Trần Hoàng Blog

Vụ Ám Sát TT Diệm & Kennedy Dẫn Tới Việt Nam War

Posted by hoangtran204 trên 23/11/2008

Đánh giá lại Diệm: Cái nhìn khác về miền Nam

Tiến sĩ Kathryn Statler
Viết riêng cho BBCVietnamese.com
21 Tháng 11 2008

Vẫn nằm trong loạt bài đánh giá về nhân vật Ngô Đình Diệm nhân 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính tháng 11.1963, xin giới thiệu với quý vị bài viết của tiến sĩ Kathryn Statler, Phó Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học San Diego, Hoa Kỳ.

Trong cuốn sách của tôi, Thay thế Pháp: Nguồn gốc của sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, tôi đánh giá cách người Mỹ thay Pháp ở miền Nam sau Hội nghị Geneva 1954.

Hiệp định Geneva đã tạm tái lập hòa bình giữa lực lượng của Hồ Chí Minh và Pháp, và chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17.

Các lãnh đạo Pháp tin rằng họ sẽ duy trì ảnh hưởng ở Nam Việt Nam, nhưng không được khi người Mỹ bắt đầu chiếm các vị trí trước đây nằm trong tay Pháp.

Khôn hơn người ta tưởng

Có lẽ yếu tố quan trọng nhất định hình sự chuyển đổi ảnh hưởng từ Pháp sang Mỹ chính là Diệm. Sau khi đã loại bỏ được ảnh hưởng của Pháp ở miền Nam, ông lại xoay sang mục tiêu tìm kiếm độc lập trước người Mỹ.

Các quan chức Mỹ ủng hộ Diệm sau Geneva vì họ bị thu hút bởi nhãn hiệu chống tham nhũng, chống cộng, thân phương Tây, Thiên Chúa giáo. Nhưng hóa ra Diệm, một cách có hệ thống, đã phá ngang các yêu cầu của Mỹ ở miền Nam, tuyên bố ông là một lãnh đạo Á châu tự chủ.

Lúc Diệm trở thành Thủ tướng, cả đồng minh lẫn kẻ thù đều nghĩ Diệm là một người có đạo đức, nguyên tắc, trung thực nhưng không khôn lắm về chính trị.

Diệm đã chứng tỏ ông khôn hơn người ta tưởng. Đến giữa tháng Năm 1955, Diệm đã loại hầu hết đối thủ trong nước, đặc biệt các nhóm Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Lúc Diệm trở thành Thủ tướng, cả đồng minh lẫn kẻ thù đều nghĩ Diệm là một người có đạo đức, nguyên tắc, trung thực nhưng không khôn lắm về chính trị

Ông cũng góp vai trò vào công cuộc vận chuyển và tái định cư thành công nhất trong lịch sử hiện đại, khi người tị nạn miền Bắc đổ vào miền Nam sau Hội nghị Geneva 1954.

Diệm cũng phá vỡ kế hoạch bầu cử năm 1956 theo như quy định của Hiệp định Geneva, với lý do Nam Việt Nam đã bị loại trừ khỏi cuộc đàm phán và đã không ký thỏa thuận chung cuộc.

Từ 1954 cho đến khi bị ám sát năm 1963, Diệm hoan nghênh viện trợ của Mỹ nhưng chống lại cố gắng chỉ đạo chính sách của miền Nam.

Bên cạnh đó, Diệm tìm cách có sự tôn trọng và hợp tác của các nước trung lập Thế giới thứ Ba, để không bị xem là con rối của Mỹ.

Diệm mặc đồ như một người phương Tây vì ông nhận thức rằng đó là nơi của trung tâm quyền lực, nhưng ông quyết đi theo con đường riêng ở Đông Nam Á.

Điều thú vị là đến cuối thập niên 1950, từ chỗ cực lực bài Pháp, Diệm bắt đầu nỗ lực hàn gắn quan hệ với Pháp để chứng tỏ mình độc lập trước Washington.

Chính sách ngoại giao

Đối ngoại là lĩnh vực Diệm có nhiều thành công nhất. Mục tiêu ngoại giao đầu tiên của ông là nâng vị thế quốc tế của Nam Việt Nam, bằng cách bình thường hóa quan hệ với các quốc gia khác.

Đến tháng 10.1956, Nam Việt Nam có 11 phái bộ tại Pháp, Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Italy, Nhật, Thái Lan, Philippines, Campuchia, Lào, Hong Kong, Djakarta và Đài Bắc, và có nhiều nước công nhận hơn miền Bắc (hơn 40 nước vào đầu năm 1958).

Diệm ngày càng lo ngại rằng các nước châu Á xem ông là “người do Tây nhào nặn”. Sau khi đã bảo đảm được sinh mạng chính trị của miền Nam, và của chính ông, ông bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ.

Trước thời hạn bầu cử 1956, Diệm dè bỉu các nước “không liên kết”, nhưng sau khi hạn chót đã đi qua, ông thay đổi chính sách: cải thiện quan hệ với các nước châu Á.

Trước tiên Diệm ve vãn Ấn Độ, đích thân đi đến New Delhi năm 1957. Một mục tiêu của chuyến thăm là chứng tỏ ông không phải như Lý Thừa Vãn của Nam Hàn, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan – những người mà ông xem là chư hầu của Mỹ.

Diệm cũng bắt đầu tới các nước khác, đón tiếp nhiều lãnh đạo như U Nu của Miến Điện, để tăng vị thế quốc tế của ông.

Ông bay đến Washington, Canberra, Seoul, Bangkok, Delhi, Rangoon, gặp Thủ tướng Nhật, các phái đoàn của Marốc và Iraq. Diệm cũng đạt thỏa thuận đoàn kết chống cộng sản cùng với Úc, Nam Hàn và Thái Lan.

Ông cố gắng phát triển quan hệ với khối trung lập, giao thiệp với các nước Ảrập và thương lượng với Nhật về việc bồi thường chiến tranh.

Diệm cũng đăng ký gia nhập thật nhiều tổ chức quốc tế để quảng bá cho quốc gia miền Nam.

Đến cuối năm 1957, Nam Việt Nam có đại diện ở ít nhất 20 tổ c
hức liên quan Liên Hiệp Quốc và là thành viên của IMF.

Hành động cân bằng giữa Á châu và Mỹ đưa Diệm đi đến ngã tư đường trong chính sách ngoại giao vào năm 1958.

Theo chuyên gia hàng đầu về Việt Nam khi đó, Bernard Fall, miền Nam có thể cứ nằm trong tay Mỹ để bị gọi là chư hầu. Hoặc Sài Gòn có thể tìm lối đi trung dung, nhưng khi đó lại đối phó với bất ổn chính trị, vấn nạn kinh tế.

Cuối cùng, Diệm và em trai, Ngô Đình Nhu, ủng hộ quan điểm duy trì sự độc lập của miền Nam trong tương quan với Mỹ.

Đến năm 1960, 55 nước đã chính thức công nhận miền Nam – một thành tựu khá lớn khi so với sự cô lập của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam.

Thất bại trong nước

Mặc dù khá thành công khi khẳng định sự độc lập về đối ngoại trong giữa thập niên 1950, nhưng đến khi John Kennedy đắc cử, Diệm để mất chủ động trong cả lĩnh vực đối ngoại và đối nội, vì sự can thiệp gia tăng của Mỹ và việc Diệm không thể ứng phó với các vấn đề trong nước.

Những khó khăn của miền Nam một phần có thể quy cho việc Mỹ không hiểu được chủ nghĩa dân tộc của Thế giới thứ Ba và những động cơ của Diệm.

Các viên chức Mỹ ở Sài Gòn tiếp tục ngạc nhiên là dù có viện trợ, Diệm vẫn chống đối cải cách của Mỹ.

Trong khi đó, Diệm cũng bực tức vì sao người Mỹ không hiểu quyết tâm của ông muốn đi theo con đường riêng, bỏ qua cả hệ thống tư bản dân chủ và kinh tế tập trung cộng sản.

Sau rốt, chính vì Diệm quyết tâm đi theo con đường riêng mà các tướng lĩnh miền Nam và Hoa Kỳ đã lật đổ ông

Chúng ta sẽ không bao giờ biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ Diệm.

Dù có thành công trong ngoại giao, nhưng Diệm khó lòng trở thành lá chắn hiệu quả chống lại quyết tâm thống nhất hai miền của Hà Nội.

Nhưng có lẽ những thành tựu của ông lâu nay đã bị đánh giá thấp.

Đây là người đã loại bỏ phe Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên, buộc Pháp rời bỏ cựu thuộc địa, lấy được viện trợ đáng kể của Mỹ, và buộc cộng đồng quốc tế chấp nhận “sự tan rã của ý tưởng bầu cử toàn quốc 1956”, và buộc họ thừa nhận rằng đất nước không thể được thống nhất chừng nào người cộng sản còn cầm quyền ở miền Bắc.

Diệm cũng lập ra một hiến pháp trao quyền lực tuyệt đối cho hành pháp, lập ra Quốc hội miền Nam, và giúp hàng trăm ngàn người tị nạn miền Bắc hòa nhập cuộc sống.

Diệm cũng có nhiều nhược điểm, như các nhà chỉ trích trước và nay đã chỉ ra. Đặc biệt, chính sách cải cách ruộng đất tai hại, đàn áp chính trị, và chỉ nghe ý kiến của người thân đã làm chính thể bị suy yếu.

Nhưng Diệm không phải là bù nhìn. Sau rốt, chính vì Diệm quyết tâm đi theo con đường riêng mà các tướng lĩnh miền Nam và Hoa Kỳ đã lật đổ ông.

Về tác giả:Bà Kathryn Statler lấy bằng tiến sĩ lịch sử ở Đại học Santa Barbara năm 1999 và dạy ở Đại học San Diego từ 2005. Tác phẩm đầu tay, Replacing France: The Origins of American Intervention in Vietnam, được NXB ĐH Kentucky ấn hành năm 2007.


JFK và Việt Nam

Vụ ám sát Kennedy ngày này 45 năm trước đã dẫn tới một cuộc chiến tranh của người Mỹ.

Bài của Gordon M. Goldstein

Ngày 22-11-2008

Vụ ám sát John F. Kenneky ngày này 45 năm trước đã mang lại một sự kết thúc đột ngột cái thời mà những người hâm mộ ông gọi là Camelot *, một kỷ nguyên tổng thống của vẻ bề ngoài điển trai quyến rũ, thông minh, hóm hỉnh và những triển vọng. Thế nhưng vụ án mạng thậm chí đã có một hậu quả sâu xa hơn: ngày 22-11-1963, là một ngày có ý nghĩa nhất trong lịch sử của cuộc Chiến tranh Việt Nam **.

Không thể biết một cách chính xác liệu Kennedy sẽ chế ngự cuộc khủng hoảng ở Việt Nam ra sao nếu như ông còn sống. Thế nhưng rõ ràng rằng ông đã tỏ ra cương quyết tránh để Việt Nam trở thành một cuộc chiến của người Mỹ và rằng ông đã mong rút quân hoàn toàn trong một nhiệm kỳ thứ hai của mình.

Vào thời điểm Kennedy nhậm chức năm 1961, sự dính líu của quân đội Mỹ ở Đông nam Á bị hạn chế bằng những chuyến vận chuyển vũ khí từ tàu biển và số lượng nhỏ các cố vấn quân sự. Song chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam khi đó đang phải đối mặt với một cuộc nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của cộng sản và, ngay tại Hoa Kỳ, [áp lực đã và đang gia tăng để chuyển bộ binh vào VN.]

Qua diễn biến tình hình của năm đó, các cố vấn của Kennedy đã trình lên ông cả nửa tá hoặc hơn các đề nghị Mỹ- hóa cuộc chiến. Trong một bản phúc trình, Tổng trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Ngoại trưởng Dean Rusk và nhóm các cố vấn quân sự cao cấp nhất (Join Chiefs of Staff) biện luận rằng [rất khó ngăn chặn] “sự sụp đổ của Nam Việt Nam bởi bất cứ giải pháp nào [mà thiếu sự hiện diện] của quân đội Hoa Kỳ trên một quy mô đáng kể.”

Các cố vấn của Kennedy nói với ông rằng để bảo vệ chính quyền Sài Gòn thì có thể phải cần tới 200.000 lính chiến. McGeorge Bundy, cố vấn an ninh quốc gia, đã tin rằng sự có mặt quân đội Mỹ là vấn đề sống còn. “Lào chưa bao giờ thật sự là của chúng ta sau năm 1954,” Bundy giải thích cho vị tổng thống đa nghi khi viện dẫn tới quốc gia Đông nam Á này, nơi mà Kennedy đã từng chống lại sự can thiệp. “Việt Nam là [của chúng ta] và họ muốn thuộc về [chúng ta].”

Kennedy không dễ chấp thuận. Trong một thời gian dài trước khi trở thành tổng thống, ông đã nói toạc ra tại Quốc hội rằng cần đề phòng kinh nghiệm thảm khốc của người Pháp tại Việt Nam, coi đó như mà một lý do để Hoa Kỳ đừng bao giờ tham gia vào một cuộc chiến trên bộ tại đó. Vào mùa hè năm 1961, ông nói ông đã chấp nhận kết luận của Tướng Douglas MacArthur, người đã khuyên nên phản đối một cuộc chiến trên bộ tại châu Á, khi nhấn mạnh rằng thậm chí một triệu lính bộ binh Mỹ cũng không thể đủ để thắng thế. Ông sẽ cung cấp viện trợ và huấn luyện quân sự cho chính quyền Sài Gòn, song ông sẽ không cho phép gửi đi lực lượng lục quân.

Qua ba năm nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Kennedy đôi lúc [đã xử dụng thuật hùng biện có tính hiếu chiến] về vấn đề Việt Nam. Ông cũng đã gia tăng thêm số cố vấn và nhân viên huấn luyện quân sự tại đây lên xấp xỉ 16.000. Thế nhưng cả McNamara và Bundy đều trở nên tin rằng Kennedy sẽ không Mỹ hóa cuộc chiến – [thậm chí nếu như cái giá là sự xâm chiếm của chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam.]

Kennedy đã nhận thức rõ rằng sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc chặn con Đường mòn Hồ Chí Minh — những tuyến đường thâm nhập và tái cung cấp trang thiết bị quân sự từ Bắc Việt Nam — sẽ làm cho nó không thể đánh bại các cuộc nổi dậy. [“Những con đường mòn này là lý do dẫn tới sự thất bại,”] Kennedy nói với một phụ tá vào mùa xuân năm 1962, [“và là một lý lẻ ủng hộ thêm cho sự leo thang chiến tranh.”] Kennedy đã quá nghi ngại khi ông không úp mở gì với viên phụ tá Tòa Bạch Ốc Michael Forrestal rằng tỉ lệ cá cược cho việc chiến thắng được Việt Cộng là 100 ăn 1.

Đầu năm 1963, Kennedy nói với Lãnh đạo phe Đa số tại Thượng viện Mike Mansfield, người đã chống lại việc dính líu ngày càng nhiều của Hoa Kỳ tại Việt Nam, rằng ông sẽ bắt đầu cho rút các cố vấn quân sự khỏi Nam Việt Nam vào đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình năm 1965. Kennedy đã để lộ kế hoạch tương tự của Roswell Gilpatric, thứ trưởng Quốc phòng. Thế nhưng tấn thảm kịch ở Dallas vào tháng Mười một năm 1963 đã thay đổi mọi chuyện.

Điều gì đã xảy ra sau cái chết của Kennedy là một câu chuyện đã trở thành quen thuộc. Lyndon B. Johnson kế tục vị trí tổng thống năm 1964, và vào tháng Tám năm đó ông đã lợi dụng một biến cố không rõ ràng trên Vịnh Bắc Bộ để lấy được một sự chuẩn thuận của quốc hội không hạn chế các hành động quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng Ba năm 1965, Johnson gửi 3.500 lính Hải quân đầu tiên tới Việt Nam. Trong vòng mấy tháng ông đã phê chuẩn việc triển khai 175.000 binh lính nữa.

Nếu như Kennedy còn sống, ông sẽ có được những lợi thế to lớn vào năm 1965. Trong một nhiệm kỳ thứ hai, Kennedy [sẽ không thể bị tổn hại trước các cử tri đoàn]. Ông sẽ không có cái chương trình nghị sự xây dựng những dự luật Xã hội Vĩ đại [Great Society] rõ lớn lao hào phóng của Johnson để cố gắng thuyết phục Quốc hội. Ông đã thiết lập được một thông lệ kiên quyết loại bỏ những cố vấn của mình khi cần thiết. Và ông sẽ bước vào nhiệm kỳ bốn năm cuối của mình như là một nhà quán quân cho cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, một thành tích về an ninh quốc gia [sẽ làm gia tăng quyền kiểm soát vào tay của ông ta một cách có hiệu quả].

“Vì vậy ông không phải tự chứng tỏ bản thân mình ở Việt Nam,” Bundy biện luận khi hồi tưởng lại quá khứ. “Ông ấy có thể giảm bớt được những mất mát của đất nước lúc đó. Ông ấy có thể làm điều này do việc từ chối gây ra một cuộc chiến tranh của người Mỹ.”

Vị tổng thống Kennedy đó trong vai trò là một tổng chỉ huy quân đội đã không có được cơ hội để quyết định một số phận khác cho Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam đã làm sâu đập thêm bi kịch từ sự ra đi của ông và cũng nhấn mạnh thêm di sản quý báu của ông, vẫn hết sức liên quan 45 năm sau đó: [sự suy xét và phán đoán của vị tổng tư lệnh, chẳng bao lâu nữa sẽ nằm] trên đôi vai của vị Tổng thống mới đắc cử Barrack Obama, rút cục [ xác định rõ sự khác biệt] giữa chiến tranh và hòa bình.

Gordon M. Gildstein là tác giả của cuốn “Những bài học trong Thảm hoạ: McGeorge Bundy và Con đường đi tới Chiến tranh tại Việt Nam,” mới được Times Books xuất bản.

* Camelot: thành phố trong truyền thuyết của Vua Arthur, xứ sở hòa bình, tươi đẹp, mộ đạo, có học thức.

** Để hiểu vụ ám sát TT Kennedy, mời xem thêm: “Sự giống nhau của hai vụ ám sát”-(BBC-VN); “JFK và cuộc đảo chính Diệm“; “Đoạn phim m
ới về vụ ám sát JFK
“;

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

nguồn: TTX Ba Sàm

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=2617&n=28500

———————————————–

Los Angeles Times

———–

JFK and Vietnam

Kennedy’s assassination 45 years ago today made it an American war.

By Gordon M. Goldstein
November 22, 2008

The assassination of John F. Kennedy 45 years ago today brought an abrupt end to what his admirers called Camelot, a presidential era of glamour, intelligence, wit and possibility. But the murder had an even more profound consequence: Nov. 22, 1963, was the single most significant day in the history of the Vietnam War.

It’s not possible to know for certain how Kennedy would have managed the crisis in Vietnam had he lived. But it’s clear that he was determined to prevent Vietnam from becoming an American war and that he expected to withdraw fully during a second term.

At the point Kennedy assumed office in 1961, American military involvement in Southeast Asia was limited to arms shipments and a small number of advisors. But the South Vietnamese regime of Ngo Dinh Diem was facing an increasingly potent communist insurgency and, in the U.S., pressure was building to send in ground troops.

Over the course of the year, Kennedy’s advisors presented him with half a dozen or more proposals to Americanize the war. In one, Secretary of Defense Robert McNamara, Secretary of State Dean Rusk and the Joint Chiefs of Staff argued that it would be difficult to prevent “the fall of South Vietnam by any measures short of the introduction of U.S. forces on a substantial scale.”

Kennedy’s advisors told him that to defend the Saigon regime might take more than 200,000 combat troops. McGeorge Bundy, national security advisor, believed that commit ting American troops was vital. “Laos was never really ours after 1954,” Bundy explained to the skeptical president, invoking another Southeast Asian nation where Kennedy had resisted intervention. “Vietnam is and wants to be.”

Kennedy was not receptive. Long before becoming president, he had spoken out in Congress against the disastrous French experience in Vietnam, citing it as a reason the U.S. should never fight a ground war there. In the summer of 1961, he said he had accepted the conclusion of Gen. Douglas MacArthur, who counseled against a land war in Asia, insisting that even a million American infantry soldiers would not be sufficient to prevail. He would offer military aid and training to Saigon, but he would not authorize the dispatch of ground forces.

Over the three years of his presidency, Kennedy sometimes invoked hawkish rhetoric about Vietnam. He also increased the military advisors and training personnel there to roughly 16,000. But McNamara and Bundy both came to believe that Kennedy would not have Americanized the war — even if the price was communism in South Vietnam.

Kennedy realized that the inability of the United States to shut down the Ho Chi Minh Trail — the lines of infiltration and resupply from North Vietnam — would make it impossible to defeat the insurgency. “Those trails are a built-in excuse for failure,” Kennedy told an aide in the spring of 1962, “and a built-in argument for escalation.” Kennedy was so dubious he declared to White House aide Michael Forrestal that the odds against defeating the Viet Cong were 100 to 1.

In early 1963, Kennedy told Senate Majority Leader Mike Mansfield, who opposed increased U.S. involvement in Vietnam, that he would begin withdrawing advisors from South Vietnam at the beginning of his second term in 1965. Kennedy disclosed the same plan to Roswell Gilpatric, his deputy secretary of Defense. But the tragedy in Dallas in November 1963 changed everything.

What happened after Kennedy’s death is a familiar story. Lyndon B. Johnson ran for president in 1964, and in August of that year he used an ambiguous incident in the Gulf of Tonkin to extract an open-ended congressional authorization for military action against North Vietnam. On March 8, 1965, Johnson sent the first 3,500 Marines to Vietnam. Within months he had approved deploying 175,000 combat troops.

If Kennedy had lived, he would have enjoyed enormous advantages in 1965. In a second term, Kennedy would have been invulnerable to the electorate. He would not have had Johnson’s grand liberal agenda of Great Society legislation to ram through Congress. He had established a firm practice of overruling his advisors when necessary. And he would have entered his final four years as the champion of the Cuban missile crisis, a national security accomplishment that would have dramatically strengthened his hand.

“So he does not have to prove himself in Vietnam,” Bundy retrospectively argued. “He can cut the country’s losses then. He can do it by refusing to make it an American war.”

That Kennedy as commander in chief was not provided the opportunity to determine a different fate for the United States in Vietnam deepens the tragedy of his loss and also underscores his profound legacy, still richly relevant 45 years later: The judgment of the commander in chief, soon to be resting on the shoulders of President-elect Barack Obama, ultimately determines the difference between war and peace.

Gordon M. Goldstein is the author of “Lessons in Disaster: McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam,” recently published by Times Books.


3 phản hồi to “Vụ Ám Sát TT Diệm & Kennedy Dẫn Tới Việt Nam War”

  1. TranHoang said

    Trch sch viết về TT Ng Đnh Diệm do Hang Ngọc Thnh & Nhn Thị Nhn Đức viết :

    “Chỉ trong vi năm, sau khi ha bnh vn hồi, chnh phủ Ng Đnh Diệm đ đổi mới bộ mặt miền Nam v c những thnh tch đng kể trong nhiều ngnh. Sự sản xuất 3 triệu tấn vo năm 1957. Nam Việt Nam l một miền nng nghiệp, khng c nhiều mỏ v kỹ nghệ như tại miền Bắc, nhưng chnh phủ cũng khai thc mỏ than Nng Sơn. Nền gio dục cũng pht triển ma.nh. Vo năm 1957, số sinh vin đại học ln đến 3,823, tăng 40% so với năm 1955, số học sinh trung học l 60,860 tại 136 trường trung học, cũng tăng 40%, cn số học sinh tiểu học l 671,585 học tại 3,473 trường tiểu học, tức gia tăng 60%. Cc trường kỹ thuật v dạy nghiề c số học sinh tăng gấp đi. Luật php của chế độ Đệ Nhất Cộng Ho quy định cc trẻ em từ 6 đến 14 tuổi phải học cho đến hết ba năm đầu của bậc tiểu học, cn mọi cng dn từ 13 đến 50 tuổi phải học đọc v viết trong thời gian 2 năm nếu m chữ. Năm 1958, đường xe lửa xuyn VN từ Saigon chạy ra Huế, v gip đến vỹ tuyến 17 hoạt động trở lại, v đường xa lộ Saigon – Bin Ha cũng được khnh thnh trong năm ny. Chnh phủ Ng Đnh Diệm cũng bắt đầu thực hiện một “kế hoạch 5 năm”, từ 1957 đến 1961, để kỹ nghệ ha xứ sở. Kế hoạch ny lm gia tăng sự sản xuất la gạo trn 4 triệu tấn, cao su trn 70,000 tấn. Miền Nam bắt đầu xuất cảng khng những la gạo v cao su m cả những sản phẩm khc như heo nữa. Nhiều nh my dệt, nh my giấy, cc viện bo chế dược phẩm, nh my vn p, nh my điện với cc my mc v kỹ thuật tối tn nhất được xy cất. Nền gio dục đạt được những thnh tch rất khả quan. Đến năm 1961, số trường v học sinh tiểu học tăng gấp đi so với năm 1957, số trường v học sinh trung học tăng ln gấp 3 lần. TT Diệm cho mở thm hại đại học: đại học cng lập Huế v đại học tư thục thin Cha Đ Lạt, v số sinh vin tăng ln gấp bốn. ”

    “Vo khoảng thời gian ny, CS gia tăng mức độ khủng bố v chiến tranh, v vấn đề ny sẽ được trnh by sau. Nhưng ng Diệm vẫn cho thực hiện kế hoạch 5 năm kế tiếp 1962-1967 v ch trọng nhiều đến lnh vực kỹ nghệ. Trung tm Nguyn Tử Đlạt được khnh thnh trong thng 10/1963. Phần đầu của đập thủy điện Đa Nhim với năng xuất 60,000 kw được xy cất do tiền bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, cũng được khnh thnh vi thng sau. Bắt đầu nin kha 1963-64, nghĩa l trước khi TT Diệm bị lật đổ v st hại, Nam VN với dn số 14 triệu c trn một triệu rưỡi hay 69% số trẻ em 6-11 tuổi học tại 6,621 trường tiểu học v cộng đồng, 82,253 học sinh tại 519 trường trung học, 6,545 học sinh tại cc trường kỹ thuật v dạy nghề v 20,118 sinh vin tại 2 đại học cng lập Saigon v Huế v đại học tự thục Đla.t.”

    “Nhiều quan st vin ngoại quốc, như ng Bernard Fall chẳng hạn, nhận xt rằng tại miền Nam, sức sn xuất vượt hơn miền Bắc trong nhiều ngnh như điện lực v vải chẳng hạn d miền Bắc c dn số đng hơn, nhiều hầm mỏ v kỹ nghệ hơn miền Nam. Nền gio dục miền Nam hơn hẳn miền Bắc: bậc tiểu v trung học miền Bắc chỉ gồm 10 năm cn ở miền Nam 12 năm, chưa kể phẩm chất huấn luyện v trnh độ gio chức miền Nam hơn hẳn miền Bắc. Nguyn nhn l v Hồ ch Minh v đảng CS ni rất hay, nhưng trong thực tế, họ khng knh trọng v quan tm đng mức đến gio dục v người tr thức. Đối với họ, “hồng” hơn “chuyn” v lương tiền th lao người c học v c nghề đu c hơn, c khi cn thua kẻ t học nữa. Trong khi ấy, con ci cc gia đnh ngho tại miền Nam c thể trở nn kh gỉa, nếu học giỏi, vo đại học v tốt nghi.p. Gio dục tại miền Nam cũng như tại cc nước khc l một phương tiện tốt để tiến thn. Như thế, người ta khuyến học, ham học, nn knh trọng gio dục v người c học.

  2. TranHoang said

    Trong 9 năm ng Diệm cầm quyền, đời sống knh tế của dn chng tại miền Nam rất ổn định, c thể ni l sung tc nữa, so với thời sau ng Diệm từ 1964 đến 1975 tại miền Nam, hay miền Bắc trước 1975, v cả sau khi thống nhất dưới chế độ CS từ 1975 đến nay. Ga cả cc nhu yếu phẩm, gạo, c thịt, đường, sữa, vải, xăng, thuốc men khng ln xuống, xăng giữa gi 4 đồng 1 lt ..vv.. Ni chung, mức sống miền Nam hơn hẳng miền Bắc ti thiết với sự chi viện của phe cộng sản.

    Th dụ lc bấy giờ tại miền Bắc, xe đạp l một xa x phẩm, người thường dn kh lng tậu được v lương tiền v lợi tức qa thấp, cn tại miền Nam c thể ni xe đạp nằm trong tầm tay của đại đa số người dn, chưa kể đến xe tự động, hay xe gắn my [1]

    Chn năm dưới quyền TT Diệm l khoảng thời gian kh nhất của dn tộc Việt Nam, từ 1945 đến nay; mặc dầu họ c nhược điểm v sai lầm như “gia đnh trị” v chuyn chế….vv..”

    By giờ PL muốn trch dẫn 1 cht ti liệu lịch sử để cc bạn trẻ tại VN khng cn mơ hồ về cụ Diệm c phải l “b nhn, tay sai, chịu khuất phục” của Mỹ hay khng (hồi xưa PL cn trẻ nhỏ bị đầu độc nhiều cũng đ nghi vấn về tư tưởng của cụ Diệm).

    Trước hết hy xem lại về con số dn sự & qun sự của Mỹ tại VN trong trong thời cụ Diệm v sau khi cụ Diệm mất, rồi xem lại về hnh động của CIA trong lc bấy giờ :

    “Khi hiệp định Geneva được k kết trong thng 7/1954, tại Saigon v miền Nam c tất cả 342 người Mỹ dn sự v qun sự. Nhưng dần dần chỉ nhiệm sở CIA khng thi đ c đến 70 người Mỹ từ thời Đệ Nhất Cộng Ha (1955-1963) ln đến độ 300 điệp vin Mỹ, nam v nữ, nhiều người ni thng thạo tiếng Php v một số rnh tiếng Việt nữa. Ngoi ra, cn c một số nhn vin người Việt lm việc ton thời gian, hay l cộng tc vin đưa tin tức rồi nhận tiền hay khng, v được ta đại sứ đề cử nắm giữ cc chức vụ quan trọng trong chnh quyền miền Nam, nhất l sau 1963. ”

    “Đến năm 1963, CIA vận động cc tướng đảo chnh v giết hại ng Diệm theo chủ trương của chnh quyền Kennedy. Trong 9 năm cầm quyền, TT Diệm v cố vấn Nhu c đề phng chặt chẽ, nhưng CIA cũng mua chuộc một số vin chức thn tn của chế độ lm việc trong dinh Độc Lập, gần gũi ng Diệm, ng Nhu v b Nhu v cả ng Cẩn ở Huế nữa, để biết phản ứng v thi độ của cc vị ny trước tnh thế, v đối với cc đề nghị v kế hoạch của người Mỹ đưa ra. CIA cũng b mật gắn my thu v pht thanh tối tn tại nhiều bộ, tổng, nha, cư x v tại nh của cc vị cao cấp trong chnh quyền, v ngay cả trong cc bức tường dinh Độc Lp đang xy cất lại sau khi bị nm bom đầu năm 1962. Cả phe CS cũng ngầm lm việc ny nữa.”

    By giờ nghe chnh lời cụ Diệm ni với cụ V Như Nguyện thng 10/63 t ngy trước đảo chnh (trch sch “Những Huyền Thọai v Sự Thật về chế độ Ng Đnh Diệm” do Kiều Vĩnh Phc – pht ngn vin đi BBC- viết):

    “Sẽ bị nguy lắm! Mỹ sẽ chơi xỏ ti . Ti chịu chấp nhận hết những điều kiện của hắn th yn, nhưng cn chi l uy tn của Tổng Thống . Cn chi l uy tn của nước Việt Nam . Nhất định l ti sẽ bị hại !”

    Tổng thống Diệm mắng ng Cao Xun Vỹ lc 4:30 chiều 1/11/63 trong hầm Dinh Gia Long, khi ng Vỹ xin Tổng Thống ra lệnh cho lực lượng phng vệ Tổng Thống Phủ tấn cng qun đảo chnh:
    “…Ti l Tổng Tư Lệnh qun đội . Ti lại ra lệnh cho qun đội đnh qun đội ? Ti cn mặt mũi thấy qun đội nữa khng ? C chi th ngồi giải quyết, chứ qun đội l để chống Cộng, sao lại đem đnh nhau ?”

  3. TranHoang said

    Lời bn của PL về cụ Diệm :

    Cụ Diệm dng viện trợ của Mỹ để ti thiết đất nước, nhưng cụ vẫn phn định r rng ci z c lợi cho dn Việt v nước Việt v ci z l c lợi cho Mỹ nhưng khng fải cho nước Việt . Khi biết l nếu lm theo lương tm của 1 người yu nước th sẽ bị giết m vẫn th chọn ci chết chớ khng chịu nhượng bộ Mỹ . Đ l sĩ kh của người con đất Việt m cc thế hệ sau ny sẽ khng bao giờ qun!

    [1] http://images.search.yahoo.com/search/images;_ylt=A0geu8tDmSpJ29wAvblXNyoA?ei=UTF-8&p=scooter%201960&fr2=tab-web&fr=yfp-t-501-s

    ————————-

    Cm ơn PL đ cung cấp những thng tin, số liệu r rng về một giai đoạn ngắn ngủi nhưng tốt đẹp của x hội VN.
    Lịch sử vẫn đang được nhn lại với con mắt khch quan v tư. Ti tin rằng d c mắc những sai lầm khi cầm quyền, nhưng TT Ng Đnh Diệm vẫn l một ch sĩ đng knh trọng, một người con yu của dn tộc (chứ ko phải cha gi dn tộc đầu nha). Đến by giờ, x hội VN cn nhiều mặt thua xa giai đoạn ấy.

    http://blog.360.yahoo.com/blog-t8NQeSonbrcudo1GyOc3PevzZPk-?cq=1&p=797

    ————————————

    Trn đy l cc kiến TH đ cp nhặt từ cc blogger v đem về để đy cho bạn đọc tự tm hiểu thm.

    TH thấy x hội VN (2008) hiện nay “qu tốt đẹp” v ưu việt về tất cả mọi mặt như gio dục, luật php, đạo đức, văn ha, x hi, thuần phong mỹ tục, nền tảng gia đnh… nn thắc mắc v tm xem trong qu khứ ở VN cn c chế độ no khc để so snh.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

 
%d bloggers like this: