Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Miền Nam trước ngày 30-4-1975’ Category

►GS Trần Đức Thảo: Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực…Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ.

Posted by hoangtran204 on 13/10/2014

GS Trần Đức Thảo và chuyến đi đổi đời

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

13-10-2014

Lời dẫn: Sau vụ Nhân văn Giai Phẩm, GS Trần Đức Thảo bị quản chế tại gia ở Hà Nội. Ông không được dạy học, không được phép nghiên cứu gì cả. Ông li dị vợ (hay vợ li dị ông?), cuộc sống rất khó khăn, suốt ngày lẩm bẩm chuyện đâu đâu. Người ngoài nhìn vào tưởng ông điên, nhưng sau này ông nói ông chỉ đóng kịch thôi!

Một hôm GS Trần Văn Giàu và ông Trần Bạch Đằng từ Nam ra thăm ông, thấy hoàn cảnh bi đát như thế nên đề nghị ông chuyển vào Sài Gòn sống. Họ nói dù sao thì Sài Gòn với cá tính Nam Bộ ông sẽ dễ thở hơn. Phải qua can thiệp vài nơi ông mới được phép chuyển vào Sài Gòn. Bài dưới đây là một trích dẫn từ cuốn “Những lời trăn trối” về cảm nhận của ông khi mới đặt chân đến Sài Gòn, một chuyến đi ông xem là đã đổi đời ông sau này.

====Đang trong tình trạng mắc kẹt trong vòng cương toả của các cục “bảo vệ”, “tuyên huấn”, các ban “văn hoá, tư tưởng, khoa giáo trung ương” như vậy, thì Trần Văn Giàu, rồi Trần Bạch Đằng từ trong Nam ra thăm Hà Nội. Cả hai người miền Nam này đã kinh ngạc khi khám phá ra những ý tưởng mới mẻ của Thảo. Và nhất là họ thấy những điều kiện sống và làm việc quá tồi tệ như thế. Họ tính đề cập với các cấp lãnh đạo về vấn đề nên đối xử nhân đạo với Thảo. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam, nay hầu hết các giới chức cách mạng cấp cao ở Hà Nội đều đổ vào Nam, nói là đi “công tác”, nhưng thực ra là vào sống ở đó, để hưởng chiến lợi phẩm của chiến thắng. Hà Nội lúc đó chỉ là những trụ sở và chức vụ tượng trưng không có thực quyền hành động.

- Anh nên vào Nam mà sống, trong ấy không khí ấm áp dễ thở hơn và có sẵn mọi thứ có lợi cho sức khoẻ và công việc nghiên cứu cũng dễ hơn. Chứ ở ngoài Bắc này, không khí canh chừng ngột ngạt khó thở quá. Làm nghiên cứu chính trị và triết học sao được!

Cánh trí thức Nam bộ này khuyên Thảo nên tìm cách vào Sài Gòn sinh sống, vì trong đó khí hậu ấm áp hơn, đời sống cũng sung túc hơn, nên dễ có điều kiện cho phép làm việc thoải mái, cởi mở hơn. Nhưng Thảo hỏi lại:

- Các đồng chí tưởng là tôi là kẻ được tự do chọn lựa, muốn đi đâu thì đi, muốn sống ở đâu cũng được sao? Tôi đã nhiều lần xin đi dạy học trở lại, họ không cho, viện dẫn lí do là đã có lệnh cấm tôi dạy học từ thời “bác” Hồ còn sống, từ đó đến nay, tôi sống như người bị giam lỏng ở Hà Nội này. Thỉnh thoảng họ chỉ bố trí tôi được tham dự những sinh hoạt có tính tuyên truyền, cũng có lần tham gia phái đoàn đi tham quan nước ngoài. Sự có mặt của tôi trong các sinh hoạt ấy đều bị kiểm soát chặt chẽ và chỉ để đánh bóng chế độ!

- Tôi sẽ vận động để mời anh vào tham quan, và ở chơi với chúng tôi một vài tháng. Một khi vào rồi thì muốn ở lại cũng dễ thôi. Trong Nam anh có quen ai không?

- Có lẽ tôi chỉ quen biết có một người là Sông Trường, hình như đang làm việc gì đó ở Sài Gòn. Đồng chí ấy trước đây là người được trung ương trao nhiệm vụ trực tiếp cai quản tôi.

- Thế thì tốt quá. Tay ấy đang ở Sài Gòn, vừa trông coi Tạp chí Cộng sản, vừa chỉ đạo toàn bộ công tác tư tưởng ở trong Nam … Đồng chí ấy có thể viết thư mời anh vào trong ấy tham quan. Nếu không thì tụi tôi sẽ gửi thư mời anh để anh xin giấy di chuyển. Nhất là lúc này, đang có những sức ép của các gia đình cán bộ, đòi phải nới rộng việc đi lại giữa hai miền Nam Bắc cho dễ dàng hơn.

[…]

Mới đặt chấn xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam bị đói khổ vì bị Mĩ ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải “cắn hạt gạo làm tư” để cứu giúp miền Nam cơ mà. Vả lại, mọi người ở đây sao mà nói năng cởi mở thoải mái quá vậy? Ngay cả những cán bộ của đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng tôi, họ giễu cợt tôi, coi tôi như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố.

Trịnh Công Sơn

Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng hơn là của “Mĩ Nguỵ” chứ không phải của đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn. Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả chế độ ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bài hát ấy đã lay động tâm hồn tôi.

Phải công nhận là trong đời tôi có hai lần bị thúc đẩy và thoát ra khỏi thái độ sợ hãi đến hèn nhát đã ngự trị trong đầu óc của bao trí thức, văn nghệ sĩ của Hà Nội. Lần thứ nhất là do nhà thơ trẻ Trần Dần, khi anh ta tới mời tôi tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Lần thứ nhì là khi tôi nghe mấy bài hát thấm thía của Trịnh Công Sơn! Đấy là thứ âm nhạc phát ra từ trái tim dân tộc.

[…]

Chế độ không tồi

Không hiểu sao chính quyền miền Nam lại để cho anh ta tự do sáng tác những bài ca làm mất tinh thần chiến đấu như thế? Điều này khiến tôi phải suy nghĩ trình độ dân chủ rất khác nhau giữa hai miền Nam, Bắc. Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ. Xét chung thì miền Nam đã có mức độ dân chủ rõ rệt. Cả giới trí thức lẫn dân chúng miền Nam đều bàn chuyện chính trị cởi mở, phê phán lãnh đạo và đảng rất tự nhiên. Ở miền Bắc thì không thể. Miền Bắc là cái lò của giáo điều, của chiến tranh. Không có chỗ cho một Trịnh Công Sơn, điều đó dễ hiểu.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi nghe tin Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng, và đã được nghe theo. Vì có lẽ dân đã thấm mệt với bao nỗi khổ, chết chóc. Tôi cám ơn miền Nam đã sinh sản được một Dương Văn Minh, một Trịnh Công Sơn. Người nhạc sĩ trẻ ấy đã góp phần vào cái giờ phút thiêng liêng buông súng, thôi bắn giết nhau. Đấy thực sự là một anh hùng của hoà bình, chính anh ta đã nêu gương cho Trần Đức Thảo này! Tôi thú thật rất cảm ơn cái lệnh buông súng ấy, vì nó đã giải thoát hàng vạn thanh niên miền Bắc ra khỏi rừng núi đầy bom và muỗi, mòng. Vì nó đã cứu hàng vạn thanh niên với số phận “sinh Bắc tử Nam”.

Chỉ tiếc rằng người cán bộ sĩ quan của “bộ đội cụ Hồ”, khi tiến vào Dinh Độc Lập gặp Dương Văn Minh, thì đã tỏ thái độ thô bỉ quá kém cỏi với một lãnh đạo chính quyền miền Nam. […] Việc ứng xử thô bỉ như vậy đúng vào giây phút chiến tranh chấm dứt như thế đã làm cho sự tuyên truyền chính sách đại nhân, đại nghĩa “hoà giải, hoà hợp dân tộc” bỗng nhiên tự nó tố cáo nó là một quỉ kế để đánh lừa kẻ thù buông súng, chứ không phải là một sự giàn xếp cao thượng giữa anh em trong một nhà. Mấy anh em cách mạng miền Nam còn than phiền với tôi là có những người bộ đội miền Bắc khi tiếp quản Sài Gòn đã nhục mạ dân chúng về tội “ăn mặc lố lăng, bắt họ phải cạo sơn móng tay, bắt cắt quần ống loa”. Rồi còn cảnh trả thù cả người chết bằng cách đập phá nghĩa trang của chế độ “Nguỵ” nữa! Thái độ ấy thật là thô lỗ quá trớn.

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Uncategorized | Leave a Comment »

►Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958–Công hàm Phạm Văn Đồng

Posted by hoangtran204 on 24/07/2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933.

Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia .

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ “Saigon – Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở recordsearch.naa.gov.au. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có quan tâm:

1. Bản chính:

clip_image002

clip_image004

clip_image006

2. Bản dịch:

____________________________________

Hồ sơ V 221/5

669

18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,

Bộ ngoại giao,

Canberra.

Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác

Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã ký)

(D.C Nutter)

Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

1. Hoa Kì 26.10.1955

2. Pháp -

3. Vương quốc Anh -

4. Úc -

5. New Zealand -

6. Thái Lan -

7. Nhật Bản -

8. Ý -

9. Trung Hoa QDĐ 27.10.1955

10. Hàn Quốc -

11. Hà Lan 1.11.1955

12. Philippines 2.11.1955

13. Tây Ban Nha 3.11.1955

14. Cuba -

15. Haiti -

16. Bolivia 6.11.1955

17. Ecuador -

18. Brazil 8.11.1955

19. Liberia -

20. Nicaragua -

21. Chile 10.11.1955

22. Hy Lạp -

23. Luxembourg 11.11.1955

24. Argentina 12.11.1955

25. Costa Rica 13.11.1955

26. Canada 14.11.1955

27. Lào 15.11.1955

28. Thổ Nhĩ Kỳ 18.11.1955

29. Bỉ 22.11.1955

30. Áo 23 11.1955.

31. Tây Đức 5.12.1955

32. Vatican 9.12.1955

33. Liên minh Nam Phi 14.12.1955

34. Honduras 12.12.1955

35. Venezuela 15.12.1955

36. Guatemala -

37. Colombia 6.1.1956

38. Sudan 5.2.1956

39. Jordan 21.2.1956

40. Bồ Đào Nha 24.5.1955

41. Đan Mạch 3.1.1957

42. Lebanon 5.3.1957

43*. Ghana 6.3.1957

44*. Ma-rốc 18.6.195

45*. Tunisia 3.8.1957

46*. Malaysia 31.8.1957

47. Thụy Sĩ 1.4.1958

48. Thụy Điển 3.7.1958

49*. Iraq 2.8.1958

——————————–

50. Indonesia

51. Na Uy

Indonésia và Na Uy tương ứng đã trao đổi giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure”)

——————————-

Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:

52. Ireland (Ai-len)

53. El Salvador

54. Peru

55. Panama

56. Uruguay

57. Iran

58. Ethiopia

59. Cộng hòa Dominica

——————————-

60. Ấn Độ: Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự

61. Miến Điện: Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận “trên thực tế” (de facto)

62. Campuchia: Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)

_________________________________

* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Theo Bauxite

  1. Thủy Quân Lục Chiến VNCH bắt sống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►John Riordon giải cứu 105 người Việt rời khỏi Sài Gòn trước ngày 30/04/1975

Posted by hoangtran204 on 14/04/2014

 

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=HBqj6Jla3FQ

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, ngày ấy và bây giờ

Posted by hoangtran204 on 29/04/2012

Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương


Chợ Bến Thành ( cửa Đông ? )

Góc đường trông ra Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà

Dinh Độc Lập

Hội Trường Diên HồngKhách sạn Continental PalaceNhà Hàng nổi Mỹ CảnhTượng đài An Dương Vương
Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương Gửi Đến( tiếp theo )

Nhà hàng & Vũ Trường MaximDinh Gia LongTrưng Vương năm cuối (74) , trước khi đám QUỈ miền Bắc tràn vô Nam !! Các nữ sinh Gia Long Sân trường Gia Long  Những Con Đường Cũ

Cầu Khánh HộiĐường Minh MạngĐường Nguyễn HuệBảo Tàng Viện ( trong Sở Thú Saigon )E Ấp !!!

Theo em xuống phố … một thuở sống trong Thiên Đàng Hạnh Phúc miền Nam VNCH !!

Thủ Đô Sài Gòn … những ngày tháng TUYỆT VỜI !!

Con đường TÌNH … TA đi !!!

Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, đường Tự Do !!

Tigon

nguồn: Tigon, thành viên của vietlandnews.net

Saigon 1961

nguồn:  vietlandnews.net

—————————————————————————————————————————————————-

Người dân Miền Bắc đã bị đảng CSVN lừa gạt trong cuộc chiến tranh VN. Đảng tuyên truyền “Miền Nam bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, không có gạo ăn, không có chén bát, và bị hành hạ đủ điều…chúng ta phải vào giải phóng miền Nam ruột thịt. Chúng ta phải đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, và thống nhất đất nước…và ta xây dựng đất nước tươi đẹp hơn 10 lần ngày nay”

Dạo ấy, những thanh niên thiếu nữ miền Bắc là những người hiền lành, nhân hậu, dễ tin, và là tầng lớp tuổi trẻ ưu tú. Họ đã không một chút nghi ngờ và đã nghe theo lời bác và đảng để vào giải phóng miền Nam. Người nào không nghe lời thì gia đình bị cắt tem phiếu, lương thực, và bị làm nhục…và cuối cùng là phải đi Nam. 

Những cán bộ cao cấp nhất, và những người tuyên truyền và xúi dục chiến tranh đã ở lại hậu phương, ở cách xa chiến trận, ăn trên đầu và ngồi trên cổ của những người đi chiến đấu. Họ tồn tại cho đến sau khi cuộc chiến tranh VN đã tàn.  Họ chia nhau chiến lợi phẩm là nhà cửa mặt tiền các khu phố, các kho hàng ở miền Nam, các tài sản của tư  sản miền Nam mà họ cướp được, và đất đai của miền Nam.  Ngày nay, họ còn chiếm đất đai của nông dân, dành độc quyền tất cả các ngành nghề công, thương, kỹ nghệ, du lịch, viễn thông, khai thác tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu…vào 100 công ty và tập đoàn, mà tổng giám đốc của các công ty quốc doanh này là  con cái, bà con, anh em của cán bộ đảng cao cấp làm chủ hoặc lãnh đạo.

Còn những bộ đội và dân công đi vào Nam chiến đấu đã chết vì bom đạn trong khoảng thời gian 1954-1975. Thương thay cho các thế hệ miền Bắc đã hy sinh vào thuở ấy.

Miền Nam bị bóc lột, nhưng dân chúng sống như thế này…

Tết Mậu Thân 1968 (?)

Nguồn: on the net.

Nhưng may mắn thay, những người tuổi trẻ ngày nay đã hiểu.

Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già…

Thơ Tố Hữu

—————————————————————————————————

*Có rất nhiều hình ảnh của Sài Gòn trước năm 1975 trên mạng internet, chỉ cần vào trang mạng google.com gõ chữ  hình ảnh Saigon trước năm 1975, và nhấp chuột vào chữ  Search (tìm kiếm).

Các thành viên của Diễn đàn này có post khá nhiều hình rất đẹp.  Mời các bạn click vào link dưới đây để xem.

http://www.luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=134310285

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Tư Liệu Lịch Sử | 4 Comments »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.