Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Bien Gioi’ Category

Bước ngoặc của VN: Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô –Tứ Xuyên (Trung Quốc)

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Ba 19, 2012

Lời dẫn: Nếu như trong bài Đặng Tiểu Bình và Quyết Định của Trung Quốc Đi Đến Chiến Tranh với Việt Nam đã post ngày hôm qua, ta đọc được quân đội của Lê Duẫn tấn công chọc sâu vào biên giới Trung Việt đã làm cho Trung Quốc tức giận và đó là một trong những nguyên do TQ đánh VN.

Nhưng sau khi Lê Duẫn chết 1986, thì kể từ đó về sau, có các cuộc ký kết Hiệp Định Biên Giới 1999, và 2008, giữa VN và TQ, mà lần nào Trung Quốc cũng chia thêm đất của VN và lấn sâu vào biên giới của Việt Nam. Lý do nào đã làm cho đảng CSVN trở nên nhu nhược như thế? 

Đọc bài dưới đây, ta sẽ rút ra kết luận về tài trí của các nhân vật cao cấp của đảng CSVN sau khi Lê Duẫn chết.

Cũng nhắc nhở với bạn đọc là năm 1989, chế độ cộng sản trên toàn thế giới đã sụp đổ, Liên Xô bị xé toặc thành nhiều nước, 16 nước Đông Âu xóa bỏ chế độ cộng sản. Đây là cơ hội để VN xóa bỏ chế độ CS và có khả năng trở thành như Ba Lan ngày nay. Nhưng không, các nhân vật của đảng CSVN tham dự trong hội nghị Thành Đô đã ngã rạp đầu trước nước mẹ Trung Quốc, và khi trở về VN họ đã tiếp tục đi theo con đường XHCN.

Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô – Tứ Xuyên (Trung Quốc)

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nhận định về cuộc họp Thành Đô đầu tháng 9-1990 rằng: “một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. Một lời than não nề. Một lời cảnh báo đến vẫn nay còn có giá trị.

Để hiểu rõ sự kiện lịch sử tệ hại này, mời các bạn tìm đọc tập hồi ký rất chân thực và sinh động của nguyên thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ, với đầu đề “Hồi Ức và Suy Nghĩ” dày hơn một trăm trang, mô tả tỷ mỷ các sự kiện, khắc họa từng nhân vật các bên ở một thời điểm lịch sử then chốt.

Sau chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc những năm 1976 -1979, rồi chiến sự ở Campuchia kéo dài đến cuối năm 1988, mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc vốn dĩ phức tạp từ xa xưa, khi bạn, khi thù, đến đây lại có bước ngoặt, từ chiến tranh quyết liệt, từ đối đầu chuyển sang bình thường hóa, rồi từ bình thường hóa chuyển nhanh sang tình hữu nghị «16 chữ vàng» và «láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt», trên thực tế là phía lãnh đạo Việt Nam chịu sự phụ thuộc về nhiều mặt đối với thế lực bành trướng nước lớn.

Thái độ này được các nhà trí thức yêu nước và bà con ta gọi là thái độ “hèn với giặc, ác với dân”, từ sự kiện Thành Đô đến nay đã kéo dài 22 năm.

Về các nhân vật lãnh đạo vào thời điểm tháng 9-1990, nên chú ý: Lê Duẩn, nguyên tổng bí thư từ năm 1960 – là người chống Trung Quốc bành trướng quyết liệt nhất – đã chết bệnh ngày 10-7-1986.

Trường Chinh làm quyền tổng bí thư từ tháng 7 đến tháng 12 -1986, rồi làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, chết ngày 30-9-1988. Trường Chinh khi cuối đời rất hăng hái với việc ghi trong Hiến pháp 1980 đoạn lên án bọn xâm lược và bành trướng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh được bầu là tổng bí thư trong Đại hội đảng lần thứ VI cuối năm 1986, chỉ làm 1 nhiệm kỳ, đến Đại hội VII làm cố vấn. Ông Linh nổi tiếng là con người hời hợt, không có chiều sâu, hay ngả nghiêng, có thời rất cởi mở, viết báo đều trong chuyên mục «Những việc cần làm ngay» ký tên N.V.L. (sau bị châm biếm là « Nói và Lừa »), sau lại quay sang kiểm soát chặt báo chí. Có dạo được coi là một Gorbachev Việt Nam, chủ trương cởi trói cho văn nghệ sỹ được tự do sáng tác, sau đó lại quay ngoắt sang trừng trị họ. Tại Thành Đô ông là kẻ ngây ngô tán tỉnh Giang Trạch Dân và Lý Bằng nên ưu tiên thắt chặt tình hữu nghị Trung – Việt do cùng là nước xã hội chủ nghĩa anh em (!). Ông còn có lúc ngả sang theo quan điểm thâm độc của Lê Đức Anh là thực hiện «giải pháp đỏ», nghĩa là đoàn kết trước hết các đảng cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Khơme Đỏ theo bản chất cộng sản là anh em thân thiết nhất. Ông từng nghe bùi tai lời của Lê Đức Anh là “tôi từng quen, là bạn và làm việc với Pon Pot”. Ông Linh bị nhỡ tàu khi phía Trung Quốc trả lời rằng Trung Quốc chỉ coi quan hệ với Việt Nam như với mọi nước bình thường khác.

Phạm Văn Đồng bị nhử sang Thành Đô chỉ là do phía Trung Quốc hé ra khả năng ông sẽ được Đặng Tiểu Bình – lúc ấy là lãnh tụ cao nhất tiếp. Về sau ông tỏ ý tiếc, rằng lẽ ra ông không nên đi. Con người ông lú lẫn đến mức quên rằng Đặng là kẻ mưu thâm và tàn ác nhất khi đích thân ra lệnh cho quân bành trướng khi rút quân phải phá sạch, giết sạch, không ngần ngại, theo phương châm 4 chữ «sát cách vô luận».

Hàng đầu: Tổng bí thư Giang Trạch Dân cùng Thủ tướng Lý Bằng đứng giữa. Phía bên phải Giang là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Cố vấn Phạm Văn Đồng (chắp tay). Phía bên trái Lý là Thủ tướng Đỗ Mười, Chánh văn phòng TW Hồng Hà, Thứ trưởng ngoại giao Đinh Nho Liêm. Ảnh do Tân Hoa xã đơn phương công bố, dù 2 bên đã cam kết đây là cuộc họp tuyệt mật.

Sau Thành Đô, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng hiểu rõ bụng dạ của từng người lãnh đạo Việt Nam, nên ngay năm sau 1991 họ đã vận động để gạt phăng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị, đưa Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư, đưa Lê Đức Anh lên cương vị chủ tịch nước, rồi đưa Nông Đức Mạnh làm chủ tịch Quốc hội và tổng bí thư sau này. Cả một bộ sậu thân Tàu, chịu khuất phục Tàu, lũng đoạn nền chính trị nước ta cho đến tận ngày nay.

Bùi Tín (VOA)

 

Kết quả của hành động năm 1990 là dẫn đến các thảm họa của dân chúng trong các năm qua.

“Chỉ xem video nầy 1 mình thôi! Thật tội nghiệp cho thiếu nữ Việt là nạn nhân của bọn buôn người…vì nghèo đói hay muốn giúp đở gia đình đau bệnh… mà phải nhục nhã bán thân…trình diễn khỏa thân cho họ chụp hình quay phim để hy vọng được người xem chọn lưạ…gái trinh chỉ đáng giá 5000 Mỹ kim thôi !? Kẻ bỏ tiền ra mua vợ có thể đã già 70 – 80 tuổi – tàn tật …đem về Tàu, Đại Hàn , Mã Lai . Singapore…hành hạ khiến phải quyên sinh …thật quá đau thương oan nghiệt !”

Xin các bạn đừng đánh giá thấp các thiếu nữ VN trong video dưới đây. Họ là những người sinh ra và lớn lên trong nghèo khó và tuyệt vọng. Gia đình rơi vào thảm cảnh nên họ chỉ biết có cách này là cứu lấy gia đình đang ngập chìm trong biển nợ…gia đình của các thiếu nữ này phần lớn đã mất ruộng đất nên ba mẹ không thể làm ruộng, hoặc vì đã cầm bán ruộng để trả nợ hay chữa bệnh, hoặc vay tiền mua phân bón, mua lúa giống, cày đất, rồi làm lúa bán ra thì bị thương lái ép giá mua rẻ để xuất khẩu lấy ngoại tệ dâng đảng.  Nếu có trách, bạn hãy trách cái chính quyền bất lực, suốt 40 năm qua chỉ lo khai thác bán dầu thô, gas, dựa vào dân nghèo để sống bám (Chỉ riêng năm 2011, PetroVietnam đã bán ra 34 tỷ đô dầu thô và ga; tiền kiều hối do Việt kiều gởi về 10 tỷ, và xuất khẩu gạo 6 tỷ, xuất khẩu cá và hải sản 12 tỷ, và gia công xuất khẩu dệt may 22 tỷ…trong tổng sản phẩm nội địa GDP là 90 tỷ- 95 tỷ ). Mục đích duy nhất của nền kinh tế của cả nước là xuất khẩu, đem tiền đô về để làm giàu cho đảng, cho các cán bộ cao cấp. Một đám người mà suốt 37 năm qua đã không đủ tài năng để đề ra một chính sách kinh tế lâu dài cho hàng triệu người dân, không có khả năng thu hút đầu tư các ngành công nghiệp cao, thiếu kế hoạch để tạo công ăn việc làm cho người dân trong nước, rút cuộc, gia đình các nông dân trở nên nghèo khó, con cái của họ là các thiếu nữ  đã phải bán mình, trở thành các món hàng cho người nước ngoài.

Không tính thành tích đáng kể là xuất khẩu người. Hiện có 500 000 lao động VN tới 12 quốc gia để kiếm việc làm thu nhập thấp, lao động phổ thông, làm việc nhà (theo thống kê của Bộ Lao động và TBXHnăm 2011).

Mong các bạn xem video này trong chốn riêng tư…

Đăng trong Bien Gioi, Đảng CSVN-Hành vi của những đảng viên | Leave a Comment »

Tàu Trung Quốc áp sát giàn khoan và kho nổi chứa xuất dầu thô của Việt Nam

Posted by hoangtran204 on Thứ Năm, Tháng Ba 15, 2012

Một nguồn tin đáng tin cậy cho Bauxite Việt Nam biết lúc 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3 vừa qua, hai tàu hải giám Trung Quốc áp sát kho nổi chứa xuất dầu thô FPSO Lewek Emas của Việt Nam đang neo đậu tại vị trí giàn khoan mỏ Chim Sáo, ở lô 12W, thềm lục địa Việt Nam.

Một tàu tiến gần đến mức có thể thấy rõ số đăng ký 75 và dòng chữ Chinese Marine Surveillance (Tàu Hải giám Trung Quốc) ở mạn tàu (xem ảnh bên dưới). Tàu Trung Quốc không trả lời dù phía Việt Nam cố gắng bắt liên lạc trên các kênh VHF 16, 14, 12, 72. Phải đến khi Việt Nam đưa tàu Sapa (tên một chiếc tàu kéo dịch vụ dầu khí) tiến về hướng tàu hải giám Trung Quốc, thì chúng mới bỏ đi, lúc 3g40.

Điều đáng chú ý là cho đến nay toàn bộ vụ việc hoàn toàn không được công khai.

Nguồn: Bauxite.

danchimviet.info

                                                                                 ***

Nam Hàn là một nước nhỏ bé, dân số 48 triệu dân và diện tích chỉ có 100 000 km vuông; nhỏ hơn VN rất nhiều. Nam Hàn nằm cạnh Trung Quốc, có vị trí tựa như miền Nam Việt Nam; còn Bắc Triều Tiên có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhưng hơn 60 năm qua, trên sách báo và truyền thông, không ai đã từng nghe các lãnh đạo của Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên  sợ hải, cụp vó, khép nép, với Trung Quốc. Thỉnh thoảng, Trung Quốc xớ rớ phát biểu điều gì, thì lập tức bị chính quyền Nam Hàn  mắng phủ đầu như bài báo dưới đây.

So với thứ chính quyền hèn với giặc, ác với dân, tối ngày khúm núm nịnh bợ Trung Quốc, tâng bốc còn hơn tớ nịnh chủ nhà, và không quên dạy dân chúng: Trung Quốc là nước lớn , ta sống cạnh bên nên phải khôn khéo…Đất đai vùng biên giới phía bắc bị Trung Quốc lấn chiếm mà không dám hé môi la. Trung Quốc đưa hiệp định biên giới ép buộc ký kết nhằm chia đất đai ở ngay trong sân sau của nhà mình, mà cũng hèn nhát không dám phản đối, chỉ biết đặt bút ký kết vào các năm 1999 và 2008.  Từ thời vua Gia Long (1802) đến vua Bảo Đại (1945) và cho đến năm 1974, đất đai và biển đảo của VN chưa từng bị mất vào tay Trung Quốc.  Biển đảo và biên giới phía Bắc của Việt Nam chỉ bị mất dần dần vào tay Trung Quốc kể từ khi có đảng cộng sản VN rước Trung Quốc vào làm thầy.

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển đang còn tranh chấp

Hán Thành (Seoul) – Nam Hàn hôm thứ Hai ngày 12 tháng Ba nói khu vực đá nằm ngầm dưới lòng biển có nhô lên một phần trên mặt biển ở vùng duyên hải phía nam là một phần “lãnh thổ tự nhiên” của Nam Hàn, chỉ vài ngày sau khi báo chí tường thuật lại lời của một viên chức Trung Hoa cao cấp khi ông ta cho rằng vùng biển đang tranh chấp này thuộc Trung Quốc.

Ieodo – một vùng đá ngầm khoảng năm mét dưới mặt biển – nằm trong vùng đặc khu kinh tế chồng chéo lên giữa Nam Hàn và Trung Quốc và cũng là nguồn căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cho vùng này là một lãnh thổ tự nhiên của Nam Hàn từ mọi phương diện, ông nói vùng này gần quần đảo Marado nằm phía cực nam của Nam Hàn hơn là quần đảo gần nhất thuộc Trung Hoa khoảng 100 cây số.

Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen sau khi đến họp để nghe thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn phản đối lời tuyên bố của ông Liu. Nguồn: AFP/Yonhap


“Nhà nước Trung Hoa sẽ biết, dự vào lẽ thường, là vùng đá ngầm Leodo này thuộc về Nam Hàn,” ông Lee nói với các phóng viên, ông còn nói thêm là mất cả hằng bao năm trời cho thương thảo song phương nhưng không đạt được kết quả khả quan nào.

Lời tuyên bố của ông Lee đến sau khi ông Liu Cigui, trưởng Ngành Đại dương Quốc gia Trung Quốc nói là vùng đá ngầm Leodo thuộc về vùng biển nằm trong vòng kiểm soát của Trung Hoa và nên được tuần tra bởi máy bay và tàu tuần tra của Trung Hoa.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Hàn ông Kim Jae-Shin đã mời Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen đến hôm thứ Hai để đưa đơn phản đối lời tuyên bố của ông Liu, nhân viên bộ ngoại giao Nam Hàn cho hay.

Việc Bắc Kinh tái xác định chủ quyền của mình lên vùng này được xem như là một cách giành thế thượng phong với Hán Thành trong những cuộc thương thảo về lãnh hải trong tương lai, các nhà phân tích thời cuộc nói.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cảnh cáo là bất kỳ tranh chấp nào trong vùng giàu tài nguyên này – là con đường mậu dịch đường biển chính của Hán Thành – đều có thể gây nên một ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế dựa vào mậu dịch của quốc gia này.

Nam Hàn trong năm 2003 đã cố gắng tăng cường sự kiểm soát của mình lên vùng biển đang còn tranh chấp này bằng cách xây một trạm nghiên cứu hàng hải trên đó bất chấp sự phản kháng của Bắc Kinh.

© DCVOnline

Đăng trong Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa, Bien Gioi | Leave a Comment »

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển đang còn tranh chấp

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Ba 13, 2012

Nam Hàn là một nước nhỏ bé, dân số 48 triệu dân và diện tích chỉ có 100 000 km vuông; nhỏ hơn VN rất nhiều. Nam Hàn nằm cạnh Trung Quốc, có vị trí tựa như miền Nam Việt Nam; còn Bắc Triều Tiên có chung đường biên giới với Trung Quốc. Nhưng hơn 60 năm qua, trên sách báo và truyền thông, không ai đã từng nghe các lãnh đạo của Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên  sợ hải, cụp vó, khép nép, với Trung Quốc. Thỉnh thoảng, Trung Quốc xớ rớ phát biểu điều gì, thì lập tức bị chính quyền Nam Hàn  mắng phủ đầu như bài báo dưới đây.

So với thứ chính quyền hèn với giặc, ác với dân, tối ngày khúm núm nịnh bợ Trung Quốc, tâng bốc còn hơn tớ nịnh chủ nhà, và không quên dạy dân chúng: Trung Quốc là nước lớn , ta sống cạnh bên nên phải khôn khéo…Đất đai vùng biên giới phía bắc bị Trung Quốc lấn chiếm mà không dám hé môi la. Trung Quốc đưa hiệp định ký kết chia đất đai

Nam Hàn bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở

vùng biển đang còn tranh chấp

Hán Thành (Seoul) – Nam Hàn hôm thứ Hai ngày 12 tháng Ba nói khu vực đá nằm ngầm dưới lòng biển có nhô lên một phần trên mặt biển ở vùng duyên hải phía nam là một phần “lãnh thổ tự nhiên” của Nam Hàn, chỉ vài ngày sau khi báo chí tường thuật lại lời của một viên chức Trung Hoa cao cấp khi ông ta cho rằng vùng biển đang tranh chấp này thuộc Trung Quốc.

Ieodo – một vùng đá ngầm khoảng năm mét dưới mặt biển – nằm trong vùng đặc khu kinh tế chồng chéo lên giữa Nam Hàn và Trung Quốc và cũng là nguồn căng thẳng trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cho vùng này là một lãnh thổ tự nhiên của Nam Hàn từ mọi phương diện, ông nói vùng này gần quần đảo Marado nằm phía cực nam của Nam Hàn hơn là quần đảo gần nhất thuộc Trung Hoa khoảng 100 cây số.

Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen sau khi đến họp để nghe thứ trưởng Ngoại giao Nam Hàn phản đối lời tuyên bố của ông Liu. Nguồn: AFP/Yonhap


“Nhà nước Trung Hoa sẽ biết, dự vào lẽ thường, là vùng đá ngầm Leodo này thuộc về Nam Hàn,” ông Lee nói với các phóng viên, ông còn nói thêm là mất cả hằng bao năm trời cho thương thảo song phương nhưng không đạt được kết quả khả quan nào.

Lời tuyên bố của ông Lee đến sau khi ông Liu Cigui, trưởng Ngành Đại dương Quốc gia Trung Quốc nói là vùng đá ngầm Leodo thuộc về vùng biển nằm trong vòng kiểm soát của Trung Hoa và nên được tuần tra bởi máy bay và tàu tuần tra của Trung Hoa.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nam Hàn ông Kim Jae-Shin đã mời Đại sứ Trung Quốc ông Zhang Xinsen đến hôm thứ Hai để đưa đơn phản đối lời tuyên bố của ông Liu, nhân viên bộ ngoại giao Nam Hàn cho hay.

Việc Bắc Kinh tái xác định chủ quyền của mình lên vùng này được xem như là một cách giành thế thượng phong với Hán Thành trong những cuộc thương thảo về lãnh hải trong tương lai, các nhà phân tích thời cuộc nói.

Tổng thống Nam Hàn ông Lee Myung-Bak cảnh cáo là bất kỳ tranh chấp nào trong vùng giàu tài nguyên này – là con đường mậu dịch đường biển chính của Hán Thành – đều có thể gây nên một ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế dựa vào mậu dịch của quốc gia này.

Nam Hàn trong năm 2003 đã cố gắng tăng cường sự kiểm soát của mình lên vùng biển đang còn tranh chấp này bằng cách xây một trạm nghiên cứu hàng hải trên đó bất chấp sự phản kháng của Bắc Kinh.

© DCVOnline

Đăng trong Bien Gioi, Chinh Sach doi ngoai | Leave a Comment »

Vẫn chưa tỉnh ngộ, hành động còn thua xa tổng thống Phillippines (mới 50 tuổi)

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Sáu 20, 2011

Hầu như tất cả những người nào có blog và viết bài trên mạng đều nhìn thấy được các hoạt động của Trung Quốc nhằm lấn chiếm Biển Đông và lãnh thổ vùng biên giới  Phía  Bắc của VN…xảy ra rất có hệ thống, nhịp nhàng, rõ ràng, và nhất quán từ 1945 cho đến nay. Cứ như là TQ đã viết rõ kế hoạch chiếm đất, chiếm đảo, chiếm lãnh hải ra giấy, và các lảnh đạo đảng kế tục của CSTQ cứ tuân theo đó mà làm, tùy theo từng giai đoạn.

Các cán bộ cao cấp của đảng  CSVN biết rõ chuyện nầy trong gần 60 năm qua, nhưng họ cứ tiếp tục ngoan ngoãn đi theo TQ như những con nghiện thuốc phiện; biết thuốc phiện là độc hại, nhưng vẫn cứ hút, cứ chích. Như một con nghiện, họ đã bị thuần hóa, thu phục và không bao giờ từ bỏ Trung Quốc.

Bài xã luận của nhà báo Ngô Nhân Dụng và bài đăng trên blog của nhạc sĩ Tô Hải rất xuất sắc gột tả được thủ đoạn của Trung Quốc và thái độ của các lãnh đạo đảng  CSVN trước các vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, và chủ quyền.

Ðược đằng đầu lân đằng chân

Vào giữa thế kỷ 19, quân Pháp bắt đầu việc đánh chiếm Việt Nam bằng cách tạo áp lực buộc triều đình nhà Nguyễn phải nhượng bộ từng bước một: Mở cửa Ðà Nẵng xong, đem quân chiếm ba tỉnh miền Ðông Nam Phần; rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây; mươi năm sau tấn công tới Bắc Hà; cuối cùng nuốt gọn cả nước bằng cách quyết định người nào sẽ lên làm vua phần nước Việt Nam còn lại! Chiến lược đó, tục ngữ Việt Nam gọi là “Ðược đằng chân lân đằng đầu!” Nắm được cái đầu là ông vua rồi, họ tiếp tục lấn từng bước một, đặt các đại diện của Pháp ở miền Bắc, miền Trung, từ từ xuống tới các tỉnh. Dần dần những người “đại diện ngoại giao” của Pháp lấn lướt các quan lại triều đình để cuối cùng cả guồng máy cai trị lọt vào tay người Pháp.

Quan sát hành vi của Trung Quốc lấn chiếm biên giới và hải phận Việt Nam, ta thấy Trung Quốc theo một chiến lược cao hơn người Pháp. Có thể gọi tên ngược lại, là “Ðược đằng đầu lấn đằng chân!” Nắm cái đầu tức là nắm những người cầm quyền ở nước Việt Nam. Nắm được cái đầu rồi thì sau đó mới lấn dưới chân, và lấn từng bước một, nhẹ nhàng sao cho nó không giẫy giụa! Mỗi lần lấn một bước dưới chân, đôi chân muốn cựa quậy nhưng cái đầu không cho cựa, đau đớn cũng không cho kêu, thì cuối cùng cả thân thể cũng đành chịu! Những cái chân không chạy được nữa, cái miệng của người dân không được nói nữa mà chính quyền muốn nói thì há miệng mắc quai; nắm được cái đầu trong tay, những vụ cướp đất, cướp biển chỉ là những chi tiết chiến thuật.

Nhiều nhà trí thức trong nước cũng nhìn thấy như vậy: Chiến thuật của Trung Quốc khi chiếm các vùng đất và vùng biển nước ta là lấn từng bước một, đặt mọi người trước những “sự đã rồi,” lâu ngày thành quen đi, cái gì cũng “thành bùn” được hết!

Trên đất liền, là những vụ “cắm cọc biên giới.” Nhà báo Huy Ðức mới lục đống báo cũ, nhắc lại rằng trong các báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, ngày 19 tháng 3, 1979, Bị Vong Lục của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã nói: “Phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét để xóa vết tích đường biên giới lịch sử rồi đặt cột Km Zero sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m.” Cũng Bị Vong Lục năm 1979 viết: “Năm 1955, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới tới Yên Viên, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray (đường sắt) vào vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 300m so với đường biên giới lịch sử.” Bị Vong Lục 1979 cũng tố cáo, “toàn bộ thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong là của Việt Nam, Trung Quốc chỉ mới đưa 2,000 người sang cưỡng chiếm từ ngày 29 tháng 2, 1976.”

Trên mặt biển, Trung Quốc đã toan đánh quần đảo Hoàng Sa năm 1958; nhưng khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đem tầu chiến ra chống cự thì họ rút lui. Cũng năm đó, chính phủ Bắc Kinh đưa ra một tuyên bố về vấn đề hải phận, thì lại được ông thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc là Phạm Văn Ðồng gửi thư ủng hộ. Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, bao chiến sĩ hải quân nước ta đã hy sinh trong lúc bảo vệ đất đai của tổ tiên. Chính quyền miền Bắc cũng không hề nói một lời nào để phản đối hành động xâm lăng đó! Lý do chỉ vì với lá thư của Phạm Văn Ðồng năm 1958 thì há miệng mắc quai. Năm 1988, Trung Quốc lại tấn công chiếm các đảo ở Trường Sa, nhưng người kế vị Lê Duẩn đành nuốt hận vì không được Nga Xô cứu giúp; mặc dù chính ông ta đã công nhận Nga là“tổ quốc thứ hai” của mình khi quay mặt chống Trung Quốc.

Gần đây, chiến thuật lấn từng bước lại diễn ra một cách hung tợn hơn. Ðánh đuổi các ngư dân Việt Nam không cho đánh cá; dân Việt không sợ thì tấn công, cướp tầu, cướp máy, đánh đập, bắt cóc, giam cầm, đòi tiền chuộc. Nhiều người Việt đã nhìn thấy chiến thuật lấn chân mới trong vụ Bình Minh 2 và Viking 2, là biến các vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam thành một vùng xung đột. Sau khi đã biến một vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp, gây nên tình trạng căng thẳng ngày càng cao hơn khiến thế giới lo ngại, thì lúc đó Trung Quốc sẽ yêu cầu thảo luận, và cuối cùng thì đề nghị “cắt đôi” phần biển của Việt Nam, chia mỗi bên một nửa!

Và tình trạng căng thẳng đang tăng lên thật. Trong tuần này, báo chí khắp thế giới loan tin Hải Quân Việt Nam tập trận bằng súng đạn thật, hỏa tiễn thật, và thông báo cho tầu thuyền các nước khác hãy tránh xa. Ðây là lần đầu tiên một cuộc tập trận trên biển được công bố, như để quảng cáo cho mọi người đều biết! Hà Nội lại nhắc nhở lại trên báo chí luật tổng động viên, làm cho không khí ngột ngạt hơn! Nhưng ngay sau đó, Trung Quốc đã thản nhiên gửi tầu Hải Tuần 31, một trong những chiến hạm tuần tiễu lớn nhất tiến vào vùng biển Ðông, nói đó là một hoạt động bình thường! Thế là cả thế giới theo dõi! Không phải chỉ có những nhật báo quốc tế như Le Monde, New York Times, Independent, Japan Times, hay các báo ở vùng Ðông Nam Á cho tới Ðại Hàn đăng tin này, mà cả những tờ báo ở Pakistan, ở Dubai cũng loan tin, rồi thuật tiếp những phản ứng của chính phủ Mỹ! Và Mark Toner, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức than phiền rằng những biến cố gần đây gây thêm lo ngại đối với an ninh đường biển, và đã làm cho tình hình thêm căng thẳng!

Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại chọn cách bày tỏ thái độ như vậy?

Lâu nay, những người cầm quyền trong nước vẫn nói họ sẽ chỉ dùng các biện pháp ngoại giao cho các xung đột ở biển Ðông. Nhưng, sau khi các tầu Bình Minh và Viking liên tiếp bị tấn công một cách ngang ngược, đảng cộng sản lại không hề đưa ra một sáng kiến ngoại giao nào cả! Họ không hề xác định lại một cách chính thức với Bắc Kinh bằng cách phủ nhận lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1958 một cách minh bạch và công khai! Họ cũng không mời đại diện các nước Ðông Nam Á và Á Châu tới họp để tìm một chính sách chung đối với sự bành trướng của Trung Quốc!

Tình hình hiện nay đã chín mùi để tổ chức một hội nghị vùng bàn về vấn đề này. Tại hội nghị về an ninh vùng gần đây, một nhân viên an ninh Ấn Ðộ đã nhận xét: “Chúng tôi rất vui mừng trước các lời lẽ hòa hoãn của ông Lương Quang Liệt (Trung Quốc) nhưng cảm tưởng chung hiện nay là các cường quốc Á Châu là họ tiến đền gần nhau hơn chỉ vì thấy phải tìm cách đối phó với chính quyền Bắc Kinh. Một viên chức ngoại giao Nhật Bản cũng đồng ý. Nhật, Nam Hàn và Úc Châu đã đến gần nhau hơn, và đều liên kết với Mỹ. Một cố vấn của tổng thống Nam Hàn, ông Lee Chung-Min, đã nhận xét: “Trung Quốc đang đẩy chúng tôi tiến đến gần nhau hơn. Nước đó lớn quá khó ngăn họ được, nhưng hầu như chúng tôi đã thấy đến lúc phải hành động để ngăn bớt (sự bành trướng của) Trung Quốc.”

Việt Nam là nạn nhân trực tiếp do sự bành trướng của Trung Quốc gây ra. Ðáng lẽ Việt Nam phải đứng ra vận động việc liên minh giữa các quốc gia trong các miền Ðông và Nam Á Châu, về kinh tế, tài chánh và an ninh, để có tiếng nói và hành động chung trước sự bành trướng của Trung Quốc. Và đó là một hoạt cuộc tấn công ngoại giao, không thể coi là khiêu khích về quân sự hay xâm phạm chủ quyền của nước nào cả.

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không chọn những hành động ngoại giao kể trên, sau khi Trung Quốc leo thang với những vụ cắt dây cáp tầu dò đấy biển. Ngược lại, họ đã “biểu diễn” những màn quân sự, như công bố việc diễn tập hải quân bằng đạn thật, và khoe khoang thêm về luật tổng động viên.

Ai cũng biết rằng hai hành động trên không hề có ảnh hưởng nào trên tương quan lực lượng và không hề thay đổi ngôi vị tương đối giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Không một chiếc tầu nào của Trung Quốc bị sứt mẻ. Trong khi đó họ cũng không hề thấy phải nhận lỗi về những vụ leo thang trong ba tuần qua. Hầu như Bắc Kinh hoàn toàn làm ngơ trước những hành động mà người ngoài có thể coi là gây cho tình hình thêm căng thẳng.

Những người lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể đã đọc được những ý nghĩ trong đầu giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã nắm chắc cái đầu đó rồi. Họ đã biết, hoặc đã được báo trước về những hành động sắp diễn ra trong tuần này. Họ hiểu rằng chính quyền cộng sản cần một số màn biểu diễn; bề ngoài như thể đang làm dữ, nhưng trên thực tế không gây ra một hiệu quả nào hết. Những hành động đó hoàn toàn không thay đổi cục diện ở biển Ðông, nhưng có thể cho người dân Việt nhìn thấy là bọn cầm quyền có làm, đang làm một cái gì đó! Mục đích duy nhất là làm nguội bớt không khí đấu tranh của người dân Việt Nam

Ðây là một sách lược đảng Cộng Sản đã theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Họ không muốn dân chúng lên tiếng, không được tham dự, không được quyết định. Mọi vấn đề ngoại giao là độc quyền của đảng. Dân Việt Nam chỉ việc ký ngân phiếu trắng, “ký khống” cho các lãnh tụ đảng quyết định mọi chuyện! Từ mấy tuần qua, sách lược này vẫn được sử dụng. Như một ông hiệu trưởng ngăn không cho sinh viên biểu tình, với lý luận rằng việc ngoại giao khó khăn lắm, phải để yên cho nhà nước từ từ giải quyết! Một ông giáo sư bài nêu lên toàn những “quyết tâm” của người Việt Nam, mà không đưa ra một hành động cụ thể nào cả; nhưng ông ta không quên nêu lên một quyết tâm, là “hoàn toàn đoàn kết với đảng và nhà nước!”

Nhưng nếu đảng và Nhà nước lại không đoàn kết với dân mà chỉ đoàn kết với người khác, với những đồng chí, anh em của họ thì sao? Như nhà báo Huy Ðức kể, trước cuộc ký kết về biên giới năm 1993, Hà Nội cử những phái đoàn tới quan sát vùng biên giới. Họ đi coi các nơi, rồi họp bàn với các đồng chí Trung Quốc. Nhưng đối với dân thì các phái đoàn này làm việc hoàn toàn trong vòng bí mật. Huy Ðức thuật: “Theo các chiến sĩ biên phòng, thay vì huy động sự góp sức của nhân dân, không hiểu vì lý do gì công việc này đã được tiến hành bí mật.” Một vị đồn trưởng Biên phòng ở Hà Giang nói: “Chúng tôi thuộc địa hình đến từng mili mét nhưng các đoàn khảo sát đã bí mật luôn cả với chúng tôi!” Ðây là một kinh nghiệm cay đắng khi cái đầu của một nước tự tách rời khỏi thân thể!

Khi một chính quyền hành động minh bạch, công khai trước mọi người dân, khi người dân được tự do hội họp, tự do phát biểu, tự do bỏ phiếu chọn những người nắm quyền, thì không ngoại bang nào có thể nắm cái đầu dân nước đó được! Ngược lại, thì bất cứ cường quốc nào cũng chỉ cần nắm lấy cái đầu một nước, rồi từ từ sẽ lấn chân giành đất, giành biển, quốc gia sẽ rơi vào vòng nô lệ khi nào không biết!

Nguồn: Nguoi-viet.com

—–

Bình  Luận

Nguy cơ của việc TQ dùng vũ lực chiếm Biển Đông đã lộ hẳn ra từ 1958, nhưng đảng CSVN vẫn không nhận ra được các sự kiện diễn ra trong 20 qua, sau khi họ chiếm thêm quần đảo Trường Sa năm 1988. Chỉ đến năm nay, khi quân TQ đe dọa một  cách lộ liễu muốn chiếm các mỏ dầu của công ty quốc doanh Petro Vietnam đang khai thác, tức là đụng tới túi tiền 10 tỉ/ 1 năm của đảng, thì đảng chạy đôn chạy đáo kêu cứu khắp nơi, và quơ trúng …thằng xâm lược Mỹ.

Việc liên minh giữa VN và Mỹ (nếu có) sẽ mâu thuẩn với khẩu hiệu: “giải phóng miền Nam chống quân xâm lược Mỹ, đánh Mỹ cứu nước trong chiến tranh VN 1954-1975″ làm chết hơn 3 triệu bộ đội Miền Bắc vào giải phóng miền Nam. Hóa ra, đảng đang cầu cứu Mỹ bảo vệ chủ quyền Biển Đông cho Việt Nam. (vậy mà cứ dạy mấy đứa học sinh VN bằng cách huênh hoang tuyên bố: ta đánh thắng Mỹ!)

Trong khi đó, tại Liên  Hiệp Quốc, sau 36 năm không dám hó hé, đây là lần đầu tiên VN tố cáo  Trung Quốc về Biển  Đông.

Blogger Tô Hải viết như sau:

1-//Tại Liên Hiệp Quốc ông Lê Lương minh ,đại sứ đã được phép lên án công khai và chính thức trứớc toàn thế giới những hành động vi phạm  chủ quyền biển của Việt Nam..
2-/Lần đầu tiên một vũ khí tối tân chưa từng được biết bao giờ :Tên lửa S-300PMU1 được công khai đua lên báo và giới thiệu “vô tư” mọi tĩnh năng ưu việt của nó,tiếc rằng không có một câu “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng !
Tớ không dám vỗ ngực mà nói rằng :Tớ đã “gợi ý” cho báo ta những gì báo ta chưa được phép nói  nhưng ít nhất ,tớ cũng có chút tự hào vì đã đi trước một ngày đề ra các vấn đề khó mà lờ tịt đi mãi được!

nguồn

—–

Mỹ-Việt ra thông cáo chung về Biển Đông

18-6-2011

Hoa Kỳ và Việt Nam vừa ra thông cáo chung kêu gọi tự do lưu thông hàng hải và phản đối việc dùng vũ lực tại Biển Đông.

Thông cáo chung này được đưa ra sau vòng Đối thoại về chính trị-an ninh-quốc phòng Việt- Mỹ lần thứ tư diễn ra hôm thứ Sáu 17/06 tại Washington D.C., trong đó các diễn biến mới nhất tại Biển Đông đã được hai bên thảo luận.

Sau cuộc họp, hai bên thống nhất rằng “việc duy trì hòa bình, ổn định, an toàn và tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”.

Thông cáo chung cũng viết: “Tất cả các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần phải được giải quyết thông qua tiến trình hợp tác ngoại giao, không sử dụng vũ lực”.

Văn bản thông cáo đăng tải trên website của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho hay: “Hai bên ghi nhận rằng các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và hàng hải cần phải tuân thủ các nguyên tắc đã được luật pháp quốc tế công nhận, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982″.

“Hai nước tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố chung về cách hành xử của các bên ở Biển Đông ký kết giữa Asean và Trung Quốc năm 2002 và khuyến khích các bên đạt thỏa thuận về Bộ quy tắc ứng xử.”

Căng thẳng gia tăng

Thông cáo được đưa ra vài ngày sau khi Trung Quốc điều tàu Hải Tuần 31 qua Biển Đông, và Philippines cũng quyết định điều tàu chiến lớn nhất tới khu vực này.

Trung Quốc chuẩn bị tập trận ba ngày, trong khi Việt Nam đã bắn đạn thật hôm thứ Hai 13/06.

Bản thông cáo ra hôm 17/06 tại Washington D.C. có đoạn: “Mỹ nhấn mạnh rằng các vụ việc gây quan ngại trong những tháng gần đây không có lợi cho hòa bình và ổn định trong khu vực”.

Cuộc đối thoại chính trị-an ninh-quốc phòng Việt Mỹ lần thứ tư do Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách các Vấn đề Chính trị và Quân sự Andrew Shapiro chủ trì.

Trung Quốc đã nhiều lần tỏ tức giận về việc “một bên thứ ba” tham gia vào tranh chấp Biển Đông, nhất là sau khi giới chức Hoa Kỳ, kể cả Ngoại trưởng Hillary Clinton, tuyên bố rằng tự do lưu thông ở Biển Đông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ.

Thời gian gần đây, Việt Nam tỏ ra nỗ lực trong việc kêu gọi và tranh thủ dư luận nước ngoài, nhất là Hoa Kỳ, trong vấn đề Biển Đông.

Thượng Nghị sỹ Jim Webb, trong một cuộc họp báo hôm thứ Hai tuần rồi, nói: “Tình hình chủ quyền tại Biển Đông thực ra lại giúp quan hệ giữa hai bên (Việt Nam và Hoa Kỳ) bằng cách nó khiến cả hai hiểu rõ điểm chung trong quyền lợi của mình”.

Ông Webb, người từng tham chiến ở Việt Nam, cũng kêu gọi chính phủ Mỹ cứng rắn hơn trong vấn đề Biển Đông.

Một điểm đáng chú ý là trong thông cáo chung sau cuộc đối thoại, không có điểm nào đề cập tới vấn đề nhân quyền, vẫn được cho là chủ đề mà Việt Nam và Hoa Kỳ còn nhiều khác biệt.

Tin BBC
——-

Trong khi các hoạt động của các chính trị gia TQ và các cuộc gây hấn trên  Biển Đông bao năm qua của Hải quân TQ đều nhất quán, nhằm đạt được mục tiêu là chiếm đảo, chiếm lãnh hải, đe dọa ngư dân  VN. Thì từ năm 2005, TQ đã khóa tay khóa chân Quân đội NDVN bằng các hoạt động như thế nầy.

Lý lẽ của Trung Quốc là thế này: Lãnh hải và lãnh thổ của TQ thì không ai được nhòm ngó đến.

Còn lãnh hải và lãnh thổ của VN thì Trung Quốc nói: chúng ta thảo luận trong hoà bình. TQ cứ lấn tới, thấy đảng CSVN không phản ứng công khai trên quốc tế, thấy dân chúng VN không phản đối,  thì TQ lấn tới nữa…đó là chuyện xảy ra từ 1974-2011 và sẽ còn tiếp tục xẩy ra.

TQ chờ cơ hội cho đến khi VN có một lãnh đạo đảng  CSVN yếu kém và sơ hở, thì TQ kêu VN ngồi vào bàn hội nghị, thương thuyết cù chầy cù mài 10-20 năm như chuyện ký hiêp định biên giới tháng 12/2000, và 2008, cuối cùng VN lấy đất của mình chia cho TQ càng nhiều bao nhiêu hay bấy nhiêu.  Đấy là ổn định, là hợp tác chân thành với tình hữu nghị của 16 chữ vàng và 4 tốt!

Hai tàu Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam lên đường đi tuần tra liên hợp và thăm Trung Quốc

QĐND Online – Chiều 18-6, hai tàu HQ375 và HQ376 thuộc Đoàn M62 (Vùng D hải quân) được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân giao nhiệm vụ đại diện Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam rời bến đến địa điểm tập kết để cùng với tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tham gia chuyến tuần tra liên hợp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ. Đây là đợt tuần tra chung lần thứ 11 kể từ khi hải quân hai nước ký kết thỏa thuận về Quy chế tuần tra liên hợp tháng 10-2005

Đại tá Nguyễn Văn Kiệm, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân chỉ huy tuần tra phía Việt Nam và làm Trưởng đoàn Hải quân nhân dân Việt Nam đến thăm Trung Quốc. Tham gia đoàn tàu quân sự Việt Nam thăm Trung Quốc có cán bộ chỉ huy các cơ quan Quân chủng Hải quân và thủy thủ hai tàu HQ375 và HQ376.

Theo lịch trình, Hải quân hai nước thực hiện chuyến tuần tra liên hiệp bắt đầu từ 8 giờ ngày 19-6 và kết thúc lúc 10 giờ 15 phút ngày 20-6-2011 (theo giờ Hà Nội). Quãng đường tuần tra 306 hải lý, từ điểm 1 đến điểm 10 của tuyến tuần tra cơ bản. Sau khi kết thúc tuần tra liên hợp, tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến hành dẫn đường cho hai tàu của Hải quân Quân đội nhân dân Việt Nam hành quân qua eo biển Quỳnh Châu vào cảng Trạm Giang thực hiện chuyến thăm, giao lưu hữu nghị với Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Chuyến tuần tra này nhằm tiếp tục phát triển mối quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị truyền thống, tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa quân đội và hải quân hai nước. Khu vực tuần tra là vùng biển giáp ranh giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ đã được phân định. Chuyến tuần tra còn nhằm duy trì an ninh, trật tự trên vùng biển; thúc đẩy thực thi Hiệp định nghề cá,duy trì trật tự ổn định các hoạt động sản xuất bình thường của nhân dân hai nước trên vùng biển vịnh Bắc Bộ; trao đổi kinh nghiệm hoạt động của hải quân hai nước.

Tin, ảnh: Đình Xuân

——

Trong khi đó, quân đội và hải quân của  Philippines rất ít và rất yếu, nhưng chính phủ của họ rất mạnh. Tổng thống Phillippines bà Benigno Aquino hôm 14 tháng 6 đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ một đồng mình lâu năm của mình là Mỹ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Trước đó, bà ra lệnh cho hải quân Phillippines nhổ bỏ các cọc do TQ dựng lên  trên các đảo của Phillipines. TQ dựng các cột để có cơ sở đòi hỏi chủ quyền khi có thương thuyết diễn ra. Một người đàn bà đứng đầu một quốc gia mà đã có hành động cương quyết, chuẩn mực như thế, còn bộ chính trị đảng  CSVN 14 người, hết đời nầy qua đời khác, nhu nhược như một con giun. Thái độ ấy đã được ột blogger khác nhận xét một cách chính xác  “Hung dữ ở nhà, hèn hạ ở chợ

Philippines nhổ cọc lạ ngoài Biển Đông

Việt Hà, phóng viên RFA
2011-06-16

Hôm 15 tháng 6, Philippines cho biết đã nhổ một số cọc lạ tại 3 bãi đá trong khu vực đang tranh chấp ở biển Đông.

AFP photoBản đồ khu vực trong vùng biển Đông, nơi Chính phủ Philippines cho rằng các tàu quân sự Trung Quốc đã đổ vật liệu xây dựng trái phép.

Thông báo này được đưa ra vào lúc các tranh chấp trong khu vực đang trở nên căng thẳng thời gian gần đây. Các cọc này được đóng ở đây nhằm mục đích gì? Liệu hành động nhổ cọc của Philippine có tạo thêm căng thẳng cho vấn đề biển Đông?

Không phải lần đầu

Trong khi những căng thẳng trên biển Đông chưa có dấu hiệu dịu bớt thì vào hôm 15 tháng 6, Philippines cho biết vào tháng 5 vừa qua hải quân nước này đã nhổ một số cọc lạ tại các bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp.

Phát ngôn viên Hải quân nước này, thiếu tá Omar Tonsay, nói với báo giới là các cọc gỗ này được gọi là cọc lạ vì không có dấu hiệu hay chữ đề thuộc nước nào, và Philippine cũng không dựng các cọc này.

Giáo sư môn quan hệ quốc tế thuộc trường đại De La Salle, Philippine, ông Renato Cruz De Castro cho biết thực ra việc nhổ các cọc gỗ này không phải là mới. Ông nói:

“Những cọc này có thể đã được dựng ở đây khoảng 2 năm trước. Philippine cũng đã nhổ những cọc từ giữa những năm 1990 cho nên có thể là những cọc này đã có ở đó một thời gian. Hải quân Philippine nhổ các cọc này từ năm 1990 vì quan niệm rằng các cọc này có nghĩa là xác nhận chủ quyền. Mục đích nhổ cọc là để ngăn chặn bất cứ việc xây dựng có thể trong tương lai tại khu vực tranh chấp đó.”

Trước đó, tại diễn đàn đối thoại Shangri La ở Singapore vào đầu tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Philippine Voltaire Gazmin cho biết Philippine đã phát hiện một tàu hải giám của Trung Quốc đổ vật liệu xây dựng và thả phao ở vùng gần Amy Douglas Bank phía tây nam bãi Cỏ Rong thuộc đặc quyền kinh tế của Philippines.

Giáo sư Castro cho biết việc đổ vật liệu xây dựng này có thể báo hiệu là sẽ có xây dựng trong tương lai:

Hải quân Philippine nhổ các cọc này từ năm 1990 vì quan niệm rằng các cọc này có nghĩa là xác nhận chủ quyền. Mục đích nhổ cọc là để ngăn chặn bất cứ việc xây dựng có thể trong tương lai tại khu vực tranh chấp đó.

Giáo sư Castro

“Những gì mà hải quân Philippine nhìn thấy là những cái tàu chở theo vật liệu đến nhưng không thấy xây dựng. Nhưng những gì mà chúng tôi quan sát cho thấy là việc xây dựng có thể sẽ được bắt đầu.”

Tiến sĩ Ian Storey thuộc viện nghiên cứu Đông Nam Á nhận xét nếu đúng là có việc xây dựng hay đổ cọc tại các khu vực đang tranh chấp thì đây là hành động vi phạm tuyên bố của các bên về ứng xử trên biển Đông nghiêm trọng nhất từ trước tới nay:

“Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông hồi năm 2002 chỉ rõ là cấm các bên chiếm đóng các đảo và bãi chưa chiếm đóng. Từ năm 2002, tất cả các bên đều tuân thủ điều này. Nhưng nếu đúng là Trung Quốc đã đổ vật liệu và có dự định xây dựng trên đó thì cho đến giờ đó là hành động vi phạm DOC nghiêm trọng nhất kể từ năm 2002.”

Gia tăng căng thẳng?

Việc nhổ các cọc lạ của hải quân Philippine được thông báo vào lúc này theo giáo sư Castro có thể sẽ làm những nước đã cắm các cọc này không hài lòng:

“Có thể những nước đã cắm các cọc ở đó sẽ không thoải mái khi biết các cọc đã bị nhổ đi. Tôi không biết là liệu việc này có làm tăng thêm căng thẳng hay không nhưng đây đã là chính sách của hải quân Philippine kể từ những năm 1990.”

000_Hkg3888213-250.jpg
Một chiếc tàu kéo dẫn chiếc USS Blue Ridge của Hải quân Mỹ vào cảng Nam Manila hôm 04/8/2010. AFP photo

Căng thẳng trong khu vực biển Đông đã gia tăng trong thời gian gần đây sau một loạt các sự kiện liên quan đến những đụng độ giữa tàu hải giám Trung Quốc và các tàu thăm dò của Philippines và Việt Nam.

Vào tháng 3 năm nay, tàu hải giám Trung Quốc đã xua đuổi một tàu thăm dò của Philippine tại gần khu vực quần đảo Trường Sa. Tiếp theo đó, vào ngày 26 tháng 5 và 9 tháng 6, tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp của hai tàu thăm dò khác của Việt Nam.

Cả Philippine và Việt Nam đều đã lên tiếng phản đối các hành động này của Trung Quốc. Việt Nam còn yêu cầu Trung Quốc bồi thường. Phía Trung Quốc thì nói rằng tàu Trung Quốc chỉ làm việc bảo vệ chủ quyền của mình.

Tổng thống Philippine, Benigno Aquino hôm 14 tháng 6 đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ từ một đồng mình lâu năm của mình là Mỹ để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.

Tổng thống Aquino nói rằng lực lượng quốc phòng của Philippine còn quá yếu để có thể đối đầu với Trung Quốc. Sự có mặt của Mỹ sẽ đảm bảo quyền tự do đi lại trong khu vực cho các bên và theo đúng luật quốc tế.

Trong cùng ngày, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cảnh báo các nước không liên quan đứng ngoài những tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông.
Thượng nghị sĩ Jim Webb trong buổi nói chuyện về an ninh khu vực Đông Á Thái Bình Dương hôm 13 tháng 6 tại Washington cho rằng phản ứng của Hoa Kỳ trước căng thẳng trên biển Đông là quá yếu và Mỹ cần phải có những tham gia tích cực hơn nữa. Ông nói:

Tôi không biết là liệu việc này có làm tăng thêm căng thẳng hay không nhưng đây đã là chính sách của hải quân Philippine kể từ những năm 1990.

 Giáo sư Castro

“Tôi nghĩ chính phủ đã có những phản ứng quá yếu trước vấn đề này khi chúng ta nói là chúng ta không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền. Không đứng về bên nào có nghĩa là chúng ta đã tỏ rõ lập trường rồi. Chúng ta nên làm việc trong một diễn đàn đa phương để giải quyết vấn đề. Đây không chỉ là vấn đề chủ quyền mà còn nhiều tương lai kinh tế ở đó. Vì vậy chúng ta cần phải tham gia như là môt lực lượng cân bằng để đưa vấn đề này ra thảo luận. Việc Mỹ đứng lên cho thấy khả năng lãnh đạo của mình để đưa vấn đề ra bàn thảo là hết sức quan trọng.”

Thượng nghị sĩ Jim Webb cũng cho rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải gửi ra những tín hiệu rõ ràng hơn với Trung Quốc bởi các hành động gần đây của Trung Quốc trên biển Đông là không hợp lý.

Trong khi đó, cũng vào ngày 13 tháng 6 vừa qua, hải quân Việt Nam đã diễn tập bắn đạn thật ở bờ biển miền Trung Việt Nam. Còn Bắc Kinh thì trước đó đã tuyên bố là sẽ tiến hành các cuộc tập trận hải quân tại biển Đông vào cuối tháng này. Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nói rằng đây là các cuộc tập trận theo lịch trình thường niên của hai nước này.

Đăng trong Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa, Bien Gioi | Leave a Comment »

Trung Quốc : Thế lực toàn cầu mới

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Tám 10, 2010

Trung Quốc : Thế lực toàn cầu mới

Quân đội diễn tập chuẩn bị kỷ niệm 60 ngày thành lập CHND Trung Hoa

Quân đội diễn tập chuẩn bị kỷ niệm 60 ngày thành lập CHND Trung Hoa

Thành công kinh tế vượt bực của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã được nước này chuyển hóa thành sức mạnh chính tri, ngoại giao và quân sự, kích thích tham vọng lãnh thổ, mà biểu hiện mới nhất là việc xác định Biển Đông là « vùng quyền lợi quốc gia thiết thân » của Bắc Kinh.

Trong bài viết mang tựa đề « Ảnh hưởng toàn cầu mới của Trung Quốc – China’s New Global Leverage », đăng trên website Asia Sentinel ngày 14/07/2010, nhà nghiên cứu Mỹ Bruce Stokes đã phân tích các hành động gần đây của Trung Quốc nhằm khẳng định uy lực của mình trên trường quốc tế và ngay cả đối với các láng giềng châu Á. RFI xin giới thiệu bài viết này với quý vị.

Trung Quốc có phải là một thị trường đang vươn lên với những ước vọng hạn chế mang tính khu vực như Bắc Kinh cố cho thấy hay không ? Hay họ là một nền kinh tế quyết đoán, ngày càng hùng mạnh, một thế lực chiến lược đang càng lúc càng thách thức châu Âu, Hoa Kỳ và các láng giềng châu Á ?

Phương Tây từng có một lịch sử lâu dài hay la hoảng về Trung Quốc, khởi đầu bằng khái niệm « Hiểm họa Da vàng » vào thế kỷ 19. Mới đây thì nỗi lo ngại về Trung Quốc phản ánh thái độ thiếu tự tin của Âu Mỹ về năng lực bản thân trong việc duy trì mức sống hiện nay của mình, trước sức cạnh tranh của Trung Quốc.

Thái độ âu lo cũng được giới tân bảo thủ khuyến khích vì họ cần tạo ra một kẻ thù để động viên quần chúng ủng hộ việc tăng cường chi phí quân sự và tiếp tục duy trì ảnh hưởng toàn cầu của nước Mỹ. Hơn nữa, nỗi lo âu như vậy đã không chú ý đến nhu cầu phát triển to lớn của Trung Quốc, của hàng trăm triệu con người còn sống trong cảnh túng thiếu ngặt nghèo.

Cho dù vậy, các dấu hiệu trong những tháng gần đây gợi lên một Trung Quốc càng lúc càng tự tin, với một năng lực và một quyết tâm tác động lên thế giới chưa từng thấy. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Lịch sử đã cho thấy rằng các cường quốc đang lên đều diễu võ giương oai và thử sức với châu Âu và Hoa Kỳ. Các láng giềng châu Á của Trung Quốc không nhất thiết phải lo sợ, nhưng cần phải dè chừng.

Thái độ quyết đoán mới đây của Trung Quốc bắt nguồn từ một thành công kinh tế chưa từng thấy. Quy mô nền kinh tế của họ đã lớn lên gấp đôi trong vòng 7 năm qua, và thu nhập theo đầu người của họ đã nhân đôi trong vòng 6 năm. Thành quả kinh tế đó đã biến người Trung Quốc thành dân tộc tự mãn nhất thế giới, nếu căn cứ vào kết quả cuộc thăm dò dư luận toàn cầu gần đây nhất của Tổ chức Pew. 9 trên 10 người Trung Quốc hài lòng với đường lối kinh tế của nước họ, thoải mái với hiện trạng kinh tế và lạc quan về tương lai kinh tế quốc gia.

Và phần còn lại của thế giới càng lúc càng thấy Trung Quốc là một siêu cường kinh tế đang vươn lên. Cũng trong bản điều tra dư luận của Pew tại 22 nước, đa số, hoặc số đông ở 8 quốc gia chọn Trung Quốc làm cường quốc kinh tế hàng đầu, trong lúc vào năm 2009, chỉ có dân chúng tại 2 nước suy nghĩ như vậy mà thôi. Một nửa dân chúng ở Đức, Jordan, Nhật Bản, Pháp và Hoa Kỳ hiện xếp Trung Quốc vào vị trí thứ nhất.

Từ năm 2009, tại 13 trên tổng số 21 quốc gia có thăm dò về yếu tố này, tỷ lệ dư luận xem Trung Quốc là cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới đã tăng vọt, với mức 29 % ở Nhật Bản, 23% ở Đức và 21% ở Jordan.

Trung Quốc có vẻ như càng lúc càng sẵn sàng dùng vị thế đang lên của mình để gây sức ép trên mặt ngoại giao, an ninh và kinh tế. Giờ đây, họ không còn khấu đầu trước Hoa Kỳ nữa. Khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama đi thăm Trung Quốc vào tháng 11 năm 2009, cuộc tiếp xúc chính của ông với công chúng là với sinh viên tại Thượng Hải. Sự kiện này chỉ được phát trên đài truyền hình địa phương chứ không phải toàn quốc như trong cuộc gặp gỡ nổi tiếng của Bill Clinton nhân chuyến công du đầu tiên của ông trong cương vị Tổng Thống. Tệ hơn nữa, báo chí vào khi ấy đã kiểm duyệt nội dung, chẳng hạn như đối với bài phỏng vấn ông Obama trong chương trình ‘’Southern Weekend’’.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh về khí hậu Copenhagen vào tháng 12 năm 2009, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã không tham dự cuộc họp đầu với tổng thống Mỹ Obama, mà cử một viên chức cấp thấp hơn đi thay. Trong một chừng mực nào đó, ông Obama phải chịu đựng một bài diễn văn do một viên chức cao cấp Trung Quốc mò mẫm đọc. Nếu Hoa Kỳ cư xử như thế đối với một lãnh đạo Trung Quốc thì hiển nhiên sẽ dẫn đến một sự cố ngoại giao.

Bắc Kinh cũng trở nên hung hăng trên vấn đề thương mại và đầu tư, yêu cầu các công ty nước ngoài đăng ký bằng sáng chế công nghệ ở Trung Quốc và phải tuân theo chuẩn mực Trung Quốc nếu muốn bán hàng trên thị trường Trung Quốc. Bắc Kinh cũng đã từng kiện tụng những nhà sản xuất phương Tây bán sản phẩm tại Trung Quốc.

Trên mặt chính trị, quan chức Trung Quốc cũng bắt đầu mở rộng đòi hỏi về chủ quyền. Từ lâu nay, Bắc Kinh đã tuyên bố rằng Tây Tạng và Đài Loan là « vùng quyền lợi quốc gia thiết thân » và nước ngoài phải tránh can thiệp vào các « vấn đề nội bộ » đó. Bây giờ thì Bắc Kinh bắt đầu áp dụng chính sách ngoại giao này

đối với vùng Biển Đông, một khu vực rộng 1,2 triệu dặm vuông và là nơi qua lại của ít nhất là 1/3 hàng hóa chuyển vận bằng đường biển của thế giới và hơn một nửa năng lượng nhập khẩu của vùng Đông Bắc Á.

Đòi hỏi của Bắc Kinh đe doạ quyền lợi về ngư nghiệp cũng như dầu hoả của Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia và Malaysia, đe dọa quyền qua lại của hải quân Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Cùng lúc Bắc Kinh cũng khẳng định trở lại đòi hỏi chủ quyền cũ xưa tại bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, và cho tăng cường quân lính đóng ở vùng sát biên giới phía Đông Bắc Ấn Độ để đòi hỏi của họ có thêm trọng lượng.

Trung Quốc còn muốn đóng một vai trò to lớn hơn ở Nam Á. Bắc Kinh cung cấp vũ khí cho chính quyền Sri Lanka để sử dụng trong cuộc nội chiến dai dằng chống lực lượng Hổ Tamul. Họ còn mở rộng các chiến dịch hải quân ra tận Ấn Độ Dương, đồng thời cho xây dựng hải cảng tại một loạt quốc gia trong vùng, từ Miến Điện cho đến Pakistan.

Quan hệ kinh tế với Miến Điện và Afghanistan được tăng cường trong lúc quan hệ chiến lược với Pakistan được nâng lên qua đề nghị trợ giúp trong lãnh vực hạt nhân dân sự… Trung Quốc đã loại Ấn Độ ra khỏi các cơ cấu ngoại giao Đông Á, mà Trung Quốc thống lĩnh ?

Sẽ thông cảm được với các nước láng giềng của Trung Quốc nếu như họ bắt đầu quan ngại về việc Trung Quốc gắn liền quyền lợi quốc gia thiết thân, chủ quyền dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ song song với đà gia tăng của các chi phí quân sự. Hiện nay Bắc Kinh chi 4,3% GDP của mình vào quốc phòng, cao hơn rất nhiều so với các láng giềng Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Việt Nam.

Nhưng Trung Quốc cũng dùng đến phưong tiện gây sức ép mới khám phá ra « thái độ bất động ». Bắc Kinh đã kháng cự rất lâu trước áp lực muốn họ nâng giá đồng nhân dân tệ. Quyết định vào tháng 6/2010, ngừng gắn đồng tiền của họ với đồng đô la đã không làm cho đồng yuan tăng giá đáng kể. Bắc Kinh cũng không muốn gây sức ép đối với Bắc Triều Tiên bị cho là thủ phạm đánh chìm tàu Cheonan của Hàn Quốc. Bắc Kinh cũng đã cố đòi giảm nhẹ các biện pháp trừng phạt kinh tế của Liên Hiệp Quốc đối với Iran trên chương trình hạt nhân trước khi bò phiếu thông qua các biện pháp này, cho thấy rằng lợi ích kinh tế của Trung Quốc tại Iran đã lấn át các mối quan ngại chiến lược của châu Âu và Hoa Kỳ về chương trình này.

Rõ ràng là Bắc Kinh đã tung ra những tín hiệu cho thấy là Trung Quốc không thể mãi mãi chấp nhận nguyên trạng quốc tế hiện nay. Họ đã thiết lập một loạt cột mốc, và quan hệ của họ với các nước khác đã vĩnh viễn thay đổi .

Trong quá khứ, Trung Quốc đã từng nhiều lần trắc nghiệm xem ranh giới ảnh huởng của họ đến đâu và thái độ nhẫn nại của phương Tây và các láng giềng châu Á của họ đến mức nào, để rồi sau đó lùi lại. Nếu tất cả những động thái của Trung Quốc cho đến lúc này chỉ mang tính chất phô diễn thì tình hình còn có thể xử lý được.

Nguy cơ tình hình quốc tế căng thẳng lên và tính toán sai lầm sẽ chỉ xẩy ra nếu thái độ kiên quyết của Trung Quốc tiếp tục gia tăng trong những tháng tới đây.

Còn những vùng nào, những vấn đề nào khác mà Trung Quốc sẽ xếp vào diện « quyền lợi quốc gia thiết thân » và do đó sẽ nằm ngoài phạm vi chỉ trích của quốc tế ? Chính sách nhân quyền ở trong nước ? Vấn đề thải khí carbon kỷ lục ? Đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở Trung Á ?

Liệu các công ty Trung Quốc có tìm cách vượt qua các biện pháp trừng phạt kinh tế Iran hay không, qua đó cám dỗ Đức, Hàn Quốc, hay Nhật bản đi theo ? Liệu Bắc Kinh có sẽ sử dụng số lượng công trái phiếu của Mỹ khổng lồ mà họ nắm trong tay để tác động trực tiếp lên thái độ của Hoa Kỳ hay không ?

Sẽ là không thực tế nếu chờ đợi một Trung Quốc thành công về mặt kinh tế, ngày càng tự tin hơn, mà lại không muốn đóng một vai trò rộng lớn hơn trên thế giới. Nhưng thực tế đó không cho Bắc Kinh quyền tung sức mạnh đi mọi nơi mà không sợ bị trừng phạt, cho dù trong quá khứ đã có quốc gia làm như thế.

Châu Âu, châu Mỹ và phần còn lại của châu Á phải cảnh giác, Trung Quốc đang vươn lên. Và những thế lực đang vươn lên thì thường hay làm đảo lộn nguyên trạng.

Đăng trong Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa, Bien Gioi, Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.