Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Một 19th, 2008

Một cú Thọc sâu xuống hướng Nam

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2008

Liên hệ tới Ngoại giao Năng lượng của Trung Quốc trên Biển Đông

Bài của Michael Richardson

Ngày 15-11-2008

Trung Quốc và Việt Nam đã phác thảo các bước đi mới nhằm giải quyết những tranh cãi về lãnh thổ kéo dài trên Biển Đông trong một nỗ lực ngăn chặn xung đột hơn nữa và đặt các mối quan hệ của mình vào một vị thế thăng bằng vững vàng hơn cho tương lai. Mặc dù cả hai quốc gia đều được cai trị bởi các đảng Cộng sản và cùng chia sẻ những tuyến biên giới dài rộng trên đất liền và ngoài biển, song họ [đã và đang có một mối] quan hệ căng thẳng. Nhưng giờ đây hai quốc gia này đang đối mặt với những thách thức chính trị trong nước khi các nền kinh tế hướng-tới-xuất-khẩu và đầu tư của họ bị chậm lại dưới ảnh hưởng của tình trạng rối loạn tài chính toàn cầu và cơn suy thoái đang trầm trọng thêm. Họ rõ ràng đã quyết định [dành sự ưu tiên] cho việc củng cố mối quan hệ song phương giữa hai đảng, trong thương mại và đầu tư để bù đắp cho sự suy sụp kinh tế rộng lớn hơn.

Biện pháp mới nhất nhằm cải thiện các mối quan hệ đã nổi lên qua chuyến viếng thăm Trung Quốc của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, từ ngày 20 đến ngày 25 tháng Mười. Đó là chuyến thăm chính thức đầu tiên trên cương vị thủ tướng của ông và đã xảy ra trước hội nghị thượng đỉnh Á-Âu tại Bắc Kinh. Ông Dũng đã tiến hành các cuộc thảo luận với người đồng cấp Trung Quốc của mình, Thủ tướng Ôn Gia Bảo, và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Một tuyên bố chung được đưa ra cuối chuyến thăm đã cho thấy hai bên tin tưởng rằng “để mở rộng và làm sâu đậm hơn quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam trong bối cảnh của tình hình chính trị và kinh tế quốc tế phức tạp và đang thay đổi là nằm trong những mối quan tâm chủ yếu của hai quốc gia, hai đảng cầm quyền và của nhân dân và có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới” (Tân Hoa Xã, ngày 25 tháng Mười).

Theo kế hoạch nầy, các công ty của Trung Quốc và Việt Nam sẽ được khuyến khích để hình thành nên những liên doanh và hoạt động trong những dự án có quy mô lớn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, hoá chất, giao thông, cung ứng điện năng, và xây dựng nhà cửa. Mục tiêu của những dự án này, cũng như các mối quan hệ mới về phát triển đường bộ, đường sắt và đường biển, là nhằm liên kết các tỉnh láng giềng phía nam Trung Quốc và bắc Việt Nam. Đây là một phần của mạng lưới các tuyến quốc lộ đang lớn dần nối kết Trung Quốc với Đông nam Á.

Quá trình mở rộng các mối quan hệ kinh tế được đề ra sẽ phụ thuộc vào bước tiến bộ trong việc kiềm chế và dần dần giải quyết những xung đột lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Cả hai bên đã xác nhận một lần nữa rằng họ sẽ hoàn tất việc phân định ranh giới cho tuyến biên giới trên đất liền dài 1.350km vào cuối năm nay, một thời hạn cuối cùng vốn đã được xác định là năm 1999.

Nét mới trong bản tuyên bố chung này là một thỏa thuận khởi động những khảo sát địa hình chung trong những vùng biển đang tranh chấp bên ngoài cửa Vịnh Beibu (Vịnh Bắc Bộ) vào một thời điểm sớm và một sự hứa hẹn cùng khai thác những khu vực đã được phân ranh giới cho nghề cá và dầu lửa, khí gas của hai nước (Tân Hoa Xã, ngày 25 tháng Mười).

Những khoản đặt cược trên Biển Đông

Những vấn đề về lãnh thổ có khả năng gây bất đồng và khó giải quyết nhất trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam là nằm bên ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Những tranh cãi này xoay quanh các tuyên bố đối nghịch đòi chủ quyền tối cao đối với Quần đảo Hoàng Sa, trong phần phía bắc của Biển Đông, và Quần đảo Trường Sa, gồm nhiều đảo và vỉa san hô rải rác trong một vùng rộng lớn ở giữa Biển Đông.

Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chớp lấy từ tay [Quân đội miền Nam Việt Nam] năm 1974 trong những giai đoạn sắp kết thúc của cuộc Chiến tranh Việt Nam, khi Hà Nội và Bắc Kinh [đã được xem là những đồng minh của nhau].

Lực lượng quân sự Trung Quốc kể từ đó đã tăng cường các đơn vị đồn trú của mình tại Hoàng Sa và cho xây dựng một căn cứ không quân tại đó, củng cố vị trí vững chắc của mình căn cứ vào những gì được Bắc Kinh xem như là một tiền đồn chiến lược ở đông nam đảo Hải Nam và tuyến đường nằm trong khoảng giữa Việt Nam và Philippines.

(Competing claims to territory in the South China Sea)

Cạnh tranh nhau tuyên bố chủ quyền lãnh hải ỡ Biển Đông

Quần đảo Trường Sa nằm về phía đông của tuyến hải hành quốc tế nhộn nhịp trên Biển Đông nối liền Eo biển Malacca và Singapore ở Đông nam Á với Trung Quốc, Nhật Bản, và Nam Triều Tiên, là những nền kinh tế [công nghiệp phải nhập khẩu dầu lửa là chính ở Đông Bắc Á châu]. Quyền kiểm soát Trường Sa có lẽ được sử dụng không phải chỉ để thiết lập hoạt động tuần tra của hải quân trên biển và các căn cứ giám sát mà còn [để hổ trợ chủ quyền đánh bắt hải sản và các nguồn tài nguyên] dầu lửa và khí gas ngoài khơi trong một khu vực rộng lớn của Biển Đông.

Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ Trường Sa, những vùng biển bao quanh và
bất cứ nguồn tài nguyên nào có thể ẩn chứa trong đó.

Tuy nhiên, đòi hỏi của Trung Quốc là rộng lớn hơn nhiều, bao gồm hầu như toàn bộ Biển Đông, mặc dù những giới hạn chính xác là không được rõ ràng từ [đường không liền nét] được vạch ra trên những bản đồ chính thức của Trung Quốc. Đài Loan [tiếp tục minh định một chủ quyền] tương tự.

Malaysia, Philippines và Brunei khẳng định chủ quyền tối cao đối với một số hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa cũng như những vùng biển ngoài khơi và nguồn tài nguyên gần bờ biển của mình nhất.

Đã có một vài vụ đụng độ vũ trang và [nhiều vụ đối đầu giữa các quốc gia đang tranh chấp] trong suốt hai thập kỷ qua. Những cuộc chạm trán quan trọng nhất đã lôi kéo sự tham gia của Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1988, hai nước này đã giao tranh trong một trận hải chiến chớp nhoáng ở gần một trong những dải đá ngầm thuộc Trường Sa.

Tại quần đảo Trường Sa, các đơn vị vũ trang đồn trú mà tất cả [các nước] yêu sách chủ quyền (ngoại trừ Brunei) [đã và đang thiết lập những trạm đóng quân] tại những cứ điểm nhỏ trên đảo nơi [họ tuyên bố là thuộc về đất của họ thì hiện nay các trạm đóng quân đó vẫn còn đấy, và trong vài trường hợp, đã và đang] được tăng cường.

Một tập hợp các quy tắc ứng xử trên Biển Đông, được ký kết bởi Bắc Kinh và ASEAN (Hiệp hội các Quốc gia Đông nam Á) năm 2002, là tự nguyện. Một cuộc khảo sát đo đạc địa chấn chung về các nguồn tài nguyên hydrocarbon, được thỏa thuận năm 2005 bởi các công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, và Philippines *, đã trôi qua tháng Bảy trước và có thể không được tái lập. [Mặc dầu khi cuộc khảo sát đã được thực hiện], cuộc khảo sát địa chấn tay ba cũng không bao gồm ba quốc gia khác cùng có yêu sách chủ quyền Trường Sa **. [Thêm vào đó, cuộc khảo sát] chỉ bao trùm một phần nhỏ thuộc vùng biển còn đang tranh cãi.

Trong bản tuyên bố chung ngày 25 tháng Mười [của họ], Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận tìm kiếm một giải pháp “cơ bản và dài lâu” cho vấn đề Biển Đông sao cho có thể chấp nhận được lẫn nhau. Không có chi tiết nào được đưa ra về việc làm cách nào mà một giải pháp như vậy lại có thể đạt được. Thế nhưng, [một cách quan trọng, họ cho biết rằng giải pháp ấy] sẽ phù hợp với Quy ước về Luật Biển của Liên hiệp quốc năm 1982 (UNCLOS).

Trong khi đó, họ [sẽ quan sát và theo dõi]các nguyên tắc ứng xử và tự kiềm chế trước bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp thêm hay leo thang các cuộc tranh cãi. Họ [cũng sẽ tham khảo] để tìm ta một khu vực và phương pháp thích hợp cho việc thăm dò dầu khí chung. Trên nguyên tắc của việc khởi sự [bằng] những bước dễ dàng hơn, họ đã thỏa thuận hợp tác trong việc nghiên cứu đại dương, bảo vệ môi trường, dự báo thời tiết, và trao đổi thông tin giữa hai lực lượng vũ trang [1].

Một hiệp ước hợp tác chiến lược giữa tập đoàn dầu khí nhà nước China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) và đối tác Việt Nam, PetroVietnam, cũng có tin là đã được ký kết trong chuyến viếng thăm của ông Dũng tới Trung Quốc. Cùng lúc, các hiệp ước này sẽ là [sự kềm chế hành động có tính chất nghiêm trọng của cả hai phía và là những biện pháp xây dựng lòng tin], [các điều khoản được đưa ra rất nghiêm chỉnh và được tôn trọng một cách kiên quyết bởi cả hai phía] – điều chưa từng là một nét đặc trưng trong các thỏa thuận trước đây giữa Trung Quốc và Việt Nam về Biển Đông.

[Các Điều Kiện đã thay đổi]

Tuy nhiên, một vài điều có thể đã thay đổi vào thời điểm này, [cọng thêm vào ước muốn xây dựng các mối quan hệ kinh tế song phương để làm nhẹ bớt cả hai quốc gia khỏi tình trạng rối loạn toàn cầu]. Bắc Kinh muốn [làm nhẹ bớt mối quan ngại] đang lan rộng tại Á châu về việc tăng cường tiềm lực quân sự [của họ và nổi lo sợ rằng] sức mạnh quân sự sẽ được sử dụng [để hổ trợ cho các yêu sách chủ quyền ]trên vùng ranh giới đất liền và biển mà Trung Quốc có với nhiều quốc gia láng giềng, trải rộng từ Nhật Bản qua Đông nam Á cho tới Ấn Độ. Trong bối cảnh này, Biển Đông là một viên đá thử nhạy cảm.

Vào tháng Mười năm 2008, không lâu trước khi thủ tướng Việt Nam tới Bắc Kinh, Trung Quốc đã cấm đội tàu đánh cá của mình, thuộc hàng lớn nhất trên thế giới, [không được hoạt động] trong vùng biển còn đang tranh chấp với các quốc gia láng giềng. Những tranh cãi quanh vùng đánh bắt hải sản trong những năm gần đây không chỉ thử thách Trung Quốc trong cuộc tranh đấu với Việt Nam. [Những tranh cải còn trở thành một nổi bực tức] trong các mối quan hệ với Bắc và Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Philippines và Indonesia.

Trên Biển Đông, các ngư dân Trung Quốc đã bị [những người Philippines bắt giữ, vì bị cho là đã đánh bắt cá bất hợp pháp trong những vùng biển được tuyên bố thuộc về Manila ]gần Quần đảo Trường Sa. [Những biến cố tương tự] với Việt Nam đã được loan tin. Chính phủ Trung Quốc, Hội đồng Nhà nước [?], [đã ra chỉ thị cho các lực lượng bảo vệ duyên hải và các giới chức ngành đánh cá để chặn tàu đánh cá của người TQ không đi vào “những vùng biển nhạy cảm chính yếu”] [2].

[Một yếu tố mới khác là sự sút giảm đột ngột gần đây của giá dầu lửa và khí đốt tự nhiên, đã và đang tước đoạt một vài nguồn khuyến khích các công ty dầu khí thăm dò trong những vùng nước rất sâu, càng xa bờ lại càng sâu hơn trong vùng] Biển Đông. [Đại khái, việc khoan ở vùng biển sâu rất là mắc tiền. Nhưng khi giá dầu gia tăng vượt quá $100 đô một thùng vào lần đầu tiên hồi đầu năm nay và sau đó đã đạt tới $145 một thùng vào tháng 7, sự tốn kém đã dường như hoàn toàn được bảo đảm.]

Xung quanh thời điểm đó, Trung Quốc đã yêu cầu tập đoàn khổng lồ ở Hoa Kỳ ExxonMobil từ bỏ các dự án thăm dò dầu khí ngoài
khơi Việt Nam với PetroVietnam, ngụ ý rằng nếu tập đoàn này [không làm thế thì họ có thể sẽ bị cấm hoạt động tại Trung Quốc]. Một người phát ngôn của bộ ngoại giao Trung Quốc đã nói rằng Trung Quốc phản đối bất cứ hành động nào “xâm phạm tới chủ quyền lãnh thổ của TQ, [quyền độc lập lãnh thổ hoặc quyền lợi điều hành] trong vùng Biển Đông” [3].

Theo sau cảnh báo tương tự từ Bắc Kinh, năm ngoái BP cũng đã tạm dừng những kế hoạch thực hiện các hoạt động thăm dò cùng với PetroVietnam ngoài khơi phía nam Việt Nam, viện dẫn những căng thẳng về lãnh thổ. Đây cũng nằm trong một lô thăm dò được Việt Nam chấp thuận song bị phía Trung Quốc tranh cãi, cách bờ biển khoảng 370 km và nằm ở rìa ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam, giữa Việt Nam và Quần đảo Trường Sa.

Với tình trạng giá dầu sút giảm xuống mức 60 đô la một barrel tại một thời điểm trong tháng Mười, trong lúc mức tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại, đã làm ảnh hưởng tới nhu cầu, thì cuộc đua tranh các nguồn tài nguyên hydrocarbon ngoài Biển Đông đã mất đi ít nhiều sức cuốn hút của nó. Tình hình này đã tạo nên cơ hội cho một trạng thái đình hoãn chính trị, cho phép Trung Quốc và Việt Nam đứng ra cùng với những biện pháp hòa giải hơn.

[Vùng tranh chấp] Tài nguyên Năng lượng

Điều gì có thể phá vỡ trạng thái cân bằng mong manh [ở Biển Đông] và làm sống lại những vấn đề dễ gây xúc động về chủ quyền quốc gia, [uy tín và lòng hãnh diện?] Nguy cơ lớn nhất là sự phục hồi kinh tế, tăng trưởng nhanh và một sự trỗi dậy đòi hỏi mạnh mẽ về năng lượng tại Á châu sẽ lại đẩy Trung Quốc và các láng giềng Đông nam Á của nó vào cuộc tranh đấu.

[Mức sản xuất dầu lửa và khí đốt của Trung Quốc [đã và đang] không theo kịp với mức tiêu thụ] đang dâng cao, và có những lo lắng cho rằng lượng dự trữ hiện tại sẽ không còn đủ duy trì được lâu hơn nữa. Những mối quan ngại này được các nhà cung cấp dầu khí trên Biển Đông trong đó có Việt Nam, Malaysia, và Indonesia chia sẻ. Các nước này hiện tại là những nhà xuất khẩu ròng dầu lửa hoặc khí gas hoặc cả hai, song họ có thể nhìn thấy thời gian đang tới gần khi mà năng lượng dự trữ của họ sẽ không còn đủ để đảm bảo cho nhu cầu trong nước. Các nước này [ muốn kéo dài sự sống còn của các nguồn dự trữ của họ bằng cách tìm kiếm nhiều dầu khí hơn nữa].

Như tại Trung Quốc, [mệnh lệnh tăng trưởng kinh tế đặt ngang bằng với mệnh lệnh an ninh năng lượng bởi vì dầu lửa và khí đốt] là vấn đề sống còn cho giao thông vận tải và nền công nghiệp. Trong khi đó, Philippines, [một nước nhập khẩu (nhiều hơn xuất khẩu) dầu lửa và khí gas, đang cần thiết khẩn cấp] tìm kiếm thêm nguyên liệu hóa thạch (dầu hỏa) và coi những khu vực ngoài khơi Biển Đông như là [một vùng then chốt cho giải pháp hướng đến tự túc về năng lượng] trong tương lai [4].

Đối với chính phủ Trung Quốc, chính sách năng lượng đã trở thành một nhánh trong chính sách đối ngoại. Từ việc là một nhà xuất khẩu dầu hoàn toàn vào năm 1993, Trung Quốc ngày nay đã phải dựa vào các nguồn cung cấp nước ngoài cho khoảng một nửa lượng dầu sử dụng của mình. Họ cũng đang trở thành một nhà nhập khẩu khí gas lớn. Vì những lý do về an ninh năng lượng, Trung Quốc [đã và đang đặt] một quyền ưu tiên đặc biệt [cho việc để dành cho tương lai của họ càng nhiều dầu khí càng hay, từ bên trong đất liền, từ ngoài khơi, hay càng gần lãnh thổ nước họ càng tốt,] bao gồm Nga và Trung Á.

Hiện tại, khoảng 75% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đến từ những khu vực không ổn định về chính trị ở Trung Đông và Phi châu [5]. [Dầu nhập cảng được chuyển vận] tới Trung Quốc qua những tuyến hàng hải xa xôi, nơi mà lực lượng vũ trang Trung Quốc còn chưa có những phương tiện để bảo vệ. [Những hải lộ huyết mạch của nguồn cung cấp năng lượng này] có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng.

Trong khi đó, Trung Quốc, [khách hàng tiêu thụ] năng lượng lớn thứ hai sau Hoa Kỳ, [hiện giờ muốn gia tăng mức tiêu thụ khí đốt để giảm mức lệ thuộc nhiều] vào than đá, là thứ gây nên tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng. Các quốc gia Đông nam Á cũng đang chuyển hướng dùng [khí gas khi đốt cháy sạch sẽ hơn] để sản xuất điện năng, và cung cấp cho nền công nghiệp và sử dụng trong gia đình. Việc sử dụng [khí- đốt- thiên-nhiên] trong các nước châu Á được dự báo sẽ tăng lên vào khoảng 4,5% trung bình mỗi năm cho tới năm 2025 – nhanh hơn bất cứ thứ nhiên liệu nào khác – với hầu như một nửa mức này là đến từ Trung Quốc. Nếu như tỉ lệ gia tăng đó được duy trì, thì nhu cầu của châu Á sẽ vượt quá 21 nghìn tỉ feet khối vào năm 2025, gần gấp ba mức tiêu thụ hiện thời.

Biển Đông [được xem là] có lượng khí gas khổng lồ, nhiều hơn so với tiềm năng dầu lửa. Hầu hết các mỏ hydrocarbon được thăm dò trên các khu vực của Biển Đông thuộc Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, và Việt Nam, cũng như Trung Quốc, đều chứa khí gas, không có dầu lửa.

Những ước đoán của cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho biết rằng khoảng 60 tới 70% nguồn tài nguyên hydrocarbon trong khu vực là khí gas. Tuy nhiên, một tỉ lệ quan trọng với hơn sáu triệu barrel dầu lửa mỗi ngày đã được sản xuất bởi Trung Quốc và các quốc gia Đông nam Á [có nguồn gốc là] từ khu vực Biển Đông. Một tỉ lệ lớn hơn trong sản lượng khí gas của khu vực nầy với tám tỉ feet khối mỗi ngày đến từ vùng lòng chảo của Biển Đông, [mặc dù hiện giờ] không có sẵn những số liệu chính xác.

Những ước đoán [của người Trung Quốc] về toàn bộ tiềm năng dầu lửa và khí gas trên Biển Đông có khuynh hướng cao hơn nhiều so với ước đoán của các nhà phân tích [không phải người Trung Quốc] [6]. [Tính chất lạc quan nhất] từ những ước đoán của Trung Quốc gợi lên những nguồn dầu lửa tiềm năng cao tới [213 tỉ barrel dầu, gần gấp mười bốn lần trữ lượng dầu c
a 15,5 tỉ barrel vào cuối năm 2007 đã từng được chứng minh của Trung Quốc].

Đối với khí gas, sản lượng tiềm tàng được đánh giá bởi những ước đoán lạc quan nhất của Trung Quốc là trên 2 triệu tỉ feet khối, mặc dù chỉ khoảng một nửa trong số đó là có thể thu được, [ngay cả khi các mỏ trên khu vực này được tìm ra. Trữ lượng khí gas đã từng được chứng minh] của Trung Quốc vào cuối năm 2007 là 67 nghìn tỉ feet khối [7].

Cú đột phá Về hướng Nam của Trung Quốc

Sự nổi lên của Trung Quốc như là một nhà tiêu thụ khí gas [ngày càng gia tăng và sự nhấn mạnh mà nước này đặt ra cho việc giành thật nhiều dầu lửa và khí gas cho tương lai của họ từ những khu vực gần với TQ càng tốt có thể giúp giải thích lý do] vì sao Trung Quốc ước tính tiềm lực năng lượng trên Biển Đông quá cao như vậy. Những ước lượng đó [làm hổ trợ vững chắc thêm] các tuyên bố chủ quyền của TQ [trải rộng ra khắp trong vùng nầy]. Tất nhiên, những ước đoán này [chưa được kiểm chứng. Nhiều vùng trong khu vực nầy], đặc biệt trong những vùng biển nước sâu, chưa được thăm dò do ở xa và đang bị tranh chấp.

(Chinese claims in Spratley Islands area)

(Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở khu vực Trường Sa, vùng lưỡi bò, giữa đường màu đỏ)

Tuy nhiên, Trung Quốc có vẻ chú tâm trong việc mở rộng hoạt động nghiên cứu năng lượng ngoài khơi của mình. Cho tới một vài năm trước đây, các tập đoàn năng lượng của Trung Quốc do nhà nước sở hữu đã nản chí vì tình trạng ganh đua và CNOOC, nhà sản xuất dầu lửa và khí gas lớn thứ ba Trung Quốc, [đã từng có độc quyền gần như thật sự] trong hoạt động ngoài khơi. Điều này [đã và đang thay đổi] và giờ đây toàn bộ các công ty dầu lửa và khí gas lớn của Trung Quốc có thể dự thầu các dự án gần bờ và ngoài khơi, cả trong lẫn ngoài nước.

Kể từ đầu năm 2007, cả CNOOC và nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất Trung Quốc, China National [Petroleum Corporation, đã và đang nhìn ra Biển Đông] để bổ sung thêm cho sản lượng dầu gần bờ đang giảm dần. Cả hai công ty đã và đang xây dựng những giàn khoan dầu trong vùng biển nước sâu.

Khi các chính phủ ở Đông nam Á và các công ty năng lượng đang làm việc cho các nước này chen lấn sâu hơn vào vùng Biển Đông trong cuộc săn lùng thêm khí gas và dầu lửa, họ có thể chỉ hy vọng rằng cú thọc sâu về hướng nam của Trung Quốc sẽ dẫn tới sự hợp tác tốt hơn, mà không có biểu hiện đối đầu. Trung Quốc đã phân phát các hợp đồng thăm dò hoặc các giấy phép sản xuất cho hầu hết các lô dầu lửa và khí gas tại vùng nước sâu trên Biển Đông phía nam Hong Kong. [Những hợp đồng này chỉ bị phản đối bởi Đài Loan.] [8]

Tuy nhiên, những giấy phép của Trung Quốc trong tương lai [có vẻ đặt chồng lên (các vùng biển) trùng hợp với các giấy phép] từ các láng giềng Đông nam Á (theo Reuters, ngày 2-11-2007). Không giống như những năm 1980 hay 1990, Trung Quốc giờ đây có thể có sức mạnh quân sự [để hổ trợ chủ quyền lãnh thổ của họ chống lại các đối thủ trong khu vực, nếu như TQ] quyết định lựa chọn cách làm đó. Thế nhưng với cái giá nào cho uy tín quốc tế của họ, cho sự ổn định trong tâm điểm của vùng biển Đông nam Á và cho các mối quan hệ của nước này với các nước trong Hiệp Hội Đông Nam Á (ASEAN)? ***

Michael Richardson, một cựu Biên tập viên Á châu của tờ International Herald Tribune, là một Thành viên Nghiên cứu Kỳ cựu của Viện Nghiên cứu Đông nam Á. Nghiên cứu gần đây của ông tập trung vào các vấn đề an ninh biển, năng lượng và đường biển.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Xem thêm ở blog nầy:

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=2539#comments

* Bản Giốc:

Photobucket

Photobucket
Sông Quây Sơn, Trùng Khánh khu vực biên giới với Trung Quốc.


Photobucket

Photobucket


Thác Bản Giốc, Trùng Khánh

“Trong nhiều tài liệu của Pháp đ
u ghi rõ thác Bản Giốc là của Cao Bằng, cộc mốc với Trung Quốc ở xa thác, các bạn tìm đọc tài liệu về Bản Giốc sẽ thấy nhiều tư liệu xác đáng
…”
Nhìn chú thích trên hình bằng tiếng Pháp là đủ biết Thác Bản Giốc thuộc Cao Bằng và các tài liệu của Pháp đều có ghi nhận và chính quyền TQ trước năm 1940 đều chưa bao giờ phản đối. Nhà nước CHXHCN Việt Nam ký hiệp định và nhường 1/2 thác Bản Giốc ở hình trên cho Trung Quốc vào tháng 12/1999 và dịp ấy nước ta mất thêm 700 km vuông biên giới phía Bắc, và sau đó năm 2000 Việt Nam đã nhượng thêm 10.000 km vuông Vịnh Bắc Bộ; lùi xa lại năm 1958, Việt Nam đã nhường 2 đảo HS và TS vào tay TQ, đổi lại việc TQ cung cấp vũ khí để đánh Miền Nam VN. Sau khi Richard Nixon và Kissinger bắt tay với TQ năm 1972, TQ biết được rằng Mỹ sẽ bỏ miền Nam, và Miền Bắc sẽ chiếm chiếm miền Nam, TQ đã đòi trước phần mình bằng cách chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cọng Hòa 19/1/1974. Quả nhiên Mỹ hạm đội Mỹ không can thiệp, và dịp 1974 ấy, báo chí và đài phát thanh miền Bắc VN đã ủng hộ và tuyên bố công khai rằng Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa cho Miền Bắc.
Sau đó, TQ dần dần chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và bắt đầu chiếm luôn quần đảo Trường Sa 1988. Chỉ tội nghiệp nhất là 54 lính thủy của miển Bắc vì đã không biết HS và TS đã vào tay TQ và được dàn xếp ở cấp cao nhất từ năm 1958, nên họ cố giao tranh và bị quân đội Trung Quốc và bị giết sạch.

Hình ảnh thác Bản Giốc
source: http://blog.360.yahoo.com/blog-X4UWtJMzdKns_7ooq8JzOmzkcIo-?cq=1&p=477

A Southward Thrust for China’s Energy Diplomacy in the South China Sea

Michael Richardson

China and Vietnam have outlined new steps to resolve their long-running territorial disputes in the South China Sea in an effort to avert further conflict and put their relations on a steadier footing for the future. Although both countries are ruled by Communist parties and share extensive land and sea borders, they have had a tense relationship. But they now face political challenges at home as their export-oriented economies and investment slow under the impact of global financial turmoil and deepening recession. They have evidently decided to give primacy to strengthening bilateral party, trade and investment ties to offset the wider economic downturn.

Vietnamese President Nguyen Minh Triet (L) and Chinese President Hu Jintao (R) in Beijing on August 7, 2008

The latest measures to improve relations emerged during the visit to China of Vietnam’s Prime Minister, Nguyen Tan Dung, from October 20-25. It was his first official visit as prime minister and came ahead of the Asia-Europe summit in Beijing. Mr. Dung held talks with his Chinese counterpart, Premier Wen Jiabao, and Chinese President Hu Jintao. A joint statement issued at the end of the visit said the two sides believed that “to expand and deepen the China-Vietnam comprehensive strategic partnership of cooperation in the context of the complex and changing international political and economic situation is in the fundamental interests of both countries, ruling parties and peoples and conducive to peace, stability and development of the region and the world” (Xinhua News Agency, October 25).

Under the plan, Chinese and Vietnamese companies will be encouraged to form joint ventures and engage in large-scale projects in infrastructure construction, chemicals, transport, electricity supply, and home building. The aim of these projects, as well as the new road, rail and shipping connections, is to bond the neighboring provinces of southern China and northern Vietnam. This would be part of a growing network of highways linking China with Southeast Asia. The proposed expansion of economic ties will depend on progress in managing and eventually settling festering territorial disputes between China and Vietnam. Both sides reaffirmed that they would complete demarcation of their 1,350-kilometre land border by the end of this year, a deadline that was set in 1999. What was new in the joint statement was an agreement to start joint surveys in disputed waters beyond the mouth of Beibu Bay (Gulf of Tonkin) at an early date and a promise to jointly exploit the demarcated zones for their fisheries and oil and gas potential (Xinhua News Agency, October 25).

South China Sea Stakes

The most contentious and difficult territorial issues in the relationship between China and Vietnam are beyond the mouth of Beibu Bay. These disputes revolve around rival claims to sovereignty over the Paracel Islands, in the northern part of the South China Sea, and the Spratly Islands, an archipelago of dozens of widely scattered atolls and coral outcrops in the middle of the South China Sea. The Paracels were seized by China from South Vietnamese forces in 1974 in the closing stages of the Vietnam War, when Hanoi and Beijing were supposed to be allies. Chinese forces have since reinforced their garrison on the Paracels and built a military airbase there, strengthening their grip on what is seen in Beijing as a strategic outpost southeast of Hainan and roughly mid-way between Vietnam and the Philippines.

Competing claims to territory in the South China Sea

The Spratlys lie to the east of busy international sea lanes in the South China Sea that connect the Straits of Malacca and Singapore in Southeast Asia with China, Japan, and South Korea, the main oil-importing industrial economies in Northeast Asia. Control of the Spratlys might be used not just to establish naval patrol and surveillance bases but also to bolster claims to fisheries and offshore oil and gas resources in a vast area of the South China Sea. China, Taiwan and Vietnam claim all of the Spratlys, surrounding waters and any resources they may contain. However, China’s claim is far wider, encompassing almost all of the South China Sea, although the precise limits are not clear from the broken line drawn on official Chinese maps. Taiwan maintains a similar claim. Malaysia, the Philippines and Brunei assert sovereignty over some of the Spratly islands as well as offshore zones and resources closest to their shores. There have been several armed clashes and numerous standoffs among contending claimants over the past two decades. The main encounters have embroiled China and Vietnam. In 1988, they fought a brief naval battle near one of the Spratly reefs.

In the Spratlys, the armed garrisons that all the claimants (except Brunei) have stationed on the tiny dots of land they say are theirs are still in place and, in some cases, have been reinforced. A code of conduct for the South China Sea, signed by Beijing and ASEAN (the Association of South East Asian Nations) in 2002, is voluntary. A joint seismic survey of hydrocarbon resources, agreed in 2005 by the national oil companies of China, Vietnam, and the Philippines, lapsed last July and may not be renewed. Even when it was operational, the tripartite seismic survey did not inclu
de the other three Spratly Island claimants. Moreover, it covered only a small part of the contested sea area.

Chinese claims in Spratley Islands area

In their October 25 joint statement, China and Vietnam agreed to find a “fundamental and long-term” solution to the South China Sea issue that would be mutually acceptable. No detail was offered on how such a resolution might be reached. But, significantly, they said it would be in accordance with the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). Meanwhile, they would observe the code of conduct and refrain from any action that would complicate or escalate disputes. They would also consult on finding a proper area and way for joint petroleum exploration. On the principle of starting with the easier steps, they agreed to collaborate on oceanic research, environmental protection, weather forecasting, and information exchanges between the two armed forces [1]. A strategic cooperation pact between state-run China National Offshore Oil Corporation (CNOOC) and its Vietnamese counterpart, PetroVietnam, is also reported to have been signed during Mr Dung’s visit to China. Together, these accords would be important mutual-restraint and confidence-building measures, provided their terms are strictly and consistently observed by both sides—something that has not been a feature of past agreements between China and Vietnam on the South China Sea.

Changed Circumstances

However, several things may be different this time, apart from the desire to build bilateral economic ties to cushion both countries from global trouble. Beijing wants to defuse widespread concern in Asia over its growing military power and the fear that military muscle will be used to enforce territorial and maritime boundary claims that China has with many of its neighbors, stretching from Japan through Southeast Asia to India. In this context, the South China Sea is a sensitive touchstone. In October 2008, not long before the Vietnamese prime minister arrived in Beijing, China banned its fishing fleet, one of the biggest in the world, from operating in waters contested with neighboring countries. Fishing disputes in recent years have not only pitted China against Vietnam. They have also become an irritant in relations with North and South Korea, Japan, the Philippines and Indonesia. In the South China Sea, Chinese fishermen have been detained by the Philippines, allegedly for illegal fishing in waters claimed by Manila close to the Spratly Islands. Similar incidents have been reported in Vietnam. China’s cabinet, the State Council, issued a directive for the coast guard and fishery authorities to stop Chinese fishing vessels from entering “key sensitive maritime areas” [2].

Another new factor is the recent steep fall in the price of oil and natural gas, which has removed some of the incentive for petroleum companies to explore in ever deeper waters, further and further from shore in the South China Sea. In general, deep-sea drilling is prohibitively expensive. But when the oil price surged past $100 a barrel for the first time at the start of this year and reached $145 a barrel in July, the expense seemed fully warranted. Around that time, China told the US-based oil giant ExxonMobil to cancel planned oil exploration ventures off the coast of Vietnam with PetroVietnam, implying that if it did not do so it could be barred from operating in China. A Chinese foreign ministry spokesman said China opposed any act “violating China’s territorial sovereignty, sovereignty rights or administrative rights in the South China Sea” [3].

Following a similar warning from Beijing, BP last year halted plans to carry out exploration work with PetroVietnam off southern Vietnam, citing territorial tensions. This was also in an exploration block approved by Vietnam but contested by China, about 370 kilometers offshore and at the outer edge of Vietnam’s Exclusive Economic Zone between Vietnam and the Spratly Islands. With the oil price falling to $60 a barrel at one point in October as slowing global growth crimped demand, the race for offshore hydrocarbon resources in the South China Sea had lost some of its impetus. This has provided a political respite, allowing China and Vietnam to come forward with more conciliatory measures.

Energy Resources Cockpit

What could upset the fragile equilibrium in the South China Sea and resurrect emotive issues of national sovereignty, prestige and pride? The biggest risk is that economic recovery, rapid growth and a resurgence of strong demand for energy in Asia will again push China and its Southeast Asian neighbors into contention. China’s oil and gas production has been failing to keep pace with surging consumption, and it is worried that existing reserves will not last much longer. These concerns are shared by other petroleum producers in the South China Sea, among them Vietnam, Malaysia, and Indonesia. They are currently net exporters of oil or gas or both, but can see the time approaching when their energy reserves will be insufficient to meet domestic demand. They want to extend the life of their reserves by finding more oil and gas. As in China, this is an economic growth imperative as well as an energy security imperative because oil and gas are vital for transport and industry. Meanwhile, the Philippines, a net importer of both oil and gas, urgently needs to find more fossil fuel and regards its offshore zones in the South China Sea as a key to greater self-sufficiency in future [4].

For the Chinese government, energy policy has become an arm of foreign policy. From being a net exporter of oil in 1993, China today relies on foreign supplies for about half the oil it uses. It is also becoming a major gas importer. For reasons of energy security, China has placed a high priority on getting as much of its future oil and gas as it can from within its land territory, from offshore zones, or as close to home as possible, including Russia and Central Asia. At present, around 75 percent of China’s oil imports come from politically volatile areas of the Middle East and Africa [5]. They have to be shipped to China through distant sea-lanes, which the Chinese armed forces do not yet have the means to protect. These maritime arteries of energy supply could be cut in a crisis.

Meanwhile, China, the world’s second-largest energy consumer after the US, wants to increase its gas consumption to reduce heavy reliance on coal, which causes serious air pollution. Southeast Asian countries are also turning to cleaner-burning gas in a big way to generate electricity, and provide for industrial and home use. Natural gas use among Asian countries is forecast to rise by about 4.5 percent annually on average until 2025—faster than any other fuel—with almost half of the increase coming from China. If this growth rate is maintained, Asian demand will exceed 21 trillion cubic feet, nearly triple current consumption, by 2025.

The South China Sea is considered to have greater gas than oil potential. Most of the hydrocarbon fields explored in the South China Sea areas of Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines, and Vietnam, as well as China, contain gas, not oil. Estimates by the US Geological Survey indicate that between 60 and 70 percent of the region’s hydrocarbon resources are gas. Even so, a significant proportion of the more than six million barrels of oil per day produced by China and Southeast Asian coun
tries comes from the South China Sea region. A bigger proportion of the region’s gas output of over eight billion cubic feet per day comes from the South China Sea basin, although no precise figures are available. Chinese estimates of the overall oil and gas potential of the South China Sea tend to be much higher than those of non-Chinese analysts [6]. The most bullish of the Chinese estimates suggest potential oil resources as high as 213 billion barrels of oil, nearly fourteen times China’s proven oil reserves of 15.5 billion barrels at the end of 2007. For gas, the potential production level is put by the most optimistic Chinese estimates at over 2,000 trillion cubic feet, although only about half of this might be recoverable, even if fields on this scale were found. China’s proven gas reserves at the end of 2007 were 67 trillion cubic feet [7].

China’s Southward Thrust

China’s emergence as an increasingly large gas consumer and the emphasis it puts on getting as much of its future oil and gas from as close to home as possible may help explain why China rates the energy potential of the South China Sea so highly. Such estimates buttress its sweeping claims to sovereignty in the area. Of course, these estimates have yet to be tested. Much of the area, particularly in deep waters, is unexplored because it is remote and contested. However, China seems intent on expanding its offshore energy search. Until a few years ago, the state-owned Chinese energy giants were discouraged from competing and CNOOC, China’s third-largest oil and gas producer, had a virtual monopoly on offshore work. This has changed and now all of the Chinese oil and gas majors can bid for onshore and offshore projects, both local and foreign. Since early 2007, both CNOOC and China’s biggest oil producer, China National Petroleum Corporation, have been looking to the South China Sea to supplement declining onshore production. Both have been building deep-water drilling platforms.

China National Petroleum Company offshore oil rig

As Southeast Asian governments and the energy companies working for them push deeper into the South China Sea in their hunt for more gas and oil, they can only hope that China’s southward push will lead to better cooperation, not confrontation. China has handed out exploration contracts or production licenses over most of its deepwater oil and gas blocks in the South China Sea south of Hong Kong. These are contested only by Taiwan. [8] However, future Chinese permits seem set to overlap with those from its Southeast Asian neighbors (Reuters, November 2, 2007). Unlike in the 1980s or 1990s, China may now have the military power to enforce its territorial claims against rivals in the region, should it decide to do so. But at what cost to its international reputation, to stability in the maritime heart of Southeast Asia and to its relations with ASEAN?

Notes

1. China-Vietnam Joint Statement, 25 October 2008.

2. The directive.

3 The statement.

4. Asia’s Energy Future, East-West Center, 2007, page 126.

5. World Energy Outlook 2007, International Energy Agency, page 325.

6. US Energy Information Administration, Country Analysis Briefs, South China Sea, March 2008, page 4 & 6.

7. BP Statistical Review of World Energy, June 2008, pages 6 & 23.

8. See text.

Michael Richardson, a former Asia Editor of the International Herald Tribune, is a Visiting Senior Research Fellow at the Institute of Southeast Asian Studies. His current research focuses on maritime, energy and sealane security.

This article appeared in China Brief, Volume 8, Issue 21 (November 7, 2008).

Posted at Japan Focus on November 15, 2008.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »