Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội nghị Thành Đô 3-9-1990’ Category

►Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN về thỏa hiệp Thành Đô 9/1990

Posted by hoangtran204 on 07/08/2014

Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN

.

3-8-2014

 

 

 

189101-BuonGio-400

.

Kính thưa ông Đinh Thế Huynh, uỷ viên BCT, trưởng ban tuyên giáo trung ương ĐCSVN
Kính thưa ông Phạm Văn Linh, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách thông tin đối ngoại ĐCSVN
Kính thưa ông Bùi Thế Đức, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách tuyên truyền đối nội.
Kính thưa Nguyễn Thanh Tuấn, trung tướng ,cục trưởng cục tuyên huấn thuộc tổng cục chính trị bộ quốc phòng

Kính thưa các ông nhà báo đi đầu trên lãnh vực phòng chống diễn biến hoà bình, chủ động đấu tranh phản bác với những thông tin sai lệch là các ông Nguyễn Như Phong, Hồ Quang Lợi, Nguyễn Văn Minh, Bùi Thế Kỷ, Trần Đăng Thanh…..

Đầu tiên tôi xin đánh giá cao những thành tựu trong lĩnh vực các ông phụ trách ở các năm vừa qua. Đội ngũ phóng viên, báo chí , tuyên truyền viên đã chủ động kịp thời, cung cấp những thông tin nhanh nhạy và đối phó phản bác kịp thời những thông tin sai lệch trong dư luận.

Hiện nay trong dư luận nhân dân đang có hai bài viết của hai lão thành cách mạng đó là thiếu tướng quân đội Lê Duy Mật và đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang. Nội dung hai bài viết này đều đòi làm sáng tỏ vấn đề mà lãnh đạo ĐCS VN đã cam kết với ĐCSTQ tại Thành Đô , bài viết được đưa lên trang cá nhân của đại tá Bùi Văn Bồng có đoạn.

 “ Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích) (1).”

http://bongbvt.blogspot.de/2014/08/thieu-tuong-le-duy-mat-co-hay-khong-mot.html

Đoan trích trên hiện nay đang gây hoang mang cho đại đa số quần chúng nhân dân. Dư luận rất bức xúc, đòi hỏi ĐCSVN phải trả lời rõ xem sự việc này thực hư thế nào. Trái với những phản ứng kịp thời ở nhiều vụ khác, chẳng hạn như những vụ tranh chấp đất đai tôn giáo ở Hà Nội hay Nghệ An. Hoặc gần đây vụ Hội Các nhà báo độc lập và các vụ biểu tình liên quan đến biển Đông. Trong những vụ việc này báo chí và cơ quan tuyên huấn, tuyên giáo đồng bộ cấp tốc có bài trả lời hoặc phản ảnh quan điểm của Đảng và nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Thế nhưng đến nay, một việc trọng đại thế này, có ảnh hưởng đến uy tín của Đảng lãnh đạo và tất ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước mà vẫn chưa có lãnh đạo ban, cục, vụ nào có ý kiến hồi đáp.

Nếu thông tin này là sự thật, đề nghị chính phủ đưa gấp chương trình bắt buộc học tiếng Trung Quốc vào giáo trình giảng dạy phổ thông. Chuẩn bị tốt cho nhân dân những kiến thức cơ bản để hội nhập nhanh chóng, hoà mình vào cuộc sống chung của đại gia đình các dân tộc Trung Hoa. Cùng góp sức dưới lá cờ đại nghĩa do tổng bí thư Tập Cận Bình giương cao xây dưng một nước Trung Hoa phồn thịnh, đại cường.

Trong vấn đề hội nhập có đôi chút những mâu thuẫn tư tưởng giữa hai dân tộc, vấn đề này nhìn chung đã được các ban, ngành tuyên giáo, tuyên huấn giải quyết tốt. Nhiều bài viết , thông tin, phát biểu đã định hướng nhân dân ta về mối quan hệ nồng thắm giữa hai đất nước anh em, nghĩa tình sâu đậm. Mặc dù còn đôi chút bất đồng, mâu thuẫn nhỏ trên biển Đông, nhưng cơ bản thì tư tưởng đại bộ phận dân chúng đã được thuyết phục rằng Trung Việt như anh em một nhà.

Về văn hoá nhờ sự nỗ lực phổ cập rộng rãi phim ảnh, sách báo TQ trong nhiều năm qua. Kết quả khá mỹ mãn, đại đa số nhân dân đều hiểu biết sâu sắc văn hoá Khổng Tử, lịch sử, các nhân vật kiệt xuất Trung Quốc.

Về tôn giáo, nhiều chùa chiền đã được xây dựng với kiến trúc Trung Hoa và các sư sãi được gửi đi học tập tại Trung Quốc rất nhiều, họ đã nắm được những vị trí chủ chốt trong giáo hội Phật Giáo VN và không ngừng đưa Phật Giáo Vn hoà nhập với Phật giáo Trung Hoa.

Về kinh tế, mọi hàng hoá, nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị sản xuất, đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhà thầu của TQ đã chiếm lĩnh gần trọn thị trường kinh tế VN. Người dân Vn đã hoàn toàn quen thuộc với hàng hoá TQ cũng như cung cách làm việc kiểu TQ tại các nhà máy, khu công nghiệp, khi kinh doanh.

Về quốc phòng hai bên đã gắn bó mật thiết, nhiều cuộc trao đổi, họp tập diễn ra đều đặn.

Nếu việc sát nhập vào TQ để thành một tỉnh hoặc khu tự trị là có thật, thì các vấn đề trên đã chuẩn bị tốt, đề nghị biểu dương những ban , ngành, lãnh đạo đã thực hiện. Duy có điều về ngôn ngữ đến nay bộ giáo dục vẫn chưa đưa chương trình dạy tiếng Trung Quốc vào phổ cập trong nhà trường, điều này sẽ gây khó khăn cho nhân dân VN khi gia nhập đại gia đình dân tộc Trung Hoa.

Thắc mắc này là có tính xây dựng, nếu thoả hiệp Thành Đô là có thật. Xin Đảng và Chính Phủ có những biện pháp đồng bộ hơn nữa, cụ thể hơn nữa để giúp nhân dân ta hội tụ các điều kiệp hội nhập Trung Hoa. Đủ bản lĩnh để nắm bắt vận hội mới, thời cơ mới.

Còn nếu việc thoả hiệp là không có thật, xin sớm công bố toàn văn những văn kiện đã ký kết ở Thành Đô. Để nhân dân không thụ động trông chờ , tự lực cánh sinh tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam.

Chúc các vị có sức khoẻ dồi dào, để phục vụ Đảng được lâu dài.

FB Người Buôn Gió

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô tháng 9/ 1990 cho nhân dân biết

Posted by hoangtran204 on 07/08/2014

Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô cho nhân dân biết

3-8-2014

Nguyễn Tường Thụy: Bài viết của Đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, một người bạn thân thiết của anh em đấu tranh Hà Nội. Ông am hiểu nhiều nhưng luôn toát ra vẻ chân thành, khiêm tốn, bình dị. Gọi điện cho tôi, ông nhờ sửa lại cho ông lỗi chính tả, trình bày. Nhưng tôi để nguyên những gì ông viết.

(…)

Chụp ảnh lưu niệm tai Hội nghị Thành Đô 1990. Phạm Văn Đồng người đứng thứ ba từ bên trái, hàng đầu.

.

Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hai to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực : từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa-giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Cămpuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau :

- Từ sau Hội nghị Thành Đô,cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niêm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp? Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gac Ma của ta ở Trường Sa (1988) không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh,sinh viên và thanh niên ta?

- Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70năm?

- Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng,rất nhạy cảm về mặt an ninh-quốc phòng là Tây Nguyên( Ai kiểm soát Tây nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh-quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái-môi trường cũng như về hiệu quả kinh tế-xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo,nhân sỹ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị,Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!

-Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế-mua sắm-xây dựng) trong các dự án về KT-XH,đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thôngTQ(có phép và không phép)vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta,lừa đaỏ nông dân ta,lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?

- Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan HD.981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm ? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối,lên án TQ và đồng tình,ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn “vừa ăn cướp vừa la làng!” Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hang thông tấn chính thứcTân Hoa Xã, họ đưa ra ” 4 yêu sách VN không được làm” trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!
- v.v…

Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định,thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm,bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang,bán tín bán nghi,không biết đâu là hư,đâu là thực ! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt-Trung,đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.

Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN-TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi rất rõ: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân,phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân,chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.” Do vậy việc Lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt-Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm,cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước .

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới để duyệt xét mối quan hệ VN-TQ và đưa ra các quyết sách liên quan . Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành ! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mong lắm thay !

Hà Nội, 3/8/2014.

NĐQ.

FB Nguyễn Tường Thụy

 

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 1 Comment »

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

Posted by hoangtran204 on 30/10/2013

Mời các bạn đọc hai bài viết ngắn  Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô. 1990 trước khi đọc Những Sự Thật Cần Phải Biết để thấy rõ cái KHÔN LỎI của BCT và đảng csvn như thế nào.

Những chiêu bài như yêu nước, yêu dân tộc, giải phóng, độc lập, thống nhất, đổi mới, ‘Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông’… là nhưng cú lừa ngoạn mục như thời 1954-1990; họ biết rõ, chỉ một thời gian ngắn sau đó, mọi người quên hết. Như một blogger đã viết: Đi mà tin lời các ông cộng sản thì có nước THÁC. Tiếp tục độc quyền cai trị VN, gìn giữ uy tín, sự tồn tại  và các bí mật của đảng và nhà nước mới là quan trọng. Trung Quốc  bảo kê cho đảng CSVN tiếp tục nắm quyền cai trị, nắm giữ các bí mật về HCM, có trong tay các mật ước mà HCM, LD đã ký với Mao Trạch Đông 1950s, 1960s, và nắm giữ các bí mật ký kết trong Hội nghị Thành Đô 1990. 

Đọc bài này để thấy nước VN đã không may mắn vì bị CAI TRỊ bởi một bọn học lực kém cõi, đạo đức thấp kém, hành vi nhỏ nhen, nhưng sự tham lam tâm địa độc ác của chúng thì không ai qua nổi. 

Hiện nay, nhà nước cs đã gia tăng tuổi hưu trí lên 62 tuổi, điều này có khả năng là bộ tứ H, D, S, T có người sẽ ngồi thêm 1 nhiệm kỳ 5 năm nữa để kềm kẹp cho con cháu của họ nối ngôi.  

TIẾT LỘ TỪ WIKILEAKS: HỘI NGHỊ SÁP NHẬP VIỆT NAM VÀO CHINA  (post cuối bài này)

Bài mới: tháng 7 và tháng 8-2014:

Đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang (8/2014), Thiếu tướng Lê Duy Mật (7-2014) đã viết thư đòi hỏi BCH và Ban bí thuư Trung Ương đảng công bố chi tiết về các điều khoản mà đảng CSVN đã ký kết với TQ trong Hội nghị Thành Đô

Những sự thật cần phải biết (Phần 27):

Nguyễn Văn Linh – Một trong những ông trùm bán nước

Đặng Chí Hùng (Danlambao) -

 Nguyễn Văn Linh là người được đảng cộng sản che đậy bằng mỹ từ “Đổi mới” và “những việc cần làm ngay”. Nhưng cũng giống như Võ Văn Kiệt, chính Nguyễn Văn Linh là người tạo nên cái cũi màu đỏ để rồi lừa dối nhân dân là “phá cũi”. Và quan trọng hơn. Nguyễn Văn Linh là kẻ bán nước. Trong bài viết này sẽ cho thấy những điều đó là sự thật.

I. Nguyễn Văn Linh và “giải pháp đỏ”:

 
Nguyễn Văn Linh
Theo sách vở của cộng sản cho biết về tiểu sử Nguyễn Văn Linh như sau:
 
“Đồng chí Nguyễn Văn Linh, tên thật là Nguyễn Văn Cúc, sinh ngày 1-7-1915 trong một gia đình công chức tại Hà Nội, quê ở xã Giai Phạm, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
 
Sớm giác ngộ cách mạng, đồng chí đã tham gia Học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lãnh đạo, từ lúc 14 tuổi. Ngày 1-5-1930, khi rải truyền đơn chống đế quốc, đồng chí bị địch bắt, kết án tù chung thân và đày đi Côn Đảo.
 
Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí được trả tự do. Ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động trong công nhân lao động ở Hải Phòng, Hà Nội và được kết nạp vào đảng Cộng sản Đông Dương.
 
Năm 1939, đồng chí được đảng điều động vào công tác ở Sài Gòn, tham gia Ban Chấp hành đảng bộ thành phố. Cuối năm 1939, đồng chí được Trung ương cử ra miền Trung công tác nhằm lập lại Xứ ủy Trung Kỳ.
 
Đầu năm 1941, đồng chí bị địch bắt ở Vinh, chúng đưa về Sài Gòn xử án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.
 
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được đón về Nam Bộ hoạt động ở miền Tây, sau đó lên Sài Gòn – Chợ Lớn trực tiếp lãnh đạo kháng chiến với các chức vụ Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định.
 
Năm 1947, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Xứ ủy Nam Bộ, năm 1949, đồng chí tham gia Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.
 
Từ năm 1957 đến năm 1960, đồng chí là quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.
 
Tháng 9-1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương chỉ định làm Bí thư Trung ương Cục và sau đó là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam.
 
Năm 1976, đồng chí được cử làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của đảng (12-1976), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng.
 
Từ tháng 4-1977, đồng chí thôi giữ chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh để giữ các chức vụ Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận – Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Từ cuối năm 1980 đến cuối năm 1981, đồng chí được phân công theo dõi thực hiện nghị quyết của đảng và Chính phủ ở các tỉnh miền Nam.
 
Tháng 12-1981, đồng chí được phân công trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cho đến tháng 6-1986.
 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của đảng (3-1982), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6-1985, tại Hội nghị Trung ương 8, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.
 
Tháng 6-1986, đồng chí được bầu vào Ban Bí thư Trung ương đảng và được phân công làm Thường trực Ban Bí thư.
 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của đảng (12-1986), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được Trung ương bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
Tháng 6-1987, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VIII.
 
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) và lần thứ VIII (6-1996) của đảng, đồng chí được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương đảng.
 
Đồng chí từ trần ngày 27-4-1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một nhà lãnh đạo kiên định và sáng tạo của đảng và cách mạng Việt Nam. Là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng ầu tiên của thời kỳ đổi mới, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có nhiều đóng góp quan trọng, cùng Trung ương đảng triển khai và đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, làm xoay chuyển tình thế, đưa đất nước tiếp tục tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa.” [1]
Cũng giống như rất nhiều lãnh đạo cộng sản khác, trong phần lý lịch không có phần học vấn lúc ban đầu tương tự như Đỗ Mười, Nguyễn Tấn Dũng vv… Nguyễn Văn Linh cũng không là ngoại lệ.

Theo thông tin lề đảng về lý lịch, thì Ngày 1-5-1930, Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo, tức là năm Linh 14 tuổi. Có một điều cần phải nhớ là điều luật của nước Pháp không xử tù tuổi vị thành niên. Ví dụ như trường hợp ông Nguyễn Hữu Đang, sinh năm 1913, hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, bị bắt 1930, năm 1931, khi ra tòa đã 17 tuổi, vẫn được tha bổng vì còn vị thành niên. Nguyễn Văn Linh khi ra tòa mới 14 tuổi 10 tháng, mà bị xử tù chung thân là một điều cần phải xem xét lại vì cộng sản vốn khai man lý lịch.

 

Nguyễn Văn Linh đến thăm một xí nghiệp

Năm 1976, Nguyễn Văn Linh lại được làm Bí thư Thành ủy thành phố Sài Gòn (Nay đã bị đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh), Võ Văn Kiệt làm Phó bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban nhận dân thành phố. Chưa đầy một năm, ngày 20 – 12-1976, tại Đại hội đảng Toàn quốc lần thứ IV, Nguyễn Văn Linh được bầu tiếp vào Ủy viên Trung ương đảng, Ủy viên Bộ chính trị, và Ban bí thư Trung ương, nhưng phải nhường chức Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh cho ông Võ Văn Kiệt, Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị.

Nguyễn Văn Linh được phân công làm Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa, Trưởng ban Dân vận Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, và Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt Nam. Ba cái ghế ấy không thể so sánh với cái ghế Bí thư Thành ủy Sài Gòn.

Nhưng tất cả tội lỗi của Nguyễn Văn Linh bắt đầu từ việc xác quyết trong hội nghị Thành Đô, Trung Cộng từ 3 đến 5 tháng 9-1990.

Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao rồi giới trí thức ở Việt Nam đã chuyền tay nhau tập hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao. Tập hồi ký 82 trang (khổ A4, viết xong lần thứ nhất năm 2001, hoàn thành tháng 5-2003) chưa được xuất bản công khai (Hồi Ký Trần Quang Cơ  ). Với nội dung phong phú, chính xác và trung thực, tác giả cung cấp những thông tin quý hiếm về những vấn đề Việt Nam đương đại.

Tác giả làm việc ở Bộ ngoại giao từ năm 1954. Năm 1968 ông tham gia Hội nghị Paris (1968-1973), cuộc đàm phán về bình thường hóa quan hệ với Mỹ (1975-1978) và các cuộc thương lượng giải quyết vấn đề Campuchia (thập niên 80-90 thé ký 20).

Năm 1991, được đề nghị làm Bộ trưởng Ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch, ông viện lý do “sức khỏe” để từ chối. Cuối năm 1993, ông xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng. [2]

 

Nguồn  Hồi Ký Trần Quang Cơ  

http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co

 

Theo ông Trần Quang Cơ, ngày 29-8-1990, đại sứ Trung Cộng Trương Đức Duy, gặp Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, chuyển thông điệp của Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc, và Lý Bằng, Thủ tướng Chính phủ Trung Quốc, mời Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung cộng ngày 30-9-1990 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ hai nước.

Trương Đức Duy nói mập mờ rằng, Đặng Tiểu Bình có thể gặp Phạm Văn Đồng, và lấy cớ Bắc Kinh đang tổ chứ Á vận hội ASIAD, sợ lộ bí mật nên phải gặp nhau ở Thành Đô.

Đây là chuyện rất đột ngột, bởi mới 5 ngày trước, Trung Cộng khăng khăng không muốn bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước. Theo Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng ngoại giao nhận định: “Sự thay đổi đột ngột của Trung Cộng là do họ cần thực hiện 4 hiện đại hóa, nhưng bị Mỹ, Nhật, Liên Xô và các nước cấm vận sau vụ đàn áp Thiên An Môn, nên phải tìm cách thoát ra. Bên cạnh đó, Trung Cộng thấy Mỹ, Nhật, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với Việt Nam, nên muốn phá ta”.

Nhưng quan điểm của Nguyễn Văn Linh lại khác. Ông ta triệu tập họp Bộ chính trị và cho ý kiến:Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!

(chú ý: Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngoại giao hiện nay, là con của Nguyễn Cơ Thạch; Phó Thủ tướng Nguyễn Thị Kim Ngân là con của Nguyễn Văn Linh)

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu (1989-1990), đặc biệt là Rumani mà Nguyễn Văn Linh vừa thăm, đã tác động rất lớn tới ông ta, làm cho Nguyễn Văn Linh quyết định đi theo Trung công – kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công, Trần Xuân Bách can ngăn, nhưng Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: Hợp tác với Trung Quốc, bảo vệ XHCN chống đế quốc!”.

Nguyễn Văn Linh đã bị ám ảnh bởi cái gọi là “Diễn biến hòa bình” và say mê mật ngọt của Trung Cộng “16 chữ vàng”, “4 tốt” tại Hội nghị Thành Đô. Quan điểm theo Tàu của Nguyễn Văn Linh được Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng. . . ủng hộ.

Và thế là, ngày 2-9-1990, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45 năm, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô, với sự tháp tùng của Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao. Nguyễn Văn Linh không cho Nguyễn Cơ Thạch đi, vì Nguyễn Cơ Thạch không đồng quan điểm, Trung Quốc không thích Nguyễn Cơ Thạch.

Vấn đề Campuchia, Trung Cộng vẫn giữ thái độ như ngày 24-8-1990, đòi cấu trúc thành phần chính phủ hòa hợp dân tộc Campuchia theo công thức: 6+2+2+2+1 (6 người phe chính phủ Hun sen, 2 người phe Khmer đỏ, 2 người phe Hoàng gia, 2 người phe đảng dân chủ, và Sihanouk). Điều này hoàn toàn trái với công thức: 6 2 +2 +2 mà Hun Sen và Sihanouk đã thỏa thuận tại Tokyo.

Ông Trần Quang Cơ viết: “Hội nghị Thành Đô có 8 điểm, hai điểm về quốc tế, 5 điểm về Campuchia, chỉ có một điểm về Việt Nam. Nguyễn Văn Linh nêu ‘Giải pháp Đỏ’, Trung Quốc hoan nghênh nhưng không mặn mà !”.

Cái gọi là “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh là Kéo Trung Quốc lại, thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa!”. Nguyễn Văn Linh mê muội phe chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, quên quyền lợi và danh dự của dân tộc mình để đến nỗi Việt Nam chúng ta ngày nay đang đi theo vết xe đổ của việc mất nước.

Khi Trung Quốc đưa công thức 6+2+2+2+2+1 ra, Phạm Văn Đồng nhắc Nguyễn Văn Linh thận trọng. Phía Trung Cộng liền mời Phạm Văn Đồng ra chỗ khác để Nguyễn Văn Linh ký. Phạm Văn Đồng đã thấy nguy, nhắc Nguyễn Văn Linh sửa sai, nhưng Nguyễn Văn Linh nói: “Không sao đâu!”.

Cũng theo Trần Quang Cơ thì: “Từ Thành Đô về, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh sang Campuchia gặp Hengsomrin và Hunsen trao đổi về Hội nghị Thành Đô, họ không chấp nhận công thức ấy và nói thẳng Việt Nam, Trung Quốc không có quyền can thiệp vào Campuchia. Xương máu của hàng ngàn cán bộ chiến sĩ quân đội ta đổ trên chiến trường Campuchia đã bị Nguyễn Văn Linh bán rẻ cho Trung Quốc!”

Trung Cộng nói giữ bí mật Hội nghị Thành Đô nhưng chính họ thông báo cho thế giới biết toàn bộ nội dung cuộc “họp bí mật” đó. Tờ Bangkok Post và tờ Tạp chí kinh tế Viễn Đông, ngày 4-10-1990, đăng bài bình luận “Củ cà rốt và chiếc gậy” nói Việt Nam đã nhượng bộ nhiều hơn làm vừa lòng Trung Cộng.

Nguyễn Văn Linh đã thất bại trong sách lược “Giải pháp Đỏ”, bị Trung Cộng kéo ra khỏi các mối quan hệ với phương Tây với nhiều  hướng tốt đẹp cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, chỉ vì nghe Trung Quốc xúi cho bùi tai là làm thành trì bảo vệ Xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác Nguyễn Văn Linh đã bán nước

Theo ông Trần Quang Cơ: “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải pháp Đỏ”.

Nguyễn Cơ Thạch nói: Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước phương tây, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta!”

Theo quan điểm gọi là “giải pháp đỏ” thì Nguyễn Văn Linh khẳng định: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và theo quan điểm của Nguyễn Văn Linh thì: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.

Từ Hội nghị Thành Đô trở về hình như Nguyễn Văn Linh là một con người khác. Ngày 28-9-1990, tuyên bố chấm dứt “Những việc cần làm ngay”. Nguyễn Văn Linh đã chỉ đạo Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Đỗ Mười đánh dập vùi Trần Xuân Bách, một người được coi là có trí tuệ và có tư tưởng tiến bộ lúc đó. [3]

Để thấy rõ hơn vai trò của Nguyễn Văn Linh và đồng bọn dưới cái tên “Giải pháp đỏ” mà sau này chúng ta nhận ra đó là một trò mèo bán nước không hơn không kém.

Trong một bài viết ca ngợi Nguyễn Văn Linh trên báo đảng. Các quan chức cộng sản thi nhau bốc thơm Nguyễn Văn Linh: “Đại tướng Lê Văn Dũng, đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước trình bày tham luận nhấn mạnh: Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của đồng chí Nguyễn Văn Linh với đảng và dân tộc là rất to lớn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã trải qua nhiều cương vị khác nhau ở địa phương và cơ quan Trung ương, dù ở đâu và làm việc gì đồng chí cũng đem hết sức lực, trí tuệ để cống hiến cho đảng và nhân dân; đặt lợi ích của Cách mạng lên trên lợi ích cá nhân; luôn trau dồi kiến thức và lắng nghe ý kiến đồng bào, đồng chí; quan tâm tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ và góp phần xây dựng các quan điểm, đường lối của Đảng.

GS. TS Lê Hữu Nghĩa phát biểu đề dẫn hội thảo khẳng định: Đồng chí Nguyễn Văn Linh là “người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đảng viên cộng sản rất mực kiên cường, trung thành, tận tụy, suốt đời chiến đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, một người lãnh đạo uy tín lớn của đảng, nhân dân và quân đội ta, người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế”. [4]

Nhưng có một sự thật không thể khỏa lấp đó là: Ai được đảng ca ngợi là “học trò xuất sắc” của Hồ Chí Minh và “Kiên định theo đường lối đảng” thì dứt khoát đó là những kẻ bán nước. Và đó chính là sự thật sẽ được chứng minh dưới đây

II. Tội đồ bán nước:

Lịch sử đã cho thấy Nguyễn Văn Linh chính là một kẻ có chủ trương bán nước và làm nô lệ cho Tàu theo con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Điều đó là hoàn toàn không thể chối bỏ. Ngày nay nhiều tài liệu được bạch hóa đã chỉ ra điều đó. Và những sự thật đó sẽ được gửi tới bạn đọc ngay dưới đây.

Trước đó, xin quý bạn đọc tìm đọc lại “Những sự thật cần phải biết” – Phần 23 để thấy rõ đường dây và tiến trình bán nước của cộng sản gồm: Phiêu, Linh, Khải, Kiệt, Mười, Mạnh vv… Ở đây chỉ xin tóm tắt một số sự kiện chính để thấy rõ bộ mặt bán nước của Nguyễn Văn Linh.

Thứ nhất, Hãy đọc những đoạn “hồi ký” của đại sứ Trung cộng Trương Đức Duy tại Hà Nội cùng thời điểm với vụ bán nước của Nguyễn Văn Linh và đồng bọn để thấy dã tâm của cộng sản Việt Nam (Bản tiếng Việt của dịch giả Quốc Thanh)

Trước hết là những cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Anh với đại sứ Tầu Trương Đức Duy và giữa TBT Nguyễn Văn Linh với Trương Đức Duy do chính sứ Tầu viết. Trong hồi ký còn có những tên Việt gian dắt mối nguy hiểm như Thiếu Tướng Vũ Xuân Vinh, cục trưởng cục đối ngoại Bộ quốc phòng (sau này được phong Trung Tướng), và Hoàng Nhật Tân con trai Hoàng Văn Hoan. Dấu mốc thời điểm này, Trương Đức Duy viết: 

“Tháng 4 năm 1989, tôi nhận nhiệm vụ làm Đại sứ tại Việt Nam, gánh trên vai một sứ mệnh quan trọng, đó là quán triệt phương châm mà Trung ương đã định ra là: Trước hết, Việt Nam phải thực sự rút sạch quân ra khỏi Campuchia, thực sự giải quyết công bằng vấn đề Campuchia theo chủ trương của cộng đồng quốc tế, thực sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc, thì mới có thể gạt bỏ được mọi trở ngại mà khôi phục lại mối quan hệ bình thường Trung-Việt, đây chính là then chốt….

Cần thấy rằng, điều kiện lúc này đã cơ bản đầy đủ. Nhưng, qua một thời gian tìm tòi và làm việc kể từ khi tới nhậm chức, tôi cảm thấy muốn giải quyết được hai vấn đề đại sự này vẫn còn những khó khăn không nhỏ, nguyên nhân là do tàn dư thế lực của Lê Duẩn vẫn còn gây quấy nhiễu từ nhiều phía, mối quan hệ Trung-Việt vẫn còn ở trạng thái đối lập và đối kháng, tranh chấp biên giới vẫn còn xảy ra đôi lúc; giữa hai nước ngoài quan hệ ngoại giao ra, mọi mối quan hệ khác đều đã bị đoạn tuyệt…

Song, vũ đài ngoại giao rất rộng lớn, tôi đã mở hoạt động bằng nhiều phương thức, tận dụng hết những mối quan hệ cũ, tới thăm khắp những người lãnh đạo các cấp các ngành để làm việc xoay quanh các vấn đề nói trên. Trải qua bao nỗ lực, tuy cũng có được một vài tiến triển, nhưng Nguyễn Cơ Thạch khi ấy là Ủy viên Bộ chính trị Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao lại đang nắm đại quyền ngoại giao của Việt Nam. Tôi đã nhiều lần bàn bạc trao đổi với ông ta về vấn đề Campuchia nhưng không bao giờ tới nơi, vấn đề mấu chốt vẫn chưa giải quyết được. Thời gian đã trôi qua 1 năm, làm thế nào bấy giờ? Lúc này tôi cân nhắc đến việc phải tìm cách thâm nhập chuyện trò với những người lãnh đạo cấp cao hơn bên phía Việt Nam. 

Vì thế, tôi nghĩ đến Nguyễn Văn Linh đang giữ chức Tổng bí thư Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, trong thời kì Đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam từng bí mật tới thăm Trung Quốc với tư cách là nhà lãnh đạo chủ yếu của Miền Nam Việt Nam, khi gặp mặt các nhà lãnh đạo Trung Quốc ở Bắc Kinh, tôi từng đảm nhận vai trò phiên dịch cho ông ta, ông ta chắc vẫn còn nhớ tôi, thế là tôi bày tỏ ý muốn được tới thăm ông thông qua bạn bè.

Quả nhiên không lâu sau, Nguyễn Văn Linh đã tiếp tôi vào ngày 5 tháng 6 năm 1990. Khi gặp mặt, ông bắt tay tôi rất lâu và nhiệt tình, tỏ ra hết sức thân thiết. Tự đáy lòng, ông vẫn nhớ mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước hai đảng trong quá khứ, đồng thời bày tỏ hết sức trân trọng mối tình hữu nghị tốt đẹp Việt-Trung, hi vọng mối quan hệ này sẽ được khôi phục trong thời gian sớm nhất…”

Trương Đức Duy viết tiếp: “Nguyễn Văn Linh nói, ông cũng có nguyện vọng giống như lãnh đạo Trung Quốc, đồng thời bày tỏ nguyện vọng được đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ, để đích thân trao đổi trực tiếp với lãnh đạo cấp cao Trung Quốc về những vấn đề cùng quan tâm. Ở lần gặp mặt này, vì có nhiều người đi theo cùng có mặt, nên Nguyễn Văn Linh chưa bàn sâu đến vấn đề Campuchia và quan hệ giữa hai nước. Nhưng sau đó, mọi việc đã có bước tiến triển mới….

Tối ngày 13 tháng 8, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cho xe tới đón tôi đến nhà ông nói chuyện một tiếng đồng hồ, hỏi thăm kỹ lưỡng về tình hình sinh hoạt và sức khỏe của bố tôi, hết sức thân thiết. Tổng bí thư còn nói, ông muốn được gặp Đại sứ Trương lần nữa, nhưng Bộ ngoại giao nói chưa cần và đã ngăn lại. Vì thế, ông ấy nhờ tôi ghi lại một lời nhắn. Khi Tổng bí thư nói, tôi đã ghi lại hết sức tường tận. Cuối cùng còn đọc lại một lượt và đã được sự xác nhận của ông ấy”. 

Sau đó, Hoàng Nhật Tân trịnh trọng chuyển cho tôi lời nhắn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, nội dung chủ yếu như sau: 

“Tháng 10 năm ngoái, đồng chí Khải Sơn đã chuyển đến tôi lời thăm hỏi của đồng chí Đặng Tiểu Bình và lòng mong mỏi sớm được thấy sự bình thường hóa mối quan hệ Trung-Việt của đồng chí Đặng Tiểu Bình, tôi nghe thấy rất phấn khởi. Tôi cũng tha thiết mong mỏi mối quan hệ tốt đẹp Việt-Trung có thể được khôi phục trong nhiệm kì Trung ương khóa 6 đảng cộng sản Việt Nam do tôi chủ trì, để mở đầu một giai đoạn mới cho quan hệ hai nước khi tiến hành Đại hội 7 của đảng cộng sản Việt Nam…

Tôi muốn nói một cách thẳng thắn rằng, sở dĩ trở ngại về vấn đề Campuchia cứ bị kéo dài chưa được giải quyết là vì có những người trong đảng luôn làm sai lệch sự việc, chưa quán triệt được tinh thần chủ yếu của Trung ương. Tôi hi vọng phía Trung Quốc cho mời tôi và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười cùng Cố vấn Phạm Văn Đồng tới thăm Trung Quốc theo con đường nội bộ, để trao đổi trực tiếp và sâu hơn với lãnh đạo Trung Quốc về việc giải quyết vấn đề Campuchia…, tin rằng những vấn đề này nhất định sẽ được giải quyết thật tốt, từ đó mà thực hiện được bình thường hóa quan hệ hai nước Việt-Trung.

Tôi sẽ đi theo con đường của Hồ Chủ tịch, vun đắp tình hữu nghị. Sau khi đã chăm chú nghe lại lời nhắn từ Nguyễn Văn Linh, tôi nói với Hoàng Nhật Tân: ”Tình hữu nghị Việt-Trung tốt đẹp, bảo vệ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và những lợi ích cách mạng chung giữa hai nước Việt-Trung, sẽ đi tiếp một cách kiên định không lay chuyển. Nếu có cơ hội, nhờ anh chuyển lời lại cho đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh rằng tôi hiểu được ý tứ và nỗi lòng của ông ấy, tôi sẽ báo cáo ngay với Trung ương chúng tôi. Tiễn chân Hoàng Nhật Tân xong, tôi quay về phòng làm việc suy nghĩ mãi về một vấn đề. Ngày 5 tháng 6, tôi từng báo cáo về trong nước là khi Nguyễn Văn Linh gặp tôi có đề xuất yêu cầu được đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ.”

Thứ hai, Để vấn đề được minh bạch sáng tỏ, hãy tiếp tục đọc cuốn “Hồi ký Trần Quang Cơ” (ở đây) của ông Trần Quang Cơ, nhân chứng lịch sử giữ vai trò quan trọng trong Bộ Ngoại Giao của cộng sản Hà Nội vào thời điểm đó. Về vai trò làm đầu sai trong việc đưa nước ta vào tròng ách nô lệ giặc phương Bắc của Nguyễn Văn Linh, Ông Trần Quang Cơ viết:

“Ngày 5. 6. 90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương đảng ói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói: “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. . . chúng âm mưu diễn biến hoà bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội. . . Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin.”

Ngoài ra Trần Quang Cơ còn cho biết rất rõ về “giải pháp đỏ” mà Nguyễn Văn Linh và đồng bọn đảng CSVN muốn làm nô lệ cho Trung cộng như sau (Lê Đức Anh là người dẫn mối cho Linh tiếp xúc với Duy):

Sáng 6. 6. 90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19. 6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11-13. 6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy.

Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6. 6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về “giải pháp Đỏ”: Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường… Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi…”

Thứ ba, cũng vẫn là hồi ký của sứ Tầu Trương Đức Duy tại Việt Nam. Nhưng lần này chính Lê Đức Anh cũng đã xác định tư tưởng bán nước của mình và Linh với Trương Đức Duy. Hãy chú ý lắng nghe đoạn sau: ” Sau đó tôi nhắc đến lời nhắn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được ghi lại gửi cho tôi, tôi cảm thấy hết sức quan trọng, cho nên mong được gặp riêng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh để trực tiếp lắng nghe ý kiến của Tổng bí thư, đồng thời tôi cũng có một vài điều nữa cần nói với Tổng bí thư.

Tôi nói, hiện giờ mà thông qua con đường khác sẽ có khó khăn, cho nên xin phiền đồng chí Đại tướng giúp cho. Lê Đức Anh nói rất thoải mái:

“Đây quả thực là việc hết sức quan trọng, hôm nay tôi sẽ báo cáo lại yêu cầu của Đại sứ với Tổng bí thư”.

Tiếp đó, Lê Đức Anh cũng nói về hai quan điểm, đại ý là:

Thứ nhất, nhấn mạnh Nguyễn Văn Linh rất có tình cảm với Trung Quốc, luôn chủ trương thân thiện với Trung Quốc, từ sau khi nhậm chức Tổng bí thư vào năm 1986 đã làm rất nhiều việc để khôi phục lại mối quan hệ giữa hai nước hai Đảng. Trước tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước lại càng trở thành niềm mong muốn ấp ủ của ông ấy”

Về diễn tiến cuộc gặp đại sứ Trương Đức Duy với Nguyễn Văn Linh và đồng bọn thì Trương Đức Duy đã thuật lại như sau: “Chiều hôm đó, Cục trưởng Vũ Xuân Vinh hẹn gặp gấp Tùy viên quân sự Triệu, nói rằng: Theo chỉ thị của Đại tướng Lê Đức Anh, xin chuyển lời tới Đại sứ Trương. Vào 19 giờ 30 phút ngày 22, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ gặp riêng Đại sứ Trương tại phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Cả hai bên đều không đem theo phiên dịch và thư ký. Đề nghị Đại sứ Trương đổi sang một chiếc xe nhỏ, không cắm quốc kỳ, đi vào từ cửa bên Bộ quốc phòng…

Mọi sự được tiến hành thuận lợi hơn dự kiến. Tối đó, tôi theo hẹn đúng giờ đến Bộ quốc phòng. Trong cuộc gặp hơn 40 phút, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói chuyện với tôi hết sức thân mật và thẳng thắn, ông đã chứng thực cho lời nhắn mà Hoàng Nhật Tân đã ghi lại.

Nguyễn Văn Linh còn nói đến cả chuyện khi lên làm Tổng bí thư vào năm 1986, ông liền quyết tâm khắc phục mọi trở lực, từng bước chỉnh sửa những sai lầm trong quá khứ, khôi phục lại tình thân thiện với Trung Quốc như sửa đổi lời đầu trong Hiến pháp, đồng thời sửa đổi những chính sách sai lầm đối với người Hoa và Hoa kiều. Sau đó, lại làm công tác từ các phương diện, để rồi cuối cùng đã ra được quyết định rút quân khỏi Campuchia.

Nguyễn Văn Linh còn nói một cách sâu sắc rằng:

Cả Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đều không còn nữa, khi nào cùng với các đồng chí Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ, ông mong sẽ được gặp đồng chí Đặng Tiểu Bình, được đích thân lắng nghe mọi ý kiến và kinh nghiệm từ đồng chí ấy.

Tôi nghe hết sức chăm chú từng chi tiết buổi nói chuyện của Nguyễn Văn Linh, đồng thời ghi lại những nội dung quan trọng mà ông đã nói. Cuối cùng tôi đã bày tỏ rằng vô cùng cảm động khi được nghe buổi nói chuyện hết sức thân mật của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhất định sẽ báo cáo ngay lại với Trung ương chúng tôi về những ý kiến và yêu cầu của đồng chí Tổng bí thư”

Về chuyến đi Thành Đô của Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng họ Trương viết:“Chiều này 28 tháng 8, sứ quán chúng tôi nhận được điện trả lời từ trong nước về việc đồng ý mời các vị lãnh đạo Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9.

Làm sao trực tiếp nói với riêng Nguyễn Văn Linh về quyết định quan trọng này của Trung ương bây giờ? Lúc này thời gian đã rất gấp, chỉ còn cách ngày lên đường đi Trung Quốc của đoàn Nguyễn Văn Linh có 5 ngày.

Thế là tôi liền quyết định vẫn thông qua kênh Bộ quốc phòng Việt Nam, như thế là nhanh chóng và ổn thỏa nhất. Không cho phép được chậm trễ một giây, tôi bảo ngay Tùy viên quân sự Triệu lập tức hẹn gặp Cục trưởng Cục đối ngoại Vũ Xuân Vinh.

Thật là không may, Vũ Xuân Vinh đi Hải Phòng mất rồi, ngày hôm sau mới về Hà Nội. Tùy viên quân sự Triệu nhanh chóng quyết định lập tức đổi sang hẹn với trung tá Vũ Tần Vụ trưởng của Cục đối ngoại. Sau đó anh ta báo lại với tôi, tôi nói anh làm rất đúng, phải hết sức tranh thủ thời gian.

Vào 9 giờ tối hôm đó, Tùy viên quân sự Triệu vừa gặp mặt trung tá Vũ Tần đã nói thẳng vào vấn đề luôn rằng Đại sứ Trương có việc hết sức gấp và quan trọng, mong được gặp ngay Đại tướng Lê Đức Anh, xin đồng chí trung tá giúp bố trí cho.

Vũ Tần bảo Đại tướng tối nay tham dự Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương khóa 9 đảng cộng sản Việt Nam, không biết lúc nào tan. Tôi sẽ đến ngay nhà ông ta xem sao. Khi Đại tướng định giờ gặp một cái là tôi sẽ gọi ngay điện thoại báo cho anh biết. Tùy viên quân sự Triệu vừa về tới sứ quán chưa được bao lâu đã nhận ngay được trả lời điện thoại của Vũ Tần: “Đúng 8 giờ sáng mai Đại tướng sẽ gặp Đại sứ Trương, địa điểm vẫn ở chỗ cũ”.

Sáng ngày 29, tôi đến phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng đúng giờ.

Khi gặp mặt, Đại tướng Lê Đức Anh nói một cách dí dỏm: “Trông bộ dạng Đại sứ Trương vui thế kia, chắc là đem tin tốt lành đến cho chúng tôi rồi”. Tôi nói: “Chiều tối qua, tôi nhận được chỉ thị quan trọng của Trung ương. Cho nên, hôm nay vừa mới sáng ra đã lại tới làm phiền anh rồi”.

Tiếp đó, tôi thông báo lại với Đại tướng Lê Đức Anh việc Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ, xin Lê Đức Anh chuyển lời mời đồng thời bố trí cho tôi được gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh một lần nữa, để trả lời trực tiếp với đồng chí ấy.

Lê Đức Anh bày tỏ: Đây quả thực là một tin tốt lành, tôi nghe mà cảm thấy rất phấn khởi. Xin đồng chí Đại sứ cứ yên tâm, tôi sẽ báo cáo ngay với Tổng bí thư. Chuyến đi thăm lần này hết sức quan trọng, chúng tôi phải có những nỗ lực lớn nhất để chuyến đi thăm được thành công

Sau khi cáo từ Lê Đức Anh về sứ quán được khoảng hơn 1 tiếng, Trung tá Vũ Tần ở Bộ quốc phòng Việt Nam đã hẹn với Tùy viên quân sự Triệu rằng: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ cùng với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười gặp Đại sứ Trương vào 4 giờ chiều nay. Đại sứ có thể chính thức đề xuất yêu cầu được gặp mặt với Ban đối ngoại Trung ương cộng sản Việt Nam.

Tôi lập tức hẹn gặp luôn với Phó Ban đối ngoại đảng cộng sản Việt Nam Trịnh Ngọc Thái, nói rằng có chuyện gấp yêu cầu được tới thăm Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười, hi vọng anh ta sẽ báo cáo ngay. Một lúc sau, Vụ Lễ tân Ban đối ngoại Trung ương đảng cộng sản Việt Nam liền thông báo cho sứ quán tôi: Theo yêu cầu của Đại sứ Trương Đức Duy, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười sẽ gặp Đại sứ Trương Đức Duy vào 4 giờ chiều tại nhà khách Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

Vào 3 giờ 55 phút chiều, tôi ngồi trên chiếc xe có cắm quốc kỳ tới cổng tòa nhà Trung ương đảng cộng sản Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Lễ tân Ban đối ngoại Trung ương đảng cộng sản Việt Nam Phạm Quang Anh dẫn tôi vào nhà khách, lúc này Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười đã có mặt, họ đều lần lượt bắt tay và ôm tôi rất thịnh tình.

Theo đề nghị từ phía Việt Nam, lần này vẫn không bố trí phiên dịch, thư ký và người đi cùng. Trước hết tôi cảm ơn hai vị đã dành thời gian đón tiếp tôi trong muôn vàn bận rộn.

Nguyễn Văn Linh nói: Theo báo cáo từ Ban đối ngoại Trung ương, đồng chí Đại sứ có việc gấp cần trao đổi với chúng tôi, chúng tôi rất vui được gặp anh.

Tôi nói: Chiều tối qua, tôi có nhận được chỉ thị từ trong nước, yêu cầu tôi nhanh chóng chính thức chuyển ý kiến của Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời các đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9. Để tiện cho việc bảo mật, sẽ bố trí địa điểm ở Thành Đô.

Sau đó, tôi lấy văn bản từ trong cặp ra đọc rành rọt từng chữ tờ đính kèm đánh máy bằng tiếng Việt rõ ràng. Đồng chí Nguyễn Văn Linh còn đòi tôi đưa cho tờ đính kèm ấy, đọc xong rồi chuyển cho đồng chí Đỗ Mười xem.

Hai vị Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười bàn bạc ngay tại chỗ xong, Nguyễn Văn Linh bày tỏ: Tôi và Chủ tịch Đỗ Mười rất phấn khởi, rất hoan nghênh, rất cảm ơn lời mời của Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng. Chúng tôi hết sức vui mừng khi nhận được lời mời, đồng ý với sự bố trí thời gian, địa điểm và những việc có liên quan do phía Trung Quốc đề xuất. Chúng tôi sẽ báo cáo ngay lên Bộ chính trị, nhanh chóng xác định danh sách đoàn đại biểu và bắt tay vào công tác chuẩn bị, thậm chí ngay cả đồng chí Phạm Văn Đồng, nếu như tình trạng sức khỏe cho phép, cũng nhất định sẽ tiếp nhận chuyến đi thăm theo lời mời này

Cuộc gặp mặt được diễn ra hơn nửa giờ trong bầu không khí thân mật, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh còn đề xuất một lần nữa nguyện vọng được gặp đồng chí Đặng Tiểu Bình, được đích thân lắng nghe những ý kiến và kinh nghiệm quý báu từ đồng chí ấy.

Ngày 9-1990 tại Thành Đô, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng tiến hành hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, bàn về vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước, sau hội đàm đã cùng chụp ảnh lưu niệm, nhưng thực chất là bán nước.

 

Hình ảnh tại hội nghị bán nước 1990

 

Thứ tư, Lý Bằng – cựu thủ tướng Trung Cộng có tập Nhật ký đối ngoại (Lý Bằng ngoại sự nhật ký) có ghi chép diễn tiến của Hội nghị bán nước của Nguyễn Văn Linh và đồng bọn. Xin trích một đoạn như sau: “Ngày 6/6/1990- Thứ tư. Trời quang tạnh. 

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh hội kiến với Đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn hy vọng thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, hai Đảng.

Ngày 26/8- Chủ nhật. Trời mưa u ám.

Về chuyến đi của TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh và những người cùng đi đến Trung Quốc viếng thăm nội bộ, tôi đã hội báo với đồng chí Đặng Tiểu Bình. Xét vì Á vận hội sắp khai mạc ở Bắc Kinh, mà lần gặp này liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước Việt Trung là sự việc trọng đại, để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm quyết định bố trí ở Thành Đô.

Ngày 30/8-Thứ năm. Trời quang tạnh.

Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đi Thành Đô hội đàm nội bộ với TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch HĐBT VN Đỗ Mười, đã gửi lời mời đến phía Việt Nam. Hiện còn phải chờ xem phúc đáp của phía Việt Nam thế nào?

Ngày 2/9 -Chủ nhật. Trời quang tạnh.

Buổi chiều, 3 giờ 30 tôi lên chuyên cơ khởi hành từ sân bay ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Khoảng gần 6 giờ đến sân bay Thành Đô. Tôi đi ô tô mất khoảng 20 phút đến Khách sạn Kim Ngưu. Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tôi tại đó. Đồng chí Giang Trạch Dân đi một chuyên cơ khác, đến Thành Đô muộn hơn tôi 30 phút. Buổi tối từ 8 g30 đến 11g tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi ý kiến về phương châm hội đàm với phía Việt Nam ngày mai.

Ngày 3/9 Thứ hai. Thành Đô trời tạnh sáng.

Buổi sáng tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng đồng chí ấy tiếp tục nghiên cứu phương châm sẽ hội đàm với phía Việt Nam vào buổi chiều.

Khoảng gần 2g chiều, TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Cố vấn BCHTƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng đến khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đón tiếp họ ở sảnh tầng 1. Nguyễn Văn Linh mặc Âu phục màu cà phê, phần nào có phong độ như một học giả. Đỗ Mười thân thể tráng kiện, đầu tóc bạc trắng, vận âu phục xanh lam. Cả hai người đều vào khoảng 73-74 tuổi. Còn Phạm Văn Đồng cả hai mắt bị lòng trắng che, thị lực rất kém, mặc áo kiểu đại cán xanh lam, giống như một lão cán bộ Trung Quốc.

Buổi chiều, hội đàm bắt đầu. Nguyễn Văn Linh nói trước một thôi dài. Tuy nói nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, đồng thời nói việc thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là việc cấp thiết trước mắt, không nên loại bỏ bất cứ một bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra, vấn đề Campuchia Nguyễn Văn Linh chỉ muốn tỏ một thái độ về nguyên tắc mà đặt trọng điểm vào việc bình thường hóa quan hệ Trung Việt.

Hội đàm diễn tiến đến tận 8g tối. 8g30 mới chiêu đãi cơm tối. Trên bàn ăn tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại từng người làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh.

Ngày 4/9. Thứ ba. Trời âm u.

Buổi sáng chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Đến lúc đó những vấn đề hội nghị đề xuất có thể nói là đã đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, quyết định khởi thảo một bản Kỷ yếu của Hội nghị.

Buổi chiều, 2g30 tại sảnh tầng 1 khách sạn Kim Ngưu hai bên Trung Việt cử hành nghi thức ký kết chính thức. Hai bên riêng biệt do Tổng Bí thư và Thủ tướng ký. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử của quan hệ hai nước Trung Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân đương diện tặng các đồng chí Việt Nam một câu thơ:

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu”.

Qua đây chúng ta có thể thấy rõ âm mưu bán nước hơn nữa của Nguyễn Văn Linh và bè đảng cộng sản.

 

Bè lũ bán nước là đây :  TBT ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười, và Cố vấn BCHTƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng, Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao.

Thứ năm, Trong cuốn sách “Mao chủ tịch của tôi” của tác giả Hà Cẩn – Viện văn học Trung Quốc đã được giới thiệu trong “Những sự thật không thể chối bỏ” có đoạn viết: ” Việt Nam cuối cùng cũng đã xích lại gần hơn nữa với Trung Quốc. Những gì thuộc về quan hệ tốt đẹp của hai đảng từ thời Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch đã được tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn sau chiến tranh biên giới năm 1979. Không có gì có lợi hơn cho cả Việt Nam và Trung Quốc khi đứng cạnh nhau vv…” (trích “Mao chủ tịch của tôi” – Trang 198)

Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là Nguyễn Văn Linh đã thực hiện đúng mong muốn của Hồ và Mao: Biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung cộng mà chúng ta thấy đang ngày một hiện ra rõ hơn.

 

Nguyễn Văn Linh gặp Đại sứ Trương Đức Duy (5-6-1990)

 

III. Kết Luận:

 

Nguyễn Văn Linh và đồng đảng là một lũ bán nước tồi tệ. Những sử liệu của Trung cộng và cộng sản Việt Nam đã chứng minh điều đó. Cộng sản tất cả đều giống nhau là ngụy biện và bán nước. Những ai thật sự lương thiện đã không theo cộng sản hoặc biết cộng sản tồi tệ thì đã ly khai khỏi đảng. Cái cách mà Nguyễn Văn Linh mỵ dân bằng “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài của cộng sản: Xây nhà tù rồi khoét một lỗ nhỏ để đi từ nhà tù nọ sang nhà tù kia rồi gọi đó là “đột phá” và “đổi mới”. Chúng ta ngày nay không còn bị lừa dối bởi những điều đó. Vậy thì không có gì quý hơn là mỗi chúng ta hãy đem những sự thật này đến với nhân dân Việt Nam. Vì đó là con đường ngắn nhất để cứu nước trước thảm hỏa đang đến rất gần. Đừng mong đấu tranh cho dân chủ khi mà chưa có độc lập. Những mơ tưởng về đấu tranh dân chủ mà không lật đổ cộng sản đều là những mơ tưởng hão huyền mà thôi !

 

18/10/2013

Đặng Chí Hùng 

danlambaovn.blogspot.com

 

 Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô. 1990…Tại sao BCT đảng csvn đến Thành Đô.  Ng V Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười là chủ chốt, và vì quyền lợi cá nhân của tất cả ủy viên BCT, nên toàn thể đã biểu quyết cuộc gặp mặt ở Thành Đô

Đặng Chí Hùng, 30 tuổi, một thanh niên Miền Bắc  ở Hà Nội, xuất thân trong một gia đình CS nòi, đã viết loạt bài này. An ninh và công an VN đã truy lùng Đặng Chí Hùng và vây bắt anh ta như thế nào…

Về 3 Người Việt Vừa Bị Bắt Ở Thái Lan – Trần Hoàng Blog (20-12-2013)

Nhà báo tự do Đặng Chí Hùng được Cao Ủy Tị Nạn LHQ  (11-1-2014)

Nhà báo tự do Đặng Chí Hùng sẽ tị nạn chính trị tại Canada  (29-1-2014)

http://www.youtube.com/watch?v=um88_IUqQJA      ( Phỏng vấn Đặng Chí Hùng)

www.youtube.com/embed/ca0lRHCZM3U                         (ĐCH nói về Hiểm Họa Mất Nước)

Chú thích:

————–
CÁC BÀI LIÊN QUAN TỚI BÀI NẦY
Không thể bỏ qua các bài này:
—————————
TIẾT LỘ TỪ WIKILEAKS: HỘI NGHỊ SÁP NHẬP VIỆT NAM VÀO CHINA
Vu Pham, FB 3-6-2014

VIỆT NAM: TỈNH HAY KHU TỰ TRỊ ?


(Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật.)



Cái gì chờ đợi cũng đã đến, khi tổ chức Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt nam. Đó là biên bản họp kín giữa ông Nguyễn Văn Linh Tổng BT Đảng CSVN, ông Đỗ Mười Chủ tịch HĐBT đại diện cho phía Việt nam và ông Giang Trạch Dân Tổng BT và ông Lý Bằng Thủ tướng Chính phủ đại diện cho phía Trung quốc trong hai ngày 3-4/9/1990 tại Thành đô.

Thưa các đồng chí.
Trong mấy ngày qua, ta đã cùng nhau thảo luận nhiều vấn đề, đạt được đồng thuận về căn bản, tuy không khỏi có sự tranh biện về tiểu tiết. Khép lại, ta có thể hài lòng khẳng định hội nghị đã thắng lợi và thắng lợi lớn. Xin các đồng chí hoan hỉ cạn chén. Trong lời phát biểu kết thúc hội nghị, Lương Tư Lệnh nhấn mạnh: “Những gì được đưa ra bàn ở hội nghị chung quy chỉ là những điều đã được đề cập nhiều lần từ nhiều năm trong những cuộc gặp gỡ các cấp tham mưu và cả cao cấp.” Với tư cách Chính Ủy được đề cử ra chủ trì hội nghị tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết.Trước hết, hội nghị nhất trí cao về quan điểm không có và không hề có chuyện Trung Quốc thôn tính Việt Nam . Trung Quốc không có nhu cầu hôn tính nước nào. Các nước lân bang đều nghèo. Họ cần đến Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần đến họ. Những cái họ có đều ở dạng tiềm năng dưới đất hoặc ngoài biển. Không có Trung Quốc giúp đỡ thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn toàn lực cho phát triển kinh tế, mà Ðặng Tiểu Bình lãnh tụ đã vạch ra, mọi sự đèo bồng đều vô nghĩa. Chúng kiềm hãm bước tiến vĩ đại của Trung Quốc vĩ đại. Thế mà ở Việt Nam lại có những luồng dư luận như thế đấy. Nào là Trung Quốc bá quyền, nào là Trung Quốc bành trướng. Thối lắm, thưa các đồng chí, không ngửi được.

Bọn dân chủ ở Việt Nam đã hô hoán rầm rỉ rằng cuộc vạch lại biên cương giữa Trung Quốc và Việt Nam là tranh chấp biên giới. Trong khi đàm phán, tất nhiên có những điều hai bên phải nhân nhượng nhau. Có chỗ lồi ra, có chỗ lỏm vào, ở bên này hay bên kia. Nhưng, đó là kết quả của những thương thảo sòng phẳng, thuận mua vừa bán. Các đồng chí Việt Nam thấy chúng tôi nói thế, lại chỉ thanh minh mới chán. Như, Lê Thứ Trưởng (tức là ông Lê Công Phụng) trả lời phỏng vấn: “Thác Bản Giốc ta cứ tưởng là của ta, bạn cũng không bảo là của bạn. Ðo ra mới biết là của ta chỉ có một phần ba. Vì tình hữu nghị với ta, bạn cho ta hưởng một nửa.” Nói thế là tốt. Nhưng vẫn cứ là thanh minh.Việc gì mà phải là thanh minh cơ chứ? Với bọn phản động chuyên gây rối à? Cứ thẳng tay trấn áp, bịt cái miệng chó của chúng lại. Cứ lừng chừng, thiếu kiên quyết. Cứ hữu khuynh nhân nhượng. Nhân nhượng là chết đấy. Phải quét cho bằng sạch, không thương xót bọn dân chủ. Không cho chúng được đàng chân lên đàng đầu. Vùi chúng xuống đất đen, không cho chúng ngóc đầu dậy. Nhưng, cái đó sẽ không còn là vấn đề trong tương lai. Việc tiêu diệt bọn dân chủ dòi bọ sẽ không còn là việc của riêng các đồng chí Việt Nam. Nó sẽ là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta.

Thưa các đồng chí.

Hội nghị đã thành công là nhờ nó gạt được ra những chuyện lặt vặt vô bổ, đang là đề tài thời sự, để tập trung vào đại sự: bàn về chuyện hợp nhất hai quốc gia trong tương lai. Tương lai có thể chưa tới ngay, nhưng lại có thể rất gần. Vì thế, ta phải có viễn kiến và phải có sự chuẩn bị.

Hợp kết Trung Quốc Việt Nam có thể là một mốc lịch sử vĩ đại trên đường phát triển của tổ quốc. Với tư cách tham mưu cho cấp cao hai bên, trong hội nghị này chúng ta bàn thẳng vào những phương án phát thảo những bước tiến hành cụ thể, những công việc cụ thể trong công tác chuẩn bị.

Nào, xin cạn chén một lần nữa, mừng thắng lợi của hội nghị lịch sử này.

Trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại.

Ði với Mỹ chăng? Thì các đồng chí chạy đi đâu? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm họa của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, các đồng chí không được ngồi ở bàn giấy trong công thự, mà phải đi lang thang ngoài đường kiếm việc làm. Thật khủng khiếp. Vì thế, chúng ta phải chiến đấu hết mình cho sự tồn tại của chúng ta, cho con cháu chúng ta, tương lai của chúng ta, của con cháu chúng ta. Quyết không để lọt vào tay kẻ khác.

Lũ dân chủ dòi bọ ấy có cả ở Trung Quốc. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng chúng tôi thẳng thắn trấn áp chúng thắng lợi. Nhưng ở Việt Nam tình trạng có khác. Chúng hung hăng hơn, lì lợm hơn, là do các đồng chí thiếu kiên quyết.

Nếu ở Trung Quốc có một Thiên An Môn, thì tại sao Việt Nam không có một cái tương tự? Tôi xin bảo đảm với các đồng chí rằng, Trung quốc sẽ tận tình chi viện cho các đồng chí, một khi có sự biến đe dọa quyền lợi của đồng chí, để bảo vệ các đồng chí. Trung Quốc không thiếu xe tăng dĩ chí trong vài Thiên An Môn.. Các đồng chí cứ hỏi Nông đồng chí (tức ông Nông Ðức Mạnh) xem Hồ đồng chí (tức là Hồ Cẩm Ðào) đã hứa hẹn gì trong cuộc gặp gỡ cấp cao vừa rồi. Nhưng đó là trong tình huống hiện nay. Trong tương lai thì hai nước đã là một, thì sẽ không phải như vậy.

Việc Việt Nam trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Không sớm thì muộn. Mà sớm thì hơn muộn. Trong lịch sử, Việt Nam từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung Quốc và Việt Nam là một. Ðó là chân lý đời đời. Ðó cũng là lời của Hồ đồng chí (tức là ông Hồ Chí Minh) trong lễ tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản Trung Quốc. Hồ đồng chí tôn kính còn dạy: “Trung Quốc, Việt Nam như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh.” Có nghĩa là hai nước là hai bộ phận trong cùng một cơ thể. Nông đồng chí (tức là đồng chí Nông Ðức Mạnh) từng tự hào nhận mình là người Choang (Zhuang) trong cuộc gặp gỡ các đại biểu trong Quốc Vụ Viện. Mà dân tộc Choang là gì? Là một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Trong thời đại hiện nay thì thế giới được tái phân chia sau đệ nhị thế chiến, thì Hoa Kỳ đã mất sự độc tôn trong sự trỗi dậy bất ngờ của tổ quốc chúng ta, thì sự sát nhập trở lại của Việt Nam và toàn bán đảo Ðông Dương tiếp theo là điều tất yếu. Thế nhưng chúng ta đều đã thấy, đã biết những biểu hiện lừng chừng, giao động lúc này lúc khác, trong ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam muốn người dựa lưng vào Trung Quốc, người dựa hơn con hổ giấy Hoa Kỳ. Bây giờ đã khác.

Sự lựa chọn chỉ còn có một. Và ở đây, các đồng chí Việt Nam tỏ ra có lựa chọn đúng.

Ngày nay, Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có Việt Nam nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại lại càng thêm vĩ đại. Thế giới hôm nay chỉ còn lại hai siêu cường. Ðó là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Con hổ giấy Hoa Kỳ.

Những việc mà bây giờ chúng ta phải làm. Tôi xin nhấn mạnh lại lần nữa. Không phải bây giờ mới làm, nhưng làm chưa đúng, làm chưa đủ, thì nay cần phải đẩy mạnh hơn nữa.Phải triển khai rộng hơn nữa là đè bẹp và tiêu diệt luận điệu tinh thần dân tộc vẫn còn tồn tại dai dẳng trong bọn kiên trì lập trường độc lập dân tộc. Ðặc biệt trong đám trí thức và vài phần tử công thần chủ nghĩa trong tướng lĩnh. Cần phải tiêu diệt cả về tinh thần, cả về vật chất.

Trong tướng lĩnh, phần nhiều là người của ta, do ta đào tạo, cất nhắc. Công này là nguyên chủ tịch Lê (tức là Lê Ðức Anh) người rất biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, lẫn vào đấy cũng vẫn có vài phần tử lừng chừng, giao động, chủ yếu do kém hiểu biết. Các đồng chí cần đả thông, bồi dưỡng thêm cho họ về lập trường, quan điểm và trường đảng các cấp. Mấy anh già sắp chết hay nói ngang thì phải đe nẹt cho chúng biết rằng, một khi đã bị coi là chống đảng thì chúng sẽ bị tước hết mọi tiêu chuẩn cao đang được hưởng, tất chúng sẽ im mồm.

Ðám trí thức lèo tèo mới là đáng ngại. Tuy chẳng có trong tay cái gì, nhưng chúng có khả năng kích động tinh thần nhân dân để cản trở sự hợp nhất. Nhưng không lo. Mao chủ tịch đã dạy: “Trí thức khởi xướng được, nhưng không làm được. Chúng chỉ lép bép lỗ miệng. Thấy súng lên đạn là chúng rùng rùng bỏ chạy.” Ðáng ngại là ở chỗ ấy, chỗ khởi xướng. Nhưng không đáng sợ cũng ở chỗ ấy.

Ở chỗ bản tính trí thức, hãy lên đạn, hãy hô bắn thật to, đâu sẽ vào đấy. Lực lượng chủ yếu của chúng ta trong việc trấn áp bọn dân tộc chủ nghĩa là hai cánh quân. Về vật chất là công an, về tinh thần là truyền thông.

Công an sẽ được cung cấp mọi trang bị hiện đại nhất để đè bẹp mọi mưu toan đối kháng. Nhưng phải chú ý đến điểm này: Không được lạm dụng các phương tiện hiện đại. Chiếu cố những biện pháp truyền thống ít gây ồn ào, tránh những phản ứng quốc tế bất lợi. Truyền thông phải xừ dụng mọi phương tiện sẵn có. Tăng cường viết và nói hằng ngày hằng giờ, biện luận cho dân thấy cái lợi của việc sát nhập. Họ sẽ được hưởng mọi phúc lợi của người dân Trung Quốc hơn hẳn phúc lợi đang có. Họ sẽ không còn chuyện lủng củng vướng mắc về biên giới. Ngư dân được tha hồ đánh cá trên biển Ðông này cũng là của họ mà không còn phải lo lắng: vì xâm phạm lãnh hải, bị hải quân Trung Quốc trừng phạt.

Người dân khi xuất ngoại sẽ được cầm hộ chiếu của một nước lớn mà thế giới phải kiêng nể.

Tuy nhiên, tôi đặc biệt lưu ý các đồng chí là phải tiến hành kín đáo, để mọi việc chuẩn bị diễn ra như bình thường, không nhận thấy được. Trong khi chưa được hợp nhất, trung ương chính phủ, cũng như các tỉnh chính phủ, tuyệt đối không lộ ý đồ. Thỉnh thoảng cũng phải cho phát ngôn nhân trung ương chính phủ nói dăm ba câu phản đối về chủ quyền Tây Sa và Nam Sa. Và cho phép các báo đăng vài bài chiếu lệ về biên giới và hải đảo với mọi sự cố xảy ra trên biển như vừa rồi. Cứ tiếp tục ám chỉ một nước ngoài nào đó, hoặc một tàu lạ nào đó, không rõ quốc tịch là được.

Ðừng quên xem thường các nhà báo. Họ là công bộc trung thành của ta. Thiếu họ không được. Hiện nay đang nổi lên sự phản đối Trung Quốc khai thác Bauxite ở miền Trung, ồn ào lắm, có vẻ hung hăng lắm. Nhưng là bề ngoài thôi. Chứ bề ở trong, bọn phản đối cũng thừa biết mọi sự đã an bài. Tiền đã trao thì cháo phải được múc. Bộ Chính Trị quyết không bỏ kế hoạch này. Nhất là đồng chí Nông Ðức Mạnh. Là chuyện sinh tử của đồng chí Nông Ðức Mạnh nên đồng chí ấy rất cương quyết. Trong chuyện Bauxite, tôi thấy bên cạnh cái xấu lại có cái tốt đấy.

Các đồng chí ạ! Phải công bằng mà lập luận, một khi Việt Nam đã nhập vào Trung Quốc thì vùng Tây nguyên của Việt Nam là của chung nước ta. Chưa chừng, trên sẽ thay đổi kế hoạch. Ta không khai thác ở đấy nữa, mà chuyển sang khai thác, thực hiện ở Châu Phi. Bauxite của ta, ta để đấy dùng sau. Cũng như ta đâu có vội khai thác cả tỷ tấn Bauxite ở Quảng Tây. Nói để các đồng chí phấn khởi. Về thực chất, qua con đường ngoại thương, đầu tư, ta nắm Châu Phi trong nhiều năm nay rồi. Ta đã mua hết các chính quyền ở đấy. Cái đó gọi là quyền lực mềm. Trung Quốc đến sau phương Tây và Hoa Kỳ, vậy mà chỉ trong vòng một thập niên, ta đã quét sạch chúng khỏi đấy. Ta còn chuyển dân mình sang Châu Phi, làm thành những vùng đất Trung Quốc trên lục địa đen kia nữa. Người Trung Quốc bây giờ có quyền nói: “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất đai của tổ quốc.”

Phải trấn an các cán bộ các cấp, từ trung ương cho đến địa phương để họ thấy rằng sau hợp nhất, mọi vị trí quyền lợi, bổng lộc của họ không bị suy suyển. Các đơn vị hành chính sẽ được giữ nguyên trong một thời gian dài trước khi áp dụng mô hình hành chánh chung của toàn quốc. Việc này rất quan trọng.

Xin các đồng chí chớ coi thường. Lãnh đạo từ trung ương cho đến địa phương có thông thì dân mới thông. Nhân dân đã được giáo dục chu đáo trong nhiều năm, tinh thần tuyệt đối phục tùng lãnh đạo. Nhưng nếu họ thấy cấp trên của họ giao động, tư tưởng bất thông thì chính họ cũng sẽ giao động theo, trở thành mồi ngon cho những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.

Thưa các đồng chí. Còn lại việc cuối cùng là mô hình quản trị Việt Nam trong tổ quốc thống nhất. Tỉnh hay khu tự trị? Chuyện này xin các đồng chí về nghĩ thêm, bàn thêm. Tỉnh thì cũng như Quảng Ðông, Quảng Tây. Về diện tích hơn kém không nhiều. Khu tự trị kiểu như khu tự trị Choang trong tỉnh Quảng Tây thì lại quá nhỏ về vai vế. Nông đồng chí vốn rất e ngại sự chống đối trong nội bộ. Mà làm khu tự trị với ý nghĩa lớn hơn thì lại vướng chuyện Tây Tạng. Bọn chó Ðạt Lai Lạt Ma cũng đang xin tự trị đấy, mà trung ương không thuận. Còn mấy đồng chí Việt Nam nêu ý kiến, hay là tổ chức Trung Quốc thành liên bang, Việt Nam sẽ là một nước hay một bang trong liên bang ấy. Ý kiến này không mới. Nó đã từng được nêu lên. Nhưng các đồng chí thử nghĩ xem. Nếu như thế thì thống nhất làm sao được với bọn Tây Tạng, bọn Nội Mông, bọn Mãn Châu, bọn Hồi Bột.

Chính chúng nó đang muốn cái đó để xưng độc lập, hoặc tự trị trong liên bang. Trên nguyên tắc thì đúng, là cái gì cũng được. Danh chính thì ngôn thuận. Nhưng nội dung bất biến. Vùng nào cũng chỉ là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc. Có điều những danh hiệu độc lập, tự trị là cái rễ bị lồng vào đấy cái tinh thần dân tộc, mầm mống cho sự phận liệt.

Không được. Quyết không được.

Thưa các đồng chí. Vấn đề hình thức nhưng lại có tầm quan trọng. Xin các đồng chí phát huy tự do tư…

(hết phần trích và dịch đoạn băng ghi âm)

Vu Pham, FB  (3-6-2014)
 —————————-
=============
Có rất nhiều bài  được  bạn đọc  giới thiệu tới hàng trăm diễn đàn trong và ngoài nước post ở đây
*Lê Văn Mọi – (đã từng tham gia bộ đội đánh TQ 1979-1989) 
Sau thế chiến II nhiều nước CS ra đời, không thấy một nước CS nào bị nước khác xâm lược, chỉ thấy các nước CS xâm lược nước khác, điển hình là Trung quốc xâm lược Ấn độ và muền Bắc VN CS xâm lăng miền Nam VN (đã được coi như một quốc gia, trước kia Trung quốc giúp miền Bắc chiếm miền Nam để sau này Trung quốc chiếm cả Việt Nam cho gọn, sau đó muốn chiếm cả Đông Nam Á để thực hiện mộng bá quyền).Lần này thì Việt Nam là nước CS đầu tiên bị nước khác xâm lược, mà nước đi xâm lược lại cũng là một nước CS. Điều này gợi lên cho các nước khác nghĩ gì? Chưa thấy ai phát biểu về vấn đề này, nhưng nếu ta đặt địa vị ta là người nước ngoài nhìn 2 nước CS xâm lược lẫn nhau vì quyền lợi thì ta thấy rất rõ là CS rêu rao “vô sản thế giới liên hiệp lại” là giả dối, nước CS trưng ra khẩu hiệu ấy nhưng thực sự họ theo chủ nghiã dân tộc cực đoan, lừa nước khác để mở rộng bờ cõi. Chỉ nước nào lạc hậu, trình độ dân trí thấp, thiếu giác ngộ chính trị nên ăn phải bả lừa dối (như chính nước ta) và bị thiệt thòi, có thể mất nước.Có thể người ta đứng nhìn hai nước CS đấu đá nhau mà vỗ tay, cứ để hai thẳng CS tiêu diệt nhau xem sao. Người thiếu giác ngộ chính trị lại đi giáo dục cái thiếu giác ngộ ấy cho nửa dân tộc (miền Bắc) lại chính là “Bác Hồ vĩ đại” được cả thế giới ca ngợi. Đến lúc gần tắt thở rồi mà Bác ta vẫn còn đau lòng khi thấy thế giới CS mất đoàn kết. Sau này, gần đây thì tổng Trọng Lú có lặp lại vở kịch ấy bằng cách bật khóc trong một hội nghị gì gì đó của Đảng.Lúc đầu nghe thủ tướng tuyên bố “‘Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông’ “mọi người dân đều khen thủ tướng và muốn ủng hộ thủ tướng vì điều đó phù hợp với lòng dân. Thế nhưng thấy việc làm của thủ tướng thì nhiều người lại đâm ra nghi ngờ, vì một động cơ nào đó CÒN BÍ ẨN nên thủ tướng nói thế. Mặt khác trước kia thủ tướng tuyên bố một số điều (như nếu không chống được tham nhũng thì từ chức và cần có luật biểu tình) nhưng thủ tướng nuốt lời, nói một đằng làm một nẻo.Một mặt thủ tướng coi trọng chủ quyền nhưng mặt khác chính thủ tướng lại cho Tàu khai thác bâu xít ở vùng chiến lược Tây nguyên và cho Tàu thuê đất rừng ở biên giới. Đến bây giờ thủ tướng mới thấy lộ rõ mặt thằng Tàu, sao thủ tướng chậm giác ngộ thế? Điều thể hiện rõ nhất làm người dân nghi ngờ là vừa hôm trước cho dân biểu tình thì ngày hôm sau lại ngăn cấm biểu tình và không thả những người trước đây biểu tình chống Trung quốc bị bắt oan.Cái nhà nước CS do thủ tướng điều hành có lắm điều kỳ lạ, ngược chiều với các nước khác.
Nhà nước này thắng dân nhưng lại thua giặc,
nhà nước này đánh dân nhưng lại kêu gọi hòa bình với giặc,
nhà nước này khôn với dân nhưng dại với giặc,
nhà nước này cảnh giác với dân nhưng lại mất cảnh giấc với giặc,
nhà nước CS này không dựa vào dân mà dựa vào giặc,
nhà nước này cướp đất của dân nhưng lại dâng đất cho giặc.
Nhà nước CS này đối phó với dân thì thành công nhưng đối phó với giặc thì thất bại.
Nhà nước này bí mật với dân nhưng phô bầy với giặc, hội nghị Thành Đô thế nào thì dân không biết, nhưng giặc biết rõ như ban ngày. Liệu điều này thì thủ tướng có dám phanh phui cho toàn dân biết không?TÓM LẠI NHÀ NƯỚC CS NÀY COI DÂN LÀ THÙ, COI GIẶC LÀ BẠNCuối cùng dẫn đến kết quả nhà nước CS này vừa bị dân oán ghét vừa bị giặc xâm chiếm.

* Nguyễn Thiện:

Một số người vì quan tâm và muốn tốt cho VN hoặc vì muốn thấy VN bước ra khỏi tình thế bức bí hiện nay cho nên mới hoan hô ông TT Dũng vì một câu nói mang tính chính trị mục đích làm giảm bớt sự căm phẫn của người dân.

Đi mà tin lời các ông cộng sản thì có nước THÁC. Tiếp tục độc quyền cai trị VN, gìn giữ uy tín và các bí mật của đảng và nhà nước mới là quan trọng. Mọi thứ như biển đảo đất đai biên giới nếu TQ chiếm lấy cũng không làm  đảng CSVN nao núng.

Tôi tin rằng chỉ trong vòng 6 tháng-9 tháng sắp đến, tất cả mọi lời nói của ông Thủ Tướng Dũng, hay các ông kia đều sẽ rơi vào quên lãng, và mọi chuyện rồi sẽ êm xuôi; Trung Quốc vẫn tiếp tục kế hoạch bồi đắp đá ngầm Gạc Ma thành đảo nổi trên mặt biển; sẽ tiếp tục khai thác dầu chung quanh vùng Hoàng Sa; sẽ thanh toán các đảo trong quần đảo Trường Sa. Hai đảng sẽ giao hảo tốt với nhau như mọi lần.

(Năm ngoái, báo chí nước ngoài ghi nhận rằng 6 năm qua 2007-2013, trên trường quốc tế, chính phủ Hà Nội đã không còn nhắc đến tên Hoàng Sa nữa; trong tương lai, Hà Nội sẽ làm y như thế với Trường Sa).

Sở dĩ kỳ nầy Hà Nội lên gân vung vít chút xíu, đó là vì VN coi nguồn tài nguyên dầu khí là TÍN DỤNG, là nguồn thu nhập để các nước ngoài và tổ chức tín dụng và tài chánh quốc tế cho VN mượn tiền bấy nhiêu năm nay. Nay, Trung Quốc vào Biển Đông khai thác dầu khí là thọc tay vào túi tiền của đảng là chia phần với đảng và nhà nước (tổng doanh thu của PVN là 37 tỷ đô la hàng năm, PVN đóng góp 195 nghìn tỷ đồng vào ngân sách ngân sách 2013, tương đương với 24%.) Thậmchí, Trung Quốc có thể sẽ mời VN chung nhau khai thác dầu khí, chia hai, thế là Việt Nam nghe theo.

Nhưng lá bùa của Trung Quốc là họ đang nắm giữ các bí mật, hiệp định ký kết giữa hai nhà nước và hai đảng. Đảng và Nhà nước sẽ CHÙN TAY một khi Trung Quốc hăm dọa sẽ đưa các thứ này ra ánh sáng. Chuyện nầy từng xảy ra vài lần trong quá khứ. Một thí dụ là vụ ký hiệp định Biên Giới Trên Bộ 31-12-1999. Trước đó, VN còn chần chừ chưa ký, thì TQ xì ra vài thứ trên mạng internet. Kết quả, chính quyền Hà Nội lo sợ xanh mặt và vội vã ký ngay, và để mất hàng ngàn km vuông ở phía Bắc.

Đảng và uy tín của đảng là cao hơn hết thảy. Chuyện HS và TS là quá khứ; chỉ là sự đổi chác, thuận mua, vừa bán.

Chuyện gì họ cũng dám làm hết. Các bạn search trên google sẽ thấy rất nhiều bài báo viết rằng: 18 tỉnh Việt Nam cho nước ngoài thuê đất trồng rừng với hợp đồng 50 năm… “Đến tháng 8-2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trồng rừng 100% vốn nước ngoài được cấp GCN đầu tư là gần 289.000 ha và hơn 21.600 ha liên doanh liên kết là giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước. Trong số các công ty nước ngoài đã được phép đầu tư, chỉ riêng InnovGreen (Hong Kong, Trung Quốc) đã thuê tới 274.848 ha, chiếm 87% diện tích đất thuê. Đến nay, Công ty InnovGreen với 8.123 ha đã được cấp đã nộp ngân sách 77.946 USD, giá thuê đất trồng rừng trung bình 9,58 USD/ha, tương đương 180.000 đồng/ha. Ủy ban KH-CN&MT cho rằng mức giá trên là quá thấp.

http://www.baomoi.com/Cho-nuoc-ngoai-thue-dat-trong-rung-Gia-thue-1-ha-chi-180000-dong/147/5104070.epi

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/7-ong-lon-doanh-thu-tren-100000-ty-dong-nam-2013-828754.htm
http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/tap-doan-dau-khi-nop-ngan-sach-195-nghin-ty-dong-nam-2013-201401160829365575ca33.chn

————

 

*Các bạn suy gẫm lời nói của những người sống cùng thời với ông HCM, Mao, Staline, Lê Duẫn…, những người nầyđã chứng kiến buổi bình minh, sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa cộng sản, và họ đã tiên đoán đúng 100% những gì đang xảy ra tại Việt Nam 2014

Trong tác phẩm Chinh Đề Việt Nam, hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng ngày nay cũng đã được báo động cách đây gần 50 năm:

[Trích] Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh, sau gần một thế kỷ vắng mặt. Ký ức của những thời kỳ thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta còn ghi trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta.

Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.

Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô.

Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách trống trị một lần nữa. (tr.212) Chính Đề, Ngô Đình Nhu, 1960.

——–

Về mặt đạo đức, CNXH không thể tạo dựng mà chỉ phá hủy, nền tảng của tất cả các giá trị đạo đức, tự do, và trách nhiệm cá nhân.

Về mặt chính trị, nó sớm hay muộn dẫn tới chính phủ toàn trị.

Về mặt vật chất, nó sẽ làm tổn hại đáng kể quá trình tạo ra của cải, nếu không muốn nói, nó là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo trên thực tế.  

F.A. HAYEK (1899-1992), kinh tế gia, triết gia người Áo, đoạt giải Nobel kinh tế 1974. 

———

►Thiếu tướng Lê Duy Mật yêu cầu đảng CSVN tổng kết cuộc chiến 1979-1984 và công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô  (20-7-2014)

►Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô tháng 9/ 1990 cho nhân dân biết (3-8-2014)

►Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN về thỏa hiệp Thành Đô 9/1990 (7-8-2014)

►Phải công khai tất cả nội dung của hội nghị Thành đô-Tại sao đảng giấu kín mà không vinh danh Hội Nghị Thành Đô 1990

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 6 Comments »

►Vụ án xét lại chống đảng (phần 3 và 4) – Đừng kêu oan cho người khác-Những người che mắt lịch sử

Posted by hoangtran204 on 25/10/2013

Vụ án Xét lại Chống Đảng, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”. Vụ xét lại bắt nguồn từ Liên Xô, 1953 sau khi Stalin chết,

“Vào tháng 9 năm 1953, Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Ông chủ trương chung sống hòa bình với thế giới Tư bản (“Các nước không cùng lập trường chính trị có thể sống chung”)[3]. Đường lối của Khrushchyov bị Trung Quốc, dưới thời Mao Trạch Đông, chống lại và gọi là “Chủ nghĩa Xét lại”.

Tại Việt Nam, những người cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm thân Nga chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương sống hòa bình với Việt Nam Cộng hòa), không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Họ cho rằng nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ khiến Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô. Nhóm kia ủng hộ quan điểm của Trung Quốc, muốn theo đuổi chính sách cứng rắn của ông Mao (tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm “chủ hòa” rằng: “Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc”.   (son-trung.blogspot.com)

Vụ án xét lại chống đảng khởi đầu khi Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, ra lệnh bắt nhóm cán bộ CSVN (có tư tưởng ủng hộ xét lại) kể từ năm 1956, 1964, và kéo dài tới 1969.  Năm 1957, Lê Duẩn ở trong Nam về lại miền Bắc, ông được Lê Đức Thọ hậu thuẩn, và được HCM chọn làm bí thư thứ nhất của đảng LĐVN (tên gọi của đảng CSVN lúc bấy giờ). Cuộc chiến tranh VN bùng nổ ngày càng mạnh hơn, trước khi Mỹ vào VN năm 1965. 

Những câu và chữ: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam vì đồng bào MN bị Mỹ Ngụy kềm kẹp không có gạo, chén bát để ăn…chỉ là sản phẩm tuyên truyền của CS mà ngày nay chỉ có người bần nông nghèo khổ, những người không theo dõi internet, những người ăn bả sự tuyên truyền của CS quá lâu…mới tin. 

Vụ án Xét lại, phần 3: Đừng kêu oan cho người khác

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-23

000_APH2001042144808(1)-305.jpg

Từ trái qua: Cựu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, TBT Nông Đức Mạnh, Cố vấn ĐCSVN Võ Văn Kiệt tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản VN lần thứ 9 hôm 19/4/2001
 
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng cuộc chiến trong lòng những người bị bắt, bị lưu lạc tha phương trong vụ án xét lại chống đảng vẫn không chấm dứt. Trong lòng họ còn rất nhiều điều cần giải tỏa và cho tới nay, năm 2013, đã 46 năm trôi qua nhưng vẫn chưa thấy ai trong chính quyền lên tiếng gợi ý về một cuộc điều tra sâu rộng nhằm đưa vụ án này ra ánh sáng công luận.
 
Có lẽ vụ bắt giữ ông Lê Hồng Hà đã làm cho những đảng viên cộng sản hôm nay vẫn lấy đó làm tấm gương cảnh báo về sự nguy hiểm nếu đề nghị đem vụ án này ra ánh sáng. Ông Lê Hồng Hà, một nạn nhân khác của vụ án xét lại chống đảng bị bắt vì muốn Trung ương xét lại vụ án oan khuất này kể: Sau khi tôi đòi thanh minh cho cái vụ ấy thì một số các người lãnh đạo lúc bấy giờ như Lê Đức Anh …tức tối bởi vì thanh minh như thế là tôi muốn phê phán cái sự lãnh đạo của trung ương trước đó là sai. Họ tức tối nên khai trừ tôi và ông Nguyễn Trung Thành. Họ bịa tạo ra một việc là cái tham luận của ông Võ Văn Kiệt ở hội nghị bộ chính trị, nó chẳng phải là tài liệu tối mật gì cả mà dựng lên đấy là tài liệu tối mật. “Ông Hồng Hà có liên quan đến tài liệu tối mật ấy.” Lúc bấy giờ tôi đã về hưu rồi. Nó lấy lý do đấy là tài liệu tối mật và tôi có liên quan đến tài liệu ấy. Họ khép mình vào tội vi phạm vào bí mật nhà nước. Họ lấy lý do ấy họ xử tù tôi 2 năm.Lúc bấy giờ một số cán bộ lâu năm, lão thành cũng thừa nhận với tôi là đấy không phải là bí mật gì cả vì nếu là tối mật thì phải có những nội dung dính đến các vấn đề mà pháp lệnh nhà nước qui định. Đằng này chỉ là bản tham luận phát biểu của thủ tướng Võ Văn Kiệt trong hội nghị Bộ chính trị thôi. Nó không có liên quan gì đến các bí mật của nhà nước cả.

Cái giá của sự hối hận

Ông Lê Hồng Hà là một cán bộ công an cao cấp, lúc ấy  ông là Vụ trưởng Vụ Tổng hợp thuộc Bộ công an. Năm 1967 khi xảy ra vụ án xét lại chống đảng thì ông không có trách nhiệm điều tra hay phá vụ án này. Lúc ấy ông chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp của Bộ công an, tuy không tham gia phá án nhưng ông biết diễn biến của nó.

Theo ông Lê Hồng Hà kể với chúng tôi thì thời gian sau này vào năm 1993, ông Nguyễn Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng của Ban Tổ chức Trung Ương nhận thấy sự oan ức của những người bị bắt và cảm thấy hối hận vì đã im lặng nên đã tới gặp ông Lê Hồng Hà và bàn bạc nên đem vụ này ra Trung ương để cứu xét lại cho các nạn nhân bị bắt, tuy nhiên Lê Đức Thọ đã cương quyết không chấp nhận. Ông Lê Hồng Hà kể:

Ông Lê Đức Thọ lúc đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương cùng với một số người coi như là đường lối của đảng đã định ra như thế mà anh lại khác ý kiến, anh không đồng ý, như thế anh có phần sai rồi. Và cái sai ấy là anh giữ quan điểm của anh khác với trung ương mà anh lại đi phổ biến, nói với nhiều người khác như thế là anh phạm pháp. Như thế là chống đảng. Và chống đảng thì tức là coi như phạm pháp.

Vụ án xét lại chống đảng không chỉ xảy ra trong giới chính trị và quân đội mà còn lan ra báo chí và các nhà văn. Trong số người bị bắt có Vũ Thư Hiên và Bùi Ngọc Tấn. Vũ Thư Hiên là con của Vũ Đình Huỳnh, bị bắt vì cha ông là người có dính líu xa gần với những người khác nhưng với Vũ Thư Hiên thì hoàn toàn bất ngờ, ông chỉ là một biên tập viên của Báo ảnh Việt Nam, do yêu mến văn chương Liên Xô và ảnh hưởng nền văn hóa ấy sau khi từ Moskva về nước.

Tôi bị bắt ngày 24 tháng 12 năm 1967 qua các trại giam như Hỏa Lò, trại quân pháp Bất Bạt, trại Tân Lập, trại Phong Quang tức là có cả nhà tù và trại cải tạo. Tới năm 1976 tôi là người cuối cùng của Vụ án xét lại chống Đảng được ra khỏi nhà tù.

Nhà văn ư? Anh bị bắt!

vnweblogs-250.jpg
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Photo courtesy of vnweblogs

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của Chuyện Kể Năm 2.000, cũng là một nạn nhân trong vụ bắt bớ này kể:

Tôi được nghe một anh bạn tôi cũng làm sếp được đi nghe phổ biến thông báo số hai của Lê Đức Thọ về vụ bắt bớ. Trong thông báo có câu mà tôi đã đưa vào tường trình năm 2002 “Bọn chúng từ bất mãn cá nhân đi đến bất mãn đối với đảng, đối với chế độ. Chúng nó ngưu tm ngưu, mã tầm mã”. Như vậy là có tổ chức mà không có tổ chức. Không có tổ chức lại hóa ra có tổ chức. Tinh vi lắm nhưng không che được mắt nhân dân đâu. Cái câu đấy khiến cho cái đám cao cấp ấy họ nói thì cũng sợ người rồi. Thế nhưng bọn tôi thì cũng gay go rồi.

Khác hẳn với thông báo số hai của Lê Đức Thọ những người bị bắt đều biết rõ mục đích của việc thanh trừng này, nhà văn Vũ Thư Hiên kể:

Căn cứ vào những cuộc hỏi cung thì rõ ràng rằng một trong những mục tiêu lớn là hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Ngay cả tôi chẳng liên quan gì tới ông Giáp nhưng cũng bị hỏi cung hàng tháng trời về chuyện tôi có nghe thấy những người nào tới nhà (tôi) như ông Nguyễn Lương Bằng hay ông Đặng Kim Giang…các ông ấy có ai đến (nhà tôi) nói về chuyện Võ Nguyên Giáp thế này thế kia không?   (Ông Bằng và ông Giang là bạn của ông Vũ Đình Huỳnh, cha của ông Hiên; ông Huỳnh là thư ký của ông HCM 1945-1967).

Thật sự ông Giáp không có biểu hiện gì về cái gọi là chống Đảng cả. Ông ấy hình như chỉ có vài lời phát biểu không đồng tình với chủ trương chống lại xu hướng cùng tồn tại hòa bình của Khrushchyov và chống lại việc sùng bái cá nhân. Võ Nguyên Giáp có thể nói với những người gần gụi với ông ấy nên cái tin này lan ra chứ thực sự ông Giáp không hề quan hệ trực tiếp với ông cụ tôi hay ông Đặng Kim Giang trong thời gian đó.

Nếu nhà văn Vũ Thư Hiên bị bắt vì cha thì nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị bắt vì một lý do hết sức phi lý: vì ông ở Hải Phòng! Nhà văn kể:

Nếu tôi ở Hà nội thì tôi đã không bị bắt. Còn người bắt tôi là ông Trần Đông là vì ông muốn lấy tôi làm bậc thang để ông đi lên. Về sau ông lên được chức thứ trưởng bộ Công an chứ lúc ấy ông đang làm giám đốc công an Hải phòng.

Tôi bị giam ở 176 Trần Phú, trại tạm giam Hải phòng ở khu biệt giam. Giam xà lim khoảng chừng một năm thì họ chuyển tôi sang phòng giam chung ở bên 175 Trần Phú. Đến mùa xuân năm 70 thì đi trại cải tạo Hàng Bồ với lệnh tập trung cải tạo 3 năm vì tội là “phần tử nguy hiểm cho cách mạng chứ không phải tuyên truyền phản cách mạng” nữa. Sau 16 tháng 4 năm 72 tức là sau khi B52 đánh trở lại thì họ chuyển tôi lên trại Vĩnh quang thuộc Vĩnh Phú. Đến tháng 4 năm 73 thì được tha. Tức là chưa đến 5 năm nhưng mà tôi đếm 5 cái tết.

Những cuộc bắt bớ này cho thấy vụ án xét lại chống đảng được phát động quy mô và xuyên suốt tới địa phương chứ không khoanh vùng ở các vị trí quan trọng. Tuy nhiên khi việc chú ý tới địa phương chỉ mới manh nha thì phe thân Trung Quốc phải lo đối phó với chuyện khác quan trọng hơn khi thời cơ nổi dậy tại Miền Nam đã chín muồi, bắt đầu một cuộc chiến tranh mà miền Bắc gọi là chiến tranh chống Mỹ.

Quý vị vừa theo dõi phần ba của Vụ án xét lại chống đảng, mới quý vị theo dõi tiếp phần thứ tư cũng là phần cuối có tựa “Những người che mắt lịch sử” sẽ phát vào chương trình kế tiếp.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-anti-party-revisio-case-3-ml-10232013133916.html

Vụ án xét lại chống đảng ở VN bắt đầu từ 1956. Lúc ấy đã có người bị bắt lai rai (theo ông Bùi Tín trả lời phỏng vấn (trong phần 1 và 2). Cuộc truy lùng bắt bớ tiếp diễn làm ông Nguyễn Minh Cần, thượng tá Văn Doãn, đại tá…. phải tị nạn ở Liên Xô 1964. Và và đỉnh cao của việc bắt bớ người hàng loat  là 1967, (khoảng 300 người đã bị Lê Đức Thọ bắt giữ, giam tù nhiều năm,  với sự hậu thuẩn của Lê Duẩn, và Trần Quốc Hoàn (bộ trưởng công an). Lúc ấy, ông HCM biết có nhiều người bị bắt giam tù, trong đó có người cựu thư ký của ông, nhưng ông đã không can thiệp. Người báo tin cho ông Hồ chuyện ông Vũ Đình Huỳnh bị Lê Đức Thọ bắt giam là … (coi phần 1 và 2)

Vụ án xét lại chống đảng, phần 4 – Những người che mắt lịch sử

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-24

ldt-305.jpg

Hàng ngồi từ trái sang: Ông Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.
File photo

Trong tập hai của Bên Thắng Cuộc mang tên Quyền Bính, trong chương “Tướng Giáp”, Huy Đức ghi lại lời kể của Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn nói về thành phần bị bắt thời gian này: “Những người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp trong quân đội và những ủy viên trong Trung ương”.

Thật ra đây chỉ là một mối nhỏ trong guồng chỉ rất lớn của vụ án chính trị nổi tiếng này. Những người bị bắt, bị lưu đày sau gần 50 năm vẫn chưa bao giờ được chính quyền chứng minh hành vi kết tội của họ đối với người bị bắt. Hầu hết nạn nhân của vụ án là người yêu chuộng sự đổi mới hợp lý khi chủ nghĩa tôn sùng cá nhân bị chỉ trích tại Liên Xô cũng chính là lúc Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn củng cố địa vị của họ bằng sức mạnh theo kiểu Mao Trạch Đông chủ trương.

Nghị quyết 9, sự kết giao nguy hiểm

Nghị quyết 9 cho thấy khuynh hướng theo Trung Quốc và ai không đồng tình với khuynh hướng này thì bị thanh trừng. Quyền lực sẽ bị lu mờ nếu hào quang của Tướng Giáp vẫn còn tỏa sáng trên sân khấu chính trị Việt Nam khiến bằng mọi cách phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phải thực hiện cho được sự ám toán ông qua một vụ án chính trị là cách hay nhất.

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt đầu tiên, vợ của ông là bà Lê Hồng Ngọc kể lại nỗi gian truân trong thời gian ấy:

Đang làm người lãnh đạo tập đoàn thanh niên được đảng tín nhiệm đưa đi học nước ngoài rồi về sẽ cho chức nọ chức kia. Anh tưởng là anh nói như vậy để giúp đảng nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được gì hết mà còn bị tù tội. Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh, không ai đến, không ai dám hỏi thăm. Bản thân anh thì hoàn toàn là biệt lập vì cái tội như thế nên cũng nhiều nỗi đau khổ lắm.

Những người vợ

Là vợ của một người thân cận với Chủ tịch Hồ Chí Minh bà Phạm Thị Tề không thể chịu đựng nỗi sự im lặng của người từng được gia đình mình phục vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thái độ gan góc của mẹ mình khi không chịu vào Phủ Chủ tịch đề nhờ sự can thiệp của ông Hồ Chí Minh:

IMG-2447-250.jpg
Nhà văn Vũ Thư Hiên và Blogger Người Buôn Gió tại Paris, ảnh chụp năm 2010. Courtesy Blog Người Buôn Gió.

“Không! Mặc dù bà cụ tôi là người gần gũi ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Lúc ông ấy mới về Hà Nội thì ông ấy rất ốm. Ông ấy lúc bấy giờ bị lao phổi, ngoài thuốc chữa thì bà cụ tôi phải nấu thức ăn bổ dưỡng để cận vệ mang vào cho ông ấy. Thế nhưng khi đã bắt ông cụ tôi thì bà bảo cái người đó không còn tin được nữa thế nên bà cụ tôi không liên hệ. Sau này tôi gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại thương ông ấy nói có một lần ông ấy vào báo cáo với ông Hồ Chí Minh vào giai đoạn ông cụ tôi bị bắt, ông hỏi là tai sao lại bắt những người như anh Huỳnh, cả cuộc đời theo cách mạng như thế? Thì ông ấy (HCM) tỏ vẻ ngạc nhiên hay đóng kịch như là: Tại sao bắt anh Huỳnh? Sao lại bắt?… đại khái như thế? Đấy là lời ông Hoàng Quốc Thịnh nói với tôi.”

Những người đàn bà không bị bắt còn khổ sở hơn chồng của họ. Bà Lê Hồng Ngọc kể lại chuyện ba người đàn bà vợ của các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh và Đặng Kim Giang:

Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy. Thăm nuôi tiếp tế thì rất lâu mới được đi một lần. Trong tình cảnh ấy tôi nghĩ là rất nhiều chị em như tôi như bà Vũ Đình Huỳnh, bà Đặng Kim Giang. Ba chị em hay đi với nhau lắm. Chúng tôi lên tận trên trại Bất Bạt, trên ấy xa xôi lắm. Họ đánh kẻng mới được đi vào, vào thăm mấy tiếng thì phải đi về.

Theo thư gửi cho nhiều cơ quan chính quyền vào năm 1994, bà Phạm Thị Tề nhắc lại sau Đại hội VI của Đảng, chồng bà là ông Vũ Đình Huỳnh lúc ấy đã được thả ra, có thư gửi tới nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, một lần nữa yêu cầu ông Linh đưa vụ này ra ánh sáng. Thế nhưng không riêng gì ông Huỳnh mà tất cả những người bị bắt hay đã chết, yêu cầu chính đáng ấy không bao giờ được giải quyết.

Sự im lặng đồng lõa

Ông Lê Hồng Hà một trong những nạn nhân của vụ án cho biết:

Những năm sau này, từ năm 90-91 trở đi họ bắt đầu thấy một số các vấn đề không thỏa đáng. Thế thì họ có giải quyết theo kiểu những người bị tù nhiều năm thì tha rồi. Một số các người bị thiệt hại quyền lợi thì được cho khôi phục lại quyền lợi. Ví dụ một số những ông như Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Minh Chính thì người ta khôi phục lại mức lương khá khá hơn thôi. Tuy nhiên họ cũng không tuyên bố là sửa sai. Họ sửa nhưng không tuyên bố.

Ông Hoàng Minh Chính, người trực tiếp mang tinh thần xét lại từ Liên Xô về Việt Nam xứng đáng là người tiên phong vì đã đề nghị đảng cộng sản Việt Nam thay đổi phương hướng trong chính sách của mình nhưng ông đã phải trả một giá rất đắt cho ý tưởng này. Theo lời thuật lại của vợ ông là bà Lê Hồng Ngọc, tên thật Nguyễn Thị Thanh Yến cho biết chồng bà gia nhập đảng cộng sản rất sớm, vào năm 19 tuổi. Người ký giấy giới thiệu cho ông vào đảng là Lê Đức Thọ và cũng chính ông này ký lệnh bắt giam Hoàng Minh Chính vào năm 1967.

Ông bị tù cả thảy 11 năm và 9 năm quản chế, khởi đầu từ 1967 kéo dài đến năm 1990.

Hoàng Minh Chính mất ngày 7 tháng 2 năm 2008. Nói về vụ yêu cầu xét xử những bản án oan sai, trước đó trong một lần trả lời Đài Á Châu Tự Do ông nói:

“Từ trước tới nay tất cả những cái đơn kiện của công dân thực ra họ có trả lời đâu? Mà ở trong nước người ta thường dọi là ‘kiện củ khoai’. Vấn đề này khi kiện thì đối với phương diện pháp lý nói lên rằng có những vu khống như thế và tôi yêu cầu tòa án Việt Nam phải đưa vụ án này ra xét xử. Đấy là nguyên tắc về pháp lý nhưng tin tưởng thì tôi không hề tin tưởng bởi vì từ trước tới nay họ đều im lặng hết.”

Vụ án xét lại chống đảng có thể là vụ án chính trị cuối cùng và lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tuy nhiên nó sẽ chẳng bao giờ biến mất hay lãng quên bởi sự lẫn trốn trách nhiệm của những nhân vật cao cấp nhất trong đảng qua nhiều đời Tổng bí thư. Minh oan và trả lại sự thật cho các nạn nhân của vụ án là việc làm hoàn toàn có lợi cho đảng.

Mặc dù nếu công khai những sự kiện này ra thì rất nhiều khuôn mặt đang đứng phía sau hậu trường chính trị khó thoát khỏi sự truy cứu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, tuy nhiên việc làm này sẽ giúp Đảng cộng sản được tiếng là dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước dân chúng để bắt đầu một giai đoạn mới hòa nhập vào dòng chảy dân chủ thật sự với  thế giới.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-anti-party-revisionist-case-p4-ml-10242013113207.html

——————-

Các bài được đọc nhiều nhất trong chủ đề này:

 »

Hôm nay là đúng 59 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954 Hiệp Định Geneve 

►Trong cuốn Đèn Cù, Trần Đĩnh tiết lộ: Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra

——-

Các bài đọc thêm về Vụ án Xét lại Chống Đảng, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_X%C3%A9t_l%E1%BA%A1i_Ch%E1%BB%91ng_%C4%90%E1%BA%A3ng

http://son-trung.blogspot.com/2013/01/vu-xet-lai-chong-ang-bach-khoa-toan-thu.html

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Tagged: | Leave a Comment »

►Những kẻ đã làm mất biển đảo và đẩy Việt Nam vào con đường nô lệ cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 25/02/2013

Hội nghị  Thành Đô, 3 và 4 tháng 9, năm 1990

Hậu họa “giải pháp đỏ” của Nguyễn

Văn Linh

Hội nghị Thành Đô, 2-9- 1990

Ông Võ Trần Chí, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nói Nguyễn Văn Linh là người “Lội ngược dòng  lịch sử !”. Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng bản thân mình từng “Lên bờ xuống ruộng!”. Nguyễn Văn Linh còn là người “bước lỡ nhịp” và tên tuổi ông được gắn với một khái niệm đầy tai tiếng là  “Giải pháp đỏ”.

Trong tiểu sử Nguyễn Văn Linh, ghi tên thật của ông là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1-7-1915, tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ngày 1-5-1930, ông bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo.

Hình như có sự nhầm lẫn năm sinh, hoặc năm ông bị bắt đi tù, bởi điều luật của nước Pháp không xử tù tuổi vị thành niên. Ví dụ ông Nguyễn Hữu Đang, sinh năm 1913, hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, bị bắt 1930. Năm 1931, khi ra tòa đã 17 tuổi, vẫn được tha bổng vì còn vị thành niên. Nguyễn Văn Linh khi ra tòa mới 14 tuổi 10 tháng, mà bị xử tù chung thân thì vô lý?

Trong tiểu sử cùa Nguyễn Văn Linh, không ghi ông học ở trường nào, trình độ văn hóa ra sao, hầu như cả cuộc đời ông dấn thân hoạt động cách mạng, vào tù ra tội, gắn bó với phong trào quần chúng, ở những nơi ác liệt.

Từ năm 1957 đến năm 1960, Nguyễn Văn Linh đã từng làm Bí  thư đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, làm Bí thư (1961-1964), rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hình như từ những năm tháng đó,  Nguyễn Văn Linh đã “lên bờ xuống ruộng” rồi.

Ngày  10-4-1975, tại Trung ương cục miền Nam, Lê Đức Thọ, từ Hà Nội vào công bố quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, trao quyết định Bí thư đặc khu Sài Gòn-Gia Định cho Võ Văn Kiệt, Mai Chí  Thọ lảm Phó bí thư. Nguyễn Văn Linh không còn là Phó bí thư nữa, mà chỉ phụ trách mảng phong trào nổi dậy.

Cũng như các lần thay đổi trước, tổ chức không nêu ra lý do, và Nguyễn Văn Linh cũng không băn khoăn, ông chấp hành sự phân công một cách bình thản. Ông Võ Văn Kiệt và Võ Trần Chí cho rằng, đó là một trong những phẩm chất đặc biệt của Nguyễn Văn Linh.

Ông Lê Duẩn cho rằng Nguyễn Văn Linh quá nhẹ tay trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhẽ ra  phải xóa bỏ triệt để tư sản lại kêu gọi họ tự cải tạo, hòa nhập vào xã hội mới, đem tài lực góp phần xây dựng đất nước. Có lần Nguyễn Văn Linh nói với tôi và Đình Khuyến, Trưởng cơ quan Thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: “Anh Ba, cũng như chúng tôi đã từng được những nhà tư sản Sài Gòn cưu mang trong thời kỳ hoạt động bí mật, bây giờ biến họ thành nạn nhân sao đành!”.

Ý thức “đền ơn đáp nghĩa” của Nguyễn Văn Linh bị Đỗ Mười cho là hữu khuynh, không “không Bôn – sê – vích”.  Đã sảy ra những  cuộc  tranh luận căng thẳng giữa Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười. Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt bảo vệ quan điểm cải tạo từng bước, phân biệt đối tượng cụ thể, tận dụng kinh nghiệm thương trường cùa giới công thương chế độ cũ, đặc biệt đối với những người có công với cách mạng để xây dựng và phát triển thành phố.  Đỗ Mười  bảo vệ quan điểm của Lê Duẩn, phải xóa sạch tư sản. Kết quả, đầu năm 1978, Nguyễn Văn Linh mất chức Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Cũng trong thời gian đó, có người bới lại chuyện Nguyễn Văn Linh sang Campuchia tháng 6-1975, đi suốt 200 km, qua ba 3 tỉnh mà không phát hiện ra những thay đổi bất thường của Khmer đỏ, để  sảy ra những biến cố bất ngờ!

Đó là thời kỳ bĩ cực nhất của Nguyễn Văn Linh.

Ông đã xin rút ra khỏi Bộ chính trị vào cuối nhiệm kỳ.

Vốn là người hết sức trầm tĩnh, kín đáo, nhưng Nguyễn Văn Linh đã  tâm sự với Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên xin rút!”.

Đỗ Mười mang tinh thần “Bôn – sê – vích” và  “bàn tay sắt” vào miền Nam đánh tư sản. Ông ta thực hiện y trang  như những gì mình từng làm ở Hải Phòng năm 1955, Hà Nội 1960, xóa sạch tàn dư tư bản chủ nghĩa, đề  xây đựng nền kinh tế xã hội, với tham vọng 15 năm sau theo kịp Nhật Bản, như Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố ngày 2-7-1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI.

Thực tế ngược lại hoàn toàn với tham vọng ngông cuống và siêu thực đó. Sau cải tạo thành phố Hồ Chí Minh  kiệt quệ, các nhà máy xí nghiệp không có nguyên liệu sản xuất phải đóng cửa, hàng triệu công nhân thất nghiệp, hệ thống giao thông vận tải ngưng trệ, lưu thông phâm phối tắc nghẽn, chợ búa gần như ngừng hoạt động, đời sống của cán bộ nhân dân cùng cực. Tài liệu chính của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lúc đó công bố “Kế hoạch năm năm không đạt, tăng trưởng âm, lạm phát phi mã, gần ba triệu dân thành phố thiếu đói”.

Đỗ Mười đã đẩy Sài Gòn “tiến” kịp Hà Nội, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Hòn than bùn xó bếp” như cách nói cùa nhà báo Ba Dân lúc đó. Thật mỉa mai khi các nhà khoa học nổi tiếng như Chu Phạm Ngọc Sơn, Châu Tâm Luân, được động viên nghiên cứu những công trình khoa học như “Bo bo giàu dinh dưỡng hơn gạo”,  “Khoai lang bổ hơn bột mì”, “Thành phần đạm trong rau muống”…

Trước kia Hà Nội có thơ  “Gia công gai quy, lộn cổ sơ mi, bơm ruột bút bi, vá ni lon rách”, bây giờ Sài Gòn cũng nổi tiếng không kém với  “Nuôi lợn trên gác, phục hồi bu gi, gia công cán mì, tái chế dép xốp!”.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Trước Đại hội Đảng lần thứ V,  Nguyễn Văn Linh xin rút ra khỏi Bộ Chính trị, trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1981), thay ông Võ Văn Kiệt ra Trung ương. Về sau, ông giải thích với ông Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút” …. Ông trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử của thành phố này.

Phải nói, nếu hơn mười năm trước Kim Ngọc,  Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã dũng cảm tìm lối thoát cho nông dân bằng biện pháp “khoán chui”, thì những năm đầu thập niên 80 TK 20, Nguyễn Văn Linh đã cứu công nhân và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bằng  “xé rào” thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp.

Nguyễn Văn Linh đã tập hợp chung quanh mình một đội ngũ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng móc nối với tư bản nước ngoài để phá thế bị bao vây cô lập. Những công ty Cholimex, Dereximco, Imexco lần lượt ra đời, trực tiếp làm ăn với một số công ty Hồng Kong, Đài Loan, như Globai, Thai Hing Long, nhập khẩu sợi dêt, xăng dầu, thuốc lá, men bia, xuất khẩu đậu phộng, vừng, tôm khô, mực khô. Thực hiện việc trao đổi hàng hóa, khoán sản phẩm, mua nguyên liệu bán sản phẩm v,v.

Nhờ việc xé rào này, 20.000 công nhân ngành dệt có việc làm, ngành giao thông vận tải có xăng dầu hoạt động, và bộ mặt Sài Gòn khởi sắc trở lại.

Cũng như “khoán chui” của Kim Ngọc, việc “xé rào” cùa Nguyễn Văn Linh lọt tới “thiên đình” và cuồng phong nổi lên,  bắt đầu bằng cuộc ra quân của Bộ Tài chính.

Ngày 12- 3- 1982, đoàn thanh tra 28 thành viên từ Hà Nội hùng hổ tiến vào Công ty Direximco, tuyên bố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hơn ba tháng liên tục, moi móc hết 50 mặt hàng và  đến từng đơn vị làm ăn với Dereximco, kiểm tra từng tờ hóa đơn. Ngày 25-6- 1983, Đoàn thanh tra kết luận việc xé rào của thành phố Hồ Chí  Minh vi phạm nghiêm trọng chủ trương đường lối của đàng, chính phủ, chỉ có  1 công  nhưng 7 tội, cần phải xử lý nghiêm khắc. Ông Đỗ Mười  lên tiếng: “Làm bí thư Thành ủy mà để xảy ra như thế sao không từ chức!”.

May cho Nguyễn Văn Linh, lần này Lê Duẩn không vội nghe theo Đỗ Mười.

Tháng 3-1983, khi Lê Duẩn sang Liên Xô chữa bệnh, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công vào Đà Lạt nghỉ mát. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ và các lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hồ Chí Minh  khéo léo tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” thành công.

Nguyễn Văn Linh bố trí một số giám đốc nhà máy, xí nghiệp làm ăn được nhờ xé rào như Nguyễn Thị Đồng, Nhà máy dệt Thành Công, Bùi Văn Long, Tổng công ty dệt may, Nguyễn Văn Thụy, Công ty thuốc lá, lên Đà Lạt trực tiếp gặp ba nhà lãnh đạo đảng, nhà nước.

Tôi còn nhớ  buổi sáng hôm ấy ở khách sạn Palass, ông Nguyễn Văn Linh nói với bà Nguyễn Thị  Đồng và  Bùi Văn Long: “Phải khéo léo thuyết phục các anh! Mời bằng được anh Năm xuống thăm cơ sở thì mới thấy hết cái việc mình làm!”.

Bà Nguyễn Thị Đồng với giọng nói rổn rảng,  không biết ngán ai bao giờ, bởi gia đình bà có tới hơn 10 người là bộ đội, thương binh, liệt sỹ.  Bà nói với ông Trường Chinh: “Anh hãy xuống nhà máy gặp công nhân, người ta vừa mới sống lại đấy. Rồi anh để họ sống thì để bóp chết thì bóp!?

Trước thái độ cương trực của bà Đồng, ông Trường Chinh đã phải mỉm cười gật đầu, thực hiện một chuyến đi thực tế ý nghĩa nhất, và đó là tiền đề cho sự thay đổi tư duy, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường của ông.

Đại hội đảng toàn quốc lần VI, với bài diễn văn đúc kết từ thực tế  “xé rào” ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số đại biểu, ông trở thành Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam. Có lẽ đây là một trường hợp hãn hữu, một người được bầu làm Tổng bí thư của đảng, nhận được sự đồng thuận của dân.

Sau đại hội đảng VI, Nguyễn Văn Linh đã tiến hành nhiều cải cách quan trong. Ông chọn  khâu  lưu thông phân phối làm đột phá khẩu  đổi mới.  Ông nói: “Giải quyết  vấn đề phân phối lưu thông vì nó là cái gốc liên quan đến quá trình sản xuất, tới  tổng thề  cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân”.

Những chính sách nổi bật trong thời kỳ này là: Tách tài chính ra khỏi ngân hàng. Lập kho bạc nhà nước. Bơm tiền lưu thông. Xóa bỏ ngăn sông cấm chợ. Lấy khoán 100 làm cơ sở khoán 10, giao quyền tự chủ cho nông dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã kéo lạm phát từ 240% xuống 61%. Từ chỗ cả nước không đạt 21 triệu tấn lương thực, phải nhập mỗi năm 500.000 tấn lương thực, năm 1989 đã dư 1 triệu tấn gạo.

Về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh muốn phá thế bao vây của các nước phương Tây và Trung Quốc. Tại hội nghị Bộ chính trị ngày 20 -5 -1988, đã ra Nghị quyết 13 về điều chỉnh đường lối đối ngoại, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, giữ môi trường hòa bình, phát triển kinh tế. Trả lời phòng vấn trên tờ Thời báo New Yok, Nguyễn Văn Linh nói về mối quan hệ với Mỹ: “Việt Nam luôn luôn muốn có quan hệ với nhân dân và chính phủ Mỹ. Chiến tranh kết thúc 15 năm rồi mà chưa có quan hệ bình thường là quá chậm. Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi trở ngại trên con đường bình thường hóa quan hệ với Mỹ”.

Ngoài việc đổi mới về kinh tế, và đổi mới về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh còn đổi mới về văn hóa xã hội, dân sinh, dân chủ. Chủ trương cởi trói cho văn nghệ sĩ nói riêng, trí thức nói chung, ông  đã  vén  bức màn đen tối, minh oan cho những nạn nhân bị oan ức, đọa đày trong vụ “Nhân văn giai phẩm” và đã khích lệ giới cầm bút viết những tác phẩm chân thực.

Ngày 25- 5-1987, Nguyễn Văn Linh  cho ra đời mục “Những việc cần làm ngay” trên báo Nhân dân, từ đó những bài viết của ông ký bút danh NVL liên tục xuất hiện trên mặt báo. Ông nói: “Chống tiêu cực là đã thành nhiệm vụ quan trọng, dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết đại hội VI, và các Nghị quyết của đảng, nhằm đưa nước nhà ra khỏi khó khăn đến ổn định tình hình mọi mặt, làm dân bớt khổ”. Ông yêu cầu: “Nhà báo phải có tấm lòng cương trực, yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi, ghét kẻ làm xấu để lên án”. Nguyễn Văn Linh xác định lấy báo chí làm vũ khí, nhà báo là lực lượng nòng cốt chống tiêu cực tham những. Ông nói đánh giặc ngoại xâm chủ yếu bằng súng đạn, đánh giặc nội xâm phải dùng vũ khí ngôn luận.  Báo chí  là sức mạnh, là thứ  bọn tiêu cực sợ nhất!”, Nguyễn Văn Linh chỉ thị tất cà các cơ quan đảng, chính quyền phải trả lời chất vấn cùa báo chí, phải xử  thật nghiêm những trường hợp tham nhũng, ăn hối lộ, ức hiếp dân mà báo chí đã nêu. Nhiều vụ án tưởng đã chìm vào quên lãng đã được đưa ra xét xử.

Ông thường xuyên gặp gỡ anh em làm báo, ngoài hành lang các hội nghị, hoặc kêu tới nhà ông uống cà phê, ăn sáng nói chuyện. Ông không phân biệt báo lớn, báo nhỏ, báo đảng báo đoàn thể, nhưng rất coi trọng những nhà báo viết bài trung thực, có sức lan tỏa. Khi gặp  chúng tôi, ông thường hỏi: “Dân đang nghĩ gì, đang làm gì, và cần gì?”. Khi chúng tôi nói cho ông nghe những bức xúc của dân ông hỏi: “Nếu dân nghĩ vậy thì mình làm sao?”.

Nguyễn Văn Linh tỏ thái độ đồng tình với Trần Xuân Bách về cơ chế dân chủ và đổi mới chính trị. Có lần ông nói với anh em báo chí: “Anh Trần Xuân Bách nói rất đúng. Dân chủ  không phải là ban ơn, là mở rộng dân chủ, mà đó là quyền của dân với tư cách người làm chủ lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Dân chủ là khởi động trí tuệ dân để tháo gỡ khó khăn đưa đất nước theo kịp thời đại!” .

Nửa đầu của nhiệm kỳ Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh là một con người như vậy. Đất nước đổi mới từng ngày, nhà cừa mọc lên khang trang, nụ cười xuất hiện trên môi người, Việt kiều về quê rất đông, và hầu như không có những vụ khiếu kiện tập thể…Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam xóa quan liêu bao cấp, thực hiện đổi mới và mở rộng quan hệ đối ngoại, nhất là với Mỹ và phương Tây, đã làm Trung Quốc rất khó chịu, tìm cách phá ngang.

Gần cuối nhiệm kỳ, Nguyễn Văn Linh bị Trung Quốc cài bẫy. Trong bài  này, sự tác động do Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và vai trò của Đỗ Mười thế nào chưa bàn đến. Nhưng đó là nguyên nhân chính đã làm cho Nguyễn Văn Linh thay đổi hẳn quan điểm, dẫn tới dân-nước và bạn bè quốc tế bị bất ngờ và thất vọng.

Có thể nói cái mốc ấy bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc từ 3 đến 5- tháng 9, 1990 đến bây giờ, dù những người tư liệu còn hạn chế, nhưng nhìn lại một cách khách quan, vẫn vừa tiếc, vừa buồn, vừa trách Nguyễn Văn Linh.

Theo ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 29-8-1990, đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy, gặp Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, chuyển thông điệp của Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc,  và Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng sang Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) ngày 30-8-1990 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ hai nước.

Trương Đức Duy nói mập mờ rằng, Đặng Tiểu Bình có thể gặp Phạm Văn Đồng, và lấy cớ Bắc Kinh đang tổ chức Á vận hội ASIAD, sợ lộ bí mật nên phải gặp nhau ở Thành Đô.

Đây là chuyện rất đột ngột, bởi mới 5 ngày trước, Trung Quốc khăng khăng không muốn bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước, tại sao bây giờ họ lại  bàn vấn đề bình thường hóa?

Ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao nhận định: Sự thay đổi đột ngột của Trung Quốc là do họ cần thực hiện 4 hiện đại hóa, nhưng bị Mỹ, Nhật, Liên Xô và các nước cấm vận sau vụ đàn áp Thiên An Môn, nên phải tìm cách thoát ra.

Bên cạnh đó, Trung Quốc thấy Mỹ, Nhật, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với  Việt Nam, nên muốn phá ta.

Quan điểm của Nguyễn Văn Linh lại khác.

Ông triệu tập họp Bộ chính trị và nếu ý kiến: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa” (!?).

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đặc biệt là Rumani mà Nguyễn Văn Linh vừa thăm đã tác động rất lớn tới ông, lảm cho ông mất bình tĩnh.

Mặc dù Nguyễn Cơ Thạch,  Võ Chí Công, Trần Xuân Bách can ngăn, nhưng Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Hợp tác với Trung Quốc, bảo vệ XHCN chống đế quốc!”. Quan điểm của Nguyễn Văn Linh được Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng… ủng hộ.

Và thế là, ngày 2-9-1990, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45 năm, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô, với sự tháp tùng của Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao. Nguyễn Văn Linh không cho Nguyễn Cơ Thạch đi, vì Nguyễn Cơ Thạch không đồng quan điểm, Trung Quốc không thích Nguyễn Cơ Thạch.

Theo Trần Quang Cơ, Trung Quốc đã đánh lửa Việt Nam một cách trắng trợn. Họ nói Đặng Tiểu  Bình sẽ  gặp Phạm Văn Đồng nhưng Đặng không xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Nhẽ ra anh Tô không nên đi!”. Mà Đặng Tiểu Bình là gì mà chính Phạm Văn Đồng cũng muốn gặp để rồi bị dính chùm trong vụ tham dự Hội nghị Thành Đô? Tù đó Trung Quốc thêm vinh danh và đạt được ý đồ thâm hiểm lâu dài là kìm hãm, phá ngang đường lối đổi mới và kéo Việt Nam đi theo quỹ đạo của Trung Quốc. Cũng từ quan điểm đưa ra đầy thỏa hiệp Trung-Việt này mà cái ‘bào thai’ đẻ ra con ngáo ộp “Diễn biến hòa bình” và sau này củ cà rốt đỏ chót “16 chữ vàng”, “4 tốt”  trở thành “khẩu hiệu hành động, khẩu khí ngoại giao” rất mất lòng dân của lãnh đạo Việt Nam…

Vấn đề Campuchia, Trung Quốc vẫn giữ thái độ như  ngày 24-8-1990, đòi cấu trúc thành phần chính phủ hòa hợp dân tộc Campuchia theo công thức: 6 +2+2+2+1 (6 người phe chính phủ Hun sen , 2 người phe Khmer đỏ, 2 người phe Hoàng gia, 2 người phe đảng dân chủ, và Siha Nouk). Điều này hoàn toàn trái với công thức: 6 +2 +2 +2 mà Hun Sen và Siha Nouk đã thỏa thuận tại Tokyo.

Ông Trần Quang Cơ  viết: “Hội nghị Thành Đô có 8 điểm, hai điểm về quốc tế, 5 điểm về Campuchia, chỉ có một điểm về Việt Nam. Nguyễn Văn Linh nêu ‘Giải pháp Đỏ’, Trung Quốc hoan nghênh nhưng không mặn mà !”.

Cái gọi là “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh là “Kéo Trung Quốc lại, thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa!”. Nguyễn Văn Linh mê muội phe chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, quên quyền lợi và danh dự của dân tộc mình và  làm mất niềm tin của bạn bè !

Khi Trung Quốc đưa công thức 6+2+2+2+2+1 ra, ông Phạm Văn Đồng nhắc Nguyễn Văn Linh thận trọng. Phía Trung Quốc liền mời Phạm Văn Đồng ra chỗ khác để Nguyễn Văn Linh ký. Ông Phạm Văn Đồng đã thấy nguy, nhắc Nguyễn Văn Linh sửa sai, nhưng Nguyễn Văn Linh nói: “Không sao đâu!”.

 

Từ Thành Đô về, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh sang Campuchia gặp Henh Somrin và Hunsen trao đổi về Hội nghị Thành Đô. Nhưng Campuchia không chấp nhận công thức ấy và nói thẳng Việt Nam và Trung Quốc không có quyền can thiệp vào Campuchia. Xương máu cùa hàng  ngàn  cán bộ chiến sĩ quân đội ta đổ  trên chiến trường Campuchia đã bị  Nguyễn Văn Linh bán rẻ cho Trung Quốc!

Trung Quốc nói giữ bí mật Hội nghị Thành Đô, nhưng chính họ thông báo cho thế giới biết toàn bộ nội dung cuộc “họp bí mật” đó. Tờ Bangkok Post và tờ Tạp chí kinh tế Viễn Đông, ngày 4-10-1990, đăng bài bình luận “Củ cà rốt và chiếc gậy” nói Việt Nam đã nhượng bộ nhiều hơn làm vừa lòng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh đã thất bại trong sách lược “Giải pháp Đỏ”, bị Trung Quốc tách ra khỏi các mối quan hệ với phương Tây với nhiều mở hướng tốt đẹp cho sự nghiệp đổi mới, chỉ vì nghe Trung Quốc xúi cho bùi tai là làm thành trì bảo vệ Xã hội chủ nghĩa. Nói đúng hơn Nguyễn Văn Linh đã bị Trung Quốc lừa một vố đau.

Theo ông Trần Quang Cơ: “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “Giải pháp Đỏ”.

Ông Nguyễn Cơ Thạch nói: “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bộ ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta!”

Phạm Văn Đồng tỏ ra ân hận vì không ngăn được Nguyễn Văn Linh ký thỏa thuận Thành Đô. Nguyễn Văn Linh tránh trớ: “Anh Tô nhớ lại xem! Không phải tôi đồng ý. Tôi chỉ nói nghiên cứu xem xét và bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng”.

Cái gọi là “đúng” của Nguyễn Văn Linh là từ luận điểm câu nhử, đe dọa của Trung Quốc: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và, không hiểu Trung Quốc làm cách nào mà nó như thứ bùa mê thuốc lú để Nguyễn Văn Linh lý giải: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.

Từ Hội nghị Thành Đô trở về hình như Nguyễn Văn Linh là một con người khác. Ngày 28-8-1990, tuyên bố chấm dứt “Những việc cần làm ngay”. Ông nói “Bận quá! Vả lại tôi viết để “mồi” cho các nhà báo viết tiếp để đấu tranh kiên quyết liên tục!”. Ông còn viết: Không nên đi xe ngoại, rằng: “Ta về ta tắm ao ta”…

Đó là một lời nói dối, bởi sợi dây trói vừa được cởi ra trong khoảng thời gian 3 năm 4 tháng đã bị thít lại chặt hơn, và chính ông là người đầu tiên đã liên kết với Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Đỗ Mười đánh dập vùi Trần Xuân Bách, một người được coi là có trí tuệ nhất trong Bộ chính trị lúc đó.

Nguyễn Văn Linh đã đưa Việt Nam tiến lên một bước, nhưng rồi chính ông lại kéo Việt Nam lùi lại, ông mở cái cửa nhỏ thoát ra khỏi một ngõ cụt nhưng rồi chính ông lại đóng sập cánh cửa ra biển lớn của dân tộc vì ý thức bảo thủ và giáo điều cùa ông !

Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng.

© Minh Diện

Nguồn: bvbong.blogspot.com

 

* Từ hội nghị Thành Đô 1990, đã dẫn đến các mối quan hệ họp hành bí mật khác giữa các Ủy viên BCT của  đảng CSVN với Trung Quốc, và dẫn đến Hiệp định Biên giới Trung Việt ký kết 31-12-1999. Theo HĐ này, VN đã bị mất thêm nhiều vùng đất ở biên giới phía Bắc, núi Lão Sơn, Móng Cái, vịnh Bắc Bộ…Và hiện nay, Trung Quốc chính thức vào Vịnh Bắc Bộ khai thác dầu khí.

“QĐND Online -Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chiều 22-6, tại Đà Nẵng, hai tàu HQ 011 và HQ 012 của Hải quân nhân dân Việt Nam đã xuất phát, bắt đầu tham gia chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 15 với Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc…

“Chuyến tuần tra chung và thăm, giao lưu với hải quân Trung Quốc của tàu HQ 011 và HQ 012 nhằm tăng cường mối quan hệ hữu nghị, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau về chính trị giữa quân đội, hải quân hai nước Việt Nam – Trung Quốc; đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động, thực hiện thỏa thuận về quy chế tuần tra liên hợp với hải quân Trung Quốc duy trì trật tự, an ninh trên Vịnh Bắc Bộ và trên các vùng biển của Việt Nam,… ( http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/75…1/Default.aspx )

 

————————————————————————————————–

Bài liên quan:

Vào năm 1989, khi Liên Xô bị vở ra thành 15 nước, và các nước Đông Âu đồng loạt giải tán đảng cộng sản, lúc ấy các đảng viên cao cấp nhất của đảng CSVN đã run lên vì sợ hải, họ nhận ra đang ở trong tình thế: không còn ai đỡ đầu để nương tựa  (cái thực chất của khẩu hiệu “Đảng CSVN quang vinh”  lúc này mới hiện ra trần truồng).

Lo sợ bị sụp đổ như các nước cộng sản Đông Âu, đảng CSVN vội vã bắn tiếng xin bắt tay với Trung Quốc,  xin TQ  đỡ đầu để tiếp tục tồn tại.

Trung Quốc đã bắt bí bằng cách ra điều kiện: đảng CSVN phải nhượng thêm đất đai biên giới, biển đảo, và vịnh Bắc Việt cho Trung Quốc. (Kết quả của Hiệp ước Thành Đô 1990 chính là  Hiệp Định Biên Giới 31-12-1999.).

1990, Trung Quốc đã chơi khăm, họ chọn đúng ngày họp là ngày 3 tháng 9, nghĩa là các đảng viên cao cấp nhất của Đảng CSVN phải khăn gói quả mướp và bí mật đi qua TQ vào ngày 2-9, để kịp buổi họp hôm 3-9-1990.     

Hội nghị ở Thành Đô, Trung Quốc, ngày 3-5 tháng 9, 1990. 

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

—————————–

Đỗ Mười

►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978

Trich:

…Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”. (Đỗ Mười).

…Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

        
 X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu.
 
…Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.
 
Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn
 
Cướp đất của Hội Đồng Công luật Công Án Bia Sơn ở ngoài Nha Trang cũng chỉ là phiên bản mới của vụ cướp trong Chiến Dịch X-3: Đánh Tư sản Thương nghiệp 21-3-1978 va`Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954 do Đỗ Mười thực hiện.
 
Vụ 1978 do đảng CSVN chỉ đạo  cướp tài sản của dân chúng miền Nam, Đỗ Mười thực hiện. Nhờ vụ này mà về sau ĐM trở thành Tổng Bí Thư của đảng CSVN 1991-1997. 
 
DCM  building của Đỗ Mười,  DCM là viết tắt của chữ Đỗ Mười Center!  Hàng xóm ở chung quanh tòa nhà này cho biết  building này  do con rễ của Đỗ Mười đứng tên! (Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý …)

Ông Đỗ Mười đẻ ra Lý Mỹ*

MINH DIỆN

200px-Do_Muoi_cropped
 

     Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng  nằm trong số đó.

      Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3,  dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

      Hôm đó, ông Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo Sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép. Ông có khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của ông Đỗ Mười, hôm  đó được giáp mặt, quả đúng vậy.       

      Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.

Ông  Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 – CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.  

     Ông nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai  đế quốc Mỹ…     “Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chế, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta.

     Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

     Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy!

    Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta …”.

    Ông Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép ông sủi bọt. Tay ông vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa.

    Lúc đầu ông mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, ông bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

    Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”.

     Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung  hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.

    Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà Đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ  khởi đầu!

      Ông Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng một mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn – sê- vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”.

      Chúng tôi  ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tyệt đối bí mật”.

      Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn.  Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần,  nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!

      Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau  đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

     Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong  tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.                 

     Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ  Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết  đánh tư sàn!

    Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B.  ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch.  ở nhà máy dệt Thắng Lợi. 

     Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người  dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngằn: Lý Mỹ.

     Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạngTháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi,  được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông  Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp,  cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

     Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi  từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang  xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40 ,1978).

    Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài,  Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận  cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản !

     Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ  Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh.

     Khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc tôi là đứa trẻ sáu tuổi đi xem đấu tố như xem hội hè, khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, tôi ba mươi tuổi, là người trong cuộc. Trước con mắt tôi, cuộc cách mạng sau chỉ khác cuộc cách mạnh trước là  không bắn giết,  còn  giống hệt  nhau. Cũng con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bẻ tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong  chiến tranh, được những gia đình  buôn bán , giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sàn ân nhân của mình.  Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ  ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978,  người bị gọi là  tư sản, con buôn  xấu xa  như vậy. Người ta  đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.    

     Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục  28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “ Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương,  tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới). 

     Ông  Đỗ Mười  đưa  hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu  vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định”  (Nguyễn Văn Linh  trăn trở cuộc đổi mới).     

     Ông Đỗ Mười thay ông Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng  người cùa Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miến Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời ông bố trí  cán bộ  các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến  ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.  

    Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

    X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận:

“Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.      

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong  63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, ông Đỗ Mười không đề lại một tác phẩm nào?”.  Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo:  “Cha ấy để lại cho đời  tác phẩm cải tạo công thương nghiệp !” .

     Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.

     Tôi không muốn viết chân dung ông bởi chẳng có gỉ đáng viết, chỉ ghi lại vài dòng những người đồng chí của ông, nhận xét về ông.  

     Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kề: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần  dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?”  tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư , chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!” .

     Ông Đỗ Mười là người đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho  đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!”  (Làm người là khó).

     Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với ông Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Uỷ viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

      Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”.  Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói:  “Chỉ có phá !”.

      Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp.

       Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn. Tôi không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

 

M.D

Theo blog BVB

………….

*Lý Mỹ là một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc, nữ thanh niên “bôn sệt”, sản phẩm của lối tuyên truyền nhồi sọ.

————————————————————
Bai Lien Quan

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 1 Comment »

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

Posted by hoangtran204 on 21/08/2012

 

Vào những ngày cuối tháng 8- 1990, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh ở Hà Nội đã quyết định phải quay đầu trở lại, xin hợp tác với đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng).

Kết quả là hội nghị Thành Ðô, ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, mà Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu gọi là “Cái thòng lọng thứ hai” buộc vào cổ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cái thòng lọng thứ nhất, là quyết định “khai thông biên giới Việt Trung” vào năm 1950 để Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng) nhận được viện trợ và đón các cố vấn Trung Quốc sang chỉ đạo. Hà Sĩ Phu viết: “Do vị trí địa-chính trị nênViệt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Ðại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía Nam…” Chủ nghĩa cộng sản đã cho Trung Quốc “một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘Quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.”

Khi đảng Cộng Sản Việt Nam tự tìm đến Thành Ðô 1990 để chui vào cái thòng lọng thứ hai, Hà Sĩ Phu nhận định: Xét trong quan hệ lịch sử giữa hai kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là “tuyên bố đầu hàng.”

Nếu biết rõ hơn về hội nghị Thành Ðô, chúng ta sẽ thấy quả thật đó là một “cuộc tuyên bố đầu hàng.” (của đảng CSVN trước Trung Quốc) . Những sự kiện và ngày tháng kể sau đây dựa trên hồi ký của Trần Quang Cơ (1), là thứ trưởng Ngoại Giao vào lúc đó, với một tài liệu do Trung Cộng công bố, đã được Lý Nguyên dịch từ mạng Hà Bắc tân văn võng ngày 30 tháng 10, 2007, đăng trên mạng Talawas.

Tháng 10 năm 1989, trùm cộng sản Lào Kaysone Phomvihane thăm Bắc Kinh, xin gặp Ðặng Tiểu Bình với lý do bí mật. Phomvihane chuyển lời Nguyễn Văn Linh xin được làm hòa với Trung Cộng, 10 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình đã cho quân sang “dạy một bài học” cho Cộng Sản Việt Nam. Ðặng Tiểu Bình đặt một điều kiện: Trước hết, phải rút hết, rút triệt để quân đội khỏi Cămpuchia. Và Bình còn nói rõ ông không thích Nguyễn Cơ Thạch, lúc đó là ngoại trưởng.

Năm đó, Việt Cộng đã rút hết quân về. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư Cộng Sản Việt Nam, gặp Trương Ðức Duy, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, nhưng cuộc họp có cả Nguyễn Cơ Thạch, chưa nói hết ý.

Theo bên Trung Quốc kể lại, ngày 16 tháng 8 năm 1990, Nguyễn Văn Linh sai Hoàng Nhật Tân gặp Trương Ðức Duy, đưa một “mật thư,” và nói miệng gửi lời nhắn riêng: “Không cần đi qua Nguyễn Cơ Thạch,” mặc dù đại sứ một nước chỉ được tiếp xúc qua bộ trưởng Ngoại Giao nước chủ nhà. Trương Ðức Duy quyết định liên lạc bí mật qua Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Ðức Anh.

Ngày 21 tháng 8, 1990 Trương Ðức Duy ngồi trên một chiếc ôtô du lịch không cắm cờ Trung Quốc theo nghi thức ngoại giao, lén đến Bộ Quốc Phòng bàn riêng với Lê Ðức Anh. Và lúc 7 giờ rưỡi, sáng sớm ngày hôm sau, Nguyễn Văn Linh gặp Trương Ðức Duy tại nhà khách Bộ Quốc Phòng, cả hai bên đều không mang phiên dịch. Linh đề nghị Trương Ðức Duy đổi ngồi một chiếc xe khác hôm qua, và vẫn không cắm quốc kỳ. Một tuần sau, Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư) và Ðỗ Mười (thủ tướng) cũng hội kiến Trương Ðức Duy. Chắc đây là buổi họp quyết định. Vì hôm sau, 30 tháng 8, 1990, Bộ Chính Trị họp, Linh đưa ra ý kiến hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc,” tiến tới bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Những diễn biến trên cho thấy ba người chủ chốt trong vụ này là Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười. Nhưng Lê Ðức Anh có vẻ được Trung Cộng tin cậy hơn cả. Nhưng tại sao bộ ba này thuyết phục được cả Bộ Chính Trị đồng ý với cuộc đầu hàng không điều kiện này? (Chỉ có cố vấn Võ Chí Công không đồng ý). Nguyễn Văn Linh giải thích: Cần hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc.”

Thực tế là chế độ cộng sản tại Việt Nam đang lâm nguy. Kinh tế suy sụp vì thiếu viện trợ vốn cũng như kỹ thuật của các nước Ðông Âu và Nga Xô, sau khi cộng sản Ðông Âu sụp đổ, Liên Xô đang bị cùng kiệt về kinh tế. Mấy năm trước dân nhiều nơi miền Trung đã chết đói. Cả thế giới đang tẩy chay Việt Cộng, từ năm 1978. Cộng Sản Việt Nam biết không còn nương tựa vào đâu, phải cầu cứu tới một nước đã từng gọi là “kẻ thù truyền kiếp.”

Trung Cộng không tiếp phái đoàn Việt Cộng tại thủ đô Bắc Kinh mà chỉ mời đến Thành Ðô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Họ giải thích là cần giữ bí mật cho cuộc gặp gỡ này, không cho thế giới biết. Trước khi lên đường, Trương Ðức Duy còn yêu cầu phải có mặt Phạm Văn Ðồng, cố vấn của Bộ Chính Trị, nhìn bên ngoài có địa vị tương đương với “bố già” Ðặng Tiểu Bình. Ðồng chịu đi vì tưởng sẽ được gặp Bình. Nhưng tới nơi thì không (gặp Bình). Sự có mặt của Phạm Văn Ðồng có ý nghĩa. Vì trong cuộc họp Trung Cộng có thể đem lá thư ông ta gửi Chu Ân Lai năm 1958, công nhận lập trường của Trung Cộng về Trường Sa, Hoàng Sa. Những gì được ký kết giữa hai bên tới nay vẫn còn giữ bí mật; nhưng chắc phía Trung Cộng họ không dại gì mà không nhắc tới vụ các đảo, sau khi hải quân hai bên mới tử chiến năm 1988, biển vẫn còn tanh mùi máu.

Theo các tài liệu chính thức công bố thì hai bên chỉ bàn chuyện Campuchia. Lúc đầu Việt Cộng đề nghị trong hội nghị đình chiến ở xứ Chùa Tháp, phe Hun Sen và phe chống Việt Cộng, trong đó có Pol Pot, mỗi bên sẽ có 6 người dự vào chính quyền lâm thời ở Campuchia. Trung Cộng đòi có thêm cựu hoàng Sihanouk cho thành 6+6+1, mà ai cũng biết ông hoàng này là người được Trung Cộng nuôi nấng từ 20 năm rồi. Nguyễn Văn Linh cố “bán” ý kiến “Giải pháp đỏ” cho Trung Cộng. Tức là cho hai đảng Cộng sản Campuchia hợp tác đủ rồi, bỏ các phe của Sihanouk ra ngoài. Nhưng Linh thất bại, cuối cùng, bên Việt Cộng không dám cãi, mà cũng không dám đòi hỏi gì; đồng ý sẽ thuyết phục phe Hun Sen chịu “hòa giải” với Pol Pot. Hai bên hứa sẽ giữ bí mật cuộc hội nghị, để các nước khác như Nga, Mỹ, không biết hai chính quyền cộng sản Á Châu toa rập. Giang Trạch Dân nói ở Thành Ðô: “Các nước phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này.”

Nhưng ngay sau đó, cả nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thấy ngay mình bị lừa. Khi Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh sang thuyết phục phe Hun Sen thì bị đám đàn em chống, vì phe này bị lép vế với tỷ số 6/7. Nguyễn Cơ Thạch kể lại: “Trung Quốc đã đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lãnh đạo ta ở Thành Ðô cho Phnom Penh. Hun Xen nói là trong biên bản viết là “hai bên đồng ý thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1.”

Trung Cộng đã tiết lộ kết quả cuộc họp cho cả thế giới. Báo Bangkok Post ngày 19 tháng 9 đã đăng công khai Thỏa thuận Thành Ðô, viết rõ Việt Nam đã đồng ý với Trung Quốc về thành phần chính phủ lâm thời là 6 cộng 7, có Sihanouk! Tạp chí Kinh tế Viễn Ðông (FEER) số ngày 10 tháng 10 viết về cuộc gặp gỡ “thượng đỉnh” Trung-Việt ở Thành Ðô.

Nhưng cay cú nhất là Trung Cộng còn thông báo cho cả Mỹ biết (hội nghị Thành Ðô). Ngoại Trưởng Mỹ James Baker còn nói với Nguyễn Cơ Thạch rằng Trung Quốc khoe với Mỹ là họ đã “bác bỏ đề nghị của lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam là Việt Nam với Trung Quốc đoàn kết bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội chống âm mưu của đế quốc Mỹ xóa bỏ Chủ nghĩa Xã hội.” Ông Trần Quang Cơ than: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Ðô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ Chủ nghĩa Xã hội, thay thế cho Liên Xô, làm chỗ dựa.”

Trong cuộc họp Bộ Chính Trị vào tháng 5 năm 1991, đủ mặt 12 người và hai cố vấn, họ bắt đầu than thở và chỉ trích lẫn nhau. Võ Văn Kiệt phê bình việc để Phạm Văn Ðồng cùng đi: “Chỉ để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng, không có Ðặng Tiểu Bình. Mình bị nó lừa nhiều cái quá! Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy!” Phạm Văn Ðồng than: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết,… Sau chuyến đi Thành Ðô, tôi vẫn ân hận sao lại mời thêm tôi… Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng, cơ hội lớn, nên đi!”

Nguyễn Văn Linh lại biện hộ tại sao phải theo Tầu, vì “Âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xã hội ở Châu Á, cả ở Cuba… dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.”

Lê Ðức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xóa cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu. Nó tuyên bố là xóa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc!”

Rõ ràng, tất cả nhóm người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng, vì muốn “bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội.”

Trong thực tế, là bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị nước Việt Nam!

Hà Sĩ Phu không kể các chi tiết trên đây trong bài tham luận mới “Giải Cộng Nhi Thoát,” nhưng ông đã mô tả “cái thòng lọng Thành Ðô” rất cụ thể: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho Việt Nam yên vị theo chế độ cộng sản, không được dân chủ hóa, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.”

Khi hiểu rõ “cái thòng lọng Thành Ðô” thì chúng ta cũng hiểu được các hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1990 đến giờ.

© Ngô Nhân Dụng

http://www.diendantheky.net/2012/08/ngo-nhan-dung-chui-au-vao-cai-thong.html

(1) Hồi Ký Trần Quang Cơ 

http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co/

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236879&mpage=1&key=&#236879

http://vietsuky.wordpress.com/hoi-ky-tran-quang-co/

http://www.wattpad.com/370830-h%E1%BB%93i-k%C3%BD-tr%E1%BA%A7n-quang-c%C6%A1

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 1 Comment »

►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà

Posted by hoangtran204 on 21/08/2012

Câu “rước voi về giày mã tổ” và “cõng rắn cắn gà nhà” rất là chính xác để chỉ hành động của ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rước quân Tàu vào Việt Nam từ 1951 và  rước 320.000 bộ đội Trung Quốc vào đóng quân ở Miền Bắc 1965-1975.  

(Chứng tích là các bài báo và mồ mã của hơn 4400 quân Trung Quốc đã chết đã được đảng Cộng Sản VN xây lăng thờ phụng ở ngoài miền Bắc hiện nay vẫn còn đó.

Trích Trên 4400 bộ đội Trung Cộng đã bị tử thương trong lúc giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ. Hiện có 1446 lính Trung Quốc, (trong số  4400 nói trên), đã được chôn trong 40 nghĩa trang dành cho Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Chúng ta hãy kêu gọi chính quyền  mang những vị anh hùng của chúng ta về lại Trung Quốc, chúng ta không nên để họ yên nghĩ trong một miền đất không thân thiện.  http://hoangtran204.wordpress.com/2012/04/25 )

Khi ông Hồ Chí Minh qua Tàu cầu cứu Mao Trạch Đông năm 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua giúp đỡ và xin vũ khí, quân trang, quân dụng, thực phẩm cho quân cộng sản VN đánh Pháp, ông Hồ Chí Minh phải trả công cho Mao bằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc.

Bởi vậy, ngay sau khi giúp đảng của ông HCM đánh chiếm Điện Biên Phủ 5-1954 và chiếm được Miền Bắc qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần đầu thông qua Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958 (http://www.flickr.com/photos/tientrung/2108319111/). Bức thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ.

1973, biết rõ quân Mỹ sẽ rút ra khỏi VN và chiến tranh VN sắp kết thúc, ngày 19-1-1974 quân Trung Cộng đã chiếm lấy Hoàng Sa (sau khi bị Hải Quân VNCH tấn công và đánh một trận để đời.) 

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Lợi dụng xây đường sá để đem 320.000 quân qua giúp Miền Bắc trong chiến tranh VN 1954-1975, quân Trung Cộng đã dời cột mốc biên giới để chiếm hàng ngàn km vuông ở các vùng đất biên giới phía Bắc, chiếm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Hà Giang, Núi Lão Qua, và Vịnh Bắc Bộ.

Bài báo sau đây của tác giả Ngô Nhân Dụng cho ta nhìn thấy các khía cạnh của việc rước voi về giày mã tổ, cõng rắn cắn gà nhà của đảng CSVN và ông HCM.

 

Ai chui vào cái thòng lọng đầu tiên?

Ngô Nhân Dụng

Tại hội nghị Thành Ðô (1990) giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đã “tuyên bố đầu hàng,” tình nguyện đem cả đảng và nhà nước “chui đầu vào thòng lọng” cho Trung Cộng thao túng, lũng đoạn.

http://www.youtube.com/watch?v=QoU8I3HsKEo&feature=player_embedded#!

Hà Sĩ Phu nhận định: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy.”

Thực ra, đảng Cộng sản Trung Hoa đã nắm lấy cái đầu của Cộng sản Việt Nam từ năm 1950. Sau đó, họ tiếp tục nắm cái đầu “bằng con đường đi qua bao tử” trong suốt thời chiến tranh xâm chiếm miền Nam.

Trong thời gian đó, mỗi năm ông Lê Thanh Nghị sang Bắc Kinh đưa một danh sách những món cần “chi viện” kinh tế; từ cơm sấy, cá khô cho đến từng cây kim, sợi chỉ. Bởi vậy khi Lê Duẩn trở mặt quay sang thần phục Liên Xô hoàn toàn, chống “Trung Quốc xâm lược,” gọi Ðặng Tiểu Bình là “Ðặng Lưu Manh,” thì Bắc Kinh nổi giận, cho “bọn phản phúc” một bài học năm 1979. Bài học đó được trả bằng xương máu của dân và bộ đội (70.000 nguoi) bị quân Tàu giết.

Lê Duẩn đã gieo tai họa cho đám đàn em, cả bọn bơ vơ sợ hãi khi nhìn cảnh Liên Xô trên đà sụp đổ (1990) cùng với các đảng cộng sản chư hầu Ðông Âu. Vì thế, sau cùng họ phải quay đầu 180 độ, quy phục Trung Cộng. Nước cờ ngoại giao liều lĩnh và tai hại của Lê Duẩn có thể được thúc đẩy vì chứng kiến “Bác” lúi cúi theo Trung Cộng quá đáng cũng cảm thấy nhục lây; lại vì ông ta muốn chứng tỏ mình giỏi hơn họ Hồ.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trung thành với các đường lối của Mao Trạch Ðông từ năm 1950 cho tới khi chết là vì ông muốn chứng tỏ mình là một người cộng sản trung kiên. Từ thập niên 1930, Hồ Chí Minh về Moscow (MatxCơva) đã bị Stalin nghi ngờ, và suýt bị xử tử, thì mối lo lớn nhất của Hồ Chí Minh là sợ bị ông Trùm Ðỏ thanh trừng.

Hồ đã có kinh nghiệm cá nhân: Chính mình lập ra đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ngay lập tức bị Stalin bắt đổi tên, và đặt Trần Phú lên thay làm tổng bí thư. Những năm 1930, Hồ Chí Minh ở thủ đô Nga cũng chứng kiến cảnh Stalin đã lần lượt giết hết các đồng chí trong Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Và sau đó, còn biết Stalin đã cho tay chân đuổi theo Trotsky khắp thế giới, sau cùng ám sát được nhà lãnh tụ Cộng sản Ðệ tứ Quốc tế. Năm 1946 sở dĩ Hồ Chí Minh phải sai giết những nhà cách mạng Cộng sản Ðệ tứ Việt Nam như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, vân vân, cũng vì nếu để cho những người yêu nước này sống thì lại lo sẽ bị Stalin nghi ngờ ăn ở hai lòng.

Cho nên, năm 1950, khi Stalin nói giao đảng Cộng sản Việt Nam cho Mao Trạch Ðông chỉ đạo, thì từ đó Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân theo chỉ thị này. Ðến lúc Stalin chết, năm 1953, thì Mao Trạch Ðông đã nắm được cái đầu của đảng Cộng sản Việt Nam trong thòng lọng từ lâu rồi.

Tháng Giêng năm 1950, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh; thấy Mao Trạch Ðông đã đi Moscow rồi, nên xin Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ di chuyển sang Nga. Ở thủ đô Nga, Hồ Chí Minh bị Stalin tỏ vẻ khinh thường: Không đến dự tiệc do ông Hồ tổ chức khoản đãi; không có một hình thức tiếp đón chính thức để chụp hình. Stalin lại từ chối không viện trợ, và lắc đầu khi Hồ Chí Minh xin cho ký một thỏa hiệp hữu nghị, như Stalin đã ký với Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh chỉ xin được Stalin ký tên trên một bức hình xé từ một tạp chí hình ảnh làm kỷ niệm. Stalin ký tên cho, nhưng sau đó sai mật vụ KGB bí mật đến tận phòng, lục va li, lấy lại. Mỗi lần Hồ Chí Minh ngỏ ý xin chi viện, Stalin đều nói: các đồng chí Trung Quốc hiểu rõ người Châu Á hơn; mọi việc hãy hỏi họ, tôi sẽ ủng hộ. Stalin đã gán Hồ Chí Minh cho Mao Trạch Ðông từ đó.

Trên xe lửa trở về Bắc Kinh, Hồ đã nhắc với Mao về việc bị Stalin bỏ rơi, và nói: Chúng tôi chỉ còn dựa vào Trung Quốc. Từ năm đó, các đoàn cố vấn Trung Cộng bắt đầu xâm nhập nước ta từ trên xuống dưới, trong chiến trận cũng như trong chính trị, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất(1953-1956) đẫm máu hoàn toàn theo khuôn mẫu của các cố vấn  Trung Quốc.

Khi tái lập đảng Cộng sản dưới tên mới là đảng Lao Ðộng VN, Hồ Chí Minh cố chứng tỏ mình là một con người cộng sản hoàn toàn. Tạp chí Học tập Liên khu 4, Tháng Tư năm 1951 đã viết (trang 1 đến trang 8) bài tường thuật “Ðại hội Ðảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập ghi lại.

Hồ Chí Minh tán dương các chiến sĩ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó; nhưng ông không đề cao lòng yêu nước của họ mà lại giải thích họ hy sinh chỉ vì chủ nghĩa Cộng sản. Bài báo ghi nguyên văn lời ông Hồ giải thích các hành động anh dũng của các người lính Việt Nam:

“Ðó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Ðảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

Sau khi chỉ tay lên hình Staline (tên viết theo lối Pháp), Hồ lại ca ngợi công ơn đảng Cộng sản Trung Quốc “đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine…” Hồ Chí Minh biện minh: “Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc! (Ðại hội vỗ tay dài). Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” (Ðại hội vỗ tay).”

Hồ Chí Minh lại giải thích tiếp: “Chúng ta lại nhờ có ông anh này! (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Mao-Trạch-Ðông) (Ðại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn đồng chí Mao-Trạch-Ðông muôn năm!)

Ðó là nguyên văn những lời ông Hồ đã nói. Không nói gì đến lòng yêu nước của người Việt Nam; không hề nói đến Tổ tiên đã noi gương tranh đấu chống xâm lăng. Chỉ biết ơn ông Xít (Staline), ông Mao. Hồ Chí Minh nộp dân Việt Nam lên bàn thờ chủ nghĩa cộng sản.

Muốn chứng tỏ công ơn của MaoTrạch-Ðông đối với cuộc kháng chiến của người Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lể: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm… Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…”

Như các cố vấn Trung Cộng ở Việt Nam lúc đó thuật lại, thì Mao-Trạch-Ðông đã chỉ thị đến từng chi tiết các trận đánh; vì Mao cũng là một lý thuyết gia quân sự, và ông rất thích điều khiển để thí nghiệm các khẩu hiệu trong binh pháp của ông.

Tinh thần lệ thuộc của Hồ Chí Minh đối với Cộng sản Trung Quốc đã rõ ràng, không ai chối cãi được. Sau đó, những gì xẩy ra thì chúng ta đã biết. Năm 1958, khi Phạm Văn Ðồng ký văn thư đồng ý với chính phủ Bắc Kinh về vấn đề lãnh hải, mặc nhiên công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc, lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn nắm toàn quyền, sau khi Trường Chinh đã mất chức, mà Lê Duẩn thì mới lên.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”… “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 Tháng Bảy năm 1961.

Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng sản Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng Cách Mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác-Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.

Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “…tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta…” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.”

Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chẩy máu. Nhưng sau cuộc đầu hàng ở Thành Ðô năm 1992, các khẩu hiệu đó lại được các đồng chí Trung Quốc nhắc nhở. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng sản Việt Nam không thể từ chối được! Trung Cộng bèn “triển khai” ra 16 cái chữ vàng để cái thòng lọng thắt chặt hơn.

Hiện nay ở trong nước, các tay đầu sỏ trong đảng cũng không mấy khi nhắc đến Hồ Chí Minh nữa, trừ mấy dịp lễ lạc. Các “cháu” chắc cũng biết cái bùa đó hết thiêng rồi. Hà Sĩ Phu tiết lộ:

“Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ‘Ku Nghệ’ mà không bị khiển trách; thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì.”

Vì họ biết Ku Nghệ (An) là người đầu tiên dẫn cả đảng, cả nước chui đầu vào cái thòng lọng Tân Ðại Hán.

Nguồn: Người Việt

http://www.x-cafevn.org/node/3710

———————————-

Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam

HONG KONG (Reuters) 16 tháng 5, 1989 – Lần đầu tiên Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam.

Hãng Thông tấn bán chính thức của Trung Quốc (China News Service) trong một bài báo cho biết Trung Quốc đã gởi 320.000 lính sang Việt Nam trong những năm 1960. 

Trung Quốc cũng đã chi trên 20 tỷ USD để viện trợ quân đội chính quy Bắc Việt của Hà Nội và các đơn vị quân du kích Việt Cộng. Bài báo trích “Lịch Sử Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Nhà Xuất bản Văn khố Nhà nước phát hành, cho biết có hơn 4.000 binh sĩ Trung Quốc đã thiệt mạng trong chiến tranh.Cuộc chiến đã kết thúc khi xe tăng Bắc Việt ủi xập cổng tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong suốt cuộc chiến, Trung Quốc đã nhiều lần phủ nhận cáo buộc của Mỹ rằng binh sĩ của họ đang tham chiến tại Việt Nam.

Báo cáo của tình báo Mỹ vào lúc đó đã cho hay về các về đơn vị chiến đấu Mỹ đã thấy những binh sĩ trong quân phục và vũ trang của Trung Quốc cùng mang phù hiệu của Trung Quốc…

China admits it sent troops to fight the U.S. in Vietnam. Desert News. Published: Tuesday, May 16 1989 12:00 a.m. MDT

http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9296

** Mãi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tàu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi (*). Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.  (►Trại Cổng Trời- Hà Giang)        

***

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1973

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá ,thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C. cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

2. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này,phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam.

Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bình “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc quân đoàn 2 ra,ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

Phải làm gì đây ?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC)

*nguồn blog của nhà văn  Nguyễn Quang Lập

*Short link của bài này

http://wp.me/po94e-2tW

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 2 Comments »

►Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)

Posted by hoangtran204 on 07/01/2012

Thời kỳ ‘Bắc thuộc mới’

Bùi Tín, viết riêng cho đài VOA

19-7-2011

Đầu năm 1979, tại khu vực biên giới Việt-Trung đã nổ ra một cuộc xung đột khốc liệt được nhà báo Mỹ Nayan Chanda gọi là «cuộc chiến tranh giữa những người anh em thù địch».

Nhưng chỉ 11 năm sau đó, vào tháng 10-1990, một bước ngoặt lớn đã được mở ra, đưa quan hệ Hà Nội-Bắc Kinh chuyển hẳn sang thời kỳ liên minh thân thiết, tiêu biểu bởi «16 chữ vàng» và phương châm «4 tốt».

Cái mốc chuyển từ kẻ thù truyền thống (như được ghi trong Hiến pháp Việt Nam) thành bạn thân thiết là cuộc gặp gỡ bí mật cấp cao Trung – Việt ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, vào 2 ngày, 3 và 4 tháng 9 năm 1990, theo sáng kiến của đại mưu sĩ Đặng Tiểu Bình.

Đại diện cho phía Việt Nam tại cuộc gặp gỡ này là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng, còn phía Trung Quốc là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Có rất ít thông tin chính xác về nội dung thật sự của cuộc gặp này được tiết lộ, nhưng ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Bắc Kinh đến phó hội đối với tương lai của đất nước ta đã không che mắt được ai. Đến nỗi ngoại trưởng Việt Nam lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cơ Thạch, người bị gạt ra ngoài rìa của cuộc họp lịch sử này, đã phải than thở: «Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!».(*)

Rất nhiều diễn biến và sự kiện đã chứng minh sự chính xác của nhận xét có tính tiên tri đó của người đứng đầu ngành ngoại giao Hà Nội. Tính đến nay, «cuộc Bắc thuộc mới» đã kéo dài được 22 năm, với biết bao thiệt thòi, tủi nhục cho đất nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực – từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, từ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo đến tài nguyên và an ninh, chủ quyền. Đây là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam ta, mà những thành tựu kinh tế, đổi mới, xây dựng, phát triển khá cao vẫn không sao khỏa lấp được.

Đến nay, khi nhóm lãnh đạo ở Bắc Kinh đã khống chế được gần như hoàn toàn những người cầm quyền ở Hà Nội, họ liền trở mặt, gây sự ở vùng Biển Đông của ta, với thái độ trịch thượng kẻ cả dùng sức mạnh áp đảo cùng với những thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng.

Hiện nay Bộ Chính trị Đảng CS Việt Nam đang bị kẹt cứng giữa 2 gọng kìm, một bên là sự chất vấn đầy phẫn nộ chính đáng và sự phản kháng của nhân dân, một bên là những hành động xâm lược cực kỳ ngang ngược của thế lực bành trướng hung hãn.

Nhóm lãnh đạo Bắc Kinh là những người chưa hề chùn tay trước một thủ đoạn thâm độc nào. Ai có thể độc ác hơn những kẻ dám đem đương kim Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ ra đấu tố hạ nhục trên đường phố? Ai có thể tàn bạo hơn những kẻ mang đương kim Nguyên soái Bành Đức Hoài ra hỏi tội, bắt đội mũ lừa, bắt liếm bát mỳ sợi trong chảo, hành hạ cho đến khi chết không có một người thân vuốt mắt? Ai có thể bất nhân, phản dân tộc hơn những kẻ vui mừng khi đặt 200 tên lửa, rồi nay là 600 tên lửa đạn đạo chĩa thẳng vào đồng bào ruột thịt của mình ở Đài Loan, dọa dẫm không chút hổ thẹn là sẵn sàng dìm trong biển máu cả 23 triệu dân mà họ từng leo lẻo là anh chị em chí thiết, còn là một nguồn đầu tư lớn cho lục địa.

Và mới đây ai ngang nhiên vu cáo ngược là «Việt Nam chiếm nhiều đảo nhất, tỏ ra hung hăng nhất, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu nhất trong vùng biển Trung Hoa thuộc chủ quyền không thể bàn cãi của Trung Quốc», «bọn Việt Nam giết ngư dân Trung Quốc», «cần dạy cho Việt Nam vô ân bạc nghĩa một bài học lớn hơn trước đây». Vậy mà báo chí chính thức trong nước vẫn im lặng, không cất lên được một tiếng nói dõng dạc nào để bác bỏ những luận điệu vu khống trắng trợn của thế lực bành trướng và bảo vệ thanh danh dân tộc.

Khi Tân Hoa xã đưa tin là «Hai bên đã thỏa thuận không để nước thứ ba ở bên ngoài can thiệp vào vùng biển Trung Hoa», ngụ ý gạt hẳn Hoa Kỳ ra ngoài, báo chí Việt Nam cũng không dám cải chính. Cho nên việc giới trí thức, giới truyền thông lề trái và công luận quốc tế hoài nghi dai dẳng là 2 bên đã đi đêm với nhau là hoàn toàn có cơ sở.

Mong rằng những người lãnh đạo Việt Nam sớm nhìn ra sự thật để chủ động thoát khỏi ách Bắc thuộc cực kỳ nguy hiểm đã kéo dài 22 năm, trước khi quá muộn. Mong rằng họ sớm tỉnh táo nhận ra sai lầm của lập luận cho rằng do vị trí địa lý và cũng vì cùng chung chế độ XHCN, Việt Nam buộc phải gắn bó keo sơn với nước láng giềng Trung Quốc (xem các Nghị quyết Đại Hội đảng từ khóa VII đến khoá XI).

Họ hãy tỏ ra tự tin hơn để thấy rằng nương tựa hoàn toàn vào Bắc Kinh không phải là một kế tồn tại lâu dài, bền vững, an toàn và đáng tin cậy cho chính bản thân họ, và lại càng không phải cho tiền đồ của tổ quốc và dân tộc ta. Họ chớ nên quên rằng, theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc hung hăng nhưng không mạnh, kỹ thuật quân sự lạc hậu đến 20 năm so với Hoa Kỳ, chính trị cực yếu do chà đạp nhân quyền, kinh tế tài chính tuy có dự trữ ngoại tệ lớn nhưng rất bấp bênh, có nguy cơ đổ vỡ, dựa vào họ như dựa vào cột mục.

Gắn bó với thế giới dân chủ rộng lớn, hùng mạnh, văn minh, với các nước châu Á khác ở quanh ta như Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, với các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, và giữ quan hệ bình đẳng với Trung Quốc là đường lối đối ngoại sáng suốt duy nhất hiện nay.

Điều quan trọng nhất là những người lãnh đạo Việt Nam có đủ sáng suốt để nhìn ra bản chất độc ác của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán hay không.

(*) Ông Thạch lập tức bị gạt ra khỏi cương vị phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng, và mất luôn chiếc ghế ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng,
cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)
.

http://www.trinhanmedia.com/2012/09/oc-lai-ho-so-ban-nuoc-hoi-nghi-thanh-o.html

 

——————-

 

Bối cảnh dẫn đến cuộc Họp Mặt ở  Thành Đô  (Bắc Kinh) 1990 – Vì sao đảng và nhà nước ngoan ngoãn thần phục Bắc Kinh

Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988?
.
Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ cái thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”. Từ đó, Việt Cộng bắt đầu xáp lại và đi theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được.
.
Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh giễu võ giương oai của “Cộng Hoà Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức.
.
Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy”. Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!“Trước tình hình ấy”, Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản ViệtNam “nổi lên một ý kiến… phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. .Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức.
.
Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tàu.
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế (1980-1986 và hoàn toàn cắt đứt viện trợ cuối năm 1986), mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xoá bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”.
.
Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hoà trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, và tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc đểbảo vệ chủ nghĩa xã hội”; vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội!”. Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau:“Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc… Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin…”. Lúc đó Nguyễn Văn Linh là người lãnh đạo cao nhất nước mà tự hạ mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Hội nghị thành đô năm 1990.

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể:
Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc…” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công.

Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ: “Mỹ muốn cơ hội này xoá bỏ cộng sản. Nó đang xoá ở Ðông Âu… Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc”.

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết:

“Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ‘người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh…”.

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù không ai biết chủ nghĩa đó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an trị và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể: “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hoà Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: ‘Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa…’”

Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam”. Trần Quang Cơ thuật lại: “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị… ‘Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội…’” mà giới lãnh đạo cao cấp của ViệtNam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tàu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam,Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến lên chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

Nguồn: on the net

 

Bài Liên Quan:

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

 Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô 1990

 

Hồi ký Trần Quang Cơ — Diễn Đàn Forum

 

 

 

 

—————-

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Lịch Sử | 9 Comments »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.