bạn của Việt Nam” để cho Hà Nội vay số tiền cần thiết để hoàn trả cho IMF.

Tuy nhiên, sự sắp xếp gia hạn các khoản nợ song phương (của chế độ Sài Gòn) không bao giờ được tiết lộ. Nhưng cuối cùng thì thỏa thuận bí mật này (đạt được dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris) là công cụ quyết định để Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa các quan hệ ngoại giao. Việc sắp xếp này cũng là yếu tố quyết định trong việc tháo khoán các khoản vay đã được cam kết tại hội nghị các nhà tài trợ năm 1993, do đó Việt Nam bị đặt dưới sự ủy thác của các chủ nợ Nhật Bản và phương Tây. Như vậy, chỉ 20 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã đầu hàng về mặt kinh tế.

Bằng cách công nhận hoàn toàn tính hợp pháp của các khoản nợ, Hà Nội đã đồng ý hoàn trả các khoản vay đã hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, chính phủ của ông Võ Văn Kiệt cũng đã chấp nhận thực hiện đầy đủ các điều kiện thông thường (giảm giá, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, v.v.) của một chương trình điều chỉnh cơ cấu do IMF tài trợ. Những cải cách kinh tế này ra mắt vào giữa thập niên 1980 với các định chế Bretton Woods, trong hậu quả chiến tranh tàn khốc, đã khởi đầu một giai đoạn mới về sự tàn phá kinh tế và xã hội: lạm phát đã dẫn đến phá giá liên tục, bắt đầu từ năm 1973 dưới chế độ Sài Gòn, năm theo sau sự rút lui của quân đội Hoa Kỳ. Ngày nay, một lần nữa Việt Nam tràn ngập các ghi chú bằng đô la Mỹ, đã thay thế phần lớn tiền đồng Việt Nam. Với giá cả tăng cao, thu nhập thực tế đã giảm xuống tới mức thấp nhất.

Lần lượt những cải cách đã ồ ạt giảm năng lực sản xuất. Hơn 5.000 trong số 12.300 doanh nghiệp nhà nước đã bị đóng cửa hoặc được chỉ đạo phá sản. Các hợp tác xã tín dụng đã bị loại bỏ, tất cả các khoản tín dụng dài hạn và trung hạn cho ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bị đóng băng. Chỉ tín dụng ngắn hạn là có sẵn, với lãi suất 35%/ năm (năm 1994). Ngoài ra, thỏa thuận IMF đã cấm nhà nước cung cấp hỗ trợ ngân sách, hoặc cho nền kinh tế nhà nước hoặc cho một khu vực tư nhân mới chớm nở.

Chương trình nghị sự về những cải cách đã bị che giấu này bao gồm nền tảng công nghiệp mất ổn định ở Việt Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp nặng, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và khai thác khoáng sản, xi măng, sắt thép sẽ được tổ chức lại và được thực hiện dựa trên số vốn nước ngoài. Tài sản nhà nước có giá trị nhất sẽ được chuyển giao để củng cố và duy trì cơ sở công nghiệp, hoặc để phát triển một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuộc sở hữu và kiểm soát bởi dân chúng.

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, hơn một triệu công nhân và hơn 20.000 công nhân viên chức (trong đó đa số là nhân viên y tế và giáo viên) đã bị sa thải. Lần lượt, nạn đói địa phương đã nổ ra, ảnh hưởng đến ít nhất một phần tư dân số cả nước. Những sự đói khát này không giới hạn ở các khu vực thiếu lương thực. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, 25% số dân trưởng thành tiêu thụ chưa tới 1.800 calories mỗi ngày. Ở các thành phố, sự mất giá của tiền đồng cùng với việc loại bỏ trợ cấp và kiểm soát giá cả đã dẫn đến giá gạo và các nhu yếu phẩm khác tăng vọt.

Những cải cách này đã dẫn đến việc cắt giảm mạnh mẽ các chương trình xã hội. Với việc áp dụng học phí, ba phần tư trong số một triệu trẻ em bỏ học khỏi hệ thống trường công trong vài năm (từ 1987-1990). Các trạm y tế và bệnh viện sụp đổ, sự hồi sinh của một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, lao phổi và tiêu chảy được Bộ Y tế và các nhà tài trợ nhận ra. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận rằng, số người tử vong do bệnh sốt rét tăng gấp ba lần trong bốn năm đầu của thời kỳ cải cách, cùng với sự suy sụp của việc chăm sóc sức khỏe và giá cả các loại thuốc chống sốt rét tăng vọt. Chính phủ (dưới sự hướng dẫn của các nhà tài trợ quốc tế) cũng đã ngưng hỗ trợ ngân sách để cung cấp các thiết bị y tế và bảo trì, dẫn đến tình trạng tê liệt toàn bộ hệ thống y tế công cộng. Tiền lương thật sự của nhân viên y tế và điều kiện làm việc đã giảm đáng kể: tiền lương hàng tháng của các bác sĩ y tế tại một bệnh viện huyện thấp tới mức $15 một tháng.

Mặc dù Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường, nhưng hai thập niên sau đó Việt Nam dường như đã đầu hàng kẻ thù chiến tranh trước đây của mình về mặt kinh tế.

Không có những quả bom viên bằng thép hay màu cam, không có bom napalm, không có hóa chất độc hại: một giai đoạn mới của sự hủy diệt kinh tế và xã hội đã diễn ra. Những thành tựu của cuộc đấu tranh trong quá khứ và nguyện vọng của một quốc gia toàn vẹn chưa hoàn thành và đã bị xóa gần như với một nét bút (chữ ký).

Điều kiện nợ và điều chỉnh cơ cấu dưới sự ủy thác của các chủ nợ quốc tế tạo ra do hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một công cụ thuộc địa bất bạo động chính thức và hiệu quả như nhau và sự bần cùng hóa ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.

——

Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.

Bài viết trên đã được viết năm 1995, đầu tiên được đăng tải vào ngày 30 tháng 4 năm 1995, trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm “Giải phóng Sài Gòn”.

Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Nguồn bản gốchttp://www.globalresearch.ca/who-won-the-vietnam-war/172

Nguồn bản dịch: https://www.facebook.com/BasamVN/posts/619964634763977

———————————————–

(Cập nhật 16-4-2014: Phần dưới đây đã từng nằm ở phần nhập đề  ( post vào 30-11-2008), nay được đưa xuống cuối bài cho thích hợp với nội dung của chủ đề )

Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ.

1./TH lấy làm ngạc nhiên khi đọc bài báo dưới đây cho rằng con của ông kia đậu vào trường đại học.

Ở Mỹ, chẳng có trường đại học nào thi tuyển sinh hết. Chẳng có trường nào tổ chức thi cử chọn sv vào năm thứ nhất vào học nên chẳng có chuyện đậu hay rớt. SV nào muốn vào học năm thứ nhất thì cứ việc nộp đơn và chờ trường cứu xét gởi giấy về báo được nhận hay không được nhận.

Việc tuyển chọn vào đại học chỉ căn cứ vào một số tiêu chuẩn như:
_điểm SAT hoặc ACT (là kỳ thi mà học sinh lớp 9, 10, 11, 12 nào muốn thi thì cứ việc đóng tiền 30 đô lệ phí và cứ việc ghé vào một trung tâm gần nhà để thi vào ngày thứ Bảy. Kỳ thi được tố chức 7, 8 lần một năm; bài thi do một tổ chức tư nhân soạn bài thi, tổ chức thi, chấm bài và công bố điểm thi. Tổ chức tư nhân nầy không phải là cấp dưới của bộ giáo dục, và cũng không liên hệ hay chịu sự sai khiến chỉ huy của bất cứ đại học nào hết).
_phiếu điểm hay thành tích học 4 năm trung học từ lớp 9-12
_thành tích về các hoạt động ngoại khóa ngoài thời giờ học, thì học sinh ấy có tham gia hoạt động nào không: thí dụ: đá banh, đánh kiếm, bơi lội, máu ba lê, trượt băng, trong đội tuyển thể thao, hướng dẫn và dạy các em học sinh ở các khu vực nghèo, viết và xuất bản tác phẩm …
_Viết một bài luận văn mà đề bài do trường đại học đưa ra cho năm đó. Kèm bài luận vào đơn xin nhập học và gởi đến cho trường.

Hàng năm, các trường đại học như Harvard, Yale, Princeton vẫn dành chỗ khoảng 5-7% để cho sinh viên nước ngoài vào học năm thứ nhất và họ cho học bổng 100% cho nơi ăn, ở, chi tiêu… Thông thường các học bổng loại nầy cấp cho  sinh viên từ các nước nghèo, đặc biệt là các trường nầy thường lấy lòng chính phủ nào đó, thì họ nhận con của các cán bộ cao cấp của các nước cộng sản cho vào nhập học năm thứ nhất; hoặc nhận bất cứ SV nào do các nước cộng sản đưa danh sách mà không cần biết khả năng của SV ấy ra sao. (Nhưng đối với sv trong nước, được nhận vào học các trường nầy rất khó khăn vì nhà trường đặt tiêu chuẩn chọn lựa rất cao).

Ngoài ra, các trường nổi tiếng hàng năm cũng cấp học bổng cho con cái của các cán bộ cộng sản cho vào học ngành master để lấy bằng tiến sĩ và cũng không cứu xét gắt gao như họ đã làm đối với SV trong nước. (Trường hợp ở trong bài báo dưới đây là một thí dụ)

2 bình luận trước “Đi Du Học Mỹ là nối nhịp cầu quan hệ Việt Mỹ (30-10-2008)”

  1. Phương Nguyên said

    Anh Trần Hong, con của ng ấy học sau ĐH, ko phải học ĐH. Ci dạng cn bộ cao cấp đi học vậy nhiều lắm. PTT Ng Thiện Nhn cũng c học ở Harvard chứ bộ.
    Mấy bi bo kiểu ny đọc chn chết,ton ca ngợi một chiều!

  2. VOI said

    pho��ng vi�n b���i bu��t.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: