Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Lạm Phát – Vàng – Đôla’ Category

►Kinh tế Mỹ tuy đang phục hồi, nhưng tốc độ tăng trưởng sẽ dậm chân tại chỗ 1%, hoặc tiếp tục yếu kém trong các năm sắp đến…

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Bảy 24, 2012

Lời Tựa: Ý nghĩa và tựa của bài báo cho thấy nền kinh tế Mỹ tuy phục hồi, nhưng mức tăng trưởng rất thấp. Từ đây ta có thể suy ra rằng các quốc gia trên toàn thế giới sẽ tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế, hoặc đi vào khủng hoảng trong các năm sắp tới.

Các nhà kinh tế Mỹ cho biết là kinh tế Mỹ tuy đã hồi phục, nhưng sự hồi phục rất chậm và kéo dài rất lâu. Mức tăng độ tăng trưởng chắc chỉ vào khoảng 1% cho các năm sắp tới. Giấc mơ và ước vọng về kinh tế Mỹ phục hồi và tăng trưởng mạnh mẻ sẽ còn ở đâu đó (trên trời).

Vậy là chúng ta, ai có vàng thì giữ vàng, ai có đô la thì giữ đô la. Đừng đổi ra tiền VN, vì sắp đến, nhà nước sẽ tiếp tục in tiền ra, tung vào thị trường để cứu vãn nền kinh tế đang trên đà sụp đổ. Giá một 1 US chắc sẽ lên nhiều trong vòng 2-4 năm sau. Vật giá cũng sẽ gia tăng 50-200% vì việc in tiền đồng tung vào thị trường.

Cuộc sống của người dân VN bình thường sẽ khốn khổ hơn. Công nhân có khả năng sẽ bị thất nghiệp nhiều hơn vì kinh tế Mỹ và Châu Âu đã, đang, và sẽ gặp khó khăn kéo dài trong các năm sắp đến.  Trong khi nền kinh tế VN là gia công hàng hóa cho các nước nói trên. Khi nhu cầu tiêu dùng của dân chúng ở các nước giài giảm, thì hàng hóa nhập cảng từ VN và Trung Quốc vào các quốc gia ấy sẽ giảm, hậu quả là kinh tế của VN và Trung Quốc sẽ tiếp tục te tua thêm, và gặp khó khăn hơn hiện nay.

American Pie in the Sky

20-7-2012

Tác giả: Nouriel Roubini, a professor at NYU’s Stern School of Business and Chairman of Roubini Global Economics, was one of the few economists to predict the recent global financial crisis.

Bản dịch của Trần Hoàng

NEW YORK – Trong khi nguy cơ của một cuộc khủng hoảng có tính chất không kiểm soát được trong khu vực châu Âu đang được ghi nhận rõ, một cái nhìn lạc quan hơn về (kinh tế) Hoa Kỳ đã và đang diễn ra mạnh mẻ hơn. Trong ba năm qua, sự đồng thuận (giữa những nhà kinh tế) đã cho rằng nền kinh tế Mỹ đang trên bờ vực của sự phục hồi mạnh mẽ và tự tiếp tục đi lên, khôi phục lại tiềm năng ở trên mức tăng trưởng. Nhưng điều đó hóa ra là sai, trong khi mà  quá trình làm giảm nợ rất khó– phản ánh khu vực nợ của doanh nghiệp và nợ của ngân hàng rất là nhiều, và rồi các món nợ này lây lan sang khu vực nợ công — ngụ ý rằng sự hồi phục sẽ vẫn còn duy trì và có xu hướng thấp trong nhiều năm sắp đến.
Ngay cả năm nay, sự đồng thuận (của các nhà kinh tế) đã sai, họ hy vọng một sự hồi phục (kinh tế ở Mỹ) trên xu hướng tăng trưởng GDP hàng năm – nhanh hơn 3%. Nhưng tỷ lệ tăng trưởng trong nửa đầu năm chỉ gần bằng 1,5%, thậm chí còn thấp hơn mức ảm đạm 1,7% của năm 2011. Và bây giờ, sau khi nhận ra rằng việc tiên đoán của họ về mức tăng trưởng nửa đầu năm 2012 là sai, nhiều người đang lặp đi lặp lại câu chuyện cổ tích rằng một sự kết hợp giữa giá dầu thô thấp hơn, số lượng xe bán được gia tăng, giá nhà đất phục hồi, và sự hồi sinh của Mỹ sản xuất sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối của năm và nuôi dưỡng tiềm năng tăng trưởng cao hơn vào năm 2013.

Comments Thực tế hiện nay cho thấy là ngược lại: vì nhiều lý do, tốc độ tăng trưởng sẽ chậm hơn trong nửa cuối năm 2012, và thậm chí thấp hơn vào năm 2013 – gần với tốc độ đứng yên một chỗ. Thứ nhất, tăng trưởng trong quý II đã giảm xuống từ mức dưới 1,8% vào quãng thời gian từ tháng Giêng-Tháng Ba, trong khi mức công ăn việc làm –trung bình 70.000 một tháng– giảm mạnh.

Thứ nhì, những mong đợi của mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng – nguồn thu thuế gia tăng và cắt giảm chi tiêu cho đến cuối năm nay– sẽ kềm giữ mức chi tiêu và mức tăng trưởng sẽ thấp hơn vào nửa sau của năm 2012. Vì vậy, sẽ không chắc chắn ai sẽ là Tổng thống vào năm 2013; về các mức thuế suất và mức độ chi tiêu; về mối đe dọa sẽ có chuyện các cơ quan chính phủ không có tiền trả lương nên sẽ đóng cửa trong khi thảo luận về trần nợ (việc này xảy gần như đã ra vào năm 2010), và về nguy cơ của một hạ cấp xếp hạng nếu như chính trị bế tắc tiếp tục diễn ra để chặn một kế hoạch  vay trung hạn hạn tài chính hợp nhất nào đó. Dưới ảnh hưởng của các điều kiện đó, (dự đoán phản ứng của) hầu hết các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ thận trọng về chi tiêu – một giá trị tùy chọn chờ đợi- do đó tiếp tục làm suy yếu nền kinh tế.

CommentsThird mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng sẽ lên đến 4,5% của GDP sẽ kéo theo tăng trưởng vào năm 2013 nếu tất cả các cắt giảm thuế và các khoản thanh toán chuyển giao được đồng ý cho phép hết hạn  và cắt giảm chi tiêu mạnh mẻ đã được kích hoạt. Tất nhiên, sức kéo sẽ nhỏ hơn nhiều, khi gia tăng thuế và cắt giảm chi tiêu nhẹ hơn nhiều. Nhưng, fiscal cliff  (mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng) hóa ra là một mức tăng trưởng nhẹ – chỉ 0,5%  của GDP– và tăng trưởng hàng năm vào cuối năm chỉ là 1,5%,  dường như chắc chắn là vậy, lực kéo tài chính này (fiscal cliff) sẽ đủ để làm chậm nền kinh tế tới tốc độ đứng yên: tốc độ tăng trưởng của chỉ 1%.

CommentsFourth, tiêu dùng tư nhân tăng trưởng trong những quý gần đây không phản ánh sự tăng trưởng trong tiền lương thực tế (lương thực sự đang giảm xuống). Thay vào đó, sự gia tăng trong mức lương sau khi đóng thuế (và do đó mức tiêu thụ) đã được giữ nguyên kể từ năm ngoái bởi 1,4 ngàn tỉ đô la trong cắt giảm thuế và các khoản thanh toán chuyển giao mở rộng, số tiền này có nghĩa là $ 1,4 ngàn tỉ đô la nợ- công. Không giống như khu vực châu Âu và Vương quốc Anh, nơi một cuộc suy thoái kép đang thực sự xảy ra, do thắt chặt tài chính được nạp trước, Mỹ đã ngăn chặn một số hộ gia đình giảm nợ thông qua tái chuyển nợ vào khu vực công – điều đó nghĩa là, bằng cách đánh cắp một số tăng trưởng từ tương lai.

Trong năm 2013, các khoản thanh toán chuyển giao được loại bỏ, tuy nhiên việc này xảy ra dần dần, và khi một số cắt giảm thuế được cho phép hết hạn (Busch giảm thuế cho nhà giàu trong năm làm TT, mục đích của việc này là làm cho giới giàu đầu tư và chi tiêu nhiều hơn, và như thế là làm cho kinh tế phát triển, nhiều người có việc làm, dù làm thế thì sẽ làm nợ công gia tăng, chính phủ sẽ phải mượn tiền thêm để chi tiêu trả lương…nay Obama không chịu ký gia hạn sự miễn thuế nữa), mức gia tăng lương sau khi đã đóng thuế và sự gia tăng mức tiêu dùng sẽ chậm lại. Hoa Kỳ sau đó sẽ phải đối mặt với không chỉ các ảnh hưởng trực tiếp của sức kéo tài chính, mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến chi tiêu tư nhân.

Bốn ngoại lực sẽ tiếp tục cản trở tăng trưởng Hoa Kỳ: một cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro ngày càng tồi tệ, hạ cánh ngày càng khó khăn của Trung Quốc, một sự suy giảm tổng quát của các nước có nền kinh tế thị trường mới nổi do yếu tố chu kỳ (sự phát triển yếu kém của quốc gia tiên tiến như Mỹ, và Âu châu) và các nguyên nhân có tính cấu trúc (một nhà nước- mô hình tư bản chủ nghĩa mà làm giảm tiềm năng tăng trưởng); và nguy cơ giá dầu tăng cao trong năm 2013 khi mà các cuộc đàm phán và trừng phạt không thuyết phục được Iran từ bỏ chương trình hạt nhân của họ.

Các phản ứng sẽ có hiệu quả rất hạn chế trong việc ngăn chặn giảm tốc của nền kinh tế Mỹ đang hướng tới tốc độ tăng trưởng đứng nguyên tại chỗ (1%): ngay cả với chỉ một thao tác lực kéo tài chính tăng trưởng nhẹ, đồng đô la Mỹ chắc chắn có khả năng tăng trong khi các cuộc khủng hoảng khu vực đang làm suy yếu đồng euro và sự bất lợi có nguy cơ quay trở lại toàn cầu. Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ sẽ thực hiện tung tiền ra kích thích nền kinh tế trong năm nay, nhưng việc này sẽ không hiệu quả: tỷ lệ lãi suất dài hạn hiện nay rất thấp, và hạ thấp hơn nữa sẽ không làm gia tăng chi tiêu. Thật vậy, các kênh tín dụng (mượn tiền) đang bị đóng băng và tốc độ vay mượn đã và đang bị sụp đổ, với việc các ngân hàng đang tăng tích trữ trong tiền cơ sở dưới các hình thức dự trữ dư thừa. Hơn nữa, đồng USD chắc chắn là không suy yếu trong khi các chính phủ các nước khác cũng thực hiện việc tung tiền vào thị trường để kích thích việc tiêu dùng.

Tương tự, lực hấp dẫn của sự tăng trưởng yếu kém chắc chắn sẽ vượt qua hiệu ứng gia tăng về giá cổ phần từ chính sách tung tiền ra để kích thích nền kinh tế, đặc biệt là định giá vốn chủ sở hữu ngày nay không phải là thấp như chúng đã từng có trong năm 2009 hoặc 2010. Thật vậy, sự tăng trưởng trong thu nhập và lợi nhuận hiện đang bốc hơi hết rồi, trong khi hiệu ứng của nhu-cầu yếu làm cho doanh thu ít, làm cho lợi nhuận kiếm được thấp.

Một sự điều chỉnh giá vốn chủ sở hữu có thể, trên thực tế, là một lực mà vào năm 2013  đẩy nền kinh tế Mỹ vào thế co rúm lại. Và nếu Mỹ (vẫn đang là nền kinh tế lớn nhất thế giới) bắt đầu hắt hơi một lần nữa, phần còn lại của thế giới – miễn dịch của nó đã bị suy yếu do tình trạng bất ổn của châu Âu và đang phát triển chậm lại nước – sẽ bị viêm phổi. (bệnh trầm trọng)

Bản dịch @Trần Hoàng 2012

____________________________________________________________________________________________

Bài báo gốc:  American Pie in the Sky, project-syndicate.org

_________________________________________

Chú thích của Trần Hoàng:

Tác gia chọn tựa đề An American Pie, trùng hợp với một bài ca nửa dân ca, nửa là nhạc rock,  rất nổi tiếng, được sáng tác bởi Don Mclean vào năm 1971 ở Mỹ, trình diễn lần đầu tiên ở trường Temple University, và sau đó trở thành một bản nhạc được ưa thích nhất của người Mỹ. Lời của bản nhạc là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận trên đài phát thanh AM và FM vào dạo ấy, gây sự tò mò của hầu hết người nghe nhạc. Ngay cả tác giả (khi được phỏng vấn hỏi về ý nghĩa của bài hát) cũng không nói ý nghĩa. Ban đầu, tác giả cho rằng “bài hát có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ đi làm việc nữa”. Về sau, tác giả  nói là “Các bạn sẽ tìm thấy và diễn dịch bài ca này có rất nhiều ý nghĩa, nhưng không có một ý nghĩa nào là của tôi…”. Tuy lời của bản nhạc  ám chỉ cái chết lần lượt của 3 nhạc sĩ trong tai nạn rớt máy bay vào 1959 và 1969, Buddy Holy, Ritchie Valens, và J. P. Richardson. Nhưng lời nhạc không nhắc nhở  trực tiếp gì đến tên của các nhạc sĩ này, mà chỉ dựa vào các câu và các chữ  mà 3 nhạc sĩ này đã từng dùng. Nhiều người ái mộ bản nhạc này thì lại phiên dịch ý nghĩa của lời ca là ám chỉ đến các ban nhạc nổi tiếng khác như to The Beatles (đặc biệt là ca sĩ John Lennon), The Rolling Stones (đặc biệt là ca sĩ Mick Jagger), The Byrds, ca sĩ Bob Dylan và Janis Joplin.

*”American Pie” is a folk rock song by singer-songwriter Don McLean.

Recorded and released on the American Pie album in 1971, the single was a number-one U.S. hit for four weeks in 1972. The song is an abstract story of his life that starts with the deaths of Buddy Holly, Ritchie Valens, and J. P. Richardson (The Big Bopper) in a plane crash in 1959, and ends in 1970; in the song he called the plane crash “the day the music died”. The importance of “American Pie” to America’s musical and cultural heritage was recognized by the Songs of the Century education project which listed the song performed by Don McLean as the number five song of the twentieth century. It’s also the longest #1 Billboard Hot 100 hit of all time at more than eight and a half minutes, though some Top 40 stations initially played only side 1 of the single, but the song’s popularity eventually forced stations to play the entire song.

The song’s lyrics are the subject of much curiosity. Although McLean dedicated the American Pie album to Buddy Holly, none of the singers in the plane crash are identified by name in the song itself. When asked what “American Pie” meant, McLean replied, “It means I never have to work again.”Later, he more seriously stated “You will find many ‘interpretations’ of my lyrics but none of them by me… sorry to leave you all on your own like this but long ago I realized that songwriters should make their statements and move on, maintaining a dignified silence.”[2] McLean has generally avoided responding to direct questions about the song, except to acknowledge that he did first learn about Buddy Holly’s death while folding newspapers for his paper route on the morning of February 4th, 1959 (referenced in the song with the line “with every paper I deliver”). Despite this, many fans of McLean, amongst others, have attempted an interpretation; most agree that many lines make reference to The Beatles (John Lennon particularly), The Rolling Stones (also, possibly, Mick Jagger in particular), The Byrds, Bob Dylan and Janis Joplin. At the time of the song’s original release in late 1971, many American AM & FM rock radio stations devoted entire shows discussing and debating the song’s lyrics, resulting in both controversy and intense listener interest in the song.

Đăng trong Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

►Bơm tiền cứu bất động sản, hậu quả là vật giá sẽ gia tăng

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Sáu 11, 2012

Lời tựa: Ở Việt nam, đất đai là thuộc quyền sở hữu toàn dân; chữ toàn dân ở đây có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của nhà nước (đảng có cách dùng chữ lươn lẹo như thế nên nhiều người theo đảng chính vì hiểu lầm các từ ngữ này).

Nói trắng ra thì đất đai thuộc sở hữu của các đảng viên cao cấp. Thực tế cho thấy từ hơn 20 năm qua, họ muốn chiếm lấy đất ở đâu để làm của, chờ giá cao để bán, hoặc lấy đất để xây dựng dùng vào mục tiêu gì trong thời gian sắp tới…thì họ dùng mọi cách để chiếm đoạt mà không ai có thể ngăn cản nổi (vụ cướp đất huyện Tiên Lãng, huyện Văn Giang).

Kể từ 2008 cho đến này, nhà cửa, đất đai của họ và gia đình bị đóng băng. Nhà xây xong mà không bán được kể từ 4 năm qua nên làm họ đang ở thế kẹt. (ở đây), và (ở đây) [từ khóa tìm các bài báo hình ảnh về đề tài này trong google.com là: các khu đô thị nhà cửa để hoang]

Hiện nay các ông chủ cộng sản đang bơm tiền vào cứu bất động sản của họ. Việc cứu ứng này sẽ thất bại, vì dân chúng quá nghèo không phải là đối tượng có đủ tiền để mua các căn nhà của các đảng viên và viên chức nhà nước xây lên chờ bán cho người dân mua. Việt kiều không đủ sức mua, còn các nhà đầu tư nước ngoài thì chỉ thích mua đất đai và xây dựng lên, chứ họ không bao giờ mua các nhà cửa đã xây sẵn (của các đảng viên và các viên chức trong chính quyền).

Nhưng việc tung tiền 200 000 tỷ đồng vào cứu bất động sản sẽ dẫn đến các hậu quả xấu mà những người dân sẽ phải gánh chịu trong thời gian 7 tháng tới và tiếp theo sau, đó là:

1./ Sẽ có lạm phát rất lớn, vật giá sẽ leo thang trong 3 tháng tới và thời gian cuối năm nay. Đồng tiền sẽ mất giá 30-40%, đỉnh điểm là sau thời gian 7 tháng, kể từ khi có một món tiền lớn bơm dần dần và lan vào thị trường.

2. Nhà cửa sẽ lên giá cao hơn nữa vì lạm phát. 90% dân chúng trong nước sẽ không thể mua nhà mà họ rất cần. Các cuộc cướp đất sẽ gia tăng. Giá thuê nhà sẽ gia tăng. Tiền điện, nước, đồ ăn và đồ tiêu dùng sẽ gia tăng.

Ôn cố tri tân:

Gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008 của nhà nước gây lạm phát 28% vào năm 2010 đã làm cho dân chúng lao đao vì tất cả vật giá lên cao chưa từng có.

Gói kích cầu vào tháng 8/ 2011, mỗi tháng bơm 59 000 tỷ đồng trong thời gian 5 tháng tiếp theo, là 300 000 tỷ đồng để cứu ngân hàng…làm vật giá gia tăng khủng khiếp từ cuối năm 2011 cho đến nay.

Tung tiền cứu bất động sản đang bắt đầu vào tháng 6-2012, số tiền bơm vào  tối thiểu là 200 000 tỷ đồng (10 tỷ đô la), tức vào khoảng 10% GDP sẽ làm cho vật giá gia tăng vào cưới năm nay và đầu năm tới.

Gần như mỗi năm, nhà nước đều bơm tiền vào thị trường để cứu các doanh nghiệp của nhà nước, cứu ngân hàng, và cứu bất động sản. Đó là lý do tại sao 1 đô la đổi thành tiền VN là 20 955 đồng vào hôm nay. Với tỷ giá này, tiền đồng VN đứng hàng thứ nhì  trong bảng xếp hạng đồng tiền nào ít giá trị nhất thế giới. Nước có đồng tiền mất giá nhất thế giới là Somalia.  (nguồn)

Dồn sức cứu BĐS: Những hệ quả nguy hiểm

(VEF.VN) – Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng:

hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới;

hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay.

Tầm cỡ của gói cứu trợ

Sau gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008, Việt Nam đã chứng kiến lạm phát phi mã hơn 22% và việc kém hiệu quả khi kích cầu đầu tư công đã tạo một phản ứng dây chuyền từ nhập siêu, dự trữ ngoại tệ sụt giảm, nợ công gia tăng, tiền đồng mất giá… Chính sách siết chặt tiền tệ sau đó để giữ cương con ngựa kinh tế đã tạo nên sự suy thoái đình đốn hiện nay. Dư vị còn đắng cay thì các nhà điều (hành) kinh tế (hiện nay) lại đang áp dụng biện pháp cũ này để chữa bệnh mới.

Sau khi đổ tiền cứu ngân hàng và chứng khoán, Chính phủ đang dồn nỗ lực để cứu bất động sản. Thay vì gọi là gói kích cầu, lần này chúng ta sử dụng một tên khác: tái cấu trúc, gói hỗ trợ… hay gói từ thiện?

Phát pháo đầu tiên, ông Vũ Xuân Thiện, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS tuyên bố chắc nịch là “Có tiền lúc này tôi sẽ mua nhà”. Sau đó, Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam cho biết, trong số 180.000 tỷ đồng đầu tư công dành riêng cho năm 2012, Chính phủ mới dùng 60.000 tỷ đồng. Vì thế trong 7 tháng còn lại của năm, 120.000 tỷ đồng nữa sẽ được bơm vào thị trường.

Theo ông Nam, gói đầu tư công, cộng thêm 38.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tạm ứng trước vốn năm 2013 thì trong 7 tháng cuối năm thị trường có thể đón nhận khoảng 200.000 tỷ đồng. Vì thế, Thứ trưởng Nam hy vọng, dòng tiền này khi được lưu thông chắc chắn sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến nhiều ngành nghề khác, trong đó có địa ốc.

Lãnh đạo Bộ Xây dựng dự báo thêm, nền kinh tế còn có dòng tiền trong dân đang đầu tư vào vàng, USD, gửi tiết kiệm. Tiền của người dân sớm muộn cũng sẽ chảy vào bất động sản khi lãi suất hạ nhiệt và các kênh đầu tư còn lại bắt đầu mất dần tính hấp dẫn. Như vậy, trực tiếp và gián tiếp, tổng cộng gói cứu trợ BĐS có thể lên đến 400 ngàn tỷ đồng (20 tỷ USD).

Những hệ quả xa gần

Tôi không biết có bao nhiêu đại gia BĐS trên toàn quốc đang “đắp chiếu”? Con số chắc không hơn vài ngàn. Dĩ nhiên, nếu giá BĐS xuống quá thấp thì các đại gia ngân hàng, chứng khoán và các nhà đầu cơ thứ cấp cũng bị vạ lây, vì như ông Lê Mạnh Hà (Phó chủ tịch UBND TP.HCM) đã công nhận, giá BĐS là tiền đề cho bài toán kinh tế và chính trị của Việt Nam. Nhưng mọi người dân sẽ phải chịu chung những hệ quả xấu tốt, xa gần mà giải pháp cứu trợ này sẽ đem lại:

Khi một số tiền khủng như vậy đổ vào thị trường BĐS thì ảnh hưởng trên giá cả sẽ phải có, dù chỉ tạm thời. Bong bóng sẽ không nổ tung vào cuối 2012 như nhiều người tiên đoán vì Chính phủ đang hết sức thổi hơi cho BĐS. Nhưng một căn nhà mơ ước cho đại đa số người dân sẽ vẫn nằm ngoài tầm tay trong 5, 10 năm tới vì mức giá vẫn là một ảo tưởng dựng lên bởi những thế lực ngoài thị trường. Con bệnh sẽ trầm trọng hơn vì cuộc giãi phẩu cần thiết đã được dời lại cho đến khi không còn gì để mổ trong đợt điều chỉnh sẽ đến.

Cái giá phải trả (không có bữa ăn nào miễn phí) cho lượng tiền 400 ngàn tỷ trong một thời gian ngắn là giá trị thực sự của đồng tiền VN sẽ phải giảm dù tỷ giá chính thức có thể được duy trì qua các biện pháp hành chính (chắc chắn sẽ có lạm phát rất cao, tối thiểu là 40%, vì món lạm phát 28% năm 2009 đã xảy ra sau khi gói kích cầu do chính phủ tung ra).

Để tránh lạm phát phi mã, chính phủ sẽ phải thực hiện việc kiểm soát giá cả trên một bình diện sâu rộng. Ngoài xăng dầu, gạo, điện nước… , các món hàng như dược phẩm, vận chuyển công cộng, các hàng tiêu dung thông dụng… sẽ không được tăng giá (vậy là sẽ chính phủ sẽ bù lỗ cho các công ty dầu, điện, nước…thời bao cấp tái diễn). Đây là một bước lùi khá sâu cho nền kinh tế thị trường.

Trong môi trường của nền kinh tế chỉ huy, các doanh nghiệp tư nhân với mục tiêu kiếm lời (profit-seeking) sẽ khổ sở vì chi phí tăng mà giá bán bị kiểm soát chặt chẽ. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước hay các công ty có liên hệ sâu xa với nhà nước sẽ có hai vũ khí bén nhọn: đặc quyền và tiền người khác (OPM) qua ngân hàng. Mô hình kinh doanh thâu tiền chỗ này (rent-seeking) sẽ lên ngôi và sẽ có thêm một loạt đại gia mới là bản sao của các đại gia hiện hữu.

Trên hết, khi hy sinh quyền lợi của đại đa số người dân để cứu vài nhóm lợi ích, và những “sai trái về đầu tư sẽ được bảo vệ”. Người Mỹ gọi đây là một “rủi ro về đạo đức” (moral hazard) và sẽ khuyến khích những hành xử tương tự trong tương lai.

Sau 2 gói kích cầu rưỡi và gần 2.000 tỷ đô la trong 3 năm qua, Cơ quan Dự trữ Trung ương Mỹ (FED) đã thất bại trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp hay kích cầu một nền kinh tế tư nhân và năng động của Mỹ. Thành quả duy nhất họ có thể hãnh diện là cứu nguy và tạo lợi nhuận khủng cho các ngân hàng thương mại. Dự đoán lạc quan nhất là GDP Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2% trong năm nay. Dù không thể bị thay thế, đồng USD vẫn chịu nhiều áp lực vì nợ công tăng vọt sau các gói kích cầu này.

Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng: hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới; hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay. Tôi đoán là các thế hệ trẻ sẽ phải chờ thêm vài ba thế hệ nữa

___________________________

Alan Phan – Chuyện người và chuột

Một bạn BCA từ Pháp gởi 1 bài báo về chuyện chánh phủ Đan Mạch ngừng ba dự án viện trợ ODA cho Việt Nam vì nghi ngờ tham nhũng và lãng phí. Đây là chuyện bình thường nếu bạn sống ở Việt Nam một thời gian, thuộc loại tin ít người để ý. Tin một cô người mẫu gì đó bán dâm chắc chắn được theo dõi gấp trăm lần. Vả lại các dự án này thuộc loại tép riu nếu so với các xì căng đan khác như Vinashin, Vinalines, Vina…bananas…Các cách tham nhũng như thổi giá máy móc, dụng cụ, hợp đồng thuê ngoài, nhân viên ma, kế toán bịp bợm, gởi con đi du học bằng tiền viện trợ… thì quả là cũ như trái đất, ai mà chẳng biết.

Tuy nhiên, kỳ này, công ty kiểm toán KPMG hạch toán lại tất cả nhũng lạm rất chi tiết, bài bản và cho thấy tổng số tiền …cuốn theo chiều gió lên đến 23% (lập lại: hai mươi ba phần trăm).

Xứ nào cũng có tham nhũng. Tôi có đọc một tư liệu từ Nhật Bản cho thấy tiền bôi trơn phỏng định cho các dự án đầu tư tại nước ngoài dao động từ 1.2% tại Singapore đến 18% tại Lào. Tỷ lệ cho Việt Nam là 14% và tôi đã suýt xa vì quá cao (với các bạn tò mò, Trung Quốc là 8%, Thái Lan là 9% và Indonesia là 12%). Bây giờ, con số 23% là một kỷ lục có thể dành cho Guinness Book.

Tôi nhớ một Quỹ Đầu Tư của Đan Mạch cũng đã bơm 10.6 triệu USD vào công ty Thủy Sản Bình An 4 tháng trước khi bong bong nợ nổ tung. Có lẽ con người Đan Mạch quen với cái lạnh băng giá nhưng tinh khiết của một môi trường không có côn trùng sâu bọ; nên khi qua đây, họ bị đau đầu với cái nắng chói chang của miền nhiệt đới?

Nhưng dù Đan Mạch hay nơi đâu, cái phí 23% là lý do chính tại sao mọi hàng hóa Việt đã có một giá thành cao nghịch lý với mọi định luật thị trường về sản xuất, dù nhân công và thuế thu nhập rất rẻ. Cái giá mọi công dân phải trả còn cao hơn giá trị kinh tế của con số 23%; nó còn là một soi mòn về niềm tin của các nhà đầu tư ngoại, các doanh nhân trong nước, các công nhân trên mọi công trường và các bạn sinh viên vừa bắt đầu khởi nghiệp.

Người Mỹ có câu ngạn ngữ, ”Khi các bệnh nhân tâm thần cai quản nhà thương điên…” (when the inmates took over the asylum)…Thực ra, nó ít nguy hiểm hơn là khi lũ chuột nắm quyền kiểm soát kho gạo…

Theo Góc nhìn Alan Phan

Phản hồi:

*

Khách JLN (khách viếng thăm) gửi lúc 10:00, 07/06/2012 – mã số 59997

Xin góp thêm.

Ông Alan Phan viết bài này rất đúng nhưng rất tiếc chỉ nhìn được 1 nửa vấn đề, từ bên ngoài, và các hệ quả nguy hiểm ông Phan chỉ ra mới chỉ là suy luận gián tiếp.

Từ bên trong, chúng ta có thể và nên chỉ rõ cho độc giả biết tại sao chính phủ CSVN hiện nay lại phải ra sức dốc toàn lực ra cứu BĐS? Nói cách khác, chúng ta phải chỉ ra họ sẽ được những lợi lộc to lớn nào khi cứu BĐS và tại sao thế?

Có nghĩa là, chúng ta cần phải chỉ ra ai đang là chủ nhân thực sự của các khối tài sản khổng lồ chính trên thị trường BĐS VN hiện nay và những ai đang thực sự chi phối thị trường này?

Tôi xin góp câu trả lời cho các câu hỏi cốt lõi trên như sau:

Thị trường BĐS sơ khai của VN gồm hai khu vực chính như mọi thị trường BĐS ổn định của các nước phát triển khác, là
thượng nguồn và hạ nguồn (upstreams và downstreams), nhưng với tỷ lệ đảo ngược hoàn toàn. Tỷ lệ thị trường BĐS VN Upstreams to Downstreams là 9:1 thay vì 1:9.

Upstreams là thị trường chuyển từ BĐS phi thương mại (đất nông nghiệp, thủy sản, đất dự phòng, đất ở của dân, đát của nhà nước cho mục đích khác…) sang BĐS thương mại (các khu kinh tế và công nghiệp cho thuê, khu dân cư để kinh doanh, khu chợ búa và các BĐS thương mại khác…). Thị trường này là kênh đưa tài sản quốc gia vào nền kinh tế và không có chiều ngược lại (trừ khi chính phủ thay đổi), nên có tỷ lệ lãi cực lớn (thường từ 100 đến 1000 lần), thường là nguồn lực tài chính quan trọng của của các quốc gia, do quốc hội có luật riêng bảo vệ và điều phối.

Rất tiếc là Luật BĐS của nước ta không có phần luật này riêng ra nên chính phủ toàn quyền quyết định, và các nhóm lợi ích của CSVN đã chia nhau chiếm đoạt và chi phối hoàn toàn thị trường này (chia và tranh nhau cắt chia tài sản quốc gia tài sản dân tộc Việt đã tích góp cả mấy ngàn năm thành đất dự án và “làm chủ” các dự án đó). Vì vậy, tất cả các dự án BĐS ở VN đều có chủ chính là các nhóm lợi ích bạch tuộc đỏ của CSVN, đại diện bởi: các đại gia “sân sau” của quan CS hay các nhóm lợi ích đỏ, các công ty TNHH của gia đình con cháu quan CS, các công ty “nhà nước” do các quan CS tham nhũng nắm, các công ty nước ngoài cấu kết với các công ty “san sau” đỏ…

Thị trường này cũng cần vốn tài chính rất lớn và vững (lâu dài) để triển khai, nhưng điều đó dễ giải quyết nếu “chủ đất đỏ”, chủ dự án đỏ chia sẻ một phần lợi nhuận đỏ khổng lồ (máu đất nước) với các nhà đầu tư tài chính quốc tế hay với chính các ngân hàng đỏ của nhà nước CSVn này- những nhóm lợi ích đỏ khác. Và họ đã làm vậy sau một thời gian “đổi đất lấy hạ tầng” khó ăn chia mà dễ bị lộ.

Làm dự án thì từ nhỏ đến lớn đều không bị lộ (có chính sách của đảng) và quá dễ dàng chia nhau “lợi ích”, nếu cần thì dùng cả quân đội, công an để cướp đất dân (Tiên Lãng, Ecopark Văn Giang, Vụ Bản, Cần thơ…), nên chục năm qua thị trường BĐS Thượng nguồn của VN phình to như bong bóng, ễnh ương trong khi nhu cầu thực sự của dân và của nền kinh tế lại không được đáp ứng…

Thị trương BĐS Hạ nguồn (Downstreams) của VN rất nhỏ (chỉ khoảng 10%) do hai lý do: nó chỉ huy động được vốn thứ cấp của các nhà đầu tư BĐS tư nhân nhỏ lẻ ăn theo các dự án đỏ, và nó chỉ nhầm vào đối tượng có tiền trong nước – mà đó không phải đại đa số dân Việt mà là số ít tư bản đỏ và gia tộc họ (chiếm khoảng 5-7% dân số, nhưng nhóm này lại không thiếu BĐS được nhà nước CS “cấp cho” để ở và sử dụng mà chỉ đầu cơ BĐS thương mại để kiếm lời tiếp), và số rất ít cá nhân làm kinh doanh nhỏ và tạm thời vươn lên thành công (số này chỉ chiếm dưới 3% dân số)…

Khủng hoảng hiện nay ở VN là khủng hoảng tất yếu của sự bất cân đối toàn cục trên của thị trường BĐS VN dồn nến từ hàng chục năm nay, đến khi mà các nguồn tài chính nuôi các dự án của thị trường BĐS Thượng nguồn VN đều “tắc” và không đủ cho vô số các dự án BĐS đỏ trên khắp cả nước (chỉ riêng các khu công nghiệp, khu kinh tế để quan CS bán và cho thuê đã lên đến trên 500 khi nền kinh tế 100 tỷ GDP chỉ cần 30-40 KCN/KKT như thế – Ví dụ: nền kinh tế trên 260 tỷ USD của Singapore chỉ có khoảng 16 KCN kể cả 10 cái ở nước ngoài, Thailand có 40 KCN và GDP là trên 350 tỷ USD…).

Thế cho nên, cứu BĐS là cứu các nhóm lợi ích đỏ, là bảo vệ thành quả cướp được từ tài sản quốc gia và nên kinh tế quốc dân của các nhóm lợi ích đỏ suốt hàng chục năm qua. Không cứu BĐS bây giờ là hầu như tất cả quan CSVN đều sẽ mất rất nhiều và giấc mơ hạ cánh như là các nhà “tư bản dân tộc yêu nước” của họ sẽ bị sứt mẻ lớn hay kéo dài thêm nhiều năm… là điều không thể chấp nhận!

Nếu chính phủ không làm được việc này (cứu BĐS, hay chính là cứu tài sản của các quan đảng, hay chính là cứu đảng), thì chính đảng CSVN sẽ đứng ra chỉ đạo làm việc này, “vì lợi ích sống còn của đảng”.

Đó là vài ý tôi xin góp thêm với ông Alan Phan về quan hệ giữa khủng hoảng BĐS và các quan CSVN hiện nay, để nhân dân Việt Nam cùng thấy rõ.

JLN

*unknown

Phân tích của bác (JLN) đúng và rất hay! Tuy nhiên, tôi không đồng ý kiến về việc bác cho rằng ông Alan Phan không biết hay mới nhìn được một nửa vấn đề. Ông Alan vẫn còn muốn đóng góp viết bài cho báo trong nước, nên không thể hoạch toẹt ra như bác hay những người anonymous như tôi, bác, hay những người khác.

Dĩ nhiên, chúng ta đều biết phỏng các đại gia đỏ BDS thì ngoài ai khác là đa số sân sau của các quan nhà ta, một số mafia từ Nga về (bác Vượng VinPearl) và chỉ một ý là các tay ăn theo như HAGL hay QCGL.

Cũng như đảng mafia CSVN đã từng cứu Chứng Khoán VN mà thực ra là cứu các quan đỏ bị kẹt tiền trong thị trường này, thì việc này cũng tương tự vậy thôi! Quan tư bản đỏ ăn ốc, chỉ có 80 triệu dân VN thì tiếp tục đổ vỏ…

*Visiteur

Tay bộ trưởng này hoặc mắc bệnh tâm thần hoặc đạo đức giả hoặc hắn không có quyền gì cả trong một tập đoàn mafia tham lam

Lúc nào cũng hô hoán cưỡng chế đất đúng “luật” nhưng lại làm dân khổ và chỉ có lợi cho các tập đoàn tư bản đỏ và các quan chức CSVN. Điển hình là con trai của bí thư tỉnh Hải Dương, hắn chỉ là cán bộ một sở mà xây dựng biệt thự hơn 20 tỷ thì hắn còn giàu hơn hẳn hai vợ chồng tôi, cùng cày từ 20 năm nay. Bọn quan chức CSVN, lợi dụng chức quyền và khe hở của luật do chúng đặt ra, để làm giàu bất minh trên xương máu người dân, vơ vét tài nguyên đất nước

*Kang

Miền Trung, ở Tuy Hòa, tỉnh Phú yên có một người đàn bà; lúc trước là người buôn bán ở chợ trời; sau này nhờ kết nối với mấy ổng, mấy ổng bơm tiền cho làm ăn; mở công ty Thuận Thảo, làm lên như bão. Nhưng cũng vì khả năng có hạng, bây giờ thua lỗ rất nhiều. Có lẽ mấy ổng cũng đang lo và chờ ‘chính phủ’ cứu ngân hàng, bất động sản.

Nếu mọi người né vào các nơi do họ làm ăn, thì họ sẽ bị ế. Tôi tự giữ mình không đưa chân đến thăm khu Vinpearl hay các khu do tư bản đỏ làm ăn, chỉ tổ giúp họ giàu hơn. Cái cầu giây của Vinpearl giống như giây thắt cổ thành phố Nha Trang.

* JLN

@Bác Unknown,

Bác đã đúng khi chỉ ra tôi đã vội khi nói rằng ông Alan Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay. Lẽ ra tôi nên nói: bài viết của ông Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay.

Lý do ông Phan có thể nhìn thấy hết nhưng không nói ra được vì con muốn “đóng góp viết bài cho báo trong nước”, có vẻ không thuyết phục lắm. Tôi đã đọc vài bài của ông Phan trên DL này và báo trong nước, và cả 1 cuốn sách của ông Phan nữa, và tôi thây ổng đã nói hết những gì mình nghĩ đấy chứ?

Nhưng thôi, đó là phỏng đoán của bác và tôi thôi. Chuyện ổng biết gì, nghĩ gì sau bài viết không phải của chúng ta. Chúc ông Phan thành công trên con đường đóng góp chính danh cho nước nhà.

@Bác “Vẫn phải cứu”,

Khi con người đã hỏng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ đạo đức đến năng lực, thì mọi mục tiêu, chính sách, đường lối… dù có đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị vô hiệu và méo mó dị dạng đi, như chúng ta đã nhìn thấy hiệu quả của gói hỗ trợ doanh nghiệp trên 6 tỷ USD của chính phủ năm 2008-2010 chỉ làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp VVN phá sản.

Thế nên, chỉ có nhân dân hãy tự cứu mình được mà thôi.

JLN

Bộ trưởng Tài nguyên: ‘Đau xót vì tham nhũng đất đai’

“Chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Phải nói sai phạm, tiêu cực là khá phổ biến”, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang nói.

- Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, có đại biểu đánh giá, đất đai là tài nguyên quan trọng nhất nhưng cũng là lĩnh vực phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhiều nhất hiện nay. Ông đánh giá thế nào về nhận định này?

- Ý kiến này đã nhiều lần được nêu. Đất đai nói thật là có giá. Hiện nay, chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Sai phạm, tiêu cực khá phổ biến. Thời kỳ bao cấp thì không được quan tâm lắm nhưng trong cơ chế thị trường phát triển kinh tế đất trở nên rất có giá, rất quan trọng.

Vấn đề chính là luật pháp, quy định nhiều điểm chưa chặt chẽ, phân cấp thẩm quyền, giám sát, thực thi công vụ của cán bộ địa phương cũng có nhiều vấn đề. Bộ chủ yếu làm thể chế, còn thực thi trực tiếp là địa phương. Các lần họp tôi cũng luôn nhắc nhở cán bộ công chức cơ sở không nên lợi dụng tài nguyên đất nước để làm giàu cho bản thân.

- Hạn chế nào trong vấn đề đất đai dẫn đến tiêu cực, tham nhũng?

- Hiện tượng tiêu cực, tham nhũng liên quan chủ yếu đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ví dụ chuyển từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, tạo ra kẽ hở. Hoặc là thay đổi quy hoạch sử dụng đất, cấp đất cho các dự án đô thị, thời gian qua lớn quá, dễ dàng quá…

Với những diện tích đất chuyển đổi sai mục đích, để hoang hóa, các cấp phải có trách nhiệm kiểm tra, xử lý, không có cách nào khác. Hiện rất nhiều doanh nghiệp, cả nhà nước lẫn tư nhân, đều có tình trạng nhận đất rồi để đấy…

- Theo Bộ trưởng, hướng xử lý đối với tình trạng này như thế nào?

- Chúng tôi đã giao cho các tỉnh kiểm tra, tổng hợp và báo cáo Thủ tướng để tìm hướng xử lý. Hướng là dựa trên quy hoạch sử dụng đất để đấu giá đất, các doanh nghiệp chỉ là những nhà đầu tư thứ cấp, không còn chuyện giao đất trắng cho doanh nghiệp.

- Trong các cuộc thảo luận, giá đền bù đất là vấn đề được các đại biểu rất quan tâm. Nhưng trong những dự án thương mại mà đền bù cho dân chỉ 500.000 đồng một mét vuông thì làm sao tránh được khiếu kiện kéo dài?

- Giá đang là vấn đề rất cơ bản, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn. Các loại khung giá, bảng giá, giá cụ thể không, giá thị trường như thế nào, không đơn giản. Thị trường bình thường không nói làm gì, nhưng thị trường ở các đô thị thời gian qua là nóng ghê gớm. Vậy xác định giá trên cơ sở gì, phân cấp thế nào, nhà nước có tiếp tục nắm khung giá không…

Chúng tôi đang có ý kiến, nhà nước vẫn giữ khung giá, nhưng tăng các điểm lên, hiện quy định khung giá theo 3 vùng đồng bằng, trung du, miền núi, tính đại diện thấp. Ta có 63 tỉnh thành, để tăng tính chính xác có thể chia thành các cụm tỉnh tương đối giống nhau, theo tôi như thế sẽ hợp lý.

- Ông nghĩ thế nào về định hướng xây dựng một cơ quan định giá độc lập?

- Theo tôi có một cơ quan định giá độc lập là tốt nhất. Tới đây phân công có lẽ nên chỉ một bộ chịu trách nhiệm, hiện nay khung giá bảng giá do Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm, nhưng giá cụ thể ở từng mảnh đất để đền bù lại do Bộ Tài chính. Nên chỉ có một cơ quan định giá và nằm ở Bộ Tài chính.

- Có đại biểu đề nghị xây dựng luật riêng về đền bù thu hồi đất tái định cư, trong hoàn cảnh bức xúc như hiện nay. Quan điểm của ông ra sao?

- Không cần thiết vì vấn đề là nội dung chứ không phải chung hay riêng. Tất nhiên nếu riêng thì sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nhưng vấn đề bồi thường liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau.

Trong vấn đề thu hồi đất, theo tôi chủ yếu vẫn là vấn đề giá. Hiện có hai hình thức thu hồi đất, một là nhà nước thu hồi đất phục vụ quốc phòng an ninh, văn hóa xã hội và các dự án phát triển kinh tế lớn, hai là thu hồi đất theo thỏa thuận, chính trong những trường hợp thỏa thuận này phát sinh những chênh lệch, khiến dân thắc mắc. Nhưng theo tôi, nhà nước không thể đứng ra thu hồi đất cho tất cả các dự án được. Trong những dự án nhỏ, doanh nghiệp và dân thỏa thuận là chuyện rất bình thường, không thể lấy cớ đó để thắc mắc được, dân phải hiểu điều đó.

Nguyễn Hưng ghi
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/06/bo-truong-tai-nguyen-dau-xot-vi-tham-nhung-dat-dai/

*

Đăng trong Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

Sau khi dành độc quyền mua bán tiền đô (ngoại hối) 2011, nay nhà nước thông báo sẽ chính thức độc quyền sản xuất mua bán vàng miếng từ 25/5/2012

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Tư 9, 2012

Sau khi ra nghị định độc quyền mua bán đô la (ngoại hối) -xem thông báo về một số quy định mới trong Nghị định 95/11/NĐ-CP ngày 20-10-2011 (nguồn)- giá đô la có vẻ ổn định, giá đô la biến động chung quanh  20 800 đồng/ 1 đô la.

Nhưng thật sự  thị trường mua bán đô la hiện nay là giả tạo. Hơn ai hết mọi  người biết rõ, lạm phát gia tăng hàng ngày, tiền đồng VN bị mất giá 30-40%; điển hình đi chợ mua đồ ăn mỗi ngày thấy vật giá càng gia tăng từ trước Tết tới nay, giá xăng tăng, giá điện tăng, giá thuốc tây và trả tiền bệnh viện tăng 26%…). 

Giá cả qui đổi tiền đô ra tiền đồng trong ngân hàng hiện nay chỉ nhằm mục đích ép người bán đô phải bán với giá ngân hàng quy định. Nếu họ bán chỗ khác, sẽ bị phạt tiền. Nhưng nếu có ai cần vài ngàn đô để chuyển ngân cho con em du sinh đang học ở nước ngoài, cứ thử đem tiền đồng ra ngân hàng mua đô, thì ngân hàng sẽ trả lời là không có đô la để bán ra.

Hối suất mua cưỡng ép này sẽ có giá trị trong một thời gian nào đó, một khi có can qua, có sự thay đổi, số tiền nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu ngày càng tăng, khi tiền đô do Việt kiều gởi về vào mua hè này và cuối năm càng nhiều, hay một lúc nào đó nhà đầu tư ngoại quốc bỏ tiền vào VN, thì nhà nước phải tung tiền đồng ra mua, lượng tiền đồng trên thị trường ngày càng nhiều, kết quả là làm gia tăng lạm phát, thì giá 1 đô sẽ lên 25 000 – 30 000 đồng trong thời gian ngắn trước mắt. 

“Nếu NHNN tiếp tục kìm giữ tỷ giá bằng sự thặng dư tạm thời của cán cân thanh toán trong khi lạm phát liên tục ở mức cao thì tiền đồng sẽ tiếp tục lên giá thực so với ngoại tệ, và do đó khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (việc bán hàng hóa ra nước ngoài sẽ không có lời, xuất khẩu các mặt hàng của VN sẽ giảm-TH). Điều này sớm hay muộn sẽ làm thâm hụt thương mại tăng cao trở lại (xuất ít, nhập nhiều), các dòng vốn nước ngoài cũng sẽ tháo chạy (thực tế FDI giảm từ 2011 chỉ còn chừng 1  tỷ rưỡi, so với 7-9 tỷ trong các năm trước; và 3 tháng vừa qua của năm 2012 thì, FDI chỉ có vài ba trăm triệu, các công ty  ngoại quốc đã và đang ngưng đầu tư vào VN- TH) và cán cân thanh toán sẽ thâm hụt, lúc đó tiền đồng sẽ nhanh chóng bị phá giá một cách mạnh mẽ.” (nguồn)  và tỷ giá tiền đô sẽ lên cao 25000- 30 000 đồng/ 1 đô là điều thấy rõ trong tương lai gần.

Ai hưởng lợi từ việc độc quyền mua bán tiền đô, và ngoài mục đích này còn có mục đích nào khác nữa? Nhưng các mục đích ấy có nguy cơ gì? Mời các bạn đọc tiếp: “

Tỷ giá ổn định, tất nhiên Ngân hàng Nhà nước được hưởng lợi đầu tiên. Theo cập nhật của nhóm nghiên cứu, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước mua vào một lượng lớn ngoại tệ. Có những ngày, nhà điều hành mua vào từ 60 – 70 triệu USD. Xu hướng này kéo dài cho tới nay, khi có những ngày nhà điều hành mua hơn 100 triệu USD. Và khi dự trữ ngoại hối tương đối rủng rỉnh, nhà điều hành còn “đỏng đảnh” trước những lời gạ bán của ngân hàng thương mại.

Một chuyên gia phân tích: tỷ giá ổn định như hiện nay thực ra được hưởng lợi khá nhiều từ chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát và giảm tổng cầu. Bởi thế, những người điều hành tỷ giá rất lo nếu phải nới lỏng tiền đồng.

Sự lo lắng này không phải không có lý khi giới phân tích đang hình thành những xu hướng trái ngược nhau.

Một bên cho rằng, Chính phủ nên tiếp tục kiên định thực hiện Nghị quyết 11: giảm tổng cầu để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát; còn bên kia là sự la ó lãi suất cao, khó tiếp cận vốn, nhất là giữa lúc Tổng cục Thống kê công bố GDP quý 1/2012 chỉ đạt 4%, giảm 2% so với quý 4/2011 và giảm 1,6% so với cùng kỳ 2011.

Vị cán bộ chuyên kinh doanh ngoại tệ nói trên cho rằng, nền kinh tế đã đổi mới được 20 năm và đã đến lúc phải cơ cấu lại. Vấn đề không chỉ ở con số tăng trưởng 4% hay bao nhiêu mà chính là tăng trưởng thực chất.

“Đừng nhìn vào mấy chục nghìn doanh nghiệp phá sản mà loạn cả lên. Thà chấp nhận số lượng doanh nghiệp ít đi nhưng chất lượng tốt hơn”, ông này nói.

Mối lo thứ hai đến từ dòng tiền nóng. Theo giới phân tích, kinh tế vĩ mô hiện nay đang duy trì được đà ổn định: lạm phát được kiềm chế mức thấp, tỷ giá bình lặng, trong khi chênh lệch lãi suất “đô, đồng” gần 10% là những tiền đề cần thiết để dòng tiền nóng từ các nhà đầu tư nước ngoài dần trở lại Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư, mặc dù lưu lượng của chúng hiện mới chỉ dăm triệu USD mỗi ngày.

Lý giải hiện tượng này, một số cán bộ kinh doanh ngoại tệ ở các ngân hàng phân tích: trong khi lãi suất USD chỉ 2%/năm, lãi suất trái phiếu Chính phủ khoảng trên 11%/năm, những nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp và rút nhanh sau vài ba tháng.

Điều nguy hiểm là khi dòng ngoại tệ nóng chảy vào, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải mua vào và cung tiền đồng ra thị trường. Và đến khi họ rút nhanh, tỷ giá lập tức chao đảo; đồng thời, thị trường trái phiếu sẽ sụt giảm theo, ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của nền kinh tế.

Giữ tiền đô và vàng là an toàn so với việc giữ tiền đồng, đừng bán và đừng cho ai vay, mà hãy cố gắng giữ trong các ngân hàng ngoại quốc ở SG hay HN, gởi ở các ngân hàng ngoại quốc tuy lời ít, nhưng các bạn sẽ không mất trắng tay vì trộm cướp và ngân hàng phá sản khi “can qua”.

Nay Khi Nhà nước Việt Nam thông báo độc quyền sản suất và buôn bán vàng

Nhu cầu phòng thân của người dân bị tước đoạt

Báo Người-Việt.com

SÀI GÒN - Sau cơn bão bất thường giữa mùa Hè, sự việc làm choáng váng dư luận Việt Nam là chuyện Ngân Hàng Nhà Nước chế độ cộng sản tuyên bố độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng.

 

Vàng miếng trên thị trường Việt Nam kể từ tháng 5, 2012 sẽ do nhà nước độc quyền sản xuất và kinh doanh. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Gettty Images)

Khác với chuyện thường xuyên dự báo bão trật lất, chuyện đại sự vàng miếng đã được các quan lớn ngân hàng dọn đường dư luận từ trước và không thay đổi chính sách.

Ở một quán cà phê thuộc quận 1, Sài Gòn. Nhà báo TC nói: “Ở đất nước này, chế độ cầm quyền không còn lắng nghe ý dân nữa. Họ khinh dân. Họ chỉ nghe đảng của họ và các băng nhóm lợi ích bu quanh đảng cộng sản.”

Bà V., một nhà báo kinh tế khác góp chuyện rằng, “Ðây là lần đầu tiên trong suốt lịch sử Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc quyền vàng miếng.”

Bây giờ chuyện khai thác khoáng sản vàng có giấy phép hoặc cấp giấy phép bằng miệng để nhận tiền lót tay đã không còn là món béo bở với các tầng lớp cán bộ tham nhũng.

Cái mỏ vàng được đánh giá có trữ lượng hàng ngàn tấn đang nằm trong tủ để phòng thân của hàng triệu người Việt mới là cái họ quyết chiếm đoạt và trục lợi cho bằng được.

Nhiều người nhớ lại rằng từ sau biến cố 1975 đến nay, chế độ này đã tìm cách thâu tóm nhiều lần cái mỏ vàng của lương dân. Ðánh tư sản 3 đợt. Những câu chuyện dân giấu vàng trong hũ chôn cạnh cầu tiêu cũng bị moi lên, sơn đen vàng làm khung thờ tổ tiên cũng bị tước đoạt… Ðau đớn nhất là hốt vàng của những lương dân mong cầu tự do quyết tìm đường vượt biển.

Ngày 5 tháng 4, Thống Ðốc Ngân Hàng Nguyễn Văn Bình nói trên tivi với phóng viên kinh tế của kênh truyền hình chính thống rằng: “Nhà nước chỉ độc quyền vàng miếng, như độc quyền phát hành tiền. Hiện nay, thị trường vàng miếng Việt Nam hơn 90% là vàng miếng nhãn hiệu SJC. Thế nên việc ngân hàng độc quyền vàng miếng nhãn hiệu SJC, những nhãn vàng khác không có thị phần đáng kể.”

Tuyên bố này của ông thống đốc lập tức gây ra cảnh hỗn loạn ở thị trường vàng Hà Nội. Người ta đổ xô đi bán rẻ vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc để mua mắc vàng miếng của SJC. Như vậy chỉ riêng ở Hà Nội những lương dân lâm cảnh bán rẻ mua mắc đã mất trắng số tiền khổng lồ từ mồ hôi nước mắt. Không giống như ở Hà Nội, lương dân có vàng miếng ở các tỉnh phía Nam và Sài Gòn bình tĩnh hơn. Họ chửi rủa chuyện độc quyền vàng nhưng ít cầm vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc đi bán rẻ.

Hỏi một ông chủ cho thuê nhà trọ ở quận Tân Bình. Ông nói: “Lo chi cho mệt, vài bữa là thị trường vàng chợ đen mọc lên như nấm. Cấm, tịch thu hả! Ðừng có mà mơ. Có việc cần, thà bán rẻ cho chợ đen còn hơn là làm giàu cho mấy thằng đó.”

So với thị trường chợ đen các loại thì Sài Gòn không tinh vi bằng Hà Nội, nhưng riêng cái chuyện chữ tín của thị trường chợ đen thì Hà Nội không thể sánh bằng Sài Gòn. Một bà bán quán nhậu nói: “Ông có vàng bán tôi kêu giùm cho. Tới tận nhà mua luôn nghe, bảo mật, uy tín, không ép giá.”

Với từng gia đình, việc chuẩn bị mọi phương cách để tự vệ trước bàn tay tham lam muốn khai thác vàng phòng thân đã bắt đầu. Nhiều người tin rằng bóng ma quản lý kinh tế thời bao cấp đã quay trở lại. Nhiều người còn nhìn thấu đáo hơn khi lướt qua một số chuyện cho thấy sự cùng quẫn của chính quyền tham nhũng hiện nay. Những bộ trưởng cộm cán của chính quyền Hà Nội đã bắt đầu “tham lam sinh đạo tặc.” Bộ trưởng Giao Thông thì thèm thuồng nguồn thu phí từ hàng chục triệu xe gắn máy. Bộ trưởng Y Tế thì ngớ ngẩn đòi tăng giá viện phí để giảm tải bệnh viện. Cục Thuế thì tha hồ hốt tiền lót tay khi gia hạn thuế cho các tổng công ty nhà nước và các đại gia máu mặt…

Trở lại chuyện thống đốc ngân hàng đang hăm hở độc quyền nguồn vàng phòng thân của hàng triệu gia đình. Một chuyên gia kinh tế muốn giấu tên nói, đây là một chính sách động chạm trực tiếp đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Nếu giới trung lưu trước đây an phận làm ăn, hưởng thụ thì chính sách độc quyền vàng sẽ làm họ hiểu là ngay cả của để dành cũng không an toàn. Ðe dọa đến nguồn vàng tư hữu phòng thân là đánh thức sự chống trả của tầng lớp công dân đông đảo.

Những ngày tới, chuyện gì sẽ xảy ra khi nhà nước tuyên bố độc quyền kinh doang vàng miếng. Người dân, nhất là giới trung lưu Việt Nam sau những thoáng mất bình tĩnh thì xuất hiện một bầu không khí im lắng bất thường và chính sự im lắng này là giai đoạn họ chuẩn bị sẵn sàng gây bão lớn.

************************************************

Nhà nước chính thức độc quyền sản xuất vàng miếng từ 25/5/2012

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Theo Nghị định 24, quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Các quy định trong Nghị định 24 không áp dụng đối với hoạt động khai thác và tinh luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.

Nghị định 24 nêu rõ: Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Nghị định cũng cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Các hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 5 điều kiện:

1. Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

2.  Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên;

3. Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 năm trở lên;

4. Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 2 năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế);

5. Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Ngày 3/4/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank, Dong A Bank và Công ty TNHH một thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) báo cáo về việc triển khai mạng lưới mua, bán vàng miếng. Báo cáo gửi về Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) trước ngày 9/4/2012.

Trong khi đó, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 3 điều kiện gồm có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên; Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng; Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Về xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung – cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp theo quy định và cấp giấy phép xuất khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có Giấy phép khai thác vàng theo quy định.

Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm. Việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm được thực hiện theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định này. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/5/2012.

—————–

Nghị Định 24 chấm hết với đầu cơ vàng

nguồn

“Tuy nhiên trên tất cả và quan trọng nhất vẫn là quy định “không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán”. Về tinh thần này, cùng với chủ trương Nhà nước độc quyền trong sản xuất vàng miếng và xuất khẩu vàng nguyên liệu cũng như nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, giới đầu tư của 12.000 cơ sở kinh doanh vàng và cả những người dân quen mua vàng tích trữ đã biết từ lâu. Vấn đề còn lại là bản nghị định này sẽ tác động ra sao đối với thị trường kinh doanh vàng.”

“Ngay sau khi nghị định 24 được ban hành, giám đốc một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vàng tiếp tục đặt vấn đề: Tại sao cùng vào ngày 3/4/2012, cùng thời điểm với nghị định 24 được ký, lại xuất hiện một công văn của NHNN gửi cho 5 ngân hàng và Công ty SJC liên quan đến mạng lưới phân phối vàng? Tại sao chỉ có nhóm “G5+1″ mà không hiện ra thêm thành viên nào khác? Và tại sao tất cả những thương hiệu vàng “Phi SJC” lại bị loại thẳng thừng trong nghị định 24?”

“Trên thị trường, giá vàng niêm yết hàng ngày hầu hết được “tham chiếu” bởi Công ty SJC chứ chẳng phải ai khác. Mà những dấu hiệu từ SJC khi đặt giá niêm yết cao hơn hẳn giá thế giới lại đã luôn trở thành một nghi vấn lớn lao nhưng chưa bao giờ được giải thích cặn kẽ.

Từ đó, hiển nhiên các cơ sở kinh doanh vàng – những nơi bị chuyển từ kinh doanh vàng miếng sang vàng nữ trang, sẽ không thể không hoài nghi về ý nghĩa thực chất của nghị định 24 trong thực tế triển khai, nhất là khi thương hiệu vàng SJC vẫn đóng vài trò độc tôn và Công ty SJC vẫn được NHNN “bảo trợ”.

“Tương tự, Bảo Tín Minh Châu đã trở thành “nạn nhân” đầu tiên trong số các thương hiệu có tiếng lâu đời bị gạt ra rìa. Vào cuối năm 2011, khi lần đầu tiên giá vàng Bảo Tín Minh Châu thấp hơn giá vàng SJC đến 1,2 triệu đồng/lượng, cơn khủng hoảng  của vàng “phi quốc doanh” đã bắt đầu.”

“Trong khoảng thời gian gần đây nhất, bất chấp “barem” của thống đốc NHNN về “nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 400.000 đồng là có dấu hiệu đầu cơ”, độ chênh cao của giá vàng trong nước so với giá quốc tế vẫn luôn duy trì ở mức 2-4 triệu đồng/lượng trong suốt 5 tháng cuối năm 2011, kể cả cho đến những ngày gần đây mức chênh đó vẫn duy trì ở mức trên 2 triệu đồng/lượng.”

“SJC công bố giá vàng hàng ngày hầu nhu độc quyền- Yêu cầu Ngân hàng Nhà nước giải thích tại sao giá của SJC bao giờ cũng cao hơn giá thế giới từ 01-3 triệu đồng.Ông thống đốc NHNN từng tuyên bố sẽ giữ giá vàng trong nước chỉ cao hớn giá vàng thế gioi 500.000,đồng mà sao bây giờ… “

Thực chất của nghị định 24 là nhà nước dành độc quyền kinh doanh vàng, vì món này rất có lời. Cứ bán 1 lượng vàng, thì nhà nước lời tối thiểu 2 triệu đồng.  SJ C và 5 công ty kinh doanh vàng là của nhà nước và các tập đoàn quốc doanh, và do con cái các cán bộ cao cấp nắm giữ.

Thực chất của độc quyền mua bán đô la là mua rẻ tiền đô của Việt kiều và công nhân lao động xuất khẩu (gởi tiền về trả nợ chi phí xin di XKLĐ và giúp đỡ gia đình.)

Mời các bạn đọc bài dưới đây để hiểu tải sao lạm phát gia tăng trước tết cho đến nay của việc tung tiền VN ra đổia ấy tiền đô:

“Bị thâm hụt 12 tỷ đô la, Chính phủ VN tung 300.000 tỷ đồng vừa giải cứu ngân hàng, vừa mua lại 9 tỷ đô la do Việt Kiều gởi về, nhưng tiền đồng trên thị trưởng quá nhiều đã và đang làm gia tăng lạm phát (dân lãnh đủ). Việc độc quyền mua rẻ đô la, không cho tỷ giá vượt mức 22.000 đồng, có mục đích là chính phủ hưởng lợi” (nguồn)

Đăng trong Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 2 phản hồi »

►Vàng, Đô la ở Việt Nam 2009, 2010, và đầu năm 2011 ra sao

Posted by hoangtran204 on Thứ Năm, Tháng Một 13, 2011

Hôm nay giá vàng là 35.780.000 đồng/ 1 lượng, tương đương với 1696 đô la.

Giá 1 đô la= 21.100 đồng.

Giá vàng tăng 9,51 triệu đồng/lượng, tương đương 35,7% trong năm 2010

Tỷ giá đôla Mỹ tại Hà Nội ở mức 20.980 – 21.080 đồng Việt Nam/USD, tăng 1.880 – 1.880 đồng Việt Nam/USD (mua vào – bán ra) tương đương với tăng 9,79% so với cuối năm 2009.

Phiên giao dịch cuối cùng của năm 2009, giá vàng SJC giao dịch tại mức 26,51 – 26,61 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,36 – 26,55 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 26,50 – 26,60 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá đôla Mỹ phiên cuối cùng của năm 2009 ở mức 19.100 – 19.200 đồng Việt Nam/USD.

Cuối quý 1/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 26,13 – 26,19 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,08 – 26,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 26,05 – 26,15 triệu đồng/lượng.

Cuối quý 2/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 28,54 – 28,62 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 28,54 – 28,62 triệu đồng/lượng.

Ngày giao dịch ấn tượng của quý 2/2010: Ngày 02/05/2010, người dân đổ xô đi mua vàng sau khi giá vàng hạ 1,5 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 đêm. Yếu tố khác khiến giá vàng giảm sâu trong thời điểm này còn là bởi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp lớn tăng cung vàng.

Tuy nhiên giá vàng chỉ giảm được 3 ngày, lực mua quá lớn khiến giá vàng lên lại mức 26,48 triệu đồng/lượng vào ngày 11/02.

Tỷ giá đôla Mỹ vào ngày 11/02/2010 cũng lên cao và đến 11h trưa cùng ngày ở mức 19.800 đồng Việt Nam/USD.

Cuối quý 3/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 31,21 – 31,25 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,08 – 26,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 31,17 – 31,23 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá đôla Mỹ tại Hà Nội ở mức 19.640 – 19.690 đồng Việt Nam/USD, trong ngày giao dịch đã có lúc giá đôla Mỹ vượt mức 19.700 đồng Việt Nam/USD.

Diễn biến giá vàng SJC trong năm 2010 (Nguồn:SJC)

Quý 4/2010, sự hỗn loạn trên thị trường vàng bắt đầu từ ngày 08/11/2010 khi người dân đổ xô nhau đi mua vàng, phiên giao dịch ngày 09/11/2010 lịch sử, giá vàng lập đỉnh cao chưa từng có. Giá vàng SBJ giao dịch ở mức 37,00 – 37,40 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SJC ở mức 36,50 – 37,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long ở mức 36,90 – 37,30 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chốt ngày thấp hơn khoảng 800 nghìn đồng/lượng so với mức đỉnh 38,2 triệu đồng/lượng đã thiết lập trong ngày.

Tỷ giá đôla Mỹ tại một số điểm quy đổi ở Hà Nội trong ngày tại mức 21.000 – 21.200 đồng Việt Nam/USD (mua vào – bán ra), mức đỉnh cao được thiết lập trong ngày là 21.500 đồng Việt Nam/USD.

Tại Hà Nội, có hiện tượng một số cửa hàng ngừng giao dịch ngoại tệ vì không còn đôla để bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán vàng nhiều lúc lên tới hơn 1 triệu đồng/lượng. Đến cuối ngày kỷ lục 09/11, các doanh nghiệp kinh doanh vàng vẫn thận trọng giữ mức chênh lệch lớn giữa giá mua và bán vàng, mức chênh lệch phổ biến từ 400.000-500.000 đồng mỗi lượng.

Cùng thời gian này năm 2009, giá vàng lập kỷ lục. Ngày 11/11/2009, giá vàng lên kỷ lục 29 triệu đồng/lượng. Trưa ngày 11/11/2009, Ngân hàng Nhà nước công bố cho phép nhập vàng, giá vàng hạ sâu xuống dưới 25 triệu đồng/lượng.

Chốt phiên giao dịch ngày 30/12/2010, giá vàng SJC ở mức 36,04 – 36,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng SBJ cuối ngày 30/12/2010 ở mức 36,07 – 36,10 triệu đồng/lượng.

Như vậy so với cuối năm 2009, giá vàng SJC đã tăng 9,53 – 9,51 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Tỷ giá đôla Mỹ tại một số điểm quy đổi ở Hà Nội tại mức 20.980 – 21.080 đồng Việt Nam/USD, tăng 1.880 – 1.880 đồng Việt Nam/USD so với cuối năm 2009, tương đương 9,79%.

Chính sách quan trọng tác động đến thị trường vàng trong nước năm 2010:

Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra hàng loạt biện pháp để bình ổn thị trường vàng. Khởi đầu năm 2010 là thông tin mọi hoạt động sàn vàng, kinh doanh vàng trên tài khoản bị cấm, thời hạn sau đó đã được lùi đến ngày 30/03 và 31/07.

Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần cấp quota nhập khẩu vàng, các biện pháp lập tức phát huy tác dụng giúp bình ổn thị trường vàng, đưa giá vàng trong nước gần với giá thế giới.

Thời điểm 10 ngày đầu tháng 11/2010, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện bán can thiệp ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu thiết yếu. Quyết định trên giúp bình ổn tỷ giá đôla trên thị trường tự do. Đặc biệt ở thời điểm cơn sốt vàng khoảng ngày 09/11, tỷ giá đôla Mỹ đến ngày 12/11 rơi xuống 21.100 đồng Việt Nam/USD từ mức 21.500 đồng Việt Nam vào ngày 09/11.

Chiều tối ngày 28/10, Ngân hàng Nhà nước còn ban hành Thông tư 22 quy định chặt chẽ hoạt động huy động và sử dụng vốn bằng vàng của các ngân hàng. Kể từ ngày 29-10, tổ chức tín dụng sẽ chỉ được phép huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá, thay vì hình thức phát hành sổ tiết kiệm vàng trước đây. Ngoài ra, ngân hàng sẽ chỉ được phép cho khách hàng vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức. Việc cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng hoàn toàn bị cấm.

Bộ Tài chính ngoài ra còn đưa ra 2 quyết định về thuế vàng. Từ ngày 12/11/2010, thuế nhập khẩu vàng giảm từ 1% xuống 0% còn từ đầu năm 2011 thuế xuất vàng từ 0% lên 10% (đối với một số loại mặt hàng nhất định).

Từ 1/1/2011, các loại vàng nguyên liệu, vàng trang sức có hàm lượng cao sẽ chịu thuế xuất khẩu 10% theo quy định do Bộ Tài chính vừa ban hành, thay cho mức 0% cũ.

Theo thông tư 184 từ Bộ Tài chính, các loại vàng nguyên liệu thuộc nhóm 8718 sẽ áp dụng thuế suất 10%, thấp hơn so với mức 20% trước đó mà cơ quan này đề xuất áp dụng. Các loại vàng trang sức khác có hàm lượng cao; vàng miếng vàng thỏi, vàng bột có hàm lượng dưới 99,99% cũng chịu thuế suất 10% so với mức 0% hiện hành.

Thị trường vàng sau các quyết định trên lập tức được bình ổn.

Khánh Ly
nguồn ở đây
——————————

Năm 2011, dự báo của các hãng địa ốc cho biết: năm 2011, các ngân hàng  Mỹ sẽ tịch thu nhà cửa nhiều hơn 2010.  Năm 2010, các ngân hàng đã tịch thu 1 triệu căn nhà.

Sau khi tịch thu nhà, các ngân hàng thường treo bảng trước căn nhà ấy và để cho các nhà địa ốc liên lạc với người mua, thường là họ bán đổ bán tháo căn nhà ấy để lấy lại tiền mặt. Giá trị căn nhà mua được theo lối nầy thường chỉ còn 60% hoặc 70% giá trị thật sự của căn nhà ấy trên thị trường vào ngay thời điểm đó.

Banks repossess 1 million homes in 2010

http://news.yahoo.com/s/ap/20110113/ap_on_bi_ge/us_foreclosure_rates

——————–
Nguyên nhân giá vàng gia tăng suốt từ đầu năm 2011 tới cuối năm là do các nước mua vàng vào để dự trữ, vì tiền đô và tiền Euro bị lạm phát, mất giá, và do stock gần như không ổn định.
Bài báo dưới đây nói về vàng thế giới 2011 và vàng Việt Nam 2012.
Thư mục các bài viết tác gia Jan Skoyles
http://therealasset.co.uk/author/jan-skoyles/

Central banks buy 571% more gold

Posted Feb 16 2012 by Jan Skoyles in ,

At The Real Asset Co we frequently discuss the factors which drive people to buy gold. Recently we have discussed the dangerous actions of central banks to devalue currencies which is driving more people to gold investment. Today the World Gold Council released their report ‘Gold demand trends: Full year 2011’.

The Real Asset Co take a look at the report which illustrates the pace at which people are turning to gold in response to the changing economic climate. Gold investment demand is expected to go from strength to strength in 2012. More individuals, along with central banks, are turning to gold as a hedge against inflation and currency devaluation.

2011 was a ‘tricky’ year for gold according to the WGC. During the year the yellow metal reached new highs of $1,895/oz but finished the year at $1,531/oz. Many speculators believed this was the end of gold’s 11-year bull-run. However the average price in 2011, of $1,571.52/oz was 28% higher than the equivalent in 2010. This doesn’t seem to be the end of the bull market to us.

The majority of gold investment was within physical bars and coins. The increased strength in gold demand appears to be due to uncertainty in the global markets, particularly as the two major reserve currencies are teetering dangerously at present.

Central Banks buy gold

Late in 2011 we wrote of Central Banks becoming net buyers of gold for the first time since the 1960s. 2011 proved to be a big investment year for the central banks who, along with official institutions, increased their purchases by 571%, from 77 tonnes in 2010 to 440 tonnes in 2011.

According to the WGC, ‘this activity reflected a continued desire among central banks to diversify their sizeable reserves in light of credit downgrades which have brought into question the safety of holding massive amounts of US dollar and euro-denominated reserves.’

In 2011, Mexico dominated the Central Bank purchases, buying 100 tonnes. This was closely followed by Russia. This is not surprising news. Earlier this month we discussed the increasing moves by countries to abandon the dollar for gold. Mexico’s proximity to the US may well have left it feeling vulnerable in the snowballing economic crisis. Whilst in Russia there are rumours of gold payments for oil, something which has been discussed for many years.

Gold Investment Demand

The World Gold Council looked at gold demand in three separate categories: Technology, jewellery and investment. Of the three, investment demand has seen the greatest increase in the last year. It reached a 14-year high in 2011. The other categories saw a decrease in demand; jewellery, for instance, saw a 15% year on year decline. However this huge increase in investment demand “helped to counterbalance declining demand in the jewellery and technology sectors.”

Annual demand for bars and coins in 2011 reached a record-high of 1,486.7 tonnes, 24% higher than in 2010. Physical bar demand saw a 29% increase compared to ETFs which saw a decrease of 58%. Perhaps the concerns about counterparties and ETFs are having an effect on market participants?

In regard to where this investment demand for bars and coins originates it appears to be a global movement. The WGC state that, during 2011 “net-investment demand was the result of a mixture of liquidity-driven selling and store of wealth buying and speculation on either side of the equation”.

The demand for bars and coins appears to be geographically widespread, with the exception of the US, Egypt and Japan reporting a decline in gold investment demand. A number of countries saw an ‘upsurge’ in physical bar demand in allocated accounts, particularly in Turkey and German speaking European markets.

China and the high gold price

China is set to usurp India as the world’s biggest buyer of gold in 2012. The Chinese seem to prefer to buy an ‘established rising trend,’ so when the price dropped slightly in Q4 of 2011, so did Chinese demand. However early reports show that it has picked up once again in 2012 as the gold price makes a speedy recovery.

Regardless of low buying levels in Q4 of 2011, the overall annual demand of 258.9 tonnes ‘eclipsed 2010 levels as the first 9 months of the year were dominated, ‘by rising gold prices, which in turn fuelled positive price expectations, high inflation, poor performance of alternative assets and an increased availability of gold retail investment products.’

Gold – the inflation hedge

Many countries’ gold buying activities are remarked upon in the report. However one which is particularly worth noting is Vietnam. Vietnam is a country which is frequently noted for its belief in gold, it acts as a third currency in the country preferred over both the dong and the US dollar. According to the WGC, the Vietnamese ‘continued to clamour for gold bars’ seeing a 50% increase in Q4 compared to the average for Q4 2008-2010.

This 30% increase to 87.3 tonnes in physical gold demand and gold investment in Vietnam, is fuelled by ‘persistent high inflation’.

The gold standard of a safe haven

Turkey also saw increased demand for gold bars, which they are increasingly choosing as ‘their investment vehicle of choice’. The World Gold Council states this is due to ‘Turkish investors who are increasingly troubled by the on-going crisis in the euro area’ therefore they are turning to gold for its ‘insurance properties’.

In Europe, the centre of much mistrust and insecurity, gold investment demand registered its 7th annual gain, reporting purchases of a record 374.8 tonnes. Germany accounted for the largest proportion of investment in the European region, something which we expected after last year’s reports. Demand reached record levels and was 26% above those in 2010.

The WGC report also made a point of shining a light on the ‘other Europe” category. These countries, ‘now account for a considerable proportion of investment in the region.’ Like the rest of Europe, a ‘substantial amount of this new demand has been generated by countries with previously no or very little interest in gold investment, including the UK and a number of Eastern Europe countries.’

Whilst there was far more discussion in the WGC report, we believe the most important points to come from the report are the one-way street which is gold investment. There is little disagreement as to why and how both individuals and governments decide to buy gold. They buy as an insurance against the toppling economy and they buy physical bars due to its distance from the banking system and it’s historically proven worth.

Đăng trong Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.