Trần Hoàng Blog

Những Biến cố Dẫn tới Sự dính líu của Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 25/11/2008

ở Việt Nam

California Literally Review

Rufus Phillips

Ngày 30-10-2008

[Nước Mỹ đã thả dù các điệp viên OSS xuống miền bắc Việt Nam từ năm 1945 trước khi] kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến ở châu Á. Sự trợ giúp đó đã được dành] cho phong trào kháng chiến của Việt Nam để chống lại Nhật Bản, chủ yếu cho mặt trận dân tộc chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Tuy nhiên, [sự tham dự đáng kể của Hoa Kỳ đã không bắt đầu liền lúc ấy mà cho mãi về sau đó kia.]

Năm 1949, Trung Quốc rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc Chiến tranh Lạnh đã lên tới đỉnh điểm của nó tại Âu châu, với cuộc Không Vận Berlin * đang được thực kiện và Hoa Kỳ [đang cố gắng hết sức để hàn gắn] Tây Âu vào một hiệp ước phòng thủ chung. [Nằm trong số các mối quan tâm chủ yếu] là Pháp và Ý, hai nước có các đảng Cộng sản hoạt động mạnh mẽ ở trong nước. Pháp đã quay lại Đông Dương năm 1945 để xác nhận lại quyền kiểm soát thuộc địa và bị sa lầy vào một cuộc chiến quân sự thu hút số lượng binh lính gia tăng chưa từng thấy để chống lại [phong trào Việt Minh đang bị Cộng sản kiểm soát]. [Để giúp đỡ cho đồng minh Pháp của mình chống lại] những người Cộng sản ở Âu châu, Tổng thống Truman [đã chịu áp lực] ngày càng tăng để cung cấp sự trợ giúp quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, sự sụp đổ của [Trung Hoa Quốc Gia vào năm 1949 vào tay cộng sản] làm cho tình hình có vẻ như toàn bộ Đông nam Á có thể sẽ đi theo con đường tương tự, bắt đầu với những quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Cambodia và Lào. [Kết quả], vào tháng Ba năm 1950, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một chương trình viện trợ quân sự đầu tiên mười lăm triệu đô la cho Đông Dương và Thái Lan, với hầu hết số viện trợ được gửi tới trực tiếp cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sự dính líu của [người Mỹ chúng ta] đã có một bước tiến quan trọng.

Vào đầu năm 1954, sau chín năm chiến đấu, tương lai của Đông Dương [đã ở trong điều kiện nguy kịch]. Cuộc chiến của Pháp chống lại Việt Minh đang diễn ra không thuận lợi. Một kế hoạch [để ngăn chặn Việt Minh chiếm lấy Lào] bằng cách tạo ra một vị trí cố thủ trong thung lũng Điện Biên Phủ phía bắc Việt Nam, để khóa tuyến đường xâm chiếm chính của quân đội Việt Minh và nhử họ vào một cuộc đối đầu có tính quyết định với hỏa lực vượt trội của người Pháp, đã chứng tỏ một thất bại thê thảm.

Mùa Xuân năm 1954, xuất hiện khả năng người Pháp có thể thất bại tại trận địa Điện Biên Phủ, làm cho việc trợ giúp Pháp trong cuộc chiến tranh cũng chấm dứt. Các giới chức bên trong Chính phủ của Eisenhower [đã trở nên mất bình tỉnh. Câu hỏi vào lúc ấy] là liệu Hoa Kỳ [có nên trực tiếp can thiệp giúp đỡ] bằng quân sự để tránh một cuộc thất bại của Pháp hay không? Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower đã mạnh mẽ chống lại [ý kiến của việc can thiệp trực tiếp] bằng binh lính hoặc các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.

Thậm chí trước khi tai hoạ lờ mờ hiện ra ở Điện Biên Phủ, sức ép công luận Pháp đã gia tăng đòi kết thúc cuộc chiến, đưa đến kết quả người Pháp hoan nghênh một hội nghị quốc tế về Đông Dương để tìm kiếm một sự kết thúc xung đột qua đàm phán. Hội nghị Geneva bắt đầu vào ngày 26 tháng Tư năm 1954, với Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tư cách là những các Cường Quốc tham gia cùng với Việt Minh và Chính phủ Việt Nam (do ông Bảo Đại đứng đầu) cũng như các quốc gia Lào và Cambodia. Vào ngày 7 tháng Năm, [mười một ngày sau đó], Điện Biên Phủ đã rơi vào tay lực lượng Việt Minh của Tướng Võ Nguyên Giáp, giật khỏi tay người Pháp bất cứ điều kiện nhượng bộ nào mà họ có thể đòi hỏi.

Sau khi tờ nhật báo Le Journal d’Extreme Orient ở Sài Gòn, ngày 4 tháng Năm năm 1954, đăng một lời tuyên bố của Tổng ủy Pháp, Maurice Dejean, rằng không có “ý định” chia cắt Việt Nam, tách Việt Nam ra làm hai vùng lãnh thổ vào tháng Sáu, tâm điểm của những cuộc thảo luận bí mật giữa người Pháp và Việt Minh. Trong lúc thành phần chủ yếu của các lực lượng Việt Minh chính quy đang ở miền Bắc, thì các lực lượng hỗn hợp Pháp Việt thực ra đã kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ cả ở phía Bắc cũng như phía Nam. Hơn nữa, một phần quan trọng dân cư ở miền Bắc là người Thiên chúa giáo, đã từng kiên quyết chống lại Việt Minh và chắc chắn là mục tiêu cho một cuộc trả thù.

Trong lúc người Pháp bí mật thương lượng với Việt Minh, những người Việt Nam không phải cộng sản bị bỏ rơi trong bóng tối cho tới khi thỏa thuận được thi hành. Khi hội nghị diễn ra đều đều tẻ nhạt trong tháng Sáu thì một khuôn khổ thỏa thuận không chính thức đã đạt được [ở hậu trường]. Việt Nam sẽ bị chia cắt từ vĩ tuyến 17, các lực lượng của Pháp và đồng minh Việt Nam của họ sẽ tản cư khỏi miền Bắc rồi tập hợp tại miền Nam, và các lực lượng Việt Minh sẽ tản cư từ miền Nam ra miền Bắc, tất cả hoạt động này được hoàn tất vào tháng Năm năm 1955. Một Uỷ Hội Kiểm soát Quốc tế, gồm có Ba Lan, Ấn Độ và Canada, giám sát việc thực hiện những điều khoản của Hiệp định Ngừng bắn tại ba Nước Liên hiệp Đông Dương. Trong một nghị định thư không được ký kết tại Geneva, các cuộc bầu cử quốc gia, diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, dự định được tổ chức trong vòng hai năm sau khi kết thúc hội nghị. Chính phủ Eisenhower có quan điểm bên trong nội bộ coi [hiệp định] Geneva như là một tai hoạ. Đặc biệt làm trầm trọng thêm là sự thất bại của người Pháp trong việc huấn luyện nhiều hơn cho những binh lính người Việt và sớm tạo sự độc lập thực sự cho những người Việt Nam không cộng sản. Trong khi ông Bảo Đại trị vì với tư c
ch Hoàng đế từ tận vùng Riviera [nước Pháp], thì hệ thống cai trị của ông như là một thành viên của Liên hiệp Pháp [vẫn không có được tình trạng độc lập thực sự]. Quân đội Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn tự mình hành quân tác chiến và đã phải phụ thuộc hết vào sự hỗ trợ hậu cần của người Pháp.

Người Việt Nam không theo cộng sản đã rơi vào tình trạng cực kỳ choáng váng, chán nản và giận dữ. Căn cứ vào [môi trường chính trị] ở miền Nam, một cuộc tiếp quản của Cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng hai năm, hoặc thậm chí ít hơn, có vẻ như là [không thể nào tránh khỏi]. Ngoài những khái niệm mập mờ là bằng cách nào đó tập hợp được người Việt Nam ở miền Nam và những [kế hoạch không rõ ràng cho việc cài cắm các nhân viên đặc vụ ngầm ở lại ngoài Bắc] để hướng dẫn cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh, Hoa Kỳ [đã ít có kế hoạch] là làm thế nào để ngăn ngừa một cuộc tiếp quản hoàn toàn của Cộng sản.

Như một giải pháp tuyệt vọng, Đại tá Edward G. Lansdale, khi đó đã được chỉ định làm cho Cơ quan Tình báo Trung ương [CIA], được gọi trở lại vào tháng Một năm 1954, khi sự bất hòa đối với người Pháp đã kéo dài thêm, nếu như ông ta đến Việt Nam chỉ để làm cái trò “ảo thuật” giống như ông đã từng làm ở Philippines. Ở đó, trong vai trò một cố vấn, ông đã giúp người Philippines đánh bại những người Huk ** cộng sản và bầu Ramon Magsaysay với tư cách là Tổng thống trong một cuộc bầu cử không có gian lận. Quyết định [cử ông tới VN] là một hành động kết hợp bởi Ngoại trưởng John Foster Duller, anh trai ông ta là Allen Dulles, Giám đốc CIA, và Tổng trưởng Quốc phòng. Tướng John “Iron Mike” O’ Daniel, đứng đầu nhóm cố vấn quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAG) và Đại sứ Donald Heath, cũng đề cử ông.

Khi Ngoại trưởng Dulles nói cho Lansdale biết rằng Tổng thống Eisenhower muốn ông nhận nhiệm vụ này, Lansdale đã trả lời là ông sẽ đi, song chỉ là để giúp cho người Việt Nam thôi, chứ không phải cho người Pháp. Đó là kế hoạch hành động, ông được truyền đạt như vậy. Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng cho nhiệm vụ của ông, thứ đã chi phối, trong một thời gian ngắn, đối với tiến trình lịch sử. Nó cũng làm thay đổi đường đời của tôi và đến cả những người khác nữa. Lansdale đã không nhận những chỉ thị để tới Việt Nam cho đến hết tháng Năm [khi kết quả] của hiệp định Geneva đã rõ ràng. Những chỉ thị này đã chấm dứt với [một câu viết riêng tư] khác thường là “Chúa trời ban phúc cho anh” từ Allen Dulles. Lansdale đã tới Sài Gòn vào ngày 1 tháng Sáu năm 1954. Sau khi đặt chân xuống đất, Lansdale đã yêu cầu có một nhóm để trợ giúp mình, được biết tới như là Phái bộ Quân sự Sài Gòn [Saigon Military Mission]. Cơ quan này có hai mục đích [đáng chú ý]: ngăn chặn người Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam và chuẩn bị [ở lại kháng chiến] ở miền Bắc và tại miền Nam trong trường hợp miền nầy bị sụp đổ. .

Trước khi người Pháp đặt chân tới vào nửa cuối Thế kỷ 19, toàn bộ Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền với một ngôn ngữ chung và một lịch sử tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của Trung Hoa trong Thế kỷ 14. Sau các cuộc chiến tranh [của các phe nhóm trong triều đại giữa các vùng], Hoàng đế Gia Long của Triều Nguyễn đã thống nhất đất nước vào năm 1802. Hoàng đế Bảo Đại đại diện cho thế hệ thứ 13 của triều đại này.

Sau khi Pháp hứa nhưng không bao giờ chịu trao quyền độc lập cho Việt Nam, trong một chuỗi những thỏa thuận liên tiếp bắt đầu vào năm 1948, họ đã bỏ lại nửa phía bắc của nước này cho Việt Minh trong khi vẫn kiểm soát [một cách hiệu quả] nửa phần còn lại. Họ đã phát hành đồng tiền Việt Nam và điều hành ngân hàng quốc gia, [quản trị những ngành dịch vụ công cộng như điện nước], và hướng dẫn trên thực tế quân đội và cảnh sát quốc gia, [chỉ có nguồn xăng dầu cho xe cộ và các máy bay là thuộc về Liên Đoàn Công Binh của người Pháp]. [Giới lãnh đạo nước Pháp thì bị tiêm nhiễm với huyền thoại tự cho là đúng rằng] người Việt Nam sẽ không chịu chiến đấu và Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nên Ngoại trưởng Pháp Bidault đã long trọng tuyên bố với Ngoại trưởng Dulles vào tháng Tư năm 1954, rằng [“Sự độc lập không phải là yếu tố then chốt để đưa tới lòng can đảm. Việt Nam đã là một quốc gia, là nước, mà trong 1.500 năm qua, chưa bao giờ có bất cứ chủ quyền nào.”]

Với sự miễn cưỡng đầy giận dữ, Cao ủy Pháp [đã không dọn đi] khỏi Dinh Norodom ở Sài Gòn cho tới tháng Chín năm 1954 [để nhường chỗ] cho kẻ chiếm đóng mới, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, người đã tới đây từ tháng Bảy. [Được bổ nhiệm bởi Vua Bảo Đại] như là một hy vọng cuối cùng cho Nam Việt Nam, ông Diệm được nhiều quan chức Mỹ xem như là một nhân vật tầm thường [với ít cơ may] để tạo nên sự ủng hộ của dân chúng. Đi tới những phạm vi quanh quan điểm của người Mỹ là những cách nhìn nhận của Tòa đại sứ Mỹ tại Paris rằng ông Diệm là “một nhân vật thần bí như đạo sĩ Yoga … ông xuất hiện quá thanh tao và chất phác để có khả năng đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng và những kẻ vô liểm sỉ mà ông sẽ bắt gặp ở Sài Gòn.” Ông Diệm đã nhận thấy bản thân mình chẳng khác gì một tù nhân trong Dinh Gia Long, [nơi ông được đưa vào chức vụ lúc ban đầu]. Lúc đó, lực lượng canh gác dinh thự của ông được cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia [và cơ quan nầy thì bị kiểm soát bởi Bình Xuyên [1], một nhóm giang hồ] với quân đội riêng được [chu cấp tiền bạc bởi người Pháp và hoạt động bằng cách tống tiền.]

Một thuật ngữ Pháp được ưa chuộng để miêu tả Nam Việt Nam sau hiệp định Geneva là một “panier de crabes” (cái giỏ cua). [Người Pháp và người Mỹ đã bất hòa là do bởi sự cạnh tranh các quyền lợi]. Người Việt Nam bị chia rẽ giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng
ế Bảo Đại, các giáo phái gồm Cao Đài và Hòa Hảo, [nhóm giang hồ Bình Xuyên và Quân đội Việt Nam], cũng như nhiều đảng phái chính trị bị hất cẳng từ miền Bắc (Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt) và [những người tị nạn trốn chạy] từ miền Bắc. Trong nhiều năm, người Pháp đã chơi trò chia để trị nhằm làm cho nhiều nhóm phái người Việt ít tin tưởng lẫn nhau. [
Câu hỏi trong tâm trí người Mỹ là làm sao có một quốc gia nào hoặc một chính phủ đoàn kết nào bị xiết chặc như vầy mà có thể vặn mình thoát khỏi lại tình trạng hỗn loạn này?]

***

Bài trên trích từ đoạn Mở đầu của cuốn “Why Vietnam Matters” với sự cho phép của nhà xuất bản Naval Institute Press.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* The Berlin Air Lift (Cuộc Không Vận Berlin): bắt đầu bằng Cuộc Phong tỏa Berlin [The Berlin Blockage], từ ngày 24-6 đến ngày 11-5-1949, là một trong những khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh lúc mới nổ ra. Nó bắt đầu khi những Liên Xô phông tỏa tuyến đường sắt và đường bộ từ ba cường quốc phương Tây là Mỹ, Anh và Pháp tới phần phía Tây của thành phố Berlin do phương Tây chiếm đóng… Sau đó Mỹ và đồng minh phương Tây phải lập cầu hàng không để tiếp vận cho Tây Berlin … (wikipedia).

** Huk: hoạt động du kích do Cộng sản cầm đầu ở Philippines, được triển khai trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến khi du kích quân có vũ trang chống lại người Nhật … (wikipedia)

[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_Xuy%C3%AAn

———————————————-

Events Leading to America’s Involvement in Vietnam

by Rufus Phillips

October 30th, 2008

The United States parachuted OSS agents into northern Vietnam in 1945, before the end of World War II in Asia. Support was given to Vietnamese resistance against the Japanese, mainly to Ho Chi Minh’s nationalist front movement, the Vietnamese Independence League (Vietminh). However, substantial U.S. engagement did not begin until later.

In 1949, China fell to the Communists. The Cold War was at its peak in Europe, with the Berlin Air Lift underway and the U.S. desperately trying to weld Western Europe into a common defense pact. Of critical concern were France and Italy, which had strong domestic Communist parties. The French had returned to Indochina in 1945 to reassert colonial control and were caught in a deepening military struggle involving ever growing numbers of troops against the Communist controlled Vietminh. To shore up its ally against the Communists in Europe, President Truman came under increasing pressure to provide military assistance to the French in Indochina. Moreover, the fall of China in 1949 made it appear likely that all of Southeast Asia might go the same way, beginning with the associated states of Indochina: Vietnam, Cambodia and Laos. Thus, in March 1950, President Truman approved an initial fifteen million dollar military aid program for Indochina and Thailand, with most of the aid going directly to the French armed forces in Indochina. Our involvement had taken a significant step.

By early 1954, after eight years of struggle, Indochina’s future hung in the balance. France’s war against the Vietminh was not going well. A plan to prevent a Vietminh take over of Laos by creating a redoubt in the northern Vietnam valley of Dien Bien Phu blocking the main route of invasion and luring Vietminh forces into a decisive confrontation with French superior fire power proved a dismal failure.

By the Spring of 1954, it appeared the French might lose the battle for Dien Bien Phu, causing French support for the war to collapse. Officials within the Eisenhower Administration became frantic. The question at hand was should the U.S. directly intercede militarily to prevent a French defeat? President Eisenhower, however, strongly resisted the idea of directly intervening with U.S. troops or bombers.

Even before disaster loomed at Dien Bien Phu, French public pressure had grown for an end to the war, resulting in the French welcoming an international conference on Indochina to seek a negotiated end to the conflict. The Geneva Conference opened on April 26, 1954, with France, the United Kingdom, the Soviet Union, China and the United States as Great Power participants along with the Vietminh and the State of Vietnam (ruled by Bao Dai) as well as the States of Laos and Cambodia. On the 7th of May, eleven days later, Dien Bien Phu fell to the Vietminh forces of General Vo Nguyen Giap, severely undercutting any concessions which the French might have requested.

After the Saigon newspaper, Le Journal d’Extreme Orient, on May 4, 1954, published a declaration by Maurice Dejean, French Commissioner General that there was no “ intention of” partitioning Vietnam, dividing Vietnam into two territories became, in June, the centerpiece of secret discussions between the French and the Vietminh. While the bulk of regular Vietminh forces were in the North, the combined French and Vietnamese forces controlled almost as much territory in the North as in the South. Moreover, a substantial part of the population in the North was Catholic, had strongly resisted the Vietminh and was certain to be a target for retaliation.

While the French secretly negotiated with the Vietminh, the non-communist Vietnamese were left in the dark until the deal was cut. As the conference droned into June a framework of understanding was reached behind the scenes. Vietnam would be separated at the 17th parallel, French forces and their Vietnamese allies would evacuate the North to regroup in the South, and Vietminh forces would evacuate from the South to the North, all this to be accomplished by May 1955. An International Control Commission, composed of Poles, Indians and Canadians, was to supervise carrying out the terms of the Cease Fire Agreement in the three Associated States of Indochina. In an unsigned protocol at Geneva, national elections, covering all of Vietnam, were proposed within two years after the conference’s conclusion. The Eisenhower Administration viewed Geneva internally as a disaster. Particularly exasperating was the French failure to train more Vietnamese soldiers and to give the noncommunist Vietnamese real independence beforehand. While Bao Dai reigned as Emperor from the Riviera, his regime as a member of the French Union still had no truly independent status. The Vietnamese Army had never operated completely on its own and was entirely dependent on French logistical support.

The non-communist Vietnamese lapsed into severe shock, depression and anger. Given the political vacuum in the South, a Communist takeover of all of Vietnam within two years, or even less, seemed unavoidable. Be
yond vague ideas of somehow rallying the Vietnamese in the South and contingency plans for creating stay-behind agents to conduct guerrilla warfare against the Vietminh, the U.S. had little idea of how to prevent a complete Communist take-over.

As a desperate measure, Colonel Edward G. Lansdale, then assigned to the Central Intelligence Agency, had been asked back in January 1954, when the odds against the French were already lengthening, if he would go to Vietnam to work the same “ magic” he had in the Philippines. There, as an advisor, he helped the Filipinos defeat the Communist Huks and elect Ramon Magsaysay as President in a clean election. The decision to send him was a joint one by Secretary of State, John Foster Dulles, his brother Allen Dulles, Director of the CIA, and by the Defense Department. General John “Iron Mike” O’Daniel, head of the American Military Advisory Group (MAG) in Saigon and Ambassador Donald Heath, also asked for him.

When Secretary of State Dulles informed Lansdale that President Eisenhower wanted him to go, Lansdale said he would do so only if it was to help the Vietnamese, not the French. That was the idea, he was told. This became an important basis for his mission, which influenced, for a time, the course of history. It also changed the course of my life and that of others. Lansdale did not receive orders to go to Vietnam until the end of May when the outcome of Geneva was clear. Those orders ended with an unusual personal note of “God bless you” from Allen Dulles. Lansdale arrived in Saigon on June 1, 1954. After getting his feet on the ground Lansdale called for a team to assist him, known as the Saigon Military Mission. It had two daunting purposes: prevent the North Vietnamese from taking over the South and prepare stay behind resistance in the North and in the South in case it too fell.

Before the French came in the second half of the 19th Century, all of Vietnam had been a sovereign country with a common language and with a history of freeing itself from Chinese domination in the 14th Century. After dynastic wars between the regions, Emperor Gia Long of the Nguyen Dynasty united the country in 1802. Emperor, Bao Dai, represented the 13th generation of this dynasty.

After France promised, but never delivered Vietnam independence, in a succession of agreements beginning in 1948, they had ceded the northern half of the country to the Vietminh while still effectively controlling the remainder. They issued Vietnam’s currency and ran its national bank, operated the public utilities and effectively controlled the national army and police whose only source of gasoline for its vehicles and airplanes was the French Expeditionary Corps. So imbued was the French leadership with the self-justifying myth that the Vietnamese would not fight and Vietnam had never been a nation that Foreign Minister Bidault solemnly told Secretary Dulles in April 1954, “Independence was not a key to courage. Vietnam was a country, which, for 1,500 years, has never had any sovereignty.”

With teeth-gnashing reluctance the French High Commissioner would not move out of Norodom Palace in Saigon until September 1954 to make room for its new occupant, Prime Minister Ngo Dinh Diem, who had arrived in July. Appointed by Bao Dai as a last hope for South Vietnam, Diem was viewed by many American officials as a cipher with little chance of generating popular support. Going the rounds of American opinion were the views of the American Embassy in Paris that Diem was, “a Yogi-like mystic … he appears too unworldly and unsophisticated to be able to cope with the grave problems and unscrupulous people he will find in Saigon.” Diem found himself something of a prisoner in Gia Long Palace where he was first installed. At the time, his palace guard was provide d by the National Police who were in turn controlled by the Binh Xuyen, a gangster sect with its own private army funded by the French and racketeering.

A favorite French term to describe South Vietnam after Geneva was a “panier de crabes” (basket of crabs). At odds were the competing interests of the French and the Americans. The Vietnamese were divided between new Prime Minister Diem, Emperor Bao Dai, the religious sects of the Cao Dai and Hoa Hao, the gangster sect of the Binh Xuyen and the Vietnamese Army, as well as various displaced political parties from the North (the VNQDD and the Dai Viet) and the refugees fleeing the North. For years the French had played divide and rule so that the various Vietnamese groups had little trust in each other. The question on American minds was how could any coherent government or country ever be wrung out of this mess?

***

From the Prologue to “Why Vietnam Matters” with the permission of Naval Institute Press.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: