Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Nong Dan Viet Nam’ Category

►Những kẻ đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân là Ai?

Posted by hoangtran204 on Thứ Tư, Tháng Mười Hai 26, 2012

Lẩm cẩm thiên hạ sự: Ai chính là những kẻ đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân?

Lẩm Cẩm Lão Gia

Theo blog Người Lót Gạch

“…cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…” (*)

Nếu Lẩm Cẩm Lão Gia tôi không lầm thì hiện nay các tổ chức chính trị đối lập còn chưa ra đời ở Việt Nam. Thế mà ông đương kim Thủ tướng đã cho rằng các tổ chức chính trị đối lập sẽ “chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…”!   (Phó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân TH)

1. Nhiều nước láng giềng có bang giao cũng như đầu tư vào Việt Nam như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, và Singapore đều có các tổ chức đối lập chính trị. Vậy có bao giờ người dân ở những quốc gia này lên án tẩy chay các tổ chức đối lập chính trị bởi vì các tổ chức đối lập chính trị đã “chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân…” hay chưa?

2. Ai chính là những kẻ đang đi ngược lại lợi ích của Nhân Dân hiện nay? Những kẻ nào đã khiến gia đình ông Đoàn Văn Vươn nhà tan cửa nát? Những kẻ nào đã mua đất của bà con ở Văn Giang với giá rẻ mạt để rồi thu lại những món lợi khổng lồ trên sự đau khổ của người dân nghèo ở Văn Giang?

Những kẻ nào đã khiến biết bao người dân trên khắp 3 miền đất nước mất đất canh tác bởi những sân gôn và những công trình hợp tác với các công ty nước ngoài?

Những kẻ nào đã đi ngược lại lợi ích của Đất nước khi cho các công ty nước ngoài mà chủ yếu đến từ Trung Cộng thuê một diện tích rừng bằng cả một tỉnh Tây Ninh?

Những kẻ nào đã bất chấp tất cả để quyết tâm khai thác bauxite ở Tây Nguyên? Bây giờ đã là cuối năm 2012, kết quả của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên – “chủ trương lớn của Đảng” – đến nay ra sao? Hãy cho người dân chúng tôi biết đi chứ!

Những kẻ đốn mạt nào đã bòn rút ngân quỹ của quốc gia trong thương vụ “Quả đấm sắt Vinashin” và cả hàng trăm hàng nghìn công trình đụng đâu hỏng đấy? Chắc chắn là không hề có bàn tay lông lá của “thế lực thù địch” cũng như các tổ chức chính trị đối lập trong những vụ ăn bẩn này.

Vậy ai chính là những kẻ đang đi ngược lại “lợi ích của đất nước, của nhân dân”?

Xin đừng đem hai chữ “Nhân Dân” ra để làm cái màn thưa hòng che mắt thế gian bởi chỉ thêm nhục.

L.C.L.G
(*) vnexpress.net 

Nguồn: rfa.org     CHỐNG VÀ CHẶN “ĐỐI LẬP” 

*Đảng luôn mồm nói: “đảng ta là đảng của giai cấp công nông”, nhưng thực tế coi bọn đảng viên cao cấp dùng chính sách bóp cổ,  và đi ngược lại với lợi ích của nông dân để kiếm lợi  nèPhó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân)

Phó chủ tịch Hiệp hội Thanh long “chỉ đạo” doanh nghiệp ép giá nông dân

24-12-2012

bao Thanhnien.com.vn

Ông Trần Ngọc Hiệp, Phó chủ tịch phụ trách kinh doanh Hiệp hội Thanh long Bình Thuận vừa nhắn tin cho các thành viên là chủ doanh nghiệp (DN) “chỉ đạo” bắt tay ép giá mua thanh long của nông dân.  Chiều 24.12, trả lời Thanh Niên qua điện thoại, Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Bình Thuận Bùi Đăng Hưng đã xác nhận vụ việc này.

Tin nhắn của ông Hiệp có nội dung: “Các anh chị chú ý tình hình là mua bán quá khó khăn, chúng ta không có máy in tiền nên phải đoàn kết thống nhất “mua có bạn bán có phường” giá nhận hàng đẹp nhất chỉ là 10.700 đồng thôi. Nếu mua chưa được thì nghỉ vài ngày sẽ mua được, không khéo sẽ lỗ hết tiền. Đề nghị anh em thực hiện nghiêm mới hạ giá và kiếm lời ”. “Sau khi thống nhất, giá hàng đẹp nhất chỉ nhận tối đa 10.700 đồng/kg nếu mua chưa được thì nghỉ 1-2 ngày rồi hãy mua giá sẽ rẻ. Trường hợp quá cần thiết thì nhận 11.000 đồng. Đề nghị chấp hành nghiêm chỉnh…”. Ông Bùi Đăng Hưng cho biết: “Đây không phải là ý kiến của Hiệp hội mà chỉ là ý kiến riêng của vị phó chủ tịch này. Chúng tôi hiểu các DN thu mua đang gặp khó trong xuất khẩu thanh long. Nhưng không vì thế mà đi ép giá nông dân”.

Ông Lê Văn Ba, một nông dân xã Hàm Mỹ (H. Hàm Thuận Nam) cho biết: “Với giá 10.700 đồng/kg thì nhà vườn không có lãi, vì mùa này thanh long sản xuất được là nhờ điện thắp sáng. Chi phí đầu vào cho thanh long mùa này rất cao. Nếu những DN chuyên mua thanh long bắt tay nhau để ép giá thì nông dân chúng tôi chỉ có lỗ mà thôi”.

Chiều 24.12, Hiệp hội Thanh long Bình Thuận đã có cuộc họp khẩn với Chi hội Thương nhân, có sự tham gia của đại diện Sở NN-PTNT, Sở Công thương Bình Thuận. Hiệp hội đã chỉ rõ đây không phải là chỉ đạo của Hiệp hội và vị phó chủ tịch này phải rút kinh nghiệm. 

Quế Hà

———————-

Gọi điện thoại về Việt Nam không tốn tiền

Nếu bạn ở Mỹ và gia đình ở VN đều dùng smartphone, bạn có thể gọi điện thoại miễn phí về VN mà không cần mua thẻ hay trả tiền cho điện thoại Nguyenngocngan 24/7.

Bạn chỉ cần download VIBER vào phone, hoặc download các phần mềm khác tùy ý thích của bạn, và theo đúng cách chỉ dẫn như trong bài dưới đây…là các bạn có thể gọi điện thoại nói chuyện với người nhà ở VN (hoặc ở Mỹ) với âm thanh rất rõ, khỏi tốn tiền mua thẻ điện thoại nữa.

Vì vậy, tập đoàn Vietel (của quân đội nhân dân VN làm kinh doanh kiếm tiền chia nhau) bị thất thu, nên tập đoàn này đang đề nghị chính phủ CẤM dân chung sử dụng các phần mềm này. Và chụp mũ là: “Các cuộc gọi , nhắn tin miễn phí qua mạng WiFi, 3G đó sẽ rất khó quản lý về mặt an ninh.”

Thay vì “tìm cách cải tiến / thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ” / tiếp tục hạ giá gọi phone mỗi phút về VN xuống 1-2 cents/… sao cho khách hàng tiếp tục dùng mình.

Có nguy cơ mất mối lợi nhiều tỷ đô la mỗi năm, tập đoàn Viettel đang đề nghị chính phủ quản lý và cấm dân chúng sử dụng phần mềm VIBER  để gọi điện thoại và nhắn tin

——

Viettel đề xuất bộ TT&TT ra chính sách quản lý phần mềm gọi điện, nhắn tin miễn phí qua Internet

nguon

24-12-2012

Trước nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh đối với thị trường viễn thông từ các phần mềm nhắn tin, gọi điện miễn phí qua mạng Wifi, 3G như Viber, Whatspp… ông Phạm Hồng Hải, Cục trưởng Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) cho biết, sắp tới, Cục sẽ tổ chức hội thảo để đưa ra chính sách quản lý phù hợp.


Trước các nguy cơ về an nình và cạnh tranh không lành mạnh của phần mềm gọi điện miễn phí qua mạng Internet, Bộ TT&TT sẽ đề ra chính sách quản lý phù hợp.Phát biểu tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ năm 2013 của Bộ TT&TT ngày 24/12, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel cho biết, dịch vụ Over the top content (OTT) giúp nhắn tin, gọi điện miễn phí qua mạng Wifi, 3G như Viber, Whatsapp đang là một nguy cơ với các doanh nghiệp viễn thông nói riêng và các ngành CNTT, truyền thông, truyền hình nói riêng.

Bởi vì, những dịch vụ viễn thông cơ bản như điện thoại, nhắn tin và truyền hình đang chiếm đến 80% doanh thu của các doanh nghiệp viễn thông (khoảng trên 100.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, các dịch vụ này lại đang được cung cấp miễn phí trên mạng bởi các công ty nước ngoài, để từ đó kinh doanh những dịch vụ khác ngoài viễn thông. “Các cuộc gọi , nhắn tin miễn phí qua mạng WiFi, 3G đó sẽ rất khó quản lý về mặt an ninh. Vì thế, Bộ TT&TT nên có chính sách quản lý dịch vụ OTT trên cơ sở không kìm hãm sự phát triển nhưng đảm bảo phát triển bền vững của ngành viễn thông, CNTT và truyền hình”, ông Hùng nhấn mạnh.

Về vấn đề này, ông Hải cho rằng, nguy cơ các dịch vụ OTT của doanh nghiệp nội dung nước ngoài như Google, Yahoo… chiếm hết doanh thu từ những dịch vụ viễn thông cơ bản (nhắn tin, gọi điện) và khiến doanh nghiệp viễn thông giống như những “người làm thuê”, không có lãi đang xảy ra không chỉ ở Việt Nam mà còn với tất cả các nước trên thế giới. Từ đó, đòi hỏi các nước phải có chính sách quản lý phù hợp.

Chẳng hạn, một số nước như Ả rập có chính sách rất cực đoan là cấm hoàn toàn việc sử dụng phần mềm Viber… nhưng Mỹ và một số nước Châu Âu lại ủng hộ việc người dùng sử dụng những phần mềm này. “Thời gian tới, Cục Viễn thông sẽ cùng một số chuyên gia tổ chức hội thảo về vấn đề này để tìm ra chính sách quản lý phù hợp”, ông Hải kết luận.

Gần đây, người dùng tại Việt Nam ngày càng sử dụng nhiều hơn những phần mềm gọi điện Internet miễn phí thông qua mạng WiFi hay 3G giữa các smartphone, trong đó tiêu biểu là các phần mềm Whatsapp, Viber, Line… hay các phần mềm “made in Việt Nam” như Zalo (VNG), FPT Chat (FPT)… Người dùng chỉ cần vào Appstore hay Google Play để tải phần mềm về, đăng nhập số điện thoại, máy sẽ tự động gửi mã xác thực và tìm kiếm trong danh bạ những bạn bè đã dùng ứng dụng. Từ đó, người dùng có thể dễ dàng gọi điện, nhắn tin miễn phí với nhau thông qua kết nối Internet.

Nhiều hãng smartphone cũng trang bị các phần mềm nhắn tin miễn phí nhằm tăng thêm tiện ích cho người sử dụng như Blackberry với công cụ Blackberry Messenger, Apple với ứng dụng Facetime đàm thoại video và iMssenger hỗ trợ nhắn tin đa phương tiện giữa các thiết bị chạy iOS với nhau (iPhone, iPad thậm chí cả MacBook) hay gần đây nhất là Samsung với phần mềm ChatOn.

Theo ICTNews

Đăng trong Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

+ Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam (nên đọc)

Posted by hoangtran204 on Thứ Sáu, Tháng Năm 18, 2012

Lời tựa: đây là một bài nhận định rất xuất sắc. Để viết ra những bài này tác giả đã bỏ ra rất nhiều thời gian nghiền ngẫm lịch sử, tìm hiểu nhận định các biến cố kinh tế chính trị xã hội đã diễn ra trong lịch sử VN có liên quan tới triều đình nhà sản. Rất hiếm khi chúng ta có thể đọc được các bài viết ngắn gọn mà  sâu sắc như thế này.

Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam

Xích Tử

Lời phát biểu bế mạc của Tổng bí thư cùng với Thông báo của BCH TƯ về Hội nghị lần thứ 5 hoàn toàn thống nhất với lời phát biểu khai mạc của người đứng đầu Đảng CSVN định hướng cho kết quả của một chương trình nghị sự được dự báo: Thận trọng trong việc sửa đổi Hiến pháp vì đây là chuyện “nhạy cảm”, không bỏ Điều 4 vì như vậy là “tự sát”, duy trì khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tam quyền phân lập do đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, không phục hồi chế độ tư hữu về đất đai và không có việc đòi lại đất đã bị cưỡng đoạt, xử lý trong lịch sử pháp luật ở lĩnh vực này.

Phản ứng chính sách này của đảng là tất nhiên trong chuỗi động thái phòng vệ, tự bảo vệ, chống sự rối loạn dẫn đến mất quyền lãnh đạo đất nước và các đặc quyền thực tế khác được tạo nên do quyền lãnh đạo đó. Sự khẳng định đó không chứng minh thêm gì về đổi mới tư duy, về tầm trí tuệ, về sự phát triển của văn minh chính trị, chân lý chính trị, mà chỉ là biểu hiện của sự đuối lý, của thế thua, của sự bảo thủ.

Bằng mọi giá, đảng phải níu giữ quyền lãnh đạo thông qua các công cụ trấn áp bạo lực và một hệ thống luật pháp ngày càng có tính cai trị chuyên chế, ngày càng tạo ra và được tạo ra trong quan hệ bất bình đẳng giữa chính đảng nắm quyền lực, nhà nước do chính đảng đó lập nên với quảng đại nhân dân đến mức mâu thuẫn chín muồi cho một tình thế cách mạng theo tiêu chuẩn cổ điển. Cũng bằng mọi giá, đảng cố duy trì hiện trạng chính trị, có điều chỉnh ngoại vi để hoãn binh chi kế và đẩy những mâu thuẫn tiềm ẩn đó cho các thế hệ sau, trong đó con cháu của các vị chóp bu vẫn là người cầm quyền.

Biểu hiện ngoan cố chính trị đó là kết quả của một chuỗi diến biến lịch sử nắm quyền lãnh đạo không quang minh chính đại, không chính thống của đảng. Trong giai đoạn 1930 – 1945, đảng đã dùng chiêu bài đấu tranh giai cấp, chống bóc lột, bất công, vẽ ra một thiên đường hạ giới với người cày có ruộng, công nhân không bị tư bản bóc lột, mọi người tự do, xã hội dân chủ…kết hợp với chống thực dân giành độc lập để thu hút, tập hợp,tổ chức lực lượng (cách nói hoa mỹ của sự lừa phỉnh) tiến đến việc sử dụng bạo lực với sự hỗ trợ của nước ngoài để cướp chính quyền tháng 8/1945.

Từ 1945 đến 1976, suy cho cùng, đảng đã sử dụng, lợi dụng, vận dụng cuộc chiến tranh giải phóng, giành độc lập như một công cụ bạo lực để áp đặt mô hình chính trị xã hội chủ nghĩa lên một nửa, rồi cả đất nước, để xây dựng và củng cố nền chuyên chính “vô sản” với toàn bộ thiết chế quyền lực, chính quyền, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, tôn giáo…, điều chỉnh cả đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, điều chỉnh cả lịch sử và cưỡng chế niềm tin cũng như sự hình dung của nhân dân về mô hình đất nước trong tương lai. Tất cả sự thiết lập ấy đều được tạo ra từ mũi súng.

Chỉ riêng chuyện đất đai, nông dân, và nông thôn, qua toàn bộ tiến trình đó, đã cho thấy sự thất bại của cuộc cách mạng, nếu hiểu cuộc cách mạng đó là thành tâm, hoặc có thể là một sự phản bội, nếu nhìn cuộc cách mạng như một thứ vận động chính trị cơ hội chủ nghĩa, một kiểu lừa đảo lịch sử. Người nông dân, nông nghiệp, nông thôn là đối tượng bị đối xử tàn bạo nhất trong cách mạng. Đến thời điểm này, khi phải điều chỉnh bằng chính sách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người nông dân xem như mất sạch, và nông thôn trở thành gánh nợ bị phân biệt đối xử.

Từ năm 1930, khi khởi mào cho những câu hát ru cách mạng, có những ông lão “ngồi mơ nước Nga” (ý thơ Tố Hữu) với sự hứa hẹn của đảng về ruộng đất cho dân cày, về người cày có ruộng. Những nông dân là canh điền, tá điền, lãnh canh nộp tô cho địa chủ thời ấy mơ mộng sẽ có lúc triệt hạ hết địa chủ và giành ruộng đất trở thành sở hữu của mình.

Lời hứa đó được duy trì và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu thu hút các lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ bí mật bằng cách làm mềm đi đối tượng địa chủ thông qua việc phân loại dựa trên diện tích sở hữu của họ và mức độ câu kết của họ với chính quyền thực dân, phong kiến. Nhờ đó, lời hiệu triệu về đất đai vẫn hấp dẫn với tuyệt đại đa số nông dân nghèo, không có hoặc có ít ruộng đất, đồng thời trấn an số “địa chủ” lớp dưới với hứa hẹn về chính sách tịch thu, trưng thu, trưng mua mềm dẻo tuỳ từng đối tượng.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tình trạng đó vẫn án binh bất động. Đến giai đoạn cuối, do sự phát triển về lực của chính quyền kháng chiến, cục diện chiến trường, và đặc biệt là sự chỉ đạo của Trung Quốc, Chính phủ Việt Minh trở lại chính sách đất đai với mức độ từ thấp đến cao để đạt mục tiêu cưỡng đoạt và cưỡng chiếm quyền sở hữu loại tài sản đặc biệt này của nhân dân. Bắt đầu là phong trào vận động giảm tô trong vùng kháng chiến với Sắc lệnh 14/7/1949; đến 12/4/1953, Chính phủ Việt Minh lại ra Sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô để thêm một bước tiến công vào các tầng lớp địa chủ, động viên nông dân.

Ngày 19/12/1953, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc lệnh ban bố Luật Cải cách ruộng đất đã được Quốc hội khoá I thông qua trong kỳ họp thứ 3 (1-4/12/1953). Nội dung chủ yếu của Luật, được thực hiện ngay sau đó ở những vùng thuộc chính quyền kháng chiến kiểm soát thuộc khu vực đồng bằng là xử lý địa chủ; tổ chức đấu tố; tịch thu, trưng thu đất của đối tượng này và huy động nguồn công điền, nguồn đất hoang để chia cho nông dân. Phong trào này được tuyên truyền mạnh mẽ, có chụp ảnh đăng báo cảnh nông dân đi nhận đất, cắm cờ hả hê và nhờ đó, cùng với các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, kiểm thảo, nó có tác dụng động viên sức chiến đấu của những người lính gốc nông dân trong trận quyết đấu Điện Biên Phủ.

Trong chiêu bài phản phong, cuộc cải cách ruộng đất theo Luật 1953 thực chất là tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất ở nông thôn, theo quan điểm marxist, trong đó trước hết là quan hệ trong chiếm hữu tư liệu sản xuất. Ở một khía cạnh khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ nhân dân theo kịch bản dàn dựng để đủ bộ lệ cho các nước làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Á châu bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Mao. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra một cách khốc liệt sau 1954 ở miền bắc với nhiều sai lầm, tội ác nghiêm trọng để đảng tạm phải dừng lại, sửa sai vào năm 1956; song kết quả của cách làm sai lầm, gần như là tội ác chống lại nhân dân đó lại là cơ sở thuận lợi cho công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp bị áp đặt bởi Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua nghị quyết về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ngày 27/5/1959 – một động thái mà Quốc hội xem như “cuộc cách mạng hoà bình”, chuẩn bị cho những qui định về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai trong Hiến pháp 1959 và đặc biệt là từ Điều 19 của Hiến pháp 1980.

Bằng những bước đi này, những hình ảnh người nông dân được chia ruộng đất để làm chứng cho chính sách người cày có ruộng đã được rêu rao từ những năm 30 chỉ kéo dài được không quá 6 năm (1953 – 1959); những mảnh ruộng được chia đó chưa ấm tay người nông dân thì đã bị sung vào hợp tác xã, thuộc sở hữu tập thể, bước thứ nhất của sở hữu toàn dân.

Điều đáng ghi nhận là tất cả cách xử lý có tính lịch sử của nhà nước cộng sản Việt Nam vế đất đai từ những năm 50 của thế kỷ trước đến nay đều kế tục quan điểm xem đây là tư liệu sản xuất hoặc đối tượng lao động; nó không phải là tài sản chiếm hữu hoặc sở hữu để chế tài như các thông lệ về quyền tư hữu tài sản đã ghi trong Hiến pháp 1946.

Dựa vào lý thuyết Marxist về quan hệ sản xuất, nhà nước cộng sản Việt Nam xem đất đai như một hiện tượng bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất do chế độ phong kiến tạo ra; vì vậy, để làm cách mạng xây dựng chế độ mới, phải từng bước xoá bỏ triệt để hiện tượng này. Đây không phải là quá trình pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản, mà là chuyện chính trị của quá trình cách mạng; nó không thuộc phạm trù kế thừa luật pháp hình sự, dân sự; không phải là nhân quyền hay dân quyền, mà là một hiện tượng phản động của lịch sử, cách mạng có quyền xoá bỏ.

Điều này khác hẳn và tạo ra phân biệt xử lý giữa đất đai và các tài sản khác của người dân nói chung và người nông dân nói riêng. Vì vốn là tài sản lịch sử nên đất đai của người dân, kể cả địa chủ và các tầng lớp nông dân, đều được hình thành do sự đầu tư riêng (mua bán, kế thừa, chuyển nhượng; cả của tập thể họ tộc, chùa chiền, nhà thờ và cá nhân), song khi đi vào hợp tác hoá, trong khi đất đai bị quốc hữu hoá hoàn toàn , bị cải biến hoàn toàn về hình thức tồn tại thì các tài sản khác vẫn được bảo lưu trong nguồn vốn tập thể, trong hình thức liên doanh, công tư hợp doanh. Sự bất công này kéo dài cho đến khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bị phá sản vào những năm 80, 90; khi đó, các doanh nghiệp nhà nước, vốn là tài sản của dân, bị bán tống tháo đi với nhiều cách làm rất tiêu cực qua quá trình cổ phần hoá biến đảng viên cộng sản công, thương nghiệp thành người chủ cổ phần, tức tư nhân hoá, tư bản hoá tài sản xã hội chủ nghĩa, người nông dân vốn đã bỏ những tài sản rất thật của mình vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục bị tước đoạt. Lúc họ bỏ ra đất đai để làm cách mạng, họ đã chấp hành một chính sách cưỡng đoạt, để mua lấy sự an toàn và niềm tin về một xã hội mới. Khi mô hình xã hội mới đó phá sản, những người cộng sản tìm cách hưởng lợi khác thì người nông dân bị bỏ rơi với cách nói chẳng nghĩa tình gì: đất đai là sở hữu toàn dân, không có bất kỳ sự cứu xét nào về lịch sử chính sách đất đai, về đối tượng đất đai đã bị cách mạng xử lý. Cũng vào lúc ban đầu ấy, không có ai nói với họ về sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước, người dân và nhà đầu tư như kiểu giải thích ngụy biện và cơ hội chủ nghĩa như bây giờ; chỉ có một lợi ích duy nhất là chủ nghĩa xã hội. Làm gì có cái gọi là nhà đầu tư vào những năm 50 ở miền bắc và những năm 70, 80 ở miền nam và cũng làm gì cần phải đặt ra sự hài hoà lợi ích về đất đai giữa nhà nước và người dân nếu nhà nước là của dân, do dân, vì dân!

Suy cho cùng, khi đã lộ cái đuôi lợi ích ra vì kinh tế thị trường, vì những tiêu cực nảy sinh tất yếu và cố tình do chính sách đất đai; khi tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội trở thành tài sản của tư bản nước ngoài, tư bản đỏ trong nước với sự hỗ trợ, chia chác của nhà nước cộng sản, mới có cách giải thích như vậy. Còn từ khởi thuỷ của cách mạng, khi quốc hữu hoá đất đai, những người cộng sản chỉ đơn giản tước đoạt toàn bộ hạ tầng kinh tế của hộ gia đình nông dân và các tầng lớp dân cư nông thôn khác, tước đoạt công cụ sinh nhai tự túc – kẻ thù của công hữu cộng sản- của dòng họ, tôn giáo, học hữu; qua đó, họ muốn triệt hạ toàn bộ thiết chế vật chất và tinh thần của xã hội cũ, xã hội phong kiến, để cho sản phẩm của xã hội mới thay thế; nhờ vậy ơn đảng, ơn nhà nước mới có gía trị.

Chuyện quốc hữu hoá đất đai nói riêng, các tư liệu, phương tiện sản xuất khác nói chung của mô hình xã hội chủ nghĩa ấy không phải chỉ là vì mục tiêu kinh tế và nếu chỉ vì mục tiêu ấy thì cộng sản quả là không trí tuệ; mục đích chính là chính trị, là cải tạo xã hội. Hợp tác xã là một thiết chế quản lý con người về phương diện dạ dày, và qua dạ dày để quản lý trái tim và khối óc; ông chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp có quyền quyết định một thanh niên có được đi học đại học hay không thông qua thủ tục cắt chuyển tiêu chuẩn lương thực từ địa phương cấp xã đến trường đại học. Chủ nghĩa xã hội khi tịch thu đất đai của nông dân chính là vì vậy; cho nên sau này, khi đánh giá những sai lầm của nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá, đảng vẫn móc vào đó một ý khen là nhờ đó mà huy động được lương thực cho chiến trường, động viên được quân lực (vì không nhập ngũ thì lấy đâu ra gạo ăn) và hạt gạo chia tư cho cả “nghĩa vụ quốc tế”.

Cái mất của người nông dân là bị tước đoạt của cải để phục vụ mục tiêu phấn đấu cho công bằng, bình đẳng, tự do, dân chủ, giống như một sự góp vốn làm ăn, song khi mục tiêu của công cuộc làm ăn thất bại, cái vốn ấy không được trả lại và biến thành lợi ích của các nhóm khác, bao gồm chủ yếu nhóm cai trị. Qua cái bị mất hữu hình đó, họ đồng thời cũng bị tước đoạt những giá trị vô hình liên quan đến quyền sở hữu tư nhân tài sản, vốn rất thiêng liêng, được hình thành qua hàng nghìn năm phát triển của lịch sử dân tộc, của nhân loại.

Với mỗi người nông dân Việt Nam, đất đai là núm ruột, là tình cảm của ông cha để lại, là kết quả sự cố gắng tằn tiện, “ăn mắm mút giòi” suốt đời của đôi vợ chồng nghèo dành cho con cháu, là ngôi mộ của tổ tiên, ông bà ở đó, là mối liên kết, chia sẻ trách nhiệm của các thành viên dòng họ, xứ đạo, bổn hữu của ngôi chùa, là tuổi thơ, bến nước, con đò… Khi họ mất tài sản đất đai, những cái ấy cũng sẽ mất đi. Không thể có cách nói nguỵ biện đương đại về mục tiêu kinh tế hướng đến nền sản xuất lớn trong nông nghiệp, một nền “nông nghiệp hợp lý hoá” khi quốc hữu hoá đất đai trước đây và rục rịch toa rập tích tụ đất đai hiện nay với những trích dẫn marxist cũ rích như kiểu của tác giả Đỗ Thế Tùng trên Tạp chí cộng sản . Trong khi nhiều nước có nền nông nghiệp cực kỳ hiện đại, là cường quốc của nhiều ngành nông sản nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu về đất đai thì không thể cả vú lấp miệng nông dân bằng luận điểm “Việc qui định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là phù hợp với qui luật tiến hoá và xu hướng phát triển của nông nghiệp hiện đại”, rằng “vai trò đại diện và quản lý của Nhà nước là tất yếu”.

Cùng với nông dân, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, cũng bị đánh phá đến kiệt quệ, trở thành một không gian u ám, căng thẳng. Những cuộc đấu tố và xử lý địa chủ, phá phách chùa chiền đền miếu mồ mả, cuộc vận động áp đặt nông dân vào hợp tác xã, thu thuế phí, động viên thanh niên nhập ngũ, việc chia tách các thành viên gia đình và chế độ, thời gian sinh hoạt gia đình theo mô hình sản xuất hợp tác xã, thậm chí có lúc có nơi đã là công xã, mức thu nhập tối đa 1kg lúa/một ngày công, cảnh nhận giấy báo tử từ chiến trường …kéo dài suốt những năm 60, 70. Nông thôn chịu vô số thiệt thòi khác do tỉ lệ thất học, mù chữ, do trình độ dân trí bị cố tình làm chậm phát triển; cơ cấu thanh niên được vào đại học, cao đẳng thấp, không bình đẳng với đô thị; thiếu thốn, nghèo nàn trong thông tin, sinh hoạt tinh thần; chất lượng hiểu biết thấp và thói cửa quyền, cường quyền của đám cán bộ hợp tác xã, chính quyền địa phương. Tình trạng đó vẫn không khắc phục được, hoặc không được khắc phục cho đến cả thời kỳ “đổi mới”. Các chính sách với nông dân, nông thôn không đủ để khỏi phải huy động sự đóng góp của người dân với hàng vài ba chục thứ phí thu hàng năm dẫn đến đỉnh điểm mâu thuẫn ở sự kiện Thái Bình 1997.

Người dân nông thôn vẫn phải cam chịu với hạ tầng kém hơn nhiều đô thị; họ phải bỏ tiền ra để tự mắc điện rồi trả tiền điện với giá cao hơn; họ cũng phải bỏ ra số tiền bằng thu nhập của gia đình trong cả năm, tương đương với hàng nghìn cổ phiếu của công ty để làm đường nông thôn nhưng không sở hữu được gì cả. Để tiếp cận với đô thị gần nhất (đi học, mua bán, giải trí…), họ cũng phải chịu hao mòn phương tiện và tiêu tốn nhiên liệu nhiều hơn.

Đối lập với vùng u ám chiếm tỉ lệ lớn diện tích đất nước đó, đô thị, trong thời gian chiến tranh cũng như hoà bình, đổi mới, luôn luôn được ưu ái, có nhiều ưu thế hơn: hạ tầng đô thị, tiện nghi đô thị, thu nhập đô thị, các điều kiện thuận lợi về học hành, đào tạo để được tuyển dụng vào tầng lớp cai trị, các điều kiện thoả mãn sự phát triển tinh thần và tiếp cận với thế giới văn minh, kể cả tiếp xúc với người, thông tin của nước ngoài. Trong khi người nông dân trực tiếp sản xuất ra lương thực, thu nhập của họ cũng chỉ 30kg lúa mỗi tháng, tương đương 15 kg gạo, người dân đô thị, với nguồn thu nhập bằng lương và các hình thức tiền mặt khác dồi dào hơn, cũng được phân phối 13 kg gạo với giá 4,1 hào/kg.

Một bà già với hàng nước chè nóng ở đầu một ngõ phố Hà Nội suốt mấy chục năm, khi đổi mới, cũng công khai của tích luỹ đến mấy chục lạng vàng. Sau 1975, nhiều người hồi kết về miền nam đã khuyên con cháu rằng bất cứ giá nào cũng phải chuyển vào sống trong đô thị. Cố gắng tạo nên bình đẳng của chủ nghĩa xã hội là như vậy.

Chính sách đất đai và các chính sách kinh tế khác đã tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn có thật, kéo dài và ngày càng gay gắt giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân với nhà nước, đồng thời cũng làm cho cái gọi là liên minh công nông trở thành bánh vẽ.

Chỉ đơn cử, một người bạn học của người viết bài này, đang là đảng viên cộng sản, giám đốc của một công ty chế biến nông sản ở miền trung vốn là doanh nghiệp nhà nước, tức công sản; khi công ty chưa cổ phần hoá, lương tháng của anh ta tương đương giá trị nguyên liệu nông sản ấy trên 2 hecta/1 năm, trong khi bình quân diện tích/người nông dân trồng nông sản chỉ là 0,1 hecta. So sánh tiền lãi của nông dân trong 1 năm với tiền lương 1 năm của vị giám đốc, ta có tỉ lệ 1:2000. Hiện nay, công ty đã cổ phần hoá, anh ta thành chủ của 1/5 tài sản công ty; thu nhập bằng lương tháng cộng cổ tức sẽ cao hơn nhiều.

Sự thật đã và đang là như vậy. Nhưng ai cho phép nó như vậy? Đảng cộng sản đã tạo ra tất cả bằng mũi súng, thông qua cái công cụ được hợp hiến hoá là Quốc hội. Tổ chức ấy do đảng lập ra và phần lớn đại biểu là đảng viên. Khi Quốc hội biểu quyết thông qua chính sách hợp tác xã, thông qua luật đất đai, thông qua các Hiến pháp với điều khoản công nhận quyền lãnh đạo của đảng, họ không phải đại diện cho dân và thể hiện ý kiến của dân, mà là chấp hành đảng, không phải toàn bộ đảng viên, mà chỉ một nhóm nhỏ có quyền đưa đất nước và dân tộc vào cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa.

Đến bây giờ, mọi việc đã lỡ rồi, các cơ cấu đã được thiết lập và vận hành sức mạnh của nó, để chia chác quyền lực và quyền lợi, không một ai, trong bối cảnh văn hoá chính trị Việt Nam, có khả năng và sự dũng cảm thay đổi. Thay vì thừa nhận tình trạng ấy, đảng vẫn nói như đinh đóng cột rằng đất đai là sở hữu toàn dân, với một thái độ trâng tráo, ngạo mạn đến vô ơn, vô sỉ.

Hãy cứ đưa điều đó ra trưng cầu dân ý, chắc sẽ có câu trả lời chung cho việc khẳng định chủ nghĩa xã hội là con đường lựa chọn của toàn dân, về chế độ công hữu, về tính nhân dân của nhà nước Việt Nam hiện nay.

Xích Tử

Các bài liên quan:

*+Ðiều Tra Đời Sống Cư Dân Đô Thị Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 ( nên đọc)

Đăng trong Nong Dan Viet Nam, Đảng CSVN-Hành vi của những đảng viên | 4 phản hồi »

Căn Nhà ở Vùng Quê Miền Nam

Posted by hoangtran204 on Thứ Bảy, Tháng Mười Hai 3, 2011

nguồn ảnh: tintuconline.com

Đăng trong Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Nông dân: 44 người chết do lũ ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Mười 18, 2011

44 người chết do lũ ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long


Người đàn ông ‘cứu’ một khóm lúa

Hơn 10 năm, người dân ĐBSCL mới chứng kiến cảnh nước lũ dâng cao, nhiều nơi còn vượt đỉnh lũ năm 2000. Đây là điều khiến các cấp chính quyền địa phương và cả người dân có phần bất ngờ trước những diễn biến phức tạp của lũ.

Điêu đứng

Trước vụ thu đông (vụ 3) năm nay, giá lúa ở khu vực ĐBSCL đứng mức khá cao. Nông dân hy vọng sẽ có một mùa lúa bội thu vì trúng mùa, trúng giá. Hiện tại, một số vùng xuống giống sớm, nông dân thu hoạch xong bán lúa khô với giá từ 7.200 – 7.500 đồng/kg. Theo tính toán, với giá lúa này, trừ hết chi phí thì nông dân cầm chắc có lãi từ 20 – 24 triệu đồng/ha.

Chính vì vậy ngay từ mùa vụ, bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia, nhà khoa học…, hàng ngàn hecta lúa ngoài vùng quy hoạch hoặc có đê bao nhưng chưa chắc chắn vẫn mọc lên theo kiểu “5 ăn 5 thua” với lũ. Hậu quả là hàng ngàn hộ dân ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động của mình bị dìm sâu trong biển nước.

Rất nhiều hộ nông dân sẽ phải đối mặt với khó khăn, thiếu gạo ăn trong thời gian tới và cạn vốn để xuống giống vụ mới sau lũ. Không lâu sau khi mất trắng 52 công lúa trên tuyến đê bao bị vỡ tại ấp Chiến Thắng (kênh Cả Mũi), đến ngày 2-10, gia đình ông Trần Văn Huệ ở xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp lại mất tiếp 3 công lúa cuối cùng dành để lấy lúa giống và lúa ăn tại ấp Thi Sơn (kênh Bắc Viện). “Hết sạch rồi! Nợ cũ trả chưa xong, nợ mới lại tới. Kiểu này nếu không được Nhà nước hỗ trợ, chỉ còn đường bỏ xứ ra đi” – ông Huệ than.

Vỡ đê hàng loạt

Do mưa lũ thất thường, nhiều địa phương đã chi hàng tỉ đồng để xây dựng những tuyến đê bao vô cùng chắc chắn nhưng vẫn bị lũ cuốn phăng. Vụ vỡ đê ngày 3-10 trên tuyến kênh Cà Vàng thuộc xã Thông Bình, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp khiến hơn 800 ha lúa bị mất trắng không ai ngờ tới. Ông Nguyễn Chi Lăng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tân Hồng, cho biết chính ông cũng không ngờ đê bao này được bảo vệ bằng một vách tường gạch khá kiên cố dài đến 7 km, với tổng kinh phí lên đến 4 tỉ đồng lại bị nước lũ đánh sập. Tính ra, tổng số thiệt hại về lúa và kinh phí đầu tư đê bao của xã Thông Bình khoảng 14 tỉ đồng.
Còn trên địa bàn tỉnh An Giang, hàng loạt vụ vỡ đê liên tiếp xảy ra trong thời gian qua khiến hơn 4.000 ha lúa mất trắng. Hiện hàng chục ngàn lượt dân quân ở An Giang, Đồng Tháp thường xuyên túc trực kiểm tra, đề phòng các sự cố có thể xảy ra. Tuy nhiên, ngay trong lúc dốc sức cứu đê, khoảng 11 giờ ngày 16-10, lại thêm tuyến đê bao Long Thạnh – Long Hòa – Long Hưng (thuộc xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) sạt lở khiến hàng chục hecta hoa màu, ao cá của người dân bị nhấn chìm. Trước đó, ngày 14-10, đoạn đê dài hơn 30 m ở khu vực kênh 10, xã Vĩnh Châu, thị xã Châu Đốc bị vỡ, nước lũ nuốt chửng 250 ha lúa. Sau sự cố này, gần 1.000 ha lúa ở các vùng lân cận thuộc xã Vĩnh Tế đang tiếp tục bị nước lũ uy hiếp và có nguy cơ mất thu hoạch.

Thiệt hại nặng nề

Theo báo cáo, đến ngày 16-10, có 44 người ở các tỉnh ĐBSCL chết do mưa lũ gây ra, trong đó nhiều nhất là Đồng Tháp: 17 người, An Giang: 12 người; trên 1.200 km đường, đê bao bị sạt lở; 7.400 ha lúa hư hại do ngập… Tổng thiệt hại ước tính trên 1.200 tỉ đồng.

Nguồn: Báo Người Lao Động

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

*”Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài.”

Nông dân trắng tay vì vỡ đê bao hàng loạt

Lũ lớn làm vỡ hàng loạt đê bao khép kín ở đồng bằng sông Cửu Long, hàng ngàn héc ta lúa thu đông đã ngập dưới nước, nông dân trông đợi thêm thu nhập nhờ vụ ba nay trắng tay trong nợ nần.

Hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là An Giang và Đồng Tháp đang chịu thách thức vì những ý tưởng muốn thay đổi thiên nhiên từ cách nay gần 1 thập niên, đó là ngăn lũ kiểm soát lũ để có thể làm thêm một vụ lúa thứ ba trong năm. Con người đã tìm cách ngăn dòng nước lũ với hệ thống đê bao khép kín dài hàng trăm cây số, mỗi ô bao rộng hàng trăm héc ta.
8 ngàn héc-ta lúa ngập trong lũ

Tính đến sáng 29/9 An Giang đã bị vỡ đê ở 7 nơi. Theo Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Saigon Online nhiều nơi đã vượt đỉnh lũ lịch sử năm 2.000 gây vỡ đê, khiến 8 ngàn héc-ta lúa thu đông ở An Giang đã ngập chìm trong lũ. Trong khi hơn 400km đê bao khác đang bị đe dọa cùng với 10.000 ha lúa chưa gặt, tức gần 1/10 diện tích lúa thu đông ở An Giang.

Bên cạnh đó tỉnh Đồng Tháp cũng đã vỡ hai tuyến đê bao ở Hồng Ngự và Tân Hồng, thiệt hại ban đầu khoảng gần 1 ngàn héc-ta lúa thu đông. Trả lời Nam Nguyên ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Tháp phác họa tình hình:

“Lũ đầu nguồn hiện nay đe dọa nghiêm trọng sản xuất lúa thu đông tỉnh Đồng Tháp cũng như tỉnh An Giang. Về phía chủ trương, tỉnh huy động mọi nguồn lực để làm sao bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân cũng như diện tích lúa thu đông chuẩn bị thu hoạch nhưng tình hình cũng có một số diễn biến phức tạp.”

Trong khi An Giang có 500 hộ dân cần di dời khỏi vùng nguy hiểm, thì số lượng này ở Đồng Tháp gấp 10 lần là 5.000 hộ. Ông Dương Nghĩa Quốc cho biết tỉnh Đồng Tháp đã lập 500 đội cứu nạn với hơn 4.200 thành viên. Đề cập tới vụ lúa thu đông, vụ lúa thứ ba mà Đồng Tháp xem như vụ chính, ông Dương Nghĩa Quốc cho biết:

Đối với tỉnh Đồng Tháp diện tích lúa thu đông khoảng 100.000 ha nhưng thời gian vừa qua tính đến ngày hôm nay đã thu hoạch được 73.000 ha như vậy còn lại trên 25.000 ha chưa thu hoạch…Mực nước đang dâng cao, hiện nay trên tinh thần quyết tâm bảo vệ diện tích lúa còn lại. Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp nhưng sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân. Chính vì vậy Ủy ban Nhân dân Tỉnh Đồng Tháp huy động mọi nguồn lực cố gắng không để lũ tiếp tục ảnh hưởng nhưng việc này còn tùy thuộc vào diễn biến mưa lũ bão lụt trong thời gian tới đây.”

Một đoạn đê bao ở ĐBSCL bị sạt lở. Photo courtesy of khoahoc.vn

Theo các nhân chứng tại chỗ, vài năm qua nước lũ về rất thấp, riêng năm ngoái thể nói là không có lũ, nhờ đó hệ thống đê bao khép kín dày dặc ở đồng bằng sông Cửu Long mới không xảy ra sự cố nào nghiêm trọng. Một nông dân vùng Tứ giác Long Xuyên phát biểu:

“Cứ tính đi, dù cho đê bao nó lớn, chân đê bao chừng 5-6 mét cũng không chịu nổi với áp lực nước cao như vậy đâu…Có những đoạn chỉ  vỡ chừng 30 mét, nhưng mỗi ngày nó sẽ rộng ra thêm, coi như cả một vùng đó sẽ mất lúa, vụ ba này lúa sẽ mất trắng hết…không cưỡng lại được phải chịu bó tay thôi. Hiện nay có những vùng lúa đang sắp chín, có những khu như ở Tịnh Biên, một số vùng ở An Giang lúa đang thời ngậm sữa, tôi thấy tình hình chắc khó chống cự với lũ.”

Khó chống cự với thiên nhiên?

Ngay từ ngày 26/9 trước khi một số tuyến đê bao bắt đầu vỡ, ông Vương Bình Thạnh Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã công bố tình trạng lũ khẩn cấp trên địa bàn An Giang. Quân đội, dân quân tự vệ được huy động ở An Giang cũng như Đồng Tháp để cứu đê dù sức người khó chống cự với thiên nhiên, có điểm vỡ phải gia cố nhiều lần mà nước lũ vẫn xé toác ra. Tất cả các trường từ tiểu học tới trung học cơ sở trên địa bàn Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp được lệnh đóng cửa từ 29/9 đến 8/10, học sinh được nghỉ học để tránh lũ.

Báo mạng Saigon Tiếp Thị trích lời ông Nguyễn Minh Giám, trưởng phòng dự báo khí tượng thủy văn, đài khí  tượng thủy văn khu vực Nam Bộ phân tích: “Tính chất và diễn biến lũ năm nay khác lũ năm 2.000. Thứ nhất lúc đó chưa có hệ thống đê bao nên lũ lớn tràn cả đồng bằng, năm nay hệ thống đê bao khép kín, dòng lũ chảy mạnh theo sông ngòi. Sau 10 năm vùng này chưa có lũ lớn, hệ thống đê bao không được gia cố để chống lũ trong khi diễn biến lũ hết sức phức tạp, nếu lũ mạnh lên trùng với bão lớn, mưa to thì nhiều đoạn trong hệ thống đê bao sẽ bị lũ nhấn chìm.

Khi chủ trương thiết lập đê bao khép kín để người dân có thể canh tác thêm một vụ ngay trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện, giới khoa học đã cảnh báo sớm là thay đổi thiên nhiên, xả hết lũ ra biển sẽ khiến nước không được lưu giữ trong đất, đồng ruộng không được tẩy rửa và không được bồi đắp phù sa sẽ ảnh hưởng lâu dài. TS Lê Văn Bảnh Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long nói với chúng tôi:

Năm rồi không có lũ, năm nay lũ rất lớn so với 8 năm trước. Đồng bằng sông Cửu Long người ta không nói lũ mà nói lụt, nước dâng tự nhiên bà con quen với quan niệm là sống chung với lũ. Trong lũ sẽ mang lại phù sa cho đồng bằng để bồi đắp các vụ sau. Rồi cá tôm phát triển cái đó là thắng lợi, cũng có một số thiệt hại một phần do chủ quan trong sản xuất, ở những vùng đê bao khép kín làm vụ thu đông người ta rất cẩn thận nhưng mà chủ quan vụ trước lũ thấp thành ra đợt này làm bị thiệt hại.”

Một nông dân đồng bằng sông Cửu Long có nhận xét về vấn đề làm vụ thu đông tức vụ thứ ba bên trong những vùng đê bao khép kín, điều mà ông gọi là lợi bất cập hại, nhưng người dân phải làm theo chính sách của địa phương:

Thí dụ trong một vùng đê bao người ta không muốn làm vụ ba, số người không muốn làm khoảng 50%, nhưng chính vì ông chính quyền xã bắt buộc phải làm, gây áp lực phải làm, thành thử người ta phải làm thôi. Nói rằng làm vụ ba sẽ có lợi thế này thế nọ, nếu làm vụ ba thu đông này mình phải đóng tiền như hình thức hợp tác xã, tiền bơm nước ra chi phí này nọ đóng cho đầu công để người ta lo cho mình, người dân thấy là không có lời cho mấy nên không muốn làm. Ở An Giang họ nói không muốn làm nhưng bị bắt buộc phải làm, ý người ta nói cộng đồng đã làm rồi bắt buộc anh phải theo. Nếu mà tình hình vỡ đê kiểu này chừng một hai vụ nữa thì có thể phải bỏ luôn không làm vụ thu đông nữa.”

Giá gạo trên thị trường thế giới tăng cao trong những năm gần đây khiến các nhà hoạch định chính sách đề nghị chính phủ cho tăng sản lượng thêm 1 triệu tấn lúa trong năm nay, do vậy mới dự báo xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo. Báo Kinh tế Saigon Online đặt vấn đề “chưa thấy ai nói về bài học ngành nông nghiệp đã chỉ đạo nông dân tăng hơn 500.000 héc ta lúa vụ ba năm nay trong khi không dự báo được tình hình lũ lên nhanh như hiện tại.

Theo RFA 

+++++++++++++++++++++++++++++++

 

Trong suốt hơn 10 năm qua, nhiều chuyên gia nông nghiệp khuyến cáo không nên làm lúa vụ Hè Thu (lúa vụ 3), mục đích là để cho ruộng lúa đón nhận phù sa từ mùa nước nổi (5-5 âm lịch tơi 10-10 âm lịch). Nước lũ từ thượng nguồn sông Cưu Long (Mêkong) chảy từ Trung Quốc, qua Thái, Miến, Lào Kamphuchia, và tràn về các tỉnh miền Tây, mang theo các chất phù sa, đất mịn, về trải một lớp phủ trên hằng triệu mẫu đất và ruộng vườn, là phân bón thiên nhiên cho đồng bằng sông Cửu Long. Mùa nước nổi  còn có thêm tác dụng diệt côn trùng và sâu bọ. Nước lủ nhấn chìm và cuốn trôi tất cả  các trứng của côn trùng,  ấu trùng, côn trùng và chuột đồng…phá hại mùa màng.  Nhờ có nước lũ, mà việc thu hoạch hai vụ lúa chính được tăng năng suất; có khi mỗi năm làm hai vụ còn thu hoạch nhiều lúa hơn làm lúa 3 vụ.  Khi không làm lúa vụ 3, nông dân được nghĩ ngơi, hoặc mùa nước lũ hàng năm cũng là mùa cá linh để nông dân đánh bắt làm nước mắm và mắm ăn cả năm.  Nhờ có phù sa của nước lũ, nông dân không cần mua nhiều phân bón và ít dùng thuốc trừ sâu  trong 2 vụ mùa chính,

Nhưng vì Hà Nội cần đô la nên trung ương luôn phát động trồng lúa vụ 3. Xuất khẩu lúa gạo của mùa nầy giúp Hà Nội có đô la để trả tiền lãi suất các món nợ hơn 57 tỉ đô la và dịp cuối năm. Trung ương luôn kêu gọi các tỉnh, huyện, xã phát động đắp đê bao để ngăn chận nước lũ, và bên trong đê bao nông dân sẽ trồng lúa, gọi là vụ  làm lúa vụ 3.

Nếu nông dân gặp nạn vì nước lũ như bài báo dưới đây, Hà Nội cũng không quan tâm. 10 ngày trước, TT Nguyễn Tấn Dũng sau khi bay một vòng thị sát nước lũ, đã tuyên bố là cứ làm lúa vụ 3 vào năm tới. Không thấy loan báo gì về cứu trợ cho nông dân đang bị sạt nghiệp vì đắp đê bao làm lúa vụ 3, nay đê bị vỡ, cuốn trôi hết lúa trong các cánh đồng sau đê bao, và nhà cửa bị lũ cuốn trôi, và hơn 44 người dân miền  Tây bị thiệt mạng vì nước lũ năm nay.

 

 

“Năm ăn, năm thua” với lũ

Chủ Nhật, 23/10/2011 23:16

Bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia nên nông dân 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động chìm trong biển nước

Không lường trước lũ lớn là nguyên nhân khiến hàng chục ngàn căn nhà bị ngập, hàng ngàn hecta lúa mất trắng, hàng ngàn học sinh không thể đến trường, con số thiệt hại về người cũng tăng dần theo thời gian ở khu vực ĐBSCL.

Kỳ vọng bất thành

Trước vụ thu đông (vụ 3) năm nay, giá lúa khu vực ĐBSCL ở mức khá cao. Nông dân 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp hy vọng sẽ có một mùa bội thu vì được mùa, trúng giá.

Tại một số vùng xuống giống sớm, nông dân thu hoạch xong bán lúa khô với giá 7.200 đồng/kg – 7.500 đồng/kg. Theo tính toán của nông dân, với giá lúa này, trừ hết chi phí thì cầm chắc có lãi từ 20 triệu đồng đến 24 triệu đồng/ha. Vì vậy, ngay từ đầu vụ, bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia, nhà khoa học…, hàng ngàn hecta lúa ngoài vùng quy hoạch hoặc có đê bao nhưng chưa chắc chắn đã tự phát mọc lên theo kiểu “5 ăn, 5 thua” với lũ. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hàng ngàn hộ dân ở 2 tỉnh trên phải ngậm ngùi nhìn thành quả lao động của mình bị dìm sâu trong biển nước. Con số hơn 7.000 ha lúa mất trắng tuy không đáng là bao so với tổng diện tích hơn 600.000 ha của cả vùng nhưng đối với dân nghèo, cứ một vụ mùa thất thu là chồng chất khó khăn mà đến vài ba năm sau vẫn chưa thể trả hết nợ.

Nông dân tỉnh Đồng Tháp là những người gánh chịu thiệt hại đầu tiên sau vụ vỡ đê vào rạng sáng 23-9 tại xã Tân Hội, thị xã Hồng Ngự, nhấn chìm hơn 200 ha lúa. Bây giờ, mỗi khi nhìn ra cánh đồng lúa nằm sâu dưới nước lũ, ông Lê Văn Hiền vẫn còn ứa nước mắt. Bao nhiêu tiền bạc và hy vọng đều đổ dồn vào 8 công ruộng đang chờ ngày thu hoạch nên khi nghe tin vỡ đê, gia đình ông rụng rời cả chân tay. “Mấy ngày liền, vợ chồng tôi đâu ăn uống gì được vì lúa mất trắng hết rồi. Mùa sau, không biết lấy vốn liếng đâu mà làm tiếp?” – ông Hiền rầu rĩ.

Khốn khổ hơn có lẽ là trường hợp của ông Trần Văn Huệ ở xã Tân Thành A, huyện Tân Hồng – Đồng Tháp. Không lâu sau khi mất trắng 52 công lúa tại ấp Chiến Thắng (kênh Cả Mũi), ngày 2-10, gia đình ông Huệ tiếp tục nhận hung tin toàn bộ 3 công lúa cuối cùng dành để lấy giống và ăn tại ấp Thi Sơn (kênh Bắc Viện) cũng bị nước lũ nhấn chìm. “Hết sạch rồi! Nợ cũ trả chưa xong, nợ mới lại tới. Nếu không được Nhà nước hỗ trợ thì chắc tụi tôi bỏ xứ mà đi” – ông Huệ than thở.

Không chịu nổi lũ lớn

Trong khi đó, nhiều địa phương đã chi ra hàng tỉ đồng để xây dựng những tuyến đê bao chắc chắn nhưng vẫn bị vỡ tung trước áp lực của nước lũ. Đơn cử, vụ vỡ đê ngày 3-10 trên tuyến kênh Cà Vàng (xã Thông Bình, huyện Tân Hồng) đã khiến hơn 800 ha lúa bị mất trắng.

Ông Nguyễn Chi Lăng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tân Hồng, không thể ngờ đê bao kiên cố này lại bị nước lũ đánh sập. “Đê được bảo vệ bằng một vách tường khá kiên cố dài đến 7 km với tổng kinh phí lên đến 4 tỉ đồng nhưng rồi cũng đành bất lực trước sức mạnh của nước lũ” – ông Lăng lo lắng. Theo ông Lăng, tổng thiệt hại về lúa, tường và đê bị vỡ tròm trèm 14 tỉ đồng.

Trên địa bàn tỉnh An Giang, hàng loạt vụ vỡ đê liên tiếp xảy ra khiến hơn 4.000 ha lúa mất trắng. Mặc dù hiện tại nước lũ đầu nguồn tạm thời lên chậm nhưng các ngành chức năng và người dân không dám lơ là. Tuy nhiên, trong lúc mọi người nỗ lực gia cố một đoạn đê dài hơn 30 m ở khu vực kênh 10 (xã Vĩnh Châu, thị xã Châu Đốc) thì sáng 14-10, đoạn đê này cũng không chịu nổi áp lực nước nên 250 ha lúa của nông dân đã chìm dần…

THỐT NỐT – CA LINH

Đăng trong Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

Nông Dân và Lúa Gạo: Doanh nghiệp Nhà Nước ép giá để mua rẻ lúa của nông dân

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Mười 18, 2011

Xuất khẩu gạo thắng lớn, nông dân thua

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2011-10-02

Các doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi vì lượng gạo xuất khẩu lớn giá cao. Câu hỏi đặt ra là nông dân trồng lúa thu nhập ra sao, chưa kể vụ thu đông bị thiệt hại vì lũ đồng bằng sông Cửu Long.

AFP photo/Hoang Dinh NamNông dân phơi lúa trên một cánh đồng lúa ở tỉnh Tiền Giang hôm 06 tháng 7 năm 2010.

Bán lúa giá thấp

Từ ngày 7/10/2011 chính phủ Thái Lan thực hiện cam kết mua lúa của nông dân với giá 15.000 baht/tấn tức tăng 50%, giá này tương đương 10.000đ/kg lúa theo tiền Việt Nam, mức giá làm kinh ngạc người trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn một tuần trước thời điểm 7/10, giá gạo xuất khẩu trên thị trường Đông Nam Á cũng đã tăng khá cao, cụ thể doanh nghiệp Thái Lan chào giá gạo trắng 100% B khoảng 630-660 USD/tấn so với mức 595 USD một tuần trước. Gạo 5% tấm của Việt Nam cũng tăng khoảng 20USD lên 570 USD/tấn.

Chuyện doanh nghiệp xuất khẩu gạo bán được với giá cao hơn, nhưng nông dân có bán được giá lúa cao tương ứng lại là câu chuyện khác. Hè Thu vụ lúa lớn thứ hai trong năm ở đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn tất với sản lượng 9 triệu tấn lúa. Một người trồng lúa vùng Tứ Giác Long Xuyên phát biểu:

“Nếu như gạo đã lên giá thì trong dân cũng không còn, có ai còn nhiều lúa đâu. Thường là vậy, khi sắp hết lúa thì giá gạo tăng giá lúa tăng. Thời điểm tôi bán lúa ướt giá 6.100đ-6.200đ/kg, vừa rồi có một số người thu hoạch thật muộn, họ mới bán chỉ được 5.500đ-5.600đ/kg thôi.”

Nếu như gạo đã lên giá thì trong dân cũng không còn, có ai còn nhiều lúa đâu. Thường là vậy, khi sắp hết lúa thì giá gạo tăng giá lúa tăng.

Không thể phủ nhận tác động giá gạo Thái Lan đã giúp thị trường lúa gạo Việt Nam nhộn nhịp hơn, chưa có năm nào vụ Hè Thu ở đồng bằng sông Cửu Long lại được giá như vậy, trước đây lúa Hè Thu luôn khó bán hoặc bị ép giá vì thu hoạch trong mùa mưa chất lượng thấp. Người nông dân nói chuyện lời lỗ thực tế của mình:

“Tính trong ba tuần lễ, giá lúa lên xuống nhưng vẫn nằm ở mức cao, theo tôi thấy lợi nhuận từ 50% tới 60%. Lý do lợi nhuận cao là vì vụ rồi mình mua phân bón lúc giá còn rẻ. Hiện tại giá phân bón lên gần gấp rưỡi hồi đầu vụ Hè Thu lúc tôi mua, giá phân đạm Phú Mỹ bây giờ đến 13.000đ/kg tức hơn 600.000đ một bao 50Kg, còn phân DAP lúc trước tôi mua 600.000đ/ bao bây giờ gần 1 triệu rồi. Trước mắt vụ Đông Xuân tới rất khó khăn nếu giá lúa ướt 5.500đ-6.000đ/kg mà giá phân như vậy thì lợi nhuận sẽ không được bằng vụ Hè Thu này.”

Đê vỡ trắng tay

Ngày 27/9 Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn dự báo sản lượng lúa của Việt Nam trọn năm 2011 đạt kỷ lục 42 triệu tấn, tăng 5% so với năm 2010 do tăng diện tích trồng lúa, đặc biệt tăng gần 3% diện tích lúa vụ ba trên toàn quốc. Thông tin này được đưa ra trong bối cảnh vỡ đê bao hàng loạt ở Đồng bằng sông Cửu Long, nơi người dân được khuyến khích làm lúa vụ ba ngay trong mùa lũ bên trong những vùng đê bao khép kín.

TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long đưa ra một nhận định chung về sản xuất lúa ở khu vực này:

“Hiện nay vụ Hè Thu đã hoàn thành rất thắng lợi, giá tương đối cao ở mức 6.000đ-7.000đ/kg lúa, bà con nông dân rất phấn khởi, còn vụ Thu Đông dự kiến năm nay 500.000 hec-ta, một số nơi đang thu hoạch, đúng ra một số nơi ở Đồng Tháp An Giang, làm vụ Hè Thu người ta thu hoạch sớm để tránh lũ đầu vụ, nhưng do chủ quan vụ rồi nước thấp và giá lúa tương đối cao cho nên bà con một số nơi cố làm, chứ thực chất từ trước tới nay những vùng đó không làm vụ Thu Đông.”

Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân.

Ông Dương Nghĩa Quốc

An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long có diện tích lúa vụ ba Thu Đông khá lớn và được sản xuất bên trong các đê bao khép kín. Do 10 năm không có lũ cao, nên hệ thống đê bao không được gia cố và đã xảy ra vỡ đê hàng loạt trong những ngày cuối tháng 9. An Giang có 130.000 héc ta lúa Thu Đông và mới chỉ thu hoạch 3.000 héc-ta, nhưng ông Đỗ Vũ Hùng, Phó giám đốc Sở NN-PTNT An Giang nói với Thời Báo Kinh Tế Saigon rằng, trong tình huống xấu nhất cả vụ Thu Đông mất trắng thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực của tỉnh. [Một câu phát biểu nhẫn tâm, coi sự thiệt hại tiền bạc của người nông dân là không nghĩa lý gì.]

Tỉnh Đồng Tháp đỡ hơn vì với diện tích Thu Đông 100.000 héc ta thì đã thu hoạch 75.000 hécta còn lại 25.000 héc-ta. Ông Dương Nghĩa Quốc, Giám đốc Sở Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn Đồng Tháp phát biểu với chúng tôi:

“Mực nước đang dâng cao, hiện nay trên tinh thần quyết tâm bảo vệ diện tích lúa còn lại. Nếu có thiệt hại thêm một số nữa thì thực ra cũng không ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về sản lượng lương thực của tỉnh Đồng Tháp, tuy nhiên sẽ ảnh hưởng tới kinh tế và thu nhập của người nông dân.”

Gần đây, hãng thông tấn Reuters trích lời giới thương nhân nói rằng, xuất khẩu gạo của Việt Nam có thể không bị ảnh hưởng bởi thiệt hại vụ Thu Đông là vụ thứ ba ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó vụ này sản lượng nhỏ và dành cho tiêu dùng trong nước.

Cuối tháng 9, VFA Hiệp hội Lương thực Việt Nam nói rằng đang tồn kho 1,5 triệu tấn gạo, cộng với 800.000 ngàn tấn gạo hàng hóa dự kiến của vụ Thu Đông và vụ mùa, như thế có đủ gạo đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trong quí IV và tồn kho gối đầu năm sau.

Việt Nam dự kiến xuất khẩu 7,3 triệu tấn gạo trong năm 2011, mức cao nhất từ trước tới nay và đến 30/9 đã giao hàng gần 5 triệu 900 ngàn tấn, như vậy trong quí IV chỉ còn xuất thêm khoảng 1,4 triệu tấn.

Gạo đã tồn kho, giá xuất khẩu tăng cao các doanh nghiệp hưởng phần chênh lệch lớn, còn nông dân đã bán lúa cũng được một ít lợi nhuận nhất định. Đáng thương là những người làm lúa Thu Đông trong đê bao khép kín ở đồng bằng sông Cửu Long, vì dù có mất trắng thì chỉ có họ là nạn nhân chứ  an ninh lương thực và kế hoạch xuất khẩu của Việt Nam chẳng bị ảnh hưởng gì.

Đăng trong Nong Dan Viet Nam | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.