Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa’ Category

►Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

Posted by hoangtran204 on 27/07/2014

 

Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

 27-7-2014
Phạm Chí Dũng
.

.

Vụ việc Công an TP.HCM và công an một số địa phương ngăn chặn không cho ra khỏi nhà đối với những người đấu tranh dân chủ vào ngày 25/7/2014 và cả một số ngày sau đó là bằng chứng mới nhất, sống động nhất và cũng lộ liễu nhất về việc “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người”.

Ngày 25/7 cũng là thời điểm mà một đoàn giám sát về tự do tôn giáo của Liên hiệp quốc dẫn đầu bởi ông Heiner Biederfeldt, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ, vào TP. HCM để gặp gỡ một số chức sắc tôn giáo và nhân chứng, nhằm kiểm chứng tính thực chất về việc “Việt Nam chấp nhận các khuyến nghị của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” là như thế nào.

Không chỉ bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, bà Dương Thị Tân (vợ tù nhân Điếu Cày Nguyễn Văn Hải), cựu tù nhân chính trị Phạm Bá Hải, mà hai mục sư Tin Lành là Nguyễn Hoàng Hoa và Nguyễn Mạnh Hùng cũng bị công an địa phương ngăn chặn ngay tại nhà riêng nhằm không cho tiếp xúc với ông Heiner Biederfeldt – Báo cáo viên đặc biệt của LHQ. Bất cứ động tác nào của công dân hợp pháp muốn rời khỏi nhà đều bị nhân viên an ninh và cảnh sát xô đẩy bằng hành vi thô bạo và hoàn toàn bất hợp pháp.

Vi phạm cam kết

Trước khi được chấp thuận tham gia chính thức vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, Nhà nước Việt Nam đã cam kết trước chủ tịch Hội đồng nhân quyền 14 điều, trong đó có nội dung sẽ mời báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo đến Việt Nam, và “sẽ tạo điều kiện tốt nhất” để báo cáo viên này được tiếp xúc với những ai mà Liên hiệp quốc thấy cần gặp.

Vào nửa đầu năm 2014, cam kết trên được giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam là ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước, và ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng chính phủ, cùng Bộ Ngoại giao và Bộ Công an Việt Nam nhiệt tình lặp lại trong những cuộc làm việc với Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Wendy Sherman và Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hoa Kỳ. Cam kết về tự do tôn giáo cũng được đưa vào báo cáo chính thức của Phái đoàn Việt Nam tại buổi xem xét báo cáo đầu ra của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 6/2014 tại Thụy Sĩ.

Một ủy viên Bộ chính trị khác và được xem là ứng viên tiềm tàng cho cương vị Tổng bí thư tại đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 vào năm 2016 – ông Phạm Quang Nghị – cũng vừa đưa ra khẩu hiệu “Việt Nam luôn bảo đảm nhân quyền” trong chuyến công du của ông ở Hoa Kỳ vào thời gian này.

Để có được sự thuận thảo của các quốc gia trong khối Hiệp định đối tác thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận tham gia vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cùng các điều kiện về nhân quyền và dân chủ hợp lý mà cộng đồng quốc tế đòi hỏi. Tuy nhiên, bằng chứng ngăn chặn công dân mới nhất vừa nêu đã cho thấy đối với giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam, nói làm vẫn là hai hành vi khác nhau về bản chất, không chỉ bản chất chính trị mà cả về tư cách chính khách.

Tư cách chính khách?

Sự khác biệt quá cơ bản về bản chất trên có lẽ đã là nguyên do đủ nặng ký để Nhà nước Úc, dù trước đây khá nhã nhặn với chính quyền Việt Nam, nay cũng phải tỏ thái độ kiên quyết hơn trong việc đòi hỏi Việt Nam phải tôn trọng hơn nữa các quyền con người.

Ngay trước thềm cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Úc sẽ diễn ra vào cuối tháng 7/2014, chính quyền Việt Nam lại ghi thêm một điểm rất xấu về “thành tích” vi phạm nhân quyền. Việc vi phạm không chỉ lần đầu và mang tính hệ thống như thế tất yếu dẫn đến những câu hỏi không thể lảng tránh:

1. Việc ngăn chặn bất hợp pháp đối với công dân như trên là do Công an TP. HCM và công an một số địa phương “chủ động biện pháp nghiệp vụ”, hay những cơ quan công an này được chỉ đạo bởi những cấp lãnh đạo nào?

2. Nếu cơ quan công an được chỉ đạo, vậy những lãnh đạo nào của Việt Nam đã chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc với Báo cáo viên Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo?

3. Nếu việc chỉ đạo ngăn chặn công dân như thế thuộc về trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam – những người vẫn thường ra mặt hứa hẹn với Liên hiệp quốc và Hoa Kỳ 14 điều cam kết về nhân quyền, liệu Liên hiệp quốc và chính giới phương Tây nên có cái nhìn sâu xa và rạch ròi đến mức nào đối với những lãnh đạo ấy, kể cả một cái nhìn liên đới với hai dự luật Nhân quyền Việt Nam và Chế tài nhân quyền Việt Nam còn đang treo ở Thượng nghị viện Mỹ?

.

Phạm Chí Dũng
Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam
Phát ngôn viên Hội Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam
Thành viên Diễn đàn Xã hội dân sự Việt Nam

* * *

Pham Chi Dung – What government leaders of Vietnam ordered to prevent citizens from meeting UN Rapporteur?

Ho Chi Minh City Department of Police and some local policemen barred some pro-democracy activists from going out of home from July 25, 2014 to some days later it’s the latest, liveliest and most blatant example about “State of Vietnam always respects and guarantees human rights.”

On July 25, Mr. Heiner Biederfeldt, the UN Special Rapporteur on freedom of religion arrived HCM city to meet a number of religious leaders and witnesses to verify how the nature of the “Vietnam accepted the recommendations of the Human Rights Council of the United Nations” is.

Not only Dr. Nguyen Dan Que, independent journalist Pham Chi Dung, Mrs. Duong Thi Tan(ex-wife prisoner Nguyen Van Hai Dieu Cay), former prisoner of conscience Pham Ba Hai were prevented at their home gate, but also two Protestant pastor Nguyen Hoang Hoa and Nguyen Manh Hung did. Any movement of legitimate citizens to go out one’s houses was pushed inside by security policemen rudely and entirely illegally.

Breached its Commitment

Before being formally approved to be a member of the Human Rights Council of the UN, the Vietnam authorities committed 14 conditions, including inviting the UN special rapporteurs of religious freedom to Vietnam, and “creating the best conditions” so that he can meet anyone necessarily.

In the first half of 2014, the above commitment was reiterated by the high-level leaders, President Truong Tan Sang, PM. Nguyen Tan Dung, the Foreign Ministry and the Ministry of Public Security in the meeting with U.S. Deputy Secretary of State Wendy Sherman and Special Advisor to the Government of the United States. Commitment to religious freedom also integrated in the official report of the Vietnam delegation at the UN Human Rights Council in June 2014, Switzerland.

One other member of Politburo Mr. Pham Quang Nghi, considered as a potential candidate for General Secretary of the Communist party in the 12th congress in 2016, also just launched the slogan “Vietnam always ensures human rights” in his tour to the United States recently.

By the agreement of nations within Trans-Pacific Partnership (TPP), the State of Vietnam was accepted to participate in the Human Rights Council at the United Nations with condition that it meets human rights and democracy the international community requires. However, the most last evidence to prevent citizens mentioned has shown that to senior leaders in Vietnam, “say and do” are still two different acts, politically and morally.

Morality of politician?

The said difference may be the reason that Australia, though formerly quite courteous to the government of Vietnam, expressed their stronger stance in demanding the Vietnam state should respect more human rights.

Ahead of the human rights dialogue between Vietnam and Australia on late July 2014, Vietnam government scored a very bad point about the “achievement” of human rights violations. Such not-to-be-the-first violation but systemic, inevitably leads to questions can not be avoided:

1. Illegal prevention with “actively operational measures” to the above citizens executed by either themselves – the HCMC police and some local police or order from the higher levels?

2. If the police was directed, so what leaders of Vietnam have instructed to prevent citizens contacting with the UN Rapporteur on freedom of religion?

3. If such direction to prevent citizens is the responsibility of Vietnam’s leaders who often come out promising with the UN and the U.S. about 14 commitments on human rights, what extend the UN and the Western world should have a deep and sharp look at these leaders, including a link with two bills, Vietnam human Rights Act and the Vietnam Human Rights Sanctions, are still pending in U.S. Senate?

Pham Chi Dung, PhD.
President of Independent Journalists Association of Vietnam
Spokesman of Former Vietnamese Prisoner of Conscience
Member of Vietnam’s Civil Society Forum

Translated by Trang Thien Long

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

Posted by hoangtran204 on 25/07/2014

Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

 18-7-2014

 GS Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN

Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS).

Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế.

1. Căn bản về sự kiện lịch sử và pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ quyền trong các vùng biển bao quanh chúng

1.1. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sự xác lập này phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay thông lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối.

Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá (reef, rock), chứ không phải là đảo (island), theo định nghĩa của UNCLOS), thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình. (Vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế).

Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngoài là Trung Quốc, chiếm đoạt bằng võ lực đá Gạc Ma từ tay Việt Nam vào năm 1988, giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Philippines, đuổi dân chài và tàu chiến của Philippines ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung Quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Philippines liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi xảy ra.

Riêng trường hợp Việt Nam, thì đã có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hoàng Sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch). Hải trình này thực hiện bởi Đội Hoàng Sa (lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635 – 1648). Và cũng đi ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên – hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử được ghi nhận trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) của Đỗ Bá hay trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn. Ngoài ra, còn có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (1696) của Thích Đại Sán. Đến thế kỷ XIX, tài liệu lịch sử thời Nguyễn cho thấy các cuộc hải trình do nhà nước tổ chức vẫn tiếp tục từ năm 1803 đến khi người Pháp đô hộ Việt Nam (từ năm 1884), với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất với 29 đảo, đá (hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung Quốc chiếm năm 1988 và các năm sau). So sánh với nước khác thì Trung Quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ bản đồ “đường 9 đoạn” thâu tóm 80% Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đối với Trường Sa, Trung Quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chiếm đảo Itu-Aba (đảo Ba Bình) năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) tấn công lực lượng hải quân Việt Nam năm 1988 tại đảo Gạc Ma. Trong khi Trung Quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1.1.2013, ghi nhận là danh sách các đảo, đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau – chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác.

Trong vùng quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung Quốc, vào tháng 5.2014, đặt giàn khoan dầu khí HD-981 ở vùng biển giữa Hoàng Sa và miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô thăm dò dầu khí 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung Quốc tuyên bố một câu là vị trí đặt giàn khoan “là hoàn toàn trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, hàm ý là ở trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, tính từ Hoàng Sa, nơi họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hoàng Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hoảng gây ra do giàn khoan HD-981 chỉ là biến cố gần đây nhất.

Những sự kiện lịch sử về việc Việt Nam khám phá và chiếm cứ Hoàng Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ biên tạp lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung Quốc không đả động gì tới Hoàng Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp soạn, mà một bản sao của J.B. Bourguignon mới được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập quản lý cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nhật ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây phuơng cũng nhắc lại như vậy.

Có hai nhóm đảo/đá trong Hoàng Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (nhóm Nguyệt Thiềm hay nhóm Lưỡi Liềm), trong đó có Hoàng Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung Quốc chiếm, vì Trung Quốc đoạt bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong sự chống cự của hải quân VNCH thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thừa kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam), mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay.

Về nhóm các hòn đảo, đá phía đông của Hoàng Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có Phú Lâm (tiếng Anh gọi là Woody, tiếng Pháp gọi là Boisée), thì do người Pháp lơ là, nên vào năm 1909, Tổng đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt Nam không vững lắm. Nhưng lập trường giải thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đoàn khoa học tới Amphitrite, kể cả ở Phú Lâm, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội THDQ chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về hậu chiến, Liên Xô đưa ra đề nghị để Trung Quốc cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc gia Việt Nam ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại VNCH (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva 1954), thì ngoại trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt Nam lần nữa, khi Trung Quốc chiếm Phú Lâm bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa.

Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái công thư (hay công hàm) ngoại giao ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH ở Miền Bắc Việt Nam) gửi Tổng lý (Thủ tướng) Chu Ân Lai nhân dịp Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý. Sau nhiều lần viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng, coi đó là lời nhượng lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, thì vào tháng 6.2014, Trung Quốc lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung Quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Phạm Văn Đồng viết cho ông Chu Ân Lai như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý (Chu Ân Lai) rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho VNCH ở phía nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc thẩm quyền VNCH. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân VNCH – lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo – và hải quân Trung Quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của VNDCCH không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc VNCH. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố trước đó.

Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Việt Nam, tức VNDCCH và VNCH, là đúng với luật quốc tế, và theo đó VNCH là quốc gia hành xử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó.

CHXHCN Việt Nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25.11.2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung Quốc dùng võ lực chiếm nốt Hoàng Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Sai Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Năm 1975..Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa,….năm đảo này do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta mở rộng thêm lên 21 đảo”.

Chiếu điều khoản quy định về sự hiện hữu của một. quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 đúc kết luật pháp quốc tế truyền thống hay thông lệ đã có nhiều thế kỷ, thì VNCH là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do đó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác, nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Xô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc quyền miễn trừ ngoại giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khoản ký thác trong các ngân hàng ở Liên Xô. Thế mà VNCH đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Xô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất. Sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và VNCH “không có dưới ánh mặt trời”. Nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp định Geneva mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận VNCH, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngoại giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu Ân Lai mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Phạm Văn Đồng có quyền ban bố cho Trung Quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả VNCH? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian 20 năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại. Tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất.

Điểm thứ hai là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”,không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức với Đan Mạch và Hà Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngoài ra, Tòa án Công lý Quốc tế, trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France” năm 1974 (I.C.J.253), xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử rằng khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải giải thích chặt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành động của mình, thì cần giải thích chặt chẽ… Chỉ cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác giả về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… Và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “within the four corners of the page”–trong bốn góc của trang giấy), thì công thư trên chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác. Ngoài ra, công thư cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt công thư đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH. Theo đó, vai trò Thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì Chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, khoản a và h), rồi lại phải có Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Phạm Văn Đồng không thể hành xử quyền qua mặt Chủ tịch nước và Quốc hội được. Nghĩa là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung Quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa Kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung Quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Hoa Kỳ hỗ trợ với tàu chiến và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mã Tổ, chỉ cách Trung Quốc đại lục vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan.

Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích công thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 một cách chủ quan, như Trung Quốc đã làm, để thủ lợi cho mình.

Còn vài luận cứ khác của Trung Quốc cũng nên bàn để bác bỏ:

Trung Quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân nhật báo, số ngày 6.8.1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đoạn ghi hai chữ Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và số báo ra ngày 9.5.1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung Quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao VNDCCH Ung Văn Khiêm về sự kiện này, rồi nói VNDCCH đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung Quốc khi Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc nhóm Amphitrite ở phía đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, và khi Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Cresent phía tây vào năm 1974. Sau hết, Việt Nam đã in bản đồ có ghi tên Tây Sa (Trung Quốc), Nam Sa (Trung Quốc) cùng với cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa, tới Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ và Châu Sơn, có hình như cái cung và tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”.

Việt Nam có thể phản biện là ngay công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Ung Văn Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung Quốc để “nịnh” Trung Quốc ở thời điểm Việt Nam tùy thuộc viện trợ Trung Quốc. Những lời này không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của VNDCCH khi mất các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay VNCH, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo. Và VNCH đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của VNDCCH nhanh chóng chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung Quốc để bảo lưu chủ quyền trên các đảo, đá, đã bị Trung Quốc chiếm. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung Quốc (mà Trung Quốc có cử cố vấn làm việc trong cục bản đồ của Việt Nam), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như Quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung Quốc in hình “đường 9 đoạn” vào hộ chiếu do Trung Quốc cấp cho công dân của họ, thì cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung Quốc đòi chiếm trên 80% Biển Đông. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung Quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất. Mà làm sao Việt Nam có thể nhượng Đài Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung Quốc chỉ bằng việc in một câu trong sách giáo khoa?

Sau khi giải quyết khúc mắc chính là công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn toàn cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954 – 1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay VNCH, do Hiệp định Geneva 1954 trao phó. Hiệp định này có một số cường quốc ký, cả Trung Quốc và VNDCCH cũng ký (do ông Phạm Văn Đồng đại diện). Hành xử chủ quyền do quốc tế giao, Tổng thống Ngô Đình Diệm của VNCH ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của VNCH đối với quần đảo Hoàng Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung Quốc tới xâm chiếm Hoàng Sa, sau khi Trung Quốc thông báo chủ quyền (với hòn đảo này) vào ngày 12.1.1974 thì VNCH đã phản đối vào ngày 16.1.1974 với lời yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận hải chiến, ngày 20.1.1974, VNCH lại yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn để can thiệp. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung Quốc là tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào ngày 28.6.1974 ở Caracas (Venezuela).

Sau khi thống nhất đất nước, CHXHCN Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung Quốc. Ngày 24.9.1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư (sách trắng) vào các năm: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối Trung Quốc ký hợp đồng với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung Quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung Quốc tàn sát 64 chiến sĩ hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ giàn khoan HD-981 từ tháng 5.2014 đến nay, Việt Nam đã đưa tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển tới vùng biển nơi HD-981 đang hoạt động trái phép để bảo vệ chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan. Ngư dân Việt Nam vẫn tiếp tục đánh cá ở gần đó, mặc dùng bị các tàu Trung Quốc bao vây nhưng họ vẫn giữ một khoảng cách an toàn, hầu tránh xung đột võ trang, vừa để mưu sinh, vừa để bảo vệ chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung Quốc rất hung hãn, dùng võ lực, đâm tàu Việt Nam và dùng súng nước tấn công tàu Việt Nam. Các lời phản đối và hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển Hoàng Sa trong vụ giàn khoan HD-981 càng cho thấy chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh luôn được duy trì, không hề bị xói mòn.

1.2. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông là nơi Trung Quốc gây ra tranh chấp vì Trung Quốc vẽ ra “đường 9 đọan”, còn gọi là “đường lưỡi bò”, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như đã nói ở trên.

Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với UNCLOS, vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyềnquyền chủ quyền (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thủy triều thấp, và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra thềm lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”.

Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng đặc quyền kinh tế hay vùng biển cả (high sea) ở ngoài xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách “đường 9 đoạn” vô căn cứ của Trung Quốc (tại Hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston, Hoa Kỳ năm 2010, đại điện Trung Quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là “vào trong vùng ‘đường 9 đoạn’, quí vị phải tuân theo luật Trung Quốc”). Đường “đường 9 đoạn” này hoàn toàn trái với UNCLOS (điều 89 của UNCLOS nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi).

Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp thấp từ thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, “đường 9 đoạn” bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, thì Trung Quốc mới đưa “đường 9 đoạn” này vào hồ sơ xin nới rộng thềm lục địa gửi Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Ấn định biên giới thềm lục địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf). Lập tức, nó bị Việt Nam, Philippines và Indonesia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “đường 9 đoạn” xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, như bằng chứng về các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hòa vào thế kỷ XV, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Malaysia, Indonesia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Philippines, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam thời trung đại – có trình bày trong hồ sơ Philippines nộp cho Tòa án Trọng tài về Luật Biển.

Các viên chức và học gỉa Trung Quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong “đường 9 đoạn” tại các hội nghị quốc tế.

2. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ xảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa giải (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán.

Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung Quốc vào ngày 2.5.2014 đã kéo giàn khoan dầu khí HD-981 vào đặt trong vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa, cách bờ biển miền Trung Việt Nam chưa tới 120 hải lý để khoan thăm dò dầu khí. Trong khi Trung Quốc nói vị trí đặt giàn khoan này nằm ở trong vùng biển của Tri Tôn, gần đảo Hải Nam của Trung Quốc thì Việt Nam nói là nó đặt trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mý,Úc,Nhật,Ấn v.v.thì đến ngày 15.7.2014,Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai. cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách.

Trước tiên, phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan, định chế và thủ tục giải quyết tranh chấp.

2.1. Việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới của UNCLOS 1982 dành cho các quốc gia, nhất là các quốc gia cận duyên quanh Biển Đông.

Bộ Ngọai giao Trung Quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn “đường 9 đoạn” đã bị các nước chất vấn, rằng giàn khoan “đặt hoàn toàn trong vùng nước của Hoàng Sa của Trung Quốc” (placed completely within the water of China’s Paracels). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên:

- Vế (i): Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ đưa thêm vào hồ sơ nộp cho Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, công thư ông Phạm Văn Đồng và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung Quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của ICJ.

- Vế (ii): vị trí giàn khoan ở trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa đang thuộc quyền Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi Trung Quốc dùng võ lực tấn công quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và năm 1974, rồi chiếm đóng từ đó đến nay; khẳng định rằng Trung Quốc không có quyền về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa như họ tuyên bố. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết – giả thiết mà thôi – là Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa án Trọng tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bắt buộc về giải thích và áp dụng UNCLOS, phải ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm tại Hoàng Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của Điều 121 của UNCLOS. Đó phải là nơi có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế tự túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có cocacola thay nước như một học giả Malaysia nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo khoản 3 của Điều 121. Và nếu là đá thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (theo khoản 3, Điều 121). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone), vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giống như lục địa vậy. Trước Tòa án Trọng tài Luật Biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) để kéo Trung Quốc ra tòa, mà yêu cầu tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng UNCLOS (Điều 286 và Điều 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của đội Hoàng Sa trước đây hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung Quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hoàng Sa được, và cũng không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan HD-981 đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thiên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung Quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm – điều 60 UNCLOS), không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xuất phát từ các hòn đá; và “đường 9 đoạn” càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ điểm xuất phát.

Nhưng Trung Quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hoàng Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ là 200 hải lý, và đo đó giàn khoan nằm trong khoảng 180 hải lý của các vùng biển đó của Trung Quốc, và dù giàn khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự chồng lấn giữa hai vùng biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Chiếu theo UNCLOS, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một giải pháp công bình (equitable solution) trước khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng “đường trung tuyến” (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là vụ Việt Nam kiện Trung Quốc thì sẽ có khó khăn hơn vụ Philippines kiện Trung Quốc (dù Philippines kiên nhẫn thương nghị với Trung Quốc suốt 17 năm, Philippines cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung Quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung Quốc hơn ngàn hải lý, ở trong thềm lục địa của Philippines, chứ không có vùng chồng lấn nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, cho nên nó không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo đó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung Quốc mà không được trả lời, thì Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS như đề cập dưới đây.

Điểm thứ 2 để Việt Nam kiện trước Tòa án Trọng tài Luật Biển là Trung Quốc đã vi phạm Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp võ lực như bắn súng nước hay đâm vào tàu Việt Nam để gây thiệt hại về vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam, thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thời, theo các điều khoản trên.

Điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung Quốc, đó là Trung Quốc với tư cách là một quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm khoản 1a Điều 297 của UNCLOS – bằng cách gửi một số lớn tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, cả tàu quân sự và máy bay quấy rối ở vùng biển quanh vị trí họ đặt trái phép giàn khoan, không cho các tàu của các nước khác tới gần, không cho tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật hay thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động mưu sinh theo truyền thống.

Điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện Trung Quốc là hành động do họ gây ra đã vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là họ đã dùng bạo lực đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam (vụ Trung Quốc đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 ngày 26.5.2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyền thống của họ, chiếm đoạt ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá. Như vậy là tước đi quyền kiếm sống của ngư dân Việt Nam. Vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam có thể viện dẫn Hiệp định Trung – Việt về Nghề Cá ở vịnh Bắc Bộ, buộc hai bên phải giải quyết hòa bình. Nếu vi phạm xảy ra ở ngoài vùng vịnh Bắc Bộ, thì Chính phủ có thể kiện Trung Quốc hay ủy quyền cho dân chài kiện Trung Quốc, trước Tòa án Trọng tài Luật Biển theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề Trung Quốc vi phạm nhân quyền hàng loạt này trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Trong tương lai, các điểm vi phạm của Trung Quốc nói trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hoàn cảnh khác sau vụ giàn khoan, trong đó Trung Quốc tuy tuyên bố “trỗi dậy trong hòa bình” nhưng kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam

2.2. Các cơ quan, định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp.

Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu theo Điều 2 và điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình.

Có 3 thủ tục chính: (i) các thủ tục phi tài phán như thương lượng, hòa giải; (ii) thủ tục tài phán trước Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa án Trọng tài Luật Biển; và (iii) trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại hội đồng hay Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức khu vực như ASEAN.

(i). Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa giải

Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp chồng lấn giữa hai vùng đặc quyền kinh tế hay hai thềm lục địa của hai nước, thì khoản a Điều 298, cũng như Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS đòi hỏi các quốc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam liên lạc với lãnh đạo Trung Quốc mà Trung Quốc không hồi đáp. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành xử bình tĩnh hơn Trung Quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình trung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS và các thỏa ước trong vùng nhưTuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN với Trung Quốc. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu lo ngại sự hung hãn của Trung Quốc qua những gì họ đã làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 và 6.2014, sẽ khiến các nước này ngã theo Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc, thì Trung Quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tờ trình, gợi ý là có lẽ hai nước Trung Quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp trình các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16.7.2014 thì Trung Quốc rút giàn khoan.

Ngoài thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung Quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung Quốc sẽ ngại bị cô lập hóa. Đặc biệt, Việt Nam nên sử dụng ngoại giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất Đông Nam Á về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung Quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là Việt Nam muốn làm việc với ASEAN trước tiên về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (Code of Conduct, COC) trước khi bàn với Trung Quốc, hay khi ông kêu gọi tại Diễn đàn Shangri-La là cần tạo “niềm tin chiến lược” (strategic trust).

Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung Quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Biển Đông: “zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa” (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai DOC, vốn chỉ là khuyến cáo, thành COC có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát triển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác, thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông Nam Á, vì có vẻ như Trung Quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị giải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung Quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung Quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trường các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung Quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói rằng: “Đương đầu với Trung Quốc cần phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ hãi, mà cũng không tỏ sự tức giận”.

(ii) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Trọng tài Luật Biển (ATLS)

a. Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đang xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối trình diện tòa của Trung Quốc vì họ sẽ không ký điều khoản nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý vụ kiện.

Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này.

- Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia từ chối trình tòa để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu Tòa án Công lý Quốc tế thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó về thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia nguyên đơn có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể tuyên án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa có trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc vào năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung Quốc trong vụ kiện của Philippines không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tế; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hoàng Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, kèm lời mời Trung Quốc chấp nhận thẩm quyền của tòa để làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Jerome A. Cohen trong Hội thảo quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa – Sự thật lịch sử, tổ chức ở Đà Nẵng ngày 20.6.2014 mong đợi các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa án Công lý Quốc tế rồi mời Trung Quốc (nếu họ tin là lẽ phải về phần mình), thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung Quốc không chịu trình tòa, thì cũng như đã “treo” được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế.

- Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh hưởng mạnh, có thể yêu cầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hay một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc xin một bản án cho ý kiến (advisory opinion)về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa thì Tòa án Công lý Quốc tế cũng có thể cho. Thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hệ mà vẫn cho một bản án ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ.

b) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài Luật Biển. Một quốc gia có thể dùng thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) quy định trong các Điều 286 và 288 của UNCLOS để yêu cầu tòa giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra tòa của họ, thì quốc gia khác, dựa vào khoản 4 Điều 298, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra tòa theo thủ tục bắt buộc.

Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bắt buộc trước Tòa án Trọng tài Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau:

- Trung Quốc, trong các hành vi quanh giàn khoan HD-981 vừa qua, đã vi phạm khoản 1a Điều 297, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và hoạt động khác như đặt cáp ngầm của quốc gia cận duyên khác.

- Trung Quốc có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần.

- Trung Quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự ủy quyền của nhà nước Việt Nam, theo đúng tinh thần của UNCLOS.

(iii). Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quốc tế

- ASEAN, với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông.

- Can thiệp của Tổng Thư ký hay Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể làm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung Quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời Thủ tuớng Nhật Bản Shinzo Abe hay lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2014. Sau khi Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5.2014, yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần, sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung Quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung Quốc cũng tuyên bố không dùng tàu chiến bảo vệ giàn khoan. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi.

Kết luận

Dư luận quốc tế, nhất là các nước phương Tây và Nhật Bản, Ấn Độ đã bênh vực cho lẽ phải của Việt Nam. Philippines thì mong Việt Nam khởi kiện sớm. Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lỡ dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia của mình.

18.7.2014

Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

nguồn: anhbasam.wordpress.com

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Posted by hoangtran204 on 22/07/2014

Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Clint Richards (The Diplomat – Nhật Bản

Phạm Nguyên Trường dịch
Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đứng vững trước áp lực trong khu vực và dường như sẽ trở lại khi họ muốn.

Hôm thứ tư, Hong Lei, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc bất ngờ tuyên bố với Tân Hoa xã là giàn khoan HYSY 981 của Công ty dầu khi quốc gia của nước này (CNPC) đã rời khỏi vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, đang tranh chấp với Việt Nam, tức là rút khỏi vị trí mà nó đã chiếm giữ từ ngày 2 tháng 5. Từ khi được đưa tới đây, giàn khoan này luôn là nguồn gốc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc, với những vụ đụng độ hầu như hàng ngày giữa cảnh sát biển và tàu đành cá giữa hai nước, và những vụ biểu tình phản đối Trung Quốc đầy bạo lực ở Việt Nam. Trong khi việc di chuyển vội vàng là một bất ngờ và quan trọng vì một số lí do, thì bà Hong khẳng định rằng Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của Trung Quốc và rằng “Trung Quốc cực lực phản đối những hành động cản trở phi lí của Việt Nam và đã có những biện pháp an ninh cần thiết nhằm bảo đảm cho hoạt động của giàn khoan này.”

gian-khoan-4437-1399609626-7771-1405493056
Quyết định đưa giàn khoan về đảo Hải Nam một tháng trước khi kết thúc kế hoạch hoạt động đặt ra một số câu hỏi. Ban đầu CNPC tuyên bố rằng giàn khoan sẽ ở lại vị trí đó cho đến ngày 15 tháng 8, nhưng thứ ba vừa rồi họ lại nói rằng công tác thăm dò và khoan đều đã hoàn thành. Phó giám đốc phòng nghiên cứu của CNPC, ông Wang Zhen, nói phân tích ban đầu cho thấy rằng khu vực này có “những điều kiện căn bản và tiềm năng cho việc khai thác dầu, nhưng phải đánh giá toàn diện các số liệu thì mới có thể tiến hành khai thác thử.” Như vậy là, Trung Quốc đã tự đưa ra lí do để họ có thể quay trở lại nếu họ muốn, nhưng bằng cách nói một cách tù mù về việc cần phải đánh giá thêm trước khi quay trở lại có nghĩa là Trung Quốc có thể quyết định khi nào và có cần xem xét lại cuộc tranh cãi này với Việt Nam hay không.

Việc rút giàn khoan trước thời hạn một cách bất ngờ mà không hề báo trước đưa người ta đến giả thiết cho rằng Trung Quốc đang tìm cách giảm căng thẳng với Việt Nam và có thể khuất phục trước áp lực của cộng đồng quốc tế về đòi hỏi tới 90% diện tích biển Đông của họ, một việc làm đã gây nên những cuộc tranh cãi đầy thù nghịch của nước này với cả Việt Nam lẫn Philippines. Có thể là như thế, nhưng Trung Quốc vẫn giành cho mình lí do để quay trở lại nếu họ muốn.

Trong khi không đưa ra lí do chính thức cho việc rút sớm giàn khoan, Tân Hoa xã nhận xét rằng công tác khai thác thử không thể tiến hành ngay được vì đã đến mùa gió bão. Còn một quan chức trong ngành này, một người có hiểu biết về công việc, thì nói với hãng Reuters rằng rút sớm sẽ tạo điều kiện sử dụng giàn này vào những công việc khác. Vì đây là giàn khoan mới nhất và hiện đại nhất của Trung Quốc, có thể khoan sâu gấp đôi những giàn khoan khác của Trung Quốc cho nên hai lí do này có thể nghe được. Trung Quốc cũng đã rút hết tất cả các tàu biển dùng để bảo vệ giàn khoan và khu vực tranh chấp. Theo ông Hà Lê, phó cục trưởng Cục kiểm ngư Việt Nam, thì Việt Nam cũng đã rút 30 tầu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư khỏi khu vực để tránh cơn bão Rammasun.

Điều lạ lùng là Trung Quốc đã từ bỏ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa đúng vào lúc khi mà những cú đâm bằng tàu và tấn công bằng súng phun nước của họ đã làm hỏng 27 tàu và 15 kiểm ngư của Việt Nam bị thương. Thậm chí những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, bùng lên hồi tháng 5, cũng đã giảm hẳn sau khi bị chính phủ đàn áp, có thể là do sự phụ thuộc về kinh tế của nước này vào Trung Quốc, mà cũng có thể là họ nhận thức được rằng hải quân của Việt Nam không thể nào địch được Trung Quốc.
Vì trong tương lai gần Việt Nam đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, quyết định rút sớm dường như là do căng thẳng trong khu vực đang gia tăng. Đường chín đoạn mà Trung Quốc mới đưa ra gần đây khẳng định chủ quyền trong khu vực biển Đông gây ra căng thẳng với cả Việt Nam và Philippines đã là chất xúc tác cho sự hợp tác về an ninh trong khu vực. Nhật Bản, đối thủ lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực này, đã tận dụng được cơ hội và hứa cung cấp tàu cảnh sát biển và thắt chặt quan hệ quốc phòng với các nước có liên quan. Trung Quốc cũng trở thành mục tiêu phê phán chủ yếu trong cuộc đối thoại Shangri-La hồi cuối tháng 5 vừa qua, lúc đó cả Mĩ và Nhật đều nói cố gắng của Trung Quốc nhắm làm thay đổi hiện trạng là xu hướng quan trong nhất trong khu vực.

Mặc dù Trung Quốc dường như đã tạm thời lùi bước, nhưng có vẻ như họ đang tính đến những bước đi lâu dài về sau. Trung Quốc chưa từ bỏ bất kì đòi hỏi nào, mà còn cho thấy họ có thể khẳng định được ý chí của mình (ít nhất là với nước Việt Nam yếu hơn hẳn) và sẽ đạt được mục đích của mình mặc cho sự bất mãn trong khu vực và những vụ đụng độ diễn ra hầu như mỗi ngày. Trung Quốc dường như coi đây là việc tạo ra một tiền lệ, chứng tỏ rằng họ có thể áp đặt cách lí giải của mình về những đường biên giới trong khu vực mà không gặp phải phản ứng tiêu cực mạnh mẽ nào. Thay vì giảm áp lực, có khả năng xảy ra là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy có thể xem xét lại những vấn đề như thế này vào lúc và ở nơi mà họ lựa chọn trong tương lai, và cho đến lúc đó cán cân an ninh khu vực sẽ không có thay đổi đáng kể hoặc chưa thể củng cố được. Nếu không phải như thế thì cũng không có gì phải lo, giàn khoan đã trở về vùng lãnh hải của mình một cách an toàn và Trung Quốc đã chứng minh rằng họ có đủ phương tiện để có thể đứng vững trước áp lực được duy trì thường xuyên trong khu vực này.

Theo Blog Phạm Nguyên Trường

 

Tác giả: Phạm Nguyên Trường

 

 

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Thói quen Khó bỏ- Vì có bão lớn, Trung Quốc chỉ tạm thời rút Giàn khoan, nhưng Thủ tướng Dũng đang phét lác: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Posted by hoangtran204 on 18/07/2014

“Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Gs Nguyễn Minh Thuyết nói 18-7-2014: “…Người đứng đắn không bao giờ nhận anh em với quân trộm cướp, giết người”. 

“Phải tìm cách nhanh chóng thoát khỏi sợi dây thòng lọng”

 

Nhưng, Thủ tướng Dũng vào ngày 17-7-2014 vẫn nhắc lại  “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Lão Nguyễn Tấn Dũng có lẽ không biết TC rút đi vì bão nên đã chém gió:

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/18…trai-phep.html

 

Thói quen khó bỏ

17-7-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn
.
.

Ngay từ lúc cái giàn khoan HD-981 còn ở vùng biển VN, đã có người tưởng tượng rằng một ngày nào đó Tàu quyết định rút giàn khoan đi nơi khác, và tác giả một cách hài hước cho rằng lúc đó sẽ có một số quan chức VN xuất hiện trên báo chí nói đó là một thắng lợi của VN. Tưởng chỉ là chuyện giả tưởng, ai dè nó lại là sự thật.

Khi giàn khoan mới rút đi được một ngày, đã có quan chức kiểm ngư tuyên bố rằng “Tôi cho rằng Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển; trên nhiều mặt trận khác họ đều rơi vào thế bị động, cô lập”.

Phải nói đó là một tuyên bố rất … khó nghe. Trong suốt thời gian giàn khoan HD-981 ở vùng biển của VN, các nhóm “chấp pháp” VN có gây được tác động nào đâu. Mỗi lần tàu kiểm ngư hay tàu cảnh sát biển ra ngoài đó là bị tàu của Tàu xua đuổi, đâm húc gây hư hại nghiêm trọng. Nếu không bị đâm va, thì tàu của VN cũng phải trốn chạy loanh quanh trên vùng biển của mình. Tàu của VN chẳng những rất nhỏ so với tàu của Tàu, nhưng còn rất cũ kĩ. Lực lượng kiểm ngư qua lời của chính ông cục trưởng còn không bảo vệ được ngư dân thì nói gì đến chuyện gây sức ép cho Tàu cộng. Tàu kiểm ngư không có cách gì đến gần giàn khoan do các tàu của Tàu cộng dàn ngang bảo vệ, thì làm gì tàu kiểm ngư VN có khả năng gây áp lực cho giàn khoan. Ấy thế mà vị quan chức đó nói lấy có lấy được rằng giàn khoan HD-981 phải rút đi vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN!

Người khác thì suy luận rằng giàn khoan rút đi là một thắng lợi về ngoại giao của VN. Thật ra, ngoại giao VN có làm nhiều trong trường hợp này, nhưng tác động thì không rõ mấy. Những bài báo tranh luận trên báo chí phổ thông chắc chắn chẳng có tác động gì đến giàn khoan. Những nỗ lực ngoại giao cấp cao đều chẳng dẫn đến đâu. Dương Khiết Trì sang VN cũng chẳng có một thoả thuận nào. VN nói về nộp hồ sơ phản đối Tàu thì Tàu đã làm trước! VN nói sẽ kiện Tàu cộng ra toà án quốc tế, nhưng cho đến nay thì việc làm đó chắc sẽ không thành hiện thực. Nói tóm lại, hoạt động ngoại giao thì có đấy, nhưng tác động thì không rõ ràng, nếu không muốn nói là không hiện hữu. Ngay cả 13 ngư dân VN bị Tàu bắt, ngoại giao VN đã làm gì ngoài việc nhờ Tàu … xác định toạ độ!

Tàu cộng rút giàn khoan vì họ đã đạt được mục tiêu, chứ không phải vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN, và càng không do áp lực ngoại giao của VN. Dĩ nhiên, VN phải tuyên bố là Tàu không được đưa giàn khoan vào biển VN. Nhưng nếu ngay ngày hôm nay, Tàu cộng tuyên bố kéo giàn khoan khác vào vùng biển VN thì phía VN cũng chẳng làm gì được để ngăn chận họ. VN không có nhiều lựa chọn để đối đầu với Tàu, và đó là một thực tế.

Có thể tiên đoán rằng sau giàn khoan sẽ đến ngư dân là nạn nhân của Tàu cộng. Chúng sẽ cho tàu tuần tra trong vùng biển mà chúng cho là của Tàu. Chúng sẽ tăng cường ngăn chận ngư dân ta đánh cà và bắt bớ ngư dân, như là một phát biểu về chủ quyền của họ đối với vùng biển bao bọc bởi bản đồ 9 đoạn. Theo tôi nghĩ, bản đồ này chính là nguồn cội của tất cả nguồn cội về xung đột giữa Tàu và các nước trong vùng. Ngày nào bản đồ này chưa được vô hiệu hoá, ngày đó ngư dân VN vẫn còn khổ và sẽ có nhiều giàn khoan được hạ đặt vào vùng biển của VN.

 

———–

 

Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan

Hiệu Minh

Giàn khoan bắt đầu rút.

Truyền thông VN đưa tin, Thủ tướng Việt Nam “yêu cầu Trung Quốc không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan” sau khi Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981. Người phát ngôn BNG VN cũng ra tuyên bố tương tự.

Tin cho hay, giàn khoan đã được dịch chuyển ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Phía TQ cho biết họ rút giàn khoan vì lý do mưa bão, dù đã tìm thấy dầu. Họ có thể quay lại bất kỳ lúc nào.

Thủ tướng Dũng còn nói thêm “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cùng ngày vẫn khẳng định khu vực giàn khoan tác nghiệp là “lãnh thổ vốn có của Trung Quốc”. “Trung Quốc kiên quyết phản đối Việt Nam quấy nhiễu một cách vô lý hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp Trung Quốc,” người phát ngôn Hồng Lỗi nói.

Bài học cho VN

Việc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam là một tín hiệu rõ ràng của phía Trung Quốc gửi lãnh đạo đảng CS Việt Nam, hãy STOP “hữu nghị và hợp tác tốt đẹp”, 16 chữ vàng, 4 tốt. Đó là sự lừa đảo.

TQ không tôn trọng Việt Nam, quan hệ giữa hai nước không bình đẳng, không muốn cùng phát triển, không đếm xỉa đến dư luận quốc tế. Kẻ thù số 1 đã lộ mặt. Thay vì sợ diễn biến hòa bình đến từ phương Tây và Mỹ, hãy biết đối phó với kẻ đang đâm sau lưng Việt Nam.

Nếu Trung Quốc tái diễn hạ đặt giàn khoan, các vị đừng tái diễn bằng sự im lặng và hành xử lúng túng như vừa qua. VN phải lên tiếng mạnh mẽ, đừng ra lệnh cho truyền thông phải im lặng hay rút bài vì sự “toàn cục” theo đạo diễn của Trung Quốc. Cần xốc lại những tờ báo, tìm tổng biên tập giỏi, đạo tạo đội ngũ phóng viên có hiểu biết, để đối phó với bộ máy khổng lồ của Trung Quốc.

Tìm quan hệ, đối tác, đồng minh nhằm chống lại sự bành trướng của TQ là mục tiêu đối ngoại hàng đầu trong những tháng tới.

Xây dựng nội lực mạnh, bớt phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc, tìm sự hợp tác lâu dài và ổn định, hơn là phụ thuộc vào ý thức hệ.

Quyền lợi quốc gia là tối thượng.

HM. 16-7-2014

 

———–
-Trung Cộng rút giàn khoan 981 chỉ vì lý do họ biết trước bão sắp quét qua vùng Hoàng Sa mà thôi.
———–
Mục tiêu của TQ trong vụ đặt giàn khoan 981 trong vùng biển của đảo Tri Tôn, thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, từ đầu tháng 5-2014 theo tôi, là : 
1/ khẳng định chủ quyền của TQ tại quần đảo Hoàng Sa, 
2/ thăm dò thái độ VN trong việc xác định ranh giới biển của quần đảo Hoàng Sa,
3/ xác định trữ lượng dầu khí dưới thềm lục địa trong vùng lưu vực sông Hồng (lưu vực sông Hồng trải dài từ các cửa các nhánh sông Hồng ở miền Bắc, trải dài cho đến các tỉnh miền Trung). Việc khảo sát này đã được thực hiện đồng bộ cùng lúc với những giàn khoan khác của TQ, đặt rải rác trong vùng cửa vịnh Bắc Việt.
4/ chuẩn bị cho việc tuyên bố « vùng nhận diện phòng không » của TQ trong biển Hoa Nam (tức Biển Đông theo VN). Đây là phần quan trọng nhất còn thiếu trong chiến lược phòng ngự hải dương của TQ.
Việc cho rút lui giàn khoan 981 vào thời điểm này, nhân cơn bão Rammasun, là quyết định khôn ngoan của TQ. Không cần phải lưu lại giàn khoan lâu hơn (đến tháng 8 như dự định), vì các mục tiêu đã đạt được, trong lúc chi phí cho giàn khoan là quá lớn (vì phải điều động cùng lúc hàng trăm tàu bè cùng nhân sự điều hành).
Thái độ của VN (xem việc giàn khoan rút lui) như là một chiến thắng (về ngoại giao) là không phù hợp. Trong vụ này, ngoài Phi lên tiếng ủng hộ VN, các nước khác trong khối ASEAN đều im lặng, cũng như phần còn lại của thế giới. Hoa Kỳ và Nhật lên tiếng phản đối TQ trong vụ giàn khoan 981, là vì TQ làm thay đổi nguyên trạng Biển Đông. Việc này đe dọa cho an ninh và quyền lợi kinh tế của họ (và các nước đồng minh của họ). 
Vì vậy VN cần phải chuẩn bị những bước đi thích hợp để đối phó với tình trạng giàn khoan này di dời xa hơn về phía nam, cận bờ biển VN hơn. Mọi tán dương (theo lối tự sướng) của VN hôm nay (khi TQ rút giàn khoan), không phải đơn thuần là một thái độ không phù hợp với hoàn cảnh, mà còn thể hiện một hiện tượng bệnh hoạn về trí tuệ của lãnh đạo VN trước dư luận thế giới.

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Các nước trong khu vực đang nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 15/07/2014

Nhiều bài báo cho rằng: VN cần có thái độ dứt khoát và phải lên tiếng mạnh mẻ về HS, TS, Biển Đông…nhunwg thật ra, đảng CSVN và nhaf nước chắc chắn sẽ không thay đổi. Họ tiếp tục thái độ ởm ờ như bao lâu nay, vì họ không thể không vâng lời Trung Quốc. . TQ sẽ tung tài liệu mật về sự bán nước cầu vinh của HCM, LD, và các mật ước mà đảng CSVN đã ký tại Thành Đô 3-9-1990, , tcác hiệp định bí mật về biển đảo và biên giới mà hai nước đã ký kết ngày 31-12-1999, và các mật ước  ký kết năm 2011

Khu vực đang theo dõi và nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam

13-7-2014

Mạnh Kim  (Hà Nội)

Dự hội thảo thường niên lần thứ tư về biển Đông do Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược (CSIS) tổ chức ngày 10 và 11-7-2014 (1616 Rhode Island Ave, NW, Washington, DC), với chủ đề “Recent Trends in the South China Sea and U.S. Policy”, dân biểu Cộng hòa Mike Rogers, chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện Hoa Kỳ, đã chỉ trích gay gắt Trung Quốc và cáo giác nước này là “tham ăn, gây hấn trơ tráo”. Nhận định rằng “đã đến lúc chúng ta phải thay đổi đối thoại và phải giảm bớt sự tôn trọng trong ngôn ngữ ngoại giao”, Mike Rogers cũng yêu cầu Chính phủ Mỹ phải có biện pháp đối phó trực diện hơn với Bắc Kinh, và Mỹ nên tăng cường việc chia sẻ thông tin tình báo lẫn hợp tác quân sự với các quốc gia trong khu vực…

Nhìn ở một góc độ, có thể diễn dịch rằng ý kiến Mike Rogers là sự chỉ trích thường thấy và quá quen thuộc trong chính trường Mỹ, khi phe đối lập luôn moi móc để hạ uy tín cánh chính trị cầm quyền. Nó dường như chỉ phản ánh một cuộc đấu đá nội bộ nước Mỹ không hơn không kém. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác, rộng hơn, chỉ trích Mike Rogers không hẳn là chuyện nội bộ của riêng nước Mỹ. Nó là một vấn đề quốc tế, liên quan chính sách đối ngoại có ảnh hưởng lâu dài đến lợi ích chính trị và tương lai nước Mỹ.

Đến giờ thì có thể khẳng định Barack Obama không phải George W. Bush và John Kerry không phải Hillary Clinton. Xem ra cặp đôi Obama-Kerry “hợp rơ” nhau hơn, và xem ra không phải tự nhiên mà bà Hillary chỉ “phò” Obama có một nhiệm kỳ. Khó có thể nói Obama đang bỏ lỏng trận địa nhưng cũng khó có thể nói Obama đang thật sự thành công trong việc kiềm chế Trung Quốc. Nếu cách tiếp cận vấn đề của Obama đối với Trung Quốc như vài năm qua vẫn được thực hiện, sẽ chẳng có lý do gì để Bắc Kinh chần chừ “thôn tín” khu vực bằng chiến lược càn quét cấp tập như đang diễn ra.

Với Trung Quốc bây giờ, việc chỉ trích, lên án, tố cáo, bày tỏ bất bình… gì gì đó sẽ không thể mảy may có tác dụng. Bắc Kinh đã lộ rõ bộ mặt trơ tráo bất chấp dư luận, vậy thì “lên án” có hiệu quả gì? Quan sát đòn thế ứng xử trong các hồ sơ quốc tế khác, đặc biệt Syria, Bắc Kinh đã “đọc” được “bài tủ” của Obama. Và như vậy Trung Quốc cứ mạnh tay dồn hết tốc lực để đặt biển Đông vào thế sự đã rồi. Họ chắc chắn tranh thủ ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định” khu vực trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ tổng thống Obama.

Nói cách khác, với Trung Quốc bây giờ, chỉ bằng việc “đánh động dự luận quốc tế” thôi thì không ăn thua. Điều này cũng nên được xem là một thực tế mà Việt Nam cần phải nhìn nhận để từ đó buộc phải thay đổi chiến thuật. Đừng hòng mong Trung Quốc chùn bước, nếu Mỹ, Việt Nam, và khu vực không có bất kỳ biện pháp cứng rắn và cụ thể nào.

Ở đây không phải là nói đến chiến tranh, là “xúi” phải đánh nhau bằng súng đạn, mà nói đến một sách lược đối phó trực diện và mang tính công nhiều hơn thủ. Đó là sự can đảm đứng lên kêu gọi xây dựng quan hệ quốc phòng với các nước khu vực, sự dứt khoát rõ ràng trong việc tìm ra giải pháp giảm thiểu lệ thuộc kinh tế, sự mạnh mẽ kết nối với những nước lớn khu vực như Nhật, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ… Sự tự tin ở đây không phải là các câu nói mơ hồ đại loại “Việt Nam không liên kết với bất kỳ nước lớn nào để chống lại một nước khác” mà phải là ngược lại mới đúng, bằng các cam kết giấy trắng mực đen về “đối tác chiến lược” toàn diện, đặc biệt quân sự, và đặc biệt với Nhật. Không tranh thủ sự cứng rắn và quyết tâm của Shinzo Abe ở thời điểm này thì còn chờ đến lúc nào, trong khi Abe không thể vĩnh viễn ngồi ghế thủ tướng để “thấy khi nào tiện và thích hợp” thì mới ngỏ lời? Sự tự tin ở đây không phải là “kêu gọi các nước lên án Trung Quốc” mà là phải cùng các nước khu vực “gom” hồ sơ lôi Trung Quốc ra tòa…

Có thể thấy một điều là khu vực đang theo dõi và nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam. Không phải do uy tín chính trị hoặc ảnh hưởng kinh tế của Việt Nam tại khu vực, cũng chẳng phải Việt Nam có giá trị như một đầu tàu có thể lôi kéo cả khu vực, mà là bởi Việt Nam đang được mặc định là một vệ tinh của Trung Quốc. Do đó, độ rung chấn chắc chắn sẽ lớn và gây sốc nếu “vệ tinh” này tự tạo ra đủ lực để bứt thoát khỏi quỹ đạo Bắc Kinh. Không chỉ gây sốc, mức độ rung chấn của sự kiện còn sẽ tạo ảnh hưởng mang lại hiệu ứng dây chuyền. Xét về nhiều mặt, Việt Nam, dù sao, cũng hơn Myanmar nhiều. Giá trị của sự kiện Việt Nam bứt khỏi Trung Quốc cũng sẽ mang lại nhiều “phần thưởng” hơn nhiều.

Thời gian rõ ràng không đứng về phe mình. Việc “mua thời gian” để chờ Mỹ hoặc Nhật ra tay rồi “tùy cơ ứng biến”, nếu điều này thực sự có, rõ ràng là một giải pháp ở thế đường cùng chứ không phải lá bài của một nhà chiến lược chủ động. Cục diện đang nghiêng về Trung Quốc, phải thừa nhận như vậy. Chờ họ đánh rồi mới tính cách gỡ, theo cách khá bị động như của Obama, hoặc rất bị động như của Việt Nam, sẽ chỉ có thể nếm mùi thất bại. Để đánh Trung Quốc, phải ra tay chủ động, phải ra đòn trên mọi mặt trận, như kiểu Shinzo Abe. Nước Mỹ đang cần một Shinzo Abe và châu Á-Thái Bình Dương đang cần rất nhiều Shinzo Abe!

 

Theo FB Mạnh Kim

 

———————

Đến lúc phải mạnh mẽ hơn

13-7-2014

Nguyễn Thanh Tuấn 

Nghị quyết 412 của Thượng viện Mỹ phê chuẩn ngày 10-7 yêu cầu Trung Quốc trả lại nguyên trạng tình hình biển Đông diễn ra chỉ đúng một ngày sau khi đối thoại chiến lược và kinh tế Trung – Mỹ (SED) kết thúc.

Được đề xuất từ hồi tháng 4 (để phản ứng việc Trung Quốc áp đặt vùng nhận dạng phòng không ADIZ ở biển Hoa Đông), nghị quyết được cập nhật tình hình biển Đông sau vụ Trung Quốc kéo giàn khoan 981 vào Hoàng Sa để rồi phê duyệt ngay trong tuần. Thời điểm của phê duyệt nhấn mạnh lại xu thế trái ngược của quan hệ Mỹ – Trung: nồng ấm về kinh tế, lạnh về chính trị. Kết thúc đối thoại SED, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew ca ngợi việc Bắc Kinh minh bạch hóa hơn về tiền tệ nhưng Ngoại trưởng John Kerry thì luôn cảnh báo Trung Nam Hải không thể hành động đơn phương và không được tạo hiện trạng mới trên biển. Quan hệ song phương Mỹ – Trung vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng quan hệ chính trị thì đã xấu đi rất nhiều – tuyên bố của quan chức Mỹ ngày càng căng thẳng hơn, những lời lẽ ngoại giao có cánh ngày càng thưa đi.

Tại hội thảo biển Đông của CSIS ở Washington trong tuần, tiến sĩ Chu Shulong của Đại học Thanh Hoa một lần nữa quy kết Mỹ đã làm quan hệ khu vực xấu đi, đặc biệt là từ sau phát biểu của ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hà Nội năm 2010 khẳng định biển Đông là lợi ích quốc gia của Mỹ. Tình hình thực tế thì đã nóng dần lên với việc Trung Quốc chiếm bãi ngầm Scarborough, Bắc Kinh đơn phương áp đặt ADIZ và mới đây nhất là ngoại giao “giàn khoan” với giàn khoan 981 và một loạt giàn khoan nhỏ hơn khác hăm he vào biển Đông.

Lo ngại lớn nhất của các nước trong khu vực lúc này là việc Mỹ thiếu kiên quyết sẽ khiến Trung Quốc ngày càng lấn tới. Thông điệp về chuyện Washington phải mạnh mẽ hơn được chính Chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện Mike Rogers tuyên bố. “Giờ là lúc thay đổi cách đối thoại và không nên quá lịch sự” trong đối thoại ngoại giao với Bắc Kinh, ông nói. Tuyên bố không lựa chọn bên của Washington thực tế đang làm khó chính các nước bạn bè và đồng minh của họ tại khu vực khi phải đối đầu với một cường quốc ngạo ngược và hung hăng trong hành xử như Trung Quốc. Bà Bonnie Glaser, chuyên gia của CSIS, chỉ rõ trong hội thảo: “Trung Quốc nghĩ Mỹ sẽ không hành động và các nước láng giềng còn lại sẽ phải nhượng bộ”.

Phó đô đốc Yoji Koda của Nhật tại hội thảo nêu ra thực tế là cả Mỹ và Nhật đã tính toán sai thế nào về mục đích thật sự của Bắc Kinh. Theo ông, sau khi chiếm Gạc Ma năm 1988 và Scarborough năm 2012 thì chỉ đến cuối năm 2013 Washington và Tokyo mới hiểu được ý đồ thật sự của Trung Quốc: các bãi san hô ngầm ở Gạc Ma và bãi cạn Scarborough là lý tưởng để xây dựng các sân bay trên biển. Vị trí của Gạc Ma là tâm điểm đi tới các cực đông – tây – nam – bắc ở biển Đông cùng trong khoảng cách từ 650-900km. Xây dựng được căn cứ quân sự ở đây sẽ giúp giấc mộng độc chiếm biển Đông của Bắc Kinh.

Những bước xẻo trên biển rất mỏng kiểu “salami” của Bắc Kinh đã khiến Mỹ và các cường quốc không lường và khó trở tay. Giờ là lúc Washington cần một chính sách rõ ràng, mạnh mẽ thật sự hơn nữa đối với Bắc Kinh!

THANH TUẤN

 

 

———————

 

* Lê Văn Mọi – danluan.org 

Từ đầu tháng 5 đến nay, đã có biết bao bài báo viết về vụ Trung quốc đặt giàn khoan 981 trên biển Đông thuộc hải phận nước ta, đã có biết bao ý kiến cả trong lãn ngoài nước đóng góp, gợi ý cho nhà nước ta giải quyết.

Thế nhưng thái độ của Đảng (nhà nước ta) cứ ỡm à ỡm ờ, ẩm ương, không dứt khoát.

Họ không tập trung đối phó với ngoại bang mà lại tập trung vào việc đối phó với dân, không phải chì tập trung vào việc ngăn chặn mất ổn định chính trị mà là đàn áp, giở mọi thủ đoạn đối với người yêu nước. Trong số những người này thì có rất nhiều người còn deo thẻ Đảng, cũng cần nói rõ là không phải người nào còn thẻ đảng, còn họp chi bộ đều đặn đều là CS, vì CS bây giờ có nghĩa là đứng về phe làm nô lệ cho Trung quốc, nói toạc móng heo ra là những kẻ nội gián bán nước.

Vì sao nhiều người (chứ không phải chỉ có một người đang viết còm này) đã đưa ra điều khẳng định trên, chứ không còn hoài nghi nữa. Lý do thì dễ thôi: một là Đảng còn giấu giếm nội dung Hội nghị Thành Đô 1990, hai là thái độ đê hèn trước sự leo thang ngày càng tăng của Trung quốc, trong đó chú ý đến lời phát biểu của một vài quan chức trong lực lượng vũ trang như quân đội và cảnh sát biển, đó là những người có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ dân thì không hề có thái độ cứng rắn và cương quyết, chỉ “kiên trì” nhũn như con chi chi. Điều thứ ba như đã nói, đó là lo ĐÁNH DÂN CHỨ KHÔNG LO ĐÁNH GIẶC.

NHƯ VẬY THÌ ĐẰNG SAU NHỮNG LỜI NÓI PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC THÌ ĐẢNG CÓ GÌ ẨN KHUẤT? CÓ PHẢI QUAN CHỨC CỦA TA ĐÃ ĂN TIỀN CUẨ TRUNG QUỐC KHÔNG?

Có thì nói CÓ, không thì nói KHÔNG. Chỉ cần trả lời một từ đơn giản thôi. Có thể các quan chức của ta thừa biết là nếu ta dứt khoát với Trung quốc mà quan hệ chặt chẽ đồng minh với các nước khác thì nước ta có “sẽ mang lại nhiều ‘phần thưởng’ hơn nhiều” như tác giả Mạnh Kim đã nêu. Thế nhưng các quan chức của ta đã nhận “phần thưởng” của Trung quốc hậu hĩnh hơn nhiều nên “há miệng mắc quai”.

Hiện nay Trung quốc chỉ còn một “đồng minh” và tay sai bảo duy nhất là Việt cộng (chứ không phải nhân dân Việt Nam) vì Bắc Triều tiên trước kia gắn bó với Trung quốc thì nay đã good bye, coi Trung quốc là kẻ thù rồi.

Đảng đã thế thì DÂN không thể thế, tức là không chịu làm tay chân cho Trung quốc. Thế thì DÂN phải làm gì bây giờ? Dĩ nhiên đến giờ bộ mặt bán nước của CS đã rõ. Cần nhắc lại với bàn dân thiên hạ: không phải bất cứ ai còn đeo thẻ Đảng, còn họp chi bộ đều là CS. Danh nghĩa thì Đảng CS có hơn 3 triệu đảng viên, nhưng may lắm thì chỉ còn khoảng 3 nghìn CS, tức là 3 nghìn kẻ nối gót Lê Chiêu Thống mà thôi. Những người khác cũng coi như trong hàng ngũ nhân dân, thực sự là nhân dân. Vậy thì hãy đánh bài ngửa với Đảng, hỏi

ĐẢNG CÓ THEO TRUNG QUỐC HAY KHÔNG? CHỈ CẦN TRẢ LỜI CÓ HOẶC KHÔNG.

Nếu Đảng trả lời ậm à ậm ừ thì có nghĩa là ĐẢNG THEO TRUNG QUỐC.

Như vậy thì DÂN KHÔNG THEO ĐẢNG NỮA VÀ CHO ĐẢNG VÀ TRUNG QUỐC VÀO CÙNG MỘT PHE. DÂN PHẢI ĐỨNG LÊN CỨU NƯỚC. KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO.  

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Về chuyện giàn khoan HD-981, Thượng Viện Mỹ phản đối và yêu cầu TQ rút lui khỏi HS và TS, trong khi Quốc Hội VN im lặng vì quá sợ hải Trung Cộng

Posted by hoangtran204 on 12/07/2014

Quốc hội Nước CHXHCNVN vô can, họ không ra nghị quyết phản đối TQ, không có tuyên bố nào về Biển Đông! Họ coi chuyện TQ xâm nhập hải phận VN, khoan dầu, chiếm HS và TS là  không liên can gì tới VN!

+Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (26-6-2014): “Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

+Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (17-5-2014) tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17.5 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên).

+Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh: cương quyết giữ vững tình hữu nghị với Trung Quốc.

Tất cả các lời tuyên bố và hành động trên cho thấy: Đảng CSVN và Nhà nước bỏ mặc Biển Đông, HS và TS cho Trung Quốc chiếm đóng và muốn làm gì thì làm. Lý do: HCM, Lê Duẩn, đảng CSVN cùng Bộ Chính Trị và chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng đã đổi chác biển đảo để lấy vũ khí của Trung Cộng trong chiến tranh Việt Nam 1950-1975

“Biển của Việt Nam bị Trung Quốc xâm lăng, nhưng Quốc hội Việt Nam không ra nghị quyết đòi Trung Quốc rút dàn khoan. Trong khi báo chí VN hoan nghênh Quốc Hội Mỹ ra nghị quyết phản đối TQ.

Đúng là Đảng Cộng Sản Việt Nam bạc nhươc. Nhà cầm quyền Việt Nam bạc nhược, hèn với giặc, ác với dân. Biển đảo, biên giới đã dâng cho Tàu rồi!
Xưa nghe theo lời Tàu, CSVN đánh Mỹ “xâm lược”, nhưng thật ra gây nên cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cưỡng chiếm Miền Nam, dựng nên chế độ độc tài cho cả nước. Bây giờ mới biết ai là kẻ xâm lược, ai là tay sai của ai. Thật nhục!”

 

KỲ HỌP THỨ 7, QUỐC HỘI KHÓA XIII:

Quốc hội sẽ không ra nghị quyết về Biển Đông

Thứ Hai, 20:04  23/06/2014

(NLĐO) – Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chiều 23-6 cho biết đề nghị của một số đại biểu Quốc hội về việc Quốc hội ra nghị quyết về Biển Đông tại kỳ họp này sẽ không được thực hiện.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6. Ảnh: Long Thắng
Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6. Ảnh: Long Thắng

 

Trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 23-6, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết về đề xuất của một số đại biểu Quốc hội là cần có nghị quyết riêng của kỳ họp về tình hình Biển Đông sẽ không được thực hiện.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu giải thích ngay từ đầu kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận, trao đổi bàn bạc rất kỹ và công khai tại hội trường về vấn đề Biển Đông. Sau đó, Quốc hội có Thông cáo số 2 tuyên bố rõ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, nói rõ quan điểm xử lý vấn đề Biển Đông.

Trong kỳ họp này, Ủy ban đối ngoại của Quốc hội đã có công hàm gửi đến cho Quốc hội và nghị sĩ các nước, trong đó nêu rõ những yêu cầu và quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông.

“Dự kiến tại phiên bế mạc kỳ họp vào ngày 24-6, Chủ tịch Quốc hội một lần nữa sẽ nói rõ lập trường của Quốc hội Việt Nam để cử tri và đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế rõ về thái độ của Việt Nam trước vấn đề Biển Đông” – ông Uông Chu Lưu cho biết.

Trước đó, phát biểu trước Quốc hội sáng ngày 19-6, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP HCM) tha thiết đề nghị Quốc hội ban hành một nghị quyết về Biển Đông và “tha thiết đề nghị các đại biểu Quốc hội ủng hộ quan điểm của mình”.

“Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố nào về Biển Đông thì nhân dân sẽ rất hoang mang, còn dư luận thế giới thì sẽ băn khoăn về việc này và đặt ra câu hỏi tại sao nghị sĩ các nước lại phải lên tiếng về các vấn đề trên Biển Đông” – đại biểu Nghĩa bày tỏ.

Thế Dũng

Báo Lao Động

 

*một định nghĩa về nghị quyết của trang “baodientu.chinhphu.vn”:

“Nghị quyết là văn bản được ban hành theo quyết định của tập thể cơ quan, tổ chức.”

Nguồn:
http://baodientu.chinhphu.vn/Huong-dan-chinh-sach-phap-luat/Tham-quyen-ban-hanh-Quyet-dinh-va-Nghi-quyet/67890.vgp

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị Quốc hội cần ra nghị quyết về biển Đông. Tuy nhiên, các đại biểu khác lại cho là chưa cần thiết.

“Phiên họp Quốc hội (QH) sáng 19-6, đại biểu (ĐB) Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) thay vì phát biểu thảo luận dự án Luật Căn cước công dân, ông dành thời gian nêu ý kiến đề nghị QH trong kỳ họp này cần phải ra một nghị quyết về biển Đông. Ông Nghĩa cho rằng cần phải có nghị quyết ấy để tuyên bố với nhân dân Trung Quốc (TQ) và nhân dân thế giới lập trường chính nghĩa của Việt Nam, lên án hành vi sai trái của TQ trên biển Đông, vạch trần âm mưu “vừa đấm vừa xoa”, “vừa đánh vừa đàm”… của TQ.”

Nguồn  http://plo.vn/thoi-su/quoc-hoi-can-ra-nghi-quyet-rieng-ve-bien-dong-476851.html

Bản tin trên được đăng vào ngày 20.6.2014 (Nguyễn Jung)

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông

Ngày 10/7, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua Nghị quyết mang mã số S.RES.412 về Biển Đông yêu cầu Trung Quốc quay lại nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.

Theo phóng viên TTXVN tại Washington, Nghị quyết S.RES.412 được một số thượng nghị sỹ có ảnh hưởng bảo trợ như Chủ tịch thường trực Thượng viện Patrick Leahy; Thượng nghị sỹ John McCain; Thượng nghị sỹ Robert Menendez; Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Thượng viện Benjamin Cardin; Thượng nghị sỹ James Risch; Thượng nghị sỹ Marco Rubio; Thượng nghị sỹ Dianne Feinstein và Thượng nghị sỹ John Cronyn.

Nghị quyết khẳng định sự ủng hộ của chính phủ Mỹ đối với quyền tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và không phận ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo đúng quy định của luật pháp quốc tế.

Nghị quyết nêu rõ mặc dù không phải là một bên có yêu sách ở Biển Đông nhưng Mỹ là một cường quốc châu Á-Thái Bình Dương, có lợi ích quốc gia trong việc khuyến khích và ủng hộ các quốc gia trong khu vực hợp tác với nhau để giải quyết các tranh chấp bằng con đường ngoại giao và hòa bình; phản đối việc cưỡng bức, hù dọa, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.

Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của tuyến hàng hải qua Biển Đông, cho rằng việc gia tăng các hoạt động tuần tra và đưa ra các quy định đối với các vùng biển và không phận có tranh chấp ở Biển Đông đang làm gia tăng căng thẳng cũng như nguy cơ đối đầu.

Nghị quyết S.RES.412 liệt kê một loạt hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

Cụ thể, ngày 1/5 vừa qua, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC), với sự tháp tùng của hơn 25 tàu, đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) tại lô 143, cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý.

Sau đó, Trung Quốc điều động thêm hơn 80 tàu, trong đó có 7 tàu quân sự, và sử dụng máy bay trực thăng, vòi rồng để ngăn chặn hoặc có những hành động đe dọa, nhiều lần cố tình đâm húc tàu của Việt Nam. Trung Quốc cũng thiết lập vùng bất khả xâm phạm xung quanh giàn khoan Hải Dương-981…

Nghị quyết cho rằng các yêu sách lãnh thổ và hành động trên đây của Trung Quốc là không thể biện minh theo luật pháp quốc tế như đã được nêu rõ trong UNCLOS và là một hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2002.

Nghị quyết cũng lên án việc cưỡng chế, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực gây cản trở các hoạt động hàng hải, hối thúc chính phủ Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 cùng các lực lượng ra khỏi các vị trí hiện nay, ngay lập tức trả mọi việc trở về nguyên trạng trước ngày 1/5/2014.

Liên quan đến căng thẳng ở biển Hoa Đông, Nghị quyết S.RES.412 chỉ trích việc Trung Quốc đơn phương áp đặt Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở vùng biển này từ ngày 23/11/2013, coi đây là hành động vi phạm công ước về hàng không dân dụng, gây căng thẳng quan hệ với các nước trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc./.

Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua Nghị quyết về Biển Đông (VietnamPlus)

Thượng viện Mỹ thông qua nghị quyết về biển Đông,Thời 

Việt Nam hoan nghênh Thượng viện Mỹ yêu cầu TQ rút 

 

——-

Nhường vấn đề tranh chấp biển Đông cho… Mỹ

11-7-2014

Theo FB Mạnh Kim

Mạnh Kim (Hà Nội)

Việc Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết “S.Res.412” ngày 10-7-2014, xảy ra trong bối cảnh Ngoại trưởng John Kerry vừa đến Bắc Kinh dự cuộc họp Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Hoa Kỳ-Trung Quốc, là bằng chứng nữa cho thấy mức độ rắn tăng dần của Mỹ đối với Trung Quốc. Cần nói rõ, “S.Res.412” là nghị quyết được đưa ra trình Thượng viện ngày 7-4-2014 và nó được soạn trên tinh thần nhấn mạnh sự ủng hộ của Chính phủ Mỹ về tự do hàng hải cũng như việc tuân thủ luật pháp quốc tế về việc sử dụng vùng biển và không gian tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chứ chẳng phải “chờ” đến sự kiện giàn khoan HD-981 (1-5-2014) mới bắt đầu được soạn, dù rằng nội dung “S.Res.412” đã được điều chỉnh vào ngày 20-5-2014 trong đó có cập nhật sự kiện giàn khoan. Nói vậy để thấy nhân tố Trung Quốc đã làm nóng nghị trường Mỹ lâu nay rồi, bất chấp có sự kiện giàn khoan hay không. Diễn giải rằng Thượng viện Mỹ “ủng hộ Việt Nam” bằng “S.Res.412” là không đúng. Mỹ chẳng việc gì “ủng hộ Việt Nam” cả khi Việt Nam không hề có vẻ gì cần đến Mỹ!

 

“S.Res.412” chỉ là một bước tiếp theo trong tiến trình Mỹ “đánh” Trung Quốc bằng ngoại giao. Đó là một thể hiện nữa của cuộc so găng tranh giành vị thế khu vực giữa hai anh lớn Mỹ-Trung. Các động thái leo thang ào ạt bằng chiến lược đánh chiếm cực nhanh khiến khu vực lẫn Mỹ không kịp thở của Trung Quốc đã buộc Washington phải đạp ga tăng tốc. Diễn biến từ đầu năm đến nay, về việc Mỹ liên tiếp cáo buộc Trung Quốc bằng ngôn ngữ dứt khoát hơn, đã cho thấy điều đó. Nói cách khác, làm gì thì làm, Mỹ không thể bỏ châu Á-Thái Bình Dương cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, nhiều nước khu vực, nắm được tâm lý này, đã lợi dụng chính sách trên của Mỹ để đẩy một phần chính sách đối ngoại của quốc gia mình, đặc biệt vấn đề tranh chấp biển Đông, cho… Mỹ! Chẳng việc gì phải nghiêng hẳn về phía Mỹ cho rách việc! Trước sau gì Mỹ nóng ruột quá thì cũng nhào vô! Lối hành xử như vậy thật ra chỉ giúp “mua thời gian” trong ngắn hạn thôi. Đến lúc “quỹ thời gian” cạn rồi thì làm gì? Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sự không dứt khoát của nhiều nước khu vực đã khiến Trung Quốc có quá nhiều thuận lợi để thực hiện chính sách bành trướng. Nước Mỹ đã báo động lâu rồi, từ khi Obama mới lên ghế tổng thống kìa, nhưng sự phản hồi từ nhận thức mối đe dọa Trung Quốc mà Mỹ nhận được của khu vực là quá ít. Trong khi đó, chính sách Obama là quá rõ: chỉ chơi với những tay có thái độ rõ ràng, như Myanmar hoặc Philippines. Gút lại, Mỹ không thể và không bao giờ bỏ châu Á. Họ đang cần sự ủng hộ khu vực để làm được điều đó. Một liên minh chống Trung Quốc đang hình thành. Thậm chí Washington còn có thể đang mượn tay Nhật để móc cả Bắc Triều Tiên về phía mình. Một khi liên minh đó trở nên gắn kết rộng và sâu hơn, Mỹ sẽ chẳng còn cần những anh trước nay chỉ đứng vòng ngoài dòm ngó xem tình hình thế nào. Lúc đó, cần Mỹ thì đã muộn, hoặc phải trả bằng cái giá khác hơn bây giờ!

 

“Thay vì “phản đối nghiêm khắc” trước các nghị quyết của Quốc hội Mỹ như mọi lần, lần này, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam lại “hoan nghênh”!   http://vietnamnet.vn/…/hoan-nghenh-nghi-quyet-thuong…

Summary: S.Res.412 — 113th Congress (2013-2014)

Shown Here:
Reported to Senate amended (05/20/2014)

States that the Senate: (1) condemns coercive actions or the use of force to impede freedom of operations in international airspace to alter the status quo or to destabilize the Asia-Pacific region; (2) urges China to refrain from implementing the declared East China Sea Air Defense Identification Zone and to refrain from taking similar provocative actions elsewhere in the Asia-Pacific region; (3) commends Japan and the Republic of Korea for their restraint; and (4) calls on China to withdraw its HD-981 drilling rig and associated maritime forces from their current positions, refrain from maritime maneuvers contrary to the Convention on the International Regulations for Preventing Collisions at Sea, and return to the status quo as it existed before May 1, 2014.

Sets forth U.S. policy regarding: (1) supporting allies and partners in the Asia-Pacific region; (2) opposing claims that impinge on the rights, freedoms, and lawful use of the sea; (3) managing disputes without intimidation or force; (4) supporting development of regional institutions to build cooperation and reinforce the role of international law; and (5) assuring continuity of operations by the United States in the Asia-Pacific region.

https://beta.congress.gov/bill/113th-congress/senate-resolution/412

—————————–

Trương Tấn Sang:( 26-6-2014) “Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Phó Thủ Tuớng Vũ Đức Đam: Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17-5-2014 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên). 

Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả

 
QLB

Song Chi - Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại TP.HCM ngày 26 tháng 6, ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Đông và mối quan hệ với Trung Quốc. 

Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo VN. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay. 

Chẳng hạn, khi nói về công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, “Chủ tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “Ông Phạm Văn Đồng (cố thủ tướng) có bao giờ nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đâu, đã đăng công khai trên mạng hết rồi…” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Đây là lập luận chống chế quen thuộc của nhà cầm quyền VN sau khi vụ công hàm của Phạm Văn Đồng bị công khai trước nhân dân VN và quốc tế. Về việc này, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết trên facebook: 

Ông Phạm Văn Đồng không nói HS-TS là của Tàu?

…Đúng là công hàm PVĐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng HS-TS là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

Vậy thì Tuyên bố 4/9/1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4/9/1958. Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong Tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng HS-TS là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa-Nam Sa của Tàu). Chính phủ VNDCCH tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận HS-TS là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được.”

(nguồn: facebook Nguyen Tuan) 

Không chỉ các ông lãnh đạo mà nhiều người dân, nhất là đám dư luận viên trên mạng cũng lập luận tương tự để “chạy tội” cho cái công hàm tai hại, nhưng phải thấy rằng trước quốc tế mà cứ cố cãi như thế này thì không thể thắng được Trung Cộng về lý. 

Nói về quan hệ VN-Trung Quốc: “Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Đông, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt.” (“VN mang ơn thì sẽ trả, nhưng Trung Quốc không được áp đặt”, Dân Trí). 

Bao lâu nay, phía Trung Cộng tất nhiên là thường xuyên nhắc đi nhắc lại việc đã từng giúp đỡ Bắc Việt “đánh Pháp đuổi Mỹ”, lấy đó làm cớ để mắng mỏ VN vô ơn mỗi khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản trở nên xấu đi. 

Nhưng không chỉ Trung Cộng, từ các thế hệ lãnh đạo cho tới nhiều tướng tá, quan chức khác nhau của đảng cộng sản VN cũng liên tục nhắc nhở… chính họ và người dân VN, phải biết ơn Trung Quốc.

Người dân VN hoàn toàn có quyền hỏi lại đảng và nhà nước cộng sản rằng hãy nói rõ ràng và sòng phẳng một lần, ai nợ ai. 

Chỉ có đảng cộng sản VN nợ đảng cộng sản Trung Quốc để có đủ sức tiến hành hai cuộc chiến, trong đó cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Đối với đa số người VN, đó là một cuộc chiến không mong muốn, vậy tại sao người dân VN phải mang nợ Trung Quốc. 

Những thông tin, tư liệu được bạch hóa phần nào trong những năm qua đã nói lên tính chất phi lý, vô nghĩa, cái giá quá đắt phải trả cũng như những hệ lụy nặng nề cho đất nước, dân tộc VN từ việc đảng cộng sản chấp nhận sự viện trợ từ Trung Cộng để đổi lấy việc tiến chiếm miền Nam, thống nhất đất nước nhưng lại bị lệ thuộc lâu dài vào Bắc Kinh về mọi mặt. 

Và họ đã phải trả món nợ này không chỉ bằng hàng núi xương máu của nhân dân mà cả tài nguyên, những sự ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải. 

Những thông tin, tư liệu đó cũng cho thấy cuộc chiến chống Mỹ của Bắc Việt thật ra có lợi cho chính Trung Cộng như thế nào, đảng cộng sản Trung Quốc lẽ ra phải cảm ơn sự mù quáng của đảng cộng sản VN thì đúng hơn. 

Nhưng đó là quan hệ mắc mứu giữa hai đảng, nhân dân VN chả dự phần gì vào để mà cứ phải mang ơn, biết ơn. 

Về phía những người cộng sản, chính cái tâm lý mắc nợ, mang ơn này đã khiến họ luôn luôn ở vào thế yếu khi phải đương đầu với Trung Cộng để bảo vệ độc lập chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ. 

Tự trói buộc mình vào sự tương đồng về mặt ý thức hệ, mặc dù ai cũng rõ cho đến thời điểm này thì cả Trung Quốc lẫn VN đều không còn là hai đảng cộng sản đúng nghĩa và cũng chả bên nào còn thực lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, lý thuyết Marxism-Leninism nữa. 

Tiếp đến tự trói buộc mình vào mối ân oán nợ nần, quan hệ 4 tốt 16 chữ vàng giữa hai đảng cộng sản, trong khi trên thực tế, Bắc Kinh từ lâu đã không coi mối quan hệ hai bên ra cái gì. Và bây giờ, là lần thứ hàng trăm hàng ngàn, Trung Cộng đang công khai xâm lược VN, thách thức, lăng nhục nhà cầm quyền VN. 

Chừng nào các lãnh đạo, quan chức cộng sản ở VN tự mình rũ bỏ được cái tâm lý mắc nợ ấy trong mối quan hệ với Bắc Kinh thì họ mới có đủ sáng suốt và sức mạnh để đi cùng một con đường với nhân dân và với thời đại: Thoát Cộng, thoát Trung, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trông chờ ở nhà cầm quyền VN điều đó thì khác nào hái sao trên trời! 

Cuối cùng, trong các phát biểu của ông Chủ tịch nước, có một ý sau nói về việc bảo vệ chủ quyền: 

Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền”, báo Tuổi Trẻ). 

Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học VN sáng 17.5 ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa”, báoThanh Niên). 

Và nếu chú ý tìm kiếm thêm thì chúng ta sẽ thấy không chỉ có hai nhân vật trên phát biểu những ý tương tự. 

Nghe thì có vẻ quyết tâm, đầy xúc động (!) nhưng thật ra nói như vậy có nghĩa là các ông giương cờ trắng, chào thua giặc trước rồi và ủy thác việc đòi lại Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền cho…con cháu. 

Các ông không sợ người dân rồi con cháu sau này và cả lịch sử nguyền rủa muôn đời vì đã vay mượn các nước để tiêu xài cho đã đời này, mặt khác, tài nguyên đất nước, đất đai, biển, đảo… có bao nhiêu khai thác sạch, cho thuê hay bán sạch để ăn ngay đời này, còn nợ công cho tới việc đòi lại lãnh thổ lãnh hải thì để cho con cháu gánh, hay sao? 

Chỉ qua một buổi nói chuyện của một trong Tứ trụ triều đình của VN mà đã bộc lộ bao nhiêu vấn đề trong quan điểm, tư duy của các lãnh đạo VN, chả trách gì tình hình cứ ngày càng bi đát, tuyệt vọng. 

VN có thể mất nước đến nơi mà nhà cầm quyền vẫn chưa tìm ra, và cũng không thực tâm muốn tìm, con đường để thoát khỏi Trung Cộng, bảo vệ được độc lập chủ quyền, giang sơn gấm vóc của non sông.

Nguồn: FB Song Chi

 

 

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Thư tâm tình gởi các bạn thanh niên – sinh viên – học sinh (Huỳnh Tấn Mẫm)

Posted by hoangtran204 on 08/07/2014

 

BS Huỳnh Tấn Mẫm

Sài Gòn, ngày 4 tháng 7 năm 2014

Cùng các bạn Thanh niên – Sinh viên – Học sinh thân mến,

Tôi là Huỳnh Tấn Mẫm, không mang một danh phận nào trong guồng máy công quyền hay một địa vị xã hội, tôi chỉ là một thanh niên – nếu các bạn cho tội dùng từ này – một thanh niên nhiều tuổi, và hơn thế, là một công dân có ý thức trách nhiệm về tình hình đất nước hiện nay. Tôi tiếc là không còn nhiều thời gian và sinh lực như các bạn, để có thể cống hiến một cách xứng đáng và trọn vẹn cho một vận hội mới đang đến với dân tộc.

Như các bạn đã biết, sự kiện giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc hiện diện hai tháng nay ở vùng lãnh hải Việt Nam, không phải là sự kiện lớn đơn thuần, mà nó biểu hiện một tiến trình vô cùng hệ trọng đối với sinh mệnh của Tổ Quốc chúng ta, nó là màn mở đầu công khai cuộc xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ, lãnh hải nước ta trong kế hoạch có quy mô thôn tính cả Biển Đông, từng bước khống chế toàn vùng Đông Nam Á, để thực hiện mộng siêu cường bá chủ không giấu diếm của mình. Nó còn bộc lộ cho toàn dân ta biết mối quan hệ mờ ám được che giấu lâu nay dưới các từ ngữ và khẩu hiệu đẹp đẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Việt Nam ta.

Nhưng đồng thời cũng cần hiểu rằng đây là vận hội mới cho dân tộc, vì nó mang ý nghĩa thức tỉnh toàn diện của một giai đoạn lịch sử, bởi toàn bộ sự thật đã được phơi bày.

Việt Nam là một nước nhỏ về quy mô dân số và diện tích so với họ, lại chậm phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật, về công nghệ thông tin, công nghệ quân sự… lại đúng vào lúc xã hội đang suy yếu, kinh tế bên bờ vực thẳm, tầng lớp lãnh đạo thì suy thoái tư tưởng – đạo đức – lối sống, tham lam, nhũng nhiễu đầy khắp. Thử hỏi trong tình thế đó làm sao có thể đối địch trước một tham vọng vĩ cuồng như thế của đối phương?

Câu hỏi ấy đang xoáy vào lòng mỗi người dân nước ta, và chúng ta thật sự day dứt về câu trả lời.

Dù chúng ta yêu hòa bình bao nhiêu, chân thành mong muốn hữu nghị bao nhiêu, tất cả cũng bằng thừa, nếu không nói là tự huyễn hoặc lấy mình, trước tham vọng của chủ nghĩa Đại Hán phương Bắc.

Bành trướng Bắc Kinh đang tiến công chúng ta ở thế áp đảo về bạo lực, thế thượng phong về kinh tế, đánh phủ đầu ta về ngoại giao tuyên truyền. Quan chức cao cấp của Trung Quốc – Dương Khiết Trì – đến nước ta, đưa ra một thông điệp với tư cách cao ngạo của một nước lớn, thể hiện mối quan hệ bất bình đẳng không phải đột nhiên mới có: yêu cầu ta chấm dứt cái gọi là “quấy nhiễu” chúng ở giàn khoan HY981, đe dọa nếu ta kiện chúng ra tòa án quốc tế, ta sẽ nhận lấy “hậu quả” khôn lường. Nếu ta “ngoan cố” không hàng phục, chúng sẽ phong tỏa kinh tế, phong tỏa bờ Biển Đông, và mọi tai họa khác sẽ xảy đến. Chúng ngăn cản ta không được mở rộng liên minh quân sự với Mỹ và các nước khác, bởi làm như thế chúng quy là ta mang tội “khiêu khích” chúng.

Các bạn thử nghĩ xem. Họ bao vây và khống chế ta, nhưng không cho ta la lên để nhờ người can thiệp, không cho ai giúp sức, vâng, trói lại và đánh, buộc ta phải tự nguyện đầu hàng!

Qua cách nói và hành động của họ, cơ hồ như ta đã là quốc gia phụ thuộc không có bao nhiêu chủ quyền?

Các quốc gia có chủ quyền, có quan hệ bình đẳng, bất kể là nước lớn hay nhỏ, chưa từng nói năng như thế. Hồ đồ, trịch thượng phải bắt nguồn từ một thực tế. Song, yếu kém, nhu nhược vốn cũng không phải không có nguyên nhân. Có khi là sự tương thích bắt nguồn từ những sự kiện chưa bộc lộ từ phía nhà cầm quyền nước ta chăng? Dù sao cũng đã có một câu phương ngôn đáng nhớ: “Nếu ta đứng lên, là ta ngang hàng, nếu ta quỳ xuống, thì ngang rốn đối phương”.

Các bạn thân mến,

Đó là kết quả của một thực tế yếu kém, hay từ một tinh thần bạc nhược, hay cả hai? Sự than trách hay nguyền rủa đối phương lúc này quả là một sự xa xỉ.

Làm công dân của một nước, làm sao ta không thấy đau lòng khi đất nước bị xâm lăng? Làm sao ta không thấy nhục khi bị kẻ khác lăng nhục vào dân tộc mình? Trên những con đường mà các bạn đi làm hay đi học hằng ngày, trong công viên mà các bạn dạo chơi, trong sách sử mà các bạn đã đọc, luôn phảng phất bóng dáng của tiền nhân, mang tên những vị anh hùng, trong lịch sử hàng nghìn năm trải qua từng thế hệ, đã chống trả lại bọn xâm lược phương Bắc oanh liệt ra sao, và không hề khiếp sợ. Tiền nhân đã để lại cho chúng ta một giang sơn vẻ vang. Đến lượt chúng ta, chúng ta không thể thoái thác, và không hề thoái thác bởi bất cứ lý do gì, để hết lòng bảo vệ giang sơn ấy.

Nhưng lời tâm tình của tôi là vô nghĩa, nếu tôi không nói với các bạn rằng, sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc – những thế hệ Thanh niên – Sinh viên – Học sinh hôm nay. Các bạn đang đứng ở đầu thề kỷ 21 của một nhân loại đang toàn cầu hóa, mà tri thức thì trở nên vô biên giới và không ai có thể che giấu hay độc quyền được.

Một cuộc chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc bằng mọi biện pháp và thông minh mà các bạn sẵn sàng dấn thân, và một xã hội mà các bạn cần xây dựng, có tương lai như thế nào, là hai vấn đề quyện vào nhau mà có lẽ các bạn đang suy nghĩ?

Để có một đất nước độc lập tự do, trước hết mỗi chúng ta cần có một trí tuệ độc lập tự do, không để bị nhuộm đen, nhuộm đỏ, hay bất cứ màu nào khác; nó phải là lòng yêu nước nồng nàn, trong sáng, yêu hòa bình độc lập và dân chủ bằng một nhận thức kịp thời đại. Một cuộc chiến đấu chỉ bằng niềm tin và sinh mạng dù rất cao cả, nhưng nó sẽ đem lại một kết quả ra sao?

Một xã hội các bạn mong muốn, chưa biết là thế nào, nhưng ít nhất, và chắc chắn nó không thể là một xã hội như các bạn đang nhìn thấy, nó đầy dẫy những bất công, trên một tầng nền của hẹp hòi và thiển cận, nó không bao giờ là bền vững!

Tôi không muốn nói một câu như sáo ngữ: tương lai đang nằm trong tay thanh niên, với nghĩa nó là màu hồng. Không, có thể nó không đến các bạn với màu hồng, nò tùy thuộc vào ý thức của các bạn. Đó là cái nhìn thẳng vào thực tế với đôi mắt biết đúng sai và nói được tiếng nói của trái tim mình. Một cuộc chiến đấu sẽ rất mạnh mẽ khi nó có đầy đủ chân lý.

Điều tôi muốn nói cùng các bạn, chúng ta phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Chúng ta cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Chúng ta có quyền và có nghĩa vụ – quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Tôi trộm nghĩ, tự do trong bối cảnh Việt Nam hôm nay quan trọng hơn vì nó chứa cả sự độc lập. Tôi muốn nói đến một thể chế dân chủ, một xã hội dân sự, nó sẽ không bị đem ra mua bán hay đổi chác bất ngờ bởi một đất nước, nếu nằm gọn trong tay của một nhóm người độc quyền.

Chúng ta tin tưởng sẽ giữ được độc lập tự do, sẽ bảo vệ được giang sơn vì chúng ta có hai điều quan trọng:

- Một, chúng ta có chính nghĩa, lẽ phải ở về phía chúng ta. Thế giới bây giờ là sự liên kết rộng lớn và có sức mạnh vô tận, vấn đề là ta có làm cho sức mạnh ấy hội tụ lại được hay không? Chúng ta có làm rõ chính nghĩa để xứng đáng được nhận sự ủng hộ đó hay không? Chế độ phát xít của Bắc Kinh hiện nay với chủ trương bạo lực và bành trướng đang tự đào mồ cho mình, và nhân loại sẽ chôn chúng. Tôi tin chắc chắn điều đó sẽ xảy ra như lịch sử nhân loại đã cho thấy.

- Hai, chúng ta biết sửa mình. Một quốc gia hùng mạnh là vì có phương hướng đúng, một quốc gia yếu kém là vì có phương hướng sai. Đó là một thể chế chính trị tiến bộ hay lạc hậu, có tạo được sức mạnh đoàn kết của toàn dân hay không mà Việt Nam ta phải cấp bách xem xét để sửa đổi. Sự sửa đổi đó phải đến từ sức mạnh đoàn kết của nhân dân, kể cả những lực lượng, những con người từ trong bộ máy nhà nước, và đồng bào ở nước ngoài.

Tôi tự hỏi, có lẽ cũng giống như các bạn, vì chúng ta không muốn hy sinh xương máu khi chưa cần thiết, và nếu chúng ta là chính nghĩa, tại sao chúng ta không dám kiện để đưa họ ra tòa án quốc tế? Thế giới ngày nay không còn ở thời kỳ hồng hoang, nhân loại không phải là bầy thú trong rừng để con lớn dễ dàng giày xéo con bé, hay chính chúng ta mang mặc cảm tự ti, tội lỗi và hẹp hòi mà không dám nhìn nhận và tiếp nhận sức mạnh đang rộng mở của thời đại? Làm sao chúng ta có thể tin là an toàn và có giá trị khi tự thu mình, núp vào hang ổ “hữu nghị” giả dối dưới nách của kẻ xâm lược?

Thưa các bạn,

Bao giờ, hay ngay bây giờ chúng ta có thể cất lên tiếng nói thống nhất, mạnh mẽ đối với những người đang mang trọng trách dẫn dắt dân tộc?

Hiện nay, tôi không tán thành nhiều điều, trong đó có hai điều căn bản và cấp bách mà Chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện:

1- Đặt Hiến pháp cũng như luật pháp của một Quốc gia dưới cương lĩnh và các chỉ thị của Đảng Cộng sản. Thay vì ngược lại, Đảng Cộng sản phải đặt mình dưới Hiến pháp và luật pháp nhà nước, với chức năng là thi hành chứ không phải chỉ đạo. Từ sự trái ngược đó, với quyền hành độc đoán trong tay, Đảng đã tự tha hóa và suy thoái (như đã tự thừa nhận), đưa đến một Chính phủ thiếu trách nhiệm và không hiệu quả, làm cho xã hội rệu rã, không phát triển và mất dần sức sống, người dân trở nên lơ láo, mất phương hướng và tích lũy nỗi bất bình. Tình trạng này là điều kiện phù hợp ý muốn của kẻ xâm lược.

2- Đường lối đối ngoại hiện nay, là thuộc về Đảng Cộng sản, cụ thể là Bộ Chính trị, chứ không phải do một Chính phủ của nhân dân, vì thế đã không giữ được tư thế chính danh của một Quốc gia, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc. Các từ ngữ: hữu nghị, bạn, môi răng, đồng chí, anh em, 16 chữ vàng (*), 4 tốt…đã xóa tan tư cách và khoảng cách phải có của một quốc gia với một quốc gia. Mối quan hệ mang tính chất tình cảm quá đà và độc hại đó đã tràn ngập trong tư tưởng giới lãnh đạo, quan chức, các đoàn thể, kể cả Đoàn Thanh niên Cộng sản mới lớn sau chiến tranh, thể hiện lời nói, phong cách trong các văn kiện cũng như trong cách hành xử, chứng tỏ một tinh thần dựa dẫm, bấu víu, lệ thuộc, thiếu tự tin của tâm lý nhược tiểu chưa trưởng thành về mặt quốc gia, làm mất quốc thể, của giới lãnh đạo hiện nay. Lẽ ra, mối quan hệ không chính danh đó phải được chấm dứt, khi chiến tranh chấm dứt và đất nước thống nhất. “Ân đền oán trả” gì khi còn nằm trong rừng sâu suối lạnh, thì cũng phải minh bạch trong chính sách ngoại giao, không “giáo dục” toàn dân theo cách “xóa tan biên cương” mập mờ như thế được! Vì thế, làm sao trách thái độ kẻ cả của Dương Khiết Trì khi bảo Việt Nam “quấy rối” chúng ở giàn khoan, hay kêu gọi Việt Nam “ đứa con đi hoang hãy sớm quay đầu về”, hoặc bí thư Quảng Đông gởi “danh mục công việc phải làm” cho Bộ Ngoại giao ta?

Tôi sống ở miền Nam, và biết người dân miền Nam đều nhận thấy cực kỳ phẫn nộ về cách ngoại giao xa lạ như trên.

Thưa các bạn,

Văn hóa ngoại giao cũng là biểu hiện chiều sâu của thực thể. Lẽ nào tôi dám nói ép, nói oan cho các lãnh đạo Việt Nam chăng, khi cho rằng mối quan hệ được biểu hiện như thế là xuất phát từ hành vi và tư duy lệ thuộc do quán tính, hoặc do “tận đáy lòng”?

Tôi không tán thành về mối quan hệ bất bình đẳng, được gọi là “hữu nghị” giữa Việt Nam và Trung Quốc lâu nay, mà ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đang cố gắng níu kéo một cách vô vọng trong cô đơn và sợ hãi, có tác dụng cuốn cả đất nước rơi vào quỹ đạo của bành trướng Bắc Kinh. Tôi cho rằng Trung Quốc là không đáng sợ, một nước rộng về đất, đông về dân, mạnh về bạo lực, chứ không hề là một nước lớn với ý nghĩa là có sức mạnh văn hóa, văn minh và đáng nể trọng. Không tự cúi người xuống để phong Trung Quốc là đại ca vô địch. Cũng không thể có ý nghĩ đến việc có thể hay không thể “rinh” đất nước chạy đi nơi khác với lời than thở vô nghĩa: “Có ai chọn được láng giềng đâu!”. Thật ra đó là ý của một tướng Tàu đã nói ở Hà Nội các đây hai năm, nhằm đe nẹt Việt Nam đã lỡ nằm cạnh Trung Quốc, không thể “chọn” thân phận khác được đâu, lẽ ra không nên lặp lại theo cách áo não như thế. Thủ tướng Nhật, chưa từng than van chuyện phải bê mấy hòn đảo của mình đi đâu. Nữ Tổng thống Hàn Quốc cũng không có một lời nào tương tự!

Tôi chân thành bày tỏ, chia sẻ cùng các bạn về niềm tự tin và tự hào của dân tộc, trước vó ngựa của quân Nguyên-Mông xưa, nay là trước sự hung hăng của quân Tập, với tinh thần là nhân dân phải biết làm chủ vận mệnh của mình, thông qua một thể chế dân chủ bởi một Hiến pháp đứng đắn, và quan hệ bình đẳng không lệ thuộc Bắc Kinh. Đó là khẳng định căn bản và lâu dài, dù cho nay mai giàn khoan có thể rút đi, hay thay một chiếc khác. Mối quan hệ giữa “hai” dân tộc – theo nghĩa dân sự – xưa nay chưa từng có vấn đề, ngoại trừ bọn cầm quyền hung hăng mỗi lúc. Nhắc lại điều này với dân chúng cũng lại là một xa xỉ nữa.

Hai điều nêu trên, không phải là vô cùng hệ trọng của hiện tình đất nước đáng trăn trở hay sao?

Chúng ta không để sự thờ ơ của hôm nay là nỗi hối tiếc của ngày mai. Chúng ta không muốn một đồng bào nào của mình phải tự thiêu như người Tây Tạng, không muốn những nhóm thanh niên ta đến lúc phải vung dao liều chết vào bọn Hán tộc ở các bến tàu như ở Tân Cương. Và chúng ta cũng cần tinh tường cảnh giác về những kẻ diễn hài nội địa.

Một phương châm chân chính đã từng vang lên trong lòng dân tộc: “Chúng ta yêu hòa bình nhưng sẵn sàng chiến tranh” để bảo vệ Tổ quốc.

Mong rằng tôi có nhiều cơ may được gặp các bạn, góp phần nhỏ bé của mình cùng các bạn bước tới, cùng cả đất nước đứng hẳn lên đấu tranh, giữ vững độc lập trước sự khống chế và xâm lược của Bắc Kinh, xây dựng một xã hội dân sự vững chắc, công bằng vàdân chủ.

Ao ước thay!

Trân trọng kính chào.

Huỳnh Tấn Mẫm – một thanh niên nhiều tuổi./.

(*) “Sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan” (!) – thập lục tự phương châm – do Trung Quốc đưa ra, dịch thành phương châm hành động: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.

Tác giả gửi BVN.

 

Trích: 1- Đặt Hiến pháp cũng như luật pháp của một Quốc gia dưới cương lĩnh và các chỉ thị của Đảng Cộng sản. Thay vì ngược lại, Đảng Cộng sản phải đặt mình dưới Hiến pháp và luật pháp nhà nước, với chức năng là thi hành chứ không phải chỉ đạo. Từ sự trái ngược đó, với quyền hành độc đoán trong tay, Đảng đã tự tha hóa và suy thoái (như đã tự thừa nhận), đưa đến một Chính phủ thiếu trách nhiệm và không hiệu quả, làm cho xã hội rệu rã, không phát triển và mất dần sức sống, người dân trở nên lơ láo, mất phương hướng và tích lũy nỗi bất bình. Tình trạng này là điều kiện phù hợp ý muốn của kẻ xâm lược. [Huỳnh Tấn Mẫm]

 

Bài liên quan:

Hiến pháp Việt Nam là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất SAU Cương lĩnh của Đảng

Cương lĩnh của đảng CSVN quan trọng nhất và đứng TRÊN cả Hiến Pháp Việt Nam.

VẬN MẠNG CỦA TỔ QUỐC không quan trọng bằng VẬN MẠNG CỦA ĐẢNG.

nguồn: Facebook Hoàng Ngọc Tuấn (HNT)

Một thanh niên từ Việt Nam vừa gửi message cho tôi và hỏi:

“Thưa chú, con đọc báo thấy năm 2013 ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói Hiến pháp Việt Nam là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng. Các bạn con nói điều đó có nghĩa là ông Trọng coi vận mạng của Tổ quốc không quan trọng bằng vận mạng của Đảng, có phải không chú?”

Tôi hỏi: “Bài báo nào vậy cháu?”
Cậu thanh niên gửi cho tôi cái link:

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tong-bi-thu-de-phong-the-luc-muon-xoa-bo-dieu-4-hien-phap-2886937.html

Tôi nói: “Cháu có lưu tâm đến vận mệnh của Tổ quốc như vậy là rất đáng khen. Các bạn của cháu nói đúng đấy. Đúng là ông Trọng coi vận mệnh của Tổ quốc không quan trọng bằng vận mệnh của cái Đảng của ông ta.”

Cậu thanh niên nói: “Khủng khiếp quá chú.”

 

[Trích]“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong cuộc tiếp xúc cử tri chiều 28/9/2013 tại quận Hoàn Kiếm: Cũng liên quan tới nội dung Hiến pháp sửa đổi, Tổng bí thư cho biết, đến nay còn 4 vấn đề lớn trong nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp – “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.   (nguồn: vnexpress.net)

[Trích HNT]  không chỉ một mình ông Trọng coi vận mệnh của Tổ quốc không quan trọng bằng vận mệnh của cái Đảng của ông ta, mà đó chính là chủ trương của Đảng Cộng Sản. 

Đối với họ, Đảng là trên hết, và Tổ quốc thì không quan trọng.

Chỉ cần giở bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Das Manifest der Kommunistischen Partei, 1848) ra xem “Phần II: Những người vô sản và những người cộng sản” (II. Proletarier und Kommunisten), thì ai cũng có thể thấy rằng Marx và Engels đã khẳng định: “bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị” (daß der erste Schritt in der Arbeiterrevolution die Erhebung des Proletariats zur herrschenden Klasse), và nhấn mạnh: “Công nhân không có tổ quốc” (Die Arbeiter haben kein Vaterland). (HNT)

——————

Để lại gì cho mai sau?

6-7-2014
Nguyễn Văn Tuấn
.

Liên quan đến vấn đề lấy lại Hòang Sa – Trường Sa từ Tàu, hiện nay giới lãnh đại hình như đã đầu hàng. Họ nói nếu đời này không lấy lại được, thì đời sau, đời sau nữa, và đời sau nữa, v.v. Tôi thấy quan điểm này rất buồn cười vì nó không đúng đạo lí của người VN.

Đạo lí của người VN là bằng mọi cách tạo điều kiện cho con cháu mình phát triển hơn. Phải làm sao con hơn cha. Đời cha mẹ chẳng có ai có bằng đại học, nên cha mẹ phải “cày” ngày đêm để con được đi học đàng hoàng. Khi cha mẹ đã có nhà cửa, cha mẹ còn tìm cách mua nhà hay đầu tư cho con cái. Nói chung người VN luôn tìm cách tạo điều kiện tốt hơn cho con cái đời sau, thậm chí cho cả cháu (nếu có điều kiện).

Còn đằng này, Nhà nước hiện hành không làm gì để thu hồi HS-TS về VN, mà còn đùn đẩy cho con cháu đời sau! Nhưng thật ra, cũng chẳng có gì để để lại cho đời sau. Chẳng hạn như một thảo luận trên VNN có câu rất đáng chú ý “Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng.” Nhưng tác giả giả bài này rất từ hào điều đó “chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”. Tôi thì không tự hào chút nào cả; vì đó là một suy nghĩ vô trách nhiệm, nó giống như thế hệ này ăn hết rồi vỗ vai thế hệ sau: cố găng vươn lên bằng chính tài năng của mình. Một câu hỏi như thế cũng rất thích hợp cho những kẻ đang ngày đêm phá nát rừng biển của VN.

Tôi chợt nhớ đến luật môi trường ở Úc. Ở Úc họ rất nghiêm ngặt với môi trường, tất cả các hãng sửa xe hơi phải có hầm chứa nhớt và dầu riêng. Bất cứ một ai chỉ cần đổ 1 lít nhớt xuống cống là Hội đồng thành phố đến ngay vì họ có thể truy tìm nguồn gốc rất dễ dàng. Một người VN bị tội đổ nhớt vào ống cống (vì nghĩ chẳng ai biết), và cảnh sát môi trường đến phạt và phải đem ra tòa, tổng chi phí lên đến gần 5000 AUD! Họ lí giải rằng nếu ai cũng đổ nhớt như thế thì cá sẽ chết, và mình chẳng còn gì để cho thế hệ mai sau. Xứ tư bản bóc lột mà sao chúng suy nghĩ nhân văn thế?!

Còn ở VN, không để lại cơ sở vật chất và tài nguyên, cũng chẳng có tiền bạc (vì đang thiếu nợ chồng chất) mà nói là thế hệ sau sẽ thu hồi HS-TS! Đó là một cách buôn bán hi vọng không có thật.

________________

(1) http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/99763/-the-he-chung-toi-da-hut-dau—dao-het-than—-.html

————————-

Đảng CSVN tự xưng “là các đỉnh cao trí tuệ của loài nguời”, là lực lượng tiền phong của giai cấp, đánh thắng 3 đế quốc: Pháp, Mỹ, Trung Quốc, lại được Điều 4 của Hiến Pháp Việt Nam bảo vệ và cho làm lãnh đạo đất nước, được toàn thể nhân dân VN ủng họ…, nhưng TẠI SAO Đảng CSVN và Nhà Nước lại không dám đứng lên kiện Trung Quốc ra tòa án, hoặc dùng quân đội đãnh chiếm lại Hoàng Sa và Trường Sa và đuổi Trung Quốc không cho khoan dầu ở Biển Đông…mà lại phải nhờ vã con cháu đòi lại chủ quyền ở HS, TS, và Biển Đông? 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải bảo vệ bằng được chủ quyền thiêng liêng

TTO – “Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm”

Nguồn báo Tuổi Trẻ - 26/06/2014

_______________

Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả 

27-6-2014

Tác giả:  Đạo diễn  Song Chi

Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại Sài Gòn ngày 26 tháng 6, 2014, ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Ðông và mối quan hệ với Trung Quốc.

Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo Việt Nam. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay.

 



Chủ Tịch Nước CSVN Trương Tấn Sang “trao đổi” với cử tri khi tiếp xúc ở Sài Gòn sáng 26 tháng 6, 2014. (Hình: Tuổi Trẻ)

 

Chẳng hạn, khi nói về công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958, “Chủ Tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh: ‘Ông Phạm Văn Ðồng (cố thủ tướng) có bao giờ nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đâu, đã đăng công khai trên mạng hết rồi.’” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).

Ðây là lập luận chống chế quen thuộc của nhà cầm quyền Việt Nam sau khi vụ công hàm của Phạm Văn Ðồng bị công khai trước nhân dân Việt Nam và quốc tế. Về việc này, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết trên facebook:

“Ông Phạm Văn Ðồng không nói Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu?

…Ðúng là công hàm PVÐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng Hoang Sa-Trường Sa là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9, 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Vậy thì tuyên bố 4 tháng 9, 1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4 tháng 9, 1958. Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng Hoàng Sa-Trường Sa là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa-Nam Sa của Tàu). Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được.”

Không chỉ các ông lãnh đạo mà nhiều người dân, nhất là đám dư luận viên trên mạng cũng lập luận tương tự để “chạy tội” cho cái công hàm tai hại, nhưng phải thấy rằng trước quốc tế mà cứ cố cãi như thế này thì không thể thắng được Trung Cộng về lý.

Nói về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc: “Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Ðông, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt.” (“Việt Nam mang ơn thì sẽ trả, nhưng Trung Quốc không được áp đặt,” Dân Trí).

Bao lâu nay, phía Trung Cộng tất nhiên là thường xuyên nhắc đi nhắc lại việc đã từng giúp đỡ Bắc Việt “đánh Pháp đuổi Mỹ,” lấy đó làm cớ để mắng mỏ Việt Nam vô ơn mỗi khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản trở nên xấu đi.

Nhưng không chỉ Trung Cộng, từ các thế hệ lãnh đạo cho tới nhiều tướng tá, quan chức khác nhau của đảng cộng sản Việt Nam cũng liên tục nhắc nhở… chính họ và người dân Việt Nam, phải biết ơn Trung Quốc.

Người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền hỏi lại đảng và nhà nước cộng sản rằng hãy nói rõ ràng và sòng phẳng một lần, ai nợ ai.

Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam nợ đảng Cộng Sản Trung Quốc để có đủ sức tiến hành hai cuộc chiến, trong đó cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Ðối với đa số người Việt Nam, đó là một cuộc chiến không mong muốn, vậy tại sao người dân Việt Nam phải mang nợ Trung Quốc.

Những thông tin, tư liệu được bạch hóa phần nào trong những năm qua đã nói lên tính chất phi lý, vô nghĩa, cái giá quá đắt phải trả cũng như những hệ lụy nặng nề cho đất nước, dân tộc Việt Nam từ việc đảng cộng sản chấp nhận sự viện trợ từ Trung Cộng để đổi lấy việc tiến chiếm miền Nam, thống nhất đất nước nhưng lại bị lệ thuộc lâu dài vào Bắc Kinh về mọi mặt.

Và họ đã phải trả món nợ này không chỉ bằng hàng núi xương máu của nhân dân mà cả tài nguyên, những sự ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải.

Những thông tin, tư liệu đó cũng cho thấy cuộc chiến chống Mỹ của Bắc Việt thật ra có lợi cho chính Trung Cộng như thế nào, đảng Cộng Sản Trung Quốc lẽ ra phải cảm ơn sự mù quáng của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đúng hơn.

Nhưng đó là quan hệ mắc mứu giữa hai đảng, nhân dân Việt Nam chả dự phần gì vào để mà cứ phải mang ơn, biết ơn. Về phía những người cộng sản, chính cái tâm lý mắc nợ, mang ơn này đã khiến họ luôn luôn ở vào thế yếu khi phải đương đầu với Trung Cộng để bảo vệ độc lập chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ.

Tự trói buộc mình vào sự tương đồng về mặt ý thức hệ, mặc dù ai cũng rõ cho đến thời điểm này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không còn là hai đảng cộng sản đúng nghĩa và cũng chả bên nào còn thực lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, lý thuyết Marxism-Leninism nữa.

Tiếp đến tự trói buộc mình vào mối ân oán nợ nần, quan hệ 4 tốt 16 chữ vàng giữa hai đảng cộng sản, trong khi trên thực tế, Bắc Kinh từ lâu đã không coi mối quan hệ hai bên ra cái gì. Và bây giờ, là lần thứ hàng trăm hàng ngàn, Trung Cộng đang công khai xâm lược Việt Nam, thách thức, lăng nhục nhà cầm quyền Việt Nam.

Chừng nào các lãnh đạo, quan chức cộng sản ở Việt Nam tự mình rũ bỏ được cái tâm lý mắc nợ ấy trong mối quan hệ với Bắc Kinh thì họ mới có đủ sáng suốt và sức mạnh để đi cùng một con đường với nhân dân và với thời đại: Thoát Cộng, thoát Trung, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trông chờ ở nhà cầm quyền Việt Nam điều đó thì khác nào hái sao trên trời!

Cuối cùng, trong các phát biểu của ông chủ tịch nước, có một ý sau nói về việc bảo vệ chủ quyền:

“Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn.” (“Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).

Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học Việt Nam sáng 17 tháng 5, ông Phó Thủ Tướng Vũ Ðức Ðam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Ðời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại.” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa,” báo Thanh Niên).

Và nếu chú ý tìm kiếm thêm thì chúng ta sẽ thấy không chỉ có hai nhân vật trên phát biểu những ý tương tự.

Nghe thì có vẻ quyết tâm, đầy xúc động (!) nhưng thật ra nói như vậy có nghĩa là các ông giương cờ trắng, chào thua giặc trước rồi và ủy thác việc đòi lại Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền cho… con cháu.

Các ông không sợ người dân rồi con cháu sau này và cả lịch sử nguyền rủa muôn đời vì đã vay mượn các nước để tiêu xài cho đã đời này, mặt khác, tài nguyên đất nước, đất đai, biển, đảo& có bao nhiêu khai thác sạch, cho thuê hay bán sạch để ăn ngay đời này, còn nợ công cho tới việc đòi lại lãnh thổ lãnh hải thì để cho con cháu gánh, hay sao?

Chỉ qua một buổi nói chuyện của một trong tứ trụ triều đình của Việt Nam mà đã bộc lộ bao nhiêu vấn đề trong quan điểm, tư duy của các lãnh đạo Việt Nam, chả trách gì tình hình cứ ngày càng bi đát, tuyệt vọng.

Việt Nam có thể mất nước đến nơi mà nhà cầm quyền vẫn chưa tìm ra, và cũng không thực tâm muốn tìm, con đường để thoát khỏi Trung Cộng, bảo vệ được độc lập chủ quyền, giang sơn gấm vóc của non sông.

Báo Người-Việt

 

Bài liên quan:

Tài liệu Mật: Bản Tuyên Bố của Chu Ân Lai 4-9-1958- TT ..

Trung Quốc tung tài liệu về HS và TS lên báo và tiết lộ bọn  đổi chác và bán biển đảo VN cho TQ

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Trằn trọc tháng bảy- Hà Sĩ Phu

Posted by hoangtran204 on 07/07/2014

Trằn trọc tháng bảy

Hà Sĩ Phu

Xin kể với bạn bè những suy nghĩ mung lung ấy của mình thường bất chợt hiện về trong giấc ngủ. Tản mạn đủ điều, không mạch lạc.

Khoa học cho biết trong không gian luôn có những sóng vô hình tác động vào cơ thể con người làm cho mình bỗng nhiên thay đổi sinh hoạt, thay đổi tính tình, cảm xúc. Đã hai tháng nay, thềm lục địa của nước mình bị cái giàn khoan khổng lồ của của tên cướp biển cắm vào trúng long mạch của nòi giống Việt, chẳng biết có phải vì thế mà khiến cho nhiều người Việt mình ăn ngủ không yên, hằng đêm thắc thỏm, cứ thắp nhang lên bàn thờ là thấy hình ma quỷ hiện về, lo nghĩ mung lung, đêm nằm thường sinh ác mộng. Tôi ngẫm từ cá nhân mình thì biết. Xin kể với bạn bè những suy nghĩ mung lung ấy của mình thường bất chợt hiện về trong giấc ngủ. Tản mạn đủ điều, không mạch lạc.

1. Ác mộng

Cứ lơ mơ ngủ là hiện ra rõ mồn một cảnh một gia đình cự phách bỗng dưng tan tác như một lũ ăn mày. Tổ tiên họ để lại cho con cháu một cơ ngơi đồ sộ đủ làm ăn no ấm đến muôn đời. Chẳng ngờ thằng anh cả say mộng gia trưởng, hão huyền, lừa đàn em để lén đi đánh bạc với lão hàng xóm tinh quái, bị thua bạc phải đem gán cả cái gia tài gấm vóc ấy, lại ngầm ký mấy bản giao kèo hẳn hoi.

Hốt hoảng sợ gia đình biết sẽ đánh đuổi ra đường, thằng thua bạc bèn nói khó với lão hàng xóm tìm cách lo liệu sao cho trót lọt. Hồi lâu bàn bạc, hai bên nghĩ ra một mẹo, không trao cả gia tài ngay một lúc mà cứ “bàn giao” từng phần, cho gặm dần như tằm ăn lá dâu, nay thuê khoảnh vườn này 50 năm, mai cho một bọn gia nhân sang làm nhà ở nhờ một góc, mốt cho thuyền bè sang đánh cá chung tại hồ, lại cho mấy con nô tỳ ăn ngủ với thằng anh cả ấy đến có con riêng…

Gia đình có phát hiện thì thằng anh cả mất nết ấy cứ dùng “quyền huynh thế huỵch” lấp liếm vài câu lấy lệ, cũng ra vẻ khoa chân múa tay phản đối lão hàng xóm cho qua chuyện, hứa hươu hứa vượn cốt sao gia đình không nổi giận, nổi khùng. Cứ thế chẳng mấy chốc cả gia tài đồ sộ rơi hết vào tay lão hàng xóm, còn gia đình thì “may mắn” được lão hàng xóm “tốt bụng” mở lượng hải hà cho lưu trú ở một góc vườn, con cháu đời đời được làm kẻ hầu người hạ cho lão hàng xóm tham lam tinh quái. Cả gia đình bất hạnh chỉ còn biết ngậm một nỗi căm hờn trong tủi nhục, chẳng biết trách mình ngu dại, lại thầm trách tổ tiên đã làm gì thất đức để sinh ra một thằng con trưởng vô phúc, bán cả cha ông…
Tỉnh dậy thấy mắt mình ươn ướt, chắc mắt già kèm nhèm nó thế, chứ chẳng lẽ lại vớ vẩn thương cái gia đình trong mộng, thế rồi mệt quá mà ngủ thiếp đi.

2. Ngộ độc hàng Tàu

Đấy là chuyện ngủ, giờ đến chuyện ăn. Một đất nước xưa nay rất trong lành mà bây giờ hằng ngày ăn gì cũng sợ độc, một thứ độc rất… Trung Quốc! Vợ tôi thường mua lê mua táo thắp nhang, những quả táo quả lê rất đẹp nhìn mà phát thèm, thế nhưng để quên ba tháng trên bàn thờ mà trông vẫn đẹp mã như không mới hoảng hồn chứ, bổ ra thấy quả thì rắn như đá, quả thì thối đen bên trong, không biết họ tẩm chất gì lạ thế, chỉ dân mình là khổ.

Nhưng đêm nằm nghĩ lại thấy người dân còn may, chứ lớn lao như Đảng ta mà xơi phải món vịt tiềm thuốc Bắc “Thập lục kim tự” (vịt đây là vịt Bắc Kinh chính hiệu) là biến thái ngay không cứu được nữa là.
Động lòng trắc ẩn, tôi nhập hồn Bút Tre, nhỏm dậy, bật đèn ghi vội vào nhật ký:

Ngộ độc là tại hướng (ba) đình
Cả làng ngộ độc, cớ chi mình kêu ca?
Đường đường như thể đảng Ta
Xơi phải mười sáu chữ, cũng biến ra… đảng Tàu!

Biết có bậc đại nhân cũng ngộ độc như mình, như có người “đồng bệnh tương lân” nên tấm lòng AQ cũng tự sướng đôi chút.

3. Ước gì mình nhầm

Viết thế rồi vẫn cứ áy náy, liệu mình nghĩ như thế có nhầm không, có quá không? Vẫn biết tình hình hiện nay, hai chữ “bán nước” thiên hạ đã nói, đã viết giăng giăng khắp nơi, đến nhà “Hồ Chí Minh học” Nguyễn Khắc Mai cũng đã công khai bảo cái công hàm của chính phủ Phạm Văn Đồng (tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch) là phản động, phản quốc rồi, nhưng thôi, cứ níu lấy hy vọng chút xíu, cứ đắm đuối, cứ mong sao những suy nghĩ của mình là nhầm lẫn thì đại phúc cho dân, theo kiểu “lạc quan vô tận” ấy mà. Trước đông người, ai nỡ buông một lời tuyệt vọng? Lạy trời cho những lời phê phán của mình là nhầm, nhầm vài phần trăm thôi cũng được.

Nhưng khốn nỗi, không gì chống nổi thực tế, những tin tức sáng nay (xem phần dưới) đã thêm một lần quyết định, cho thấy sự kết tội như thế chẳng những không nhầm, rất không nhầm, mà trái lại còn chưa tới, chưa ngang tầm với thực tế đồi bại không thể chối cãi. Cuộc đầu hàng và Hán hóa đã đi nhanh hơn sức mình tưởng tượng, vì được chuẩn bị quá lâu rồi.

4. Những tin tức sáng nay

Tin thứ nhất là ảnh chụp bức công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi các địa phương về 16 điều cần làm ngay để thực hiện theo ý kiến của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (xem tại đây, và tại đây). Trong đó có điều 1

“Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.”

Và trong điều 2, Trung Quốc sẽ đào tạo các cán bộ đảng cho Việt Nam, cụ thể là

“trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam.

Tưởng Việt Nam đã cam tâm làm một tỉnh “Quảng Nam” của Trung Quốc, hóa ra không được thế, chỉ đáng là một địa phương trong vòng quản trị của tỉnh Quảng Đông thôi. Chẳng trách UV BCT Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ở tầm nhảy múa với tỉnh Quảng Tây, thế cũng vinh dự chán! Hề hề, trước đây học sách thấy hai chữ “khuyển mã”, giờ mới hiểu nghĩa. Bình luận thêm nữa là thừa.

Tin thứ hai, một cán bộ khá cao cấp cho biết tinh thần chống xâm lược mới nhất của Trung ương cần được quán triệt là:

Một: tận dụng mọi phương tiện truyền thông, mọi diễn đàn để tố cáo china, nhưng dứt khoát không kiện.

Hai: Xác định Mỹ vẫn là kẻ thù lâu dài (của đảng) vì đi với Mỹ thì mất chế độ.

Ba: đảng rất thương dân, có chiến tranh thì nhân dân sẽ khổ, nên đảng phải nhịn trung quốc hết mức, không để xảy ra chiến tranh tránh khổ cho dân.

Tuy đây chỉ là thông tin từ thư của bạn bè, nhưng đối chiếu với thực tế và theo kinh nghiệm cho biết những tin tức này là đáng tin cậy, một đảng viên tử tế không thể bịa ra những tin đang phổ biến trong đảng như thế này. Tin tức này gợi ra một số vấn đề mà tôi thường nghĩ tới nhưng chưa có dịp viết ra, xin đề cập đến ở phần sau.

5. Kiện hay không kiện?

Có ba vấn đề khác nhau:

- Về đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông thì Trung Quốc vô lý hoàn toàn, Việt Nam dứt khoát phải cùng với các nước vừa kiện vừa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn như liên kết với Hoa Kỳ, lập liên minh phòng thủ Biển Đông, vân vân, Việt Nam không có lý do gì lảng tránh việc này.

- Về những giàn khoan ngang ngược, cũng giống như việc đường lưỡi bò nhưng phức tạp hơn vì ranh giới chồng chéo và cũng liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa, có thể phát sinh nhiều luận điểm, tuy nhiên vẫn phải kiện, và đừng quên nếu không có sức mạnh thực tế thì cũng không đẩy được chúng đi. Nói chung, việc kiện ra các tòa án quốc tế, dù hiệu quả ít hay nhiều vẫn phải tiến hành, để vạch rõ chính nghĩa, vì danh dự dân tộc hoặc tạo hồ sơ giải quyết sau này.

- Riêng Hoàng Sa (và có thể cả Trường Sa) thì khó khăn hơn nhiều, dân đã có kiến nghị yêu cầu nhà nước phải kiện Trung Quốc, nhưng nhà nước thì lưỡng lự, chập chờn, không chuẩn bị gì, bây giờ quyết định không kiện gì hết (?), mà chỉ tuyên truyền (chắc là để xoa dịu cho dân yên tâm) [theo thông tin mới nhất thì Thủ tướng đã giao các cơ quan củng cố hồ sơ để báo cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước cân nhắc việc đấu tranh pháp lý về Biển Đông; xem ở đây – BVN]! Ở đây có nhiều điều cần thảo luận.

Chấp hành chỉ thị... Nguồn OntheNet.

Trước hết phải đau lòng thừa nhận rằng việc Hoàng Sa – Trường Sa nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc thì khả năng thua nhiều hơn thắng. Tại sao?

Đồng ý rằng về pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng (trả lời Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó họ khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc) không có giá trị “mua bán”, vì người ta không thể bán cái không có trong tay mình, vì không có sự đồng thuận của chính phủ ở nửa nước miền Nam, hoặc vì chưa thông qua Quốc hội, vân vân.

Nhưng trách nhiệm của Công hàm Phạm Văn Đồng lại nguy hại ở ý nghĩa khác. Đối với Hoàng Sa – Trường Sa công hàm Phạm Văn Đồng tuy không có giá trị pháp lý của một giao kèo mua bán hay sang nhượng, nhưng có giá trị của một bản tuyên bố chính thức, minh định nhận thức và lập trường của chính phủ Việt Nam, để Trung Quốc và thế giới được rõ, rằng Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc (đã là của Trung Quốc thì đương nhiên không phải của Việt Nam, Việt Nam chúng tôi không liên quan gì đến các quần đảo đó!)

Một người khách quan đọc bản công hàm ấy ắt phải hiểu như thế. Nếu có kẻ nào còn mơ hồ tưởng lầm Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam thì hãy xem thêm các bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam sẽ rõ! Phạm Văn Đồng đã giúp Trung Quốc chu đáo đến thế là cùng.

Trong công hàm Phạm Văn Đồng không cần có nửa lời về Hoàng Sa – Trường Sa là đương nhiên, vì đã minh định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc thì cũng như các đảo Bành Hồ, Trung Sa… chứ liên quan gì đến Việt Nam đâu mà phải đề cập? Đã của Trung Quốc, không phải của Việt Nam thì Trung Quốc cứ tự nhiên sử dụng, cần gì đến chuyện “mua bán” hay sang nhượng?

Một sự phủ định chủ quyền thản nhiên và sạch trơn như vậy còn tai hại hơn một giao kèo bán đất rất nhiều, vì nếu “bán” thì trước khi bán Hoàng Sa – Trường Sa vẫn còn là của Việt Nam, sau này còn có thể chuộc lại, nhưng khẳng định như Phạm Văn Đồng có nghĩa là từ trước chí sau Hoàng Sa – Trường Sa không liên quan gì đến Việt Nam cả. Chu đáo đến thế thì con cháu bây giờ hết chỗ cựa (nếu cãi lại sẽ sẽ phạm luật estoppel).

Là người Việt Nam dù với chính kiến nào, không ai muốn hải đảo nước mình rơi vào tay Trung Quốc, nhưng giải pháp “khôn ngoan” muốn hạ thấp trách nhiệm của công hàm Phạm Văn Đồng để vừa thoát khỏi ràng buộc với Trung Quốc mà vẫn bảo vệ được uy tín cho Đảng Cộng sản e rằng bất khả thi.
Bây giờ, sau nửa thế kỷ mới trưng các bản đồ lịch sử ra, xét về tình, thế giới có thể thông cảm, nhưng về lý, mình đã trói mình quá chặt thì cũng khó gỡ ra, ấy là chưa kể lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh.

Tự chối bỏ chủ quyền thì còn tai hại hơn bán chủ quyền. Vì thế, đối với Hoàng Sa – Trường Sa kiện thì cứ kiện, nhưng chỉ có thể giải quyết trong một giải pháp trọn gói, chống lại toàn bộ sự xâm lấn của Trung Quốc cả ở biển đảo và trên đất liền.

Thật vậy, việc xâm chiếm Việt Nam đâu chỉ giới hạn ngoài biển đảo? Nào ai biết đã có bao nhiêu văn bản ký kết tạo điều kiện cho Trung Quốc chiếm dần lãnh thổ Việt Nam, đi đôi với việc xâm lấn nhân sự vào các cấp lãnh đạo từ tỉnh huyện đến Trung ương? Muốn thoát khỏi cái ách Trung Quốc đã quàng rất nhiều vòng vào cổ dân tộc này, tức là muốn “Thoát Trung” chỉ có một con đường duy nhất là từ bỏ thể chế cũ một cách thật sự, để một nhà nước mới, một nhà nước dân chủ, mới có tư cách nhân danh nhân dân chối bỏ những ràng buộc mà chế độ cũ đã ký kết, phương hại đến đất đai, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam.

6. Thoát Trung chủ yếu là thoát về chính trị, không phải văn hóa

Lịch sử đưa đẩy hai nước Việt Trung vào cùng một “đại gia đình Cộng sản” là tạo ra cơ hội bằng vàng, nhốt con thỏ và con sói vào cùng một chuồng thành hai anh em ruột, chị em ruột. Thế là toàn bộ chương trình dài hơi nhằm nô dịch Việt Nam, biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới của Trung Quốc được thiết kế trên cái nền Cộng sản, trong đó “quyền đảng” được nâng lên tối đa và “quyền dân” thực tế bị hạ xuống tối thiểu, khiến cho hai đảng cứ tự do làm việc ngầm với nhau, quyết định mọi việc trong quan hệ cá lớn nuốt cá bé, trong khi nhân dân bị đứng ngoài cuộc. Vậy đây là một cuộc cờ chính trị “vĩ đại”, yêu cầu thoát Trung chẳng qua là thoát khỏi sự kìm kẹp chính trị cộng sản khủng khiếp ấy.

Trong tiến trình ràng buộc có sử dụng sự ràng buộc kinh tế, ràng buộc tư tưởng, ràng buộc văn hóa – xã hội, nhưng tất cả chỉ là phương tiện nhằm cái đích nô dịch chính trị. Chính trị là cái nút thắt, cũng là nơi để chiếc chìa khóa mở ra. Nếu hiểu lý thuyết rằng văn hóa hoặc kinh tế là nền móng rồi dồn sức vào các lĩnh vực mênh mông là văn hóa hoặc kinh tế thì chỉ luẩn quẩn mãi trong rừng rậm không có lối ra, có khi gây tác dụng ngược, cuối cùng vẫn bị yếu tố chính trị thắt lại, vì chính trị nhanh tay hơn, ma mãnh hơn văn hóa và kinh tế rất nhiều.

Thật vậy, về văn hóa, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam tuy có những điều bất lợi nhưng nhìn tổng thể cũng là điều bình thường xưa nay, trong đó có xấu có tốt, có thể điều chỉnh, có yếu tố đã trở thành sức mạnh của Việt Nam. Thế giới có khoảng 200 quốc gia nhưng con số những nền văn hóa lớn thì ít hơn rất nhiều, mỗi nền văn hóa lớn thường tỏa rộng ảnh hưởng ra các quốc gia xung quanh, tạo nên những vùng “địa văn hóa”, “cụm văn hóa” gồm nhiều quốc gia lân cận. Quan hệ quốc tế hiện nay làm cho ranh giới “địa văn hóa” mờ dần đi, ngày càng thâm nhập vào nhau một cách đa phương nên muốn dùng độc quyền văn hóa làm công cụ nô dịch cũng không dễ dàng như trước. Trái lại những giá trị văn hóa dù hình thành ở đâu cũng là thành quả chung của loài người để dùng chung như ta dùng lửa, dùng điện, dùng Internet vậy. Không có gì phải mặc cảm khi một quốc gia nằm trong cụm văn hóa Hy-La hay văn hóa Trung Hoa (chưa kể theo tác giả Hà Văn Thùy thì văn hóa Trung Hoa bắt nguồn từ Văn hóa Việt!)

Mặt khác, vì xã hội luôn có hai thành phần tương sinh tương khắc là nhân dân và tầng lớp thống trị nên nền văn hóa nào cũng cấu thành bởi hai nhân tố xung khắc ấy, vừa có mặt nhân văn tích cực của nhân dân, lại có mặt phản dân chủ mà giới cầm quyền khéo dùng làm công cụ để nô dịch dân mình và nô dịch cả dân nước khác, đồng thời tất cả vẫn nằm trong dòng tiến hóa từ lạc hậu đến ngày một văn minh hơn.

Khi du nhập những nét văn hóa tích cực luôn phải thanh lọc những yếu tố nô dịch tiêu cực hoặc không phù hợp với tập quán dân tộc mình. Điều này dân tộc Việt Nam đã làm, làm khá thành công nên sau 1000 năm Bắc thuộc mà vẫn không bị đồng hóa. Tóm lại, thái độ đối với văn hóa là sàng lọc, đồng hóa hoặc tẩy trừ từng phần chứ không nhất thiết phải xử lý trọn gói. Tấm gương biết sàng lọc văn hóa không ai bằng cụ Phan Châu Trinh, xuất thân Nho học, tiếp tận Âu Tây mà biết sàng lọc rất trúng, vừa chống “hủ Nho” vừa chống “hủ Âu” trở thành nhà dân chủ, nhà cách mạng đầu tiên của nước nhà [*]. Cụ chẳng vì chuộng Âu mà phải thoát Á, vì khi đã lệch về một phía thì dễ thiên vị, quên sàng lọc mà tôn sùng cả cái xấu của người ta.

Điều oái oăm với văn hóa Việt Nam là trong khi dòng chảy văn hóa đang từng bước tự hoàn thiện thì có sự du nhập “một nền văn hóa trọn gói” nặng tính ngoại lai và áp đặt, là “văn hóa vô sản” thực chất là “văn hóa cộng sản”, “văn hóa đảng”. Nói văn hóa Cộng sản có tính “trọn gói” vì nó tách biệt hẳn ra thành một khối, không kế thừa, dính vào đâu là nó hủy diệt các giá trị truyền thống ở đó, nên không có khả năng hòa đồng vào bất kỳ nền văn hóa nào. Vì bản chất là phi dân chủ nhưng lại nhân danh dân chủ nên văn hóa cộng sản cộng hưởng ngay với chất mị dân của chủ nghĩa thân dân phong kiến, mà thực chất là vương quyền áp đặt, tôn sùng minh quân, đồng thời làm mất gốc dân chủ và tương thân tương ái của văn hóa bản địa, thay bằng thứ tình yêu giai cấp vừa chật hẹp giữa con người lại vừa mở rộng phi lý vượt biên cương.

Chính nền chuyên chính độc đảng toàn trị Cộng sản đã làm cho quan hệ “quỳ lạy-xin cho” tiêu cực của văn hóa phong kiến trỗi dạy và làm tha hóa xã hội đến mức bệnh hoạn. Tôi hiểu đấy chính là lý do khiến nhà báo Lê Phú Khải phải kịch liệt phê phán thứ “văn hóa quỳ lạy” đang chế ngự xã hội. Một nét tiêu cực của văn hóa phong kiến như thế tưởng đã qua đi, nay gặp môi trường mới thích hợp lại nảy nở thành một tệ nạn, chứ đạo Nho chỉ khuyên người ta đứng thẳng, không khuất phục trước uy vũ (uy vũ bất năng khuất) và con người phải biết tự trọng thì người khác mới trọng mình (ngô tự trọng nhi hậu nhân trọng chi, ngô tự khinh nhi hậu nhân khinh chi), Khổng giáo không khuyên người ta quỳ lạy.

Văn hóa Khổng Mạnh vừa sinh ra Phan Châu Trinh rất dân chủ, vừa sinh ra tên vua Khải Định thích dân quỳ lạy. Cho nên Cụ Phan viết thư hạch tội vua Khải Định 7 điều, trong đó tội thứ nhất là quá tôn quân quyền, cậy quyền thế mà ép dân, tội thứ nhì là không công bằng và tội thứ ba chính là “Chuộng sự quỳ lạy”!

Ngày nay một lực lượng vũ trang ăn lương của dân mà coi dân như cỏ rác, ngang nhiên thách thức “chỉ biết còn Đảng còn mình”, tất nhiên nịnh trên mà nạt dưới, thì chắc chắn người đưa ra khẩu hiệu rất “quỳ lạy” đó không hề đọc sách Khổng Mạnh mà chỉ nhiễm “văn hóa Đảng” thôi.

Nhiều người dân vào đồn công an bị đánh đến phải quỳ lạy, nơi “quỳ lạy” ấy không hề có đạo Khổng, chỉ có “6 điều Bác dạy” (mặc dù lời dạy cũng có câu “với dân phải kính trọng, lễ phép”).
Thuở nước nhà sơ khai, các trí thức chịu ảnh hưởng đạo Nho và văn hóa Trung Hoa rất nhiều, nhưng những Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt đã dùng chính chữ Nho làm vũ khí chống lại Tàu, sức mạnh Nho giáo đã thành sức mạnh dân tộc. Trong khi Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc lại dùng chữ Nho để theo Tàu phản bội Tổ quốc, còn khối kẻ hàng Tàu bây giờ đâu có biết một chữ Nho bẻ làm đôi? Vậy hèn mạt hay anh hùng ít khi do nền văn hóa, chủ yếu do nhu cầu chính trị, vì chính trị gắn với quyền lợi và nhu cầu sinh tồn.

Ngay chuyện bây giờ, khi ta nói sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam phải lệ thuộc Tàu là do Ý thức hệ cộng sản thì cũng chỉ đúng một phần. Đâu có phải cứ hai nước cùng chung Ý thức hệ Cộng sản thì thôn tính nhau?

Vấn đề là nước Cộng sản nhỏ muốn tiến hành chiến tranh, rồi lại muốn chống xu thế dân chủ để tiếp tục nắm quyền độc trị thì phải dựa vào nước Cộng sản lớn giúp đỡ, nước lớn vốn rắp tâm xâm lược nên sử dụng sự giúp đỡ làm cái bẫy để bắt Đảng Cộng sản nhỏ bán dần chủ quyền, mặc dù đến nay cả hai bên chẳng ai xây dựng chủ nghĩa Cộng sản gì hết, chẳng ai còn tin vào cái bánh vẽ “thế giới đại đồng”. Vậy bản chất sự lệ thuộc Tàu là do ràng buộc chính trị trong môi trường Cộng sản, như một hệ quả đau đớn của việc chọn con đường Cộng sản, chứ không phải do sự thấm nhuần Ý thức hệ. Ý thức hệ chỉ là yếu tố bắt nguồn lúc đầu. Những kẻ theo Tàu hiện nay là do nhu cầu chính trị, do quyền lợi chứ chẳng vì lý tưởng giai cấp vô sản gì hết.

Lại so sánh chế độ miền Bắc và chế độ miền Nam trước đây về hai mặt Thoát Trung và Khổng học. Miền Nam còn giữ Khổng học rất nhiều, từ sách vở đạo đức, đến quan hệ xã hội nhưng họ dứt khoát Thoát Trung, biểu hiện ở việc chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, và quy định một số nghề người Hoa không được làm để phòng người Tàu chi phối kinh tế và quốc phòng.

Trong khi miền Bắc khi đó bài trừ Khổng học, coi Khổng học là phong kiến phản động nên phá hết văn chỉ, đem câu đối làm cầu ao, chuồng lợn, đấu tố Nho học, thì lại ôm chân Tàu rất rõ, dập khuôn Tàu, phụ thuộc Tàu đến nỗi sinh ra nguy cơ Bắc thuộc hiện nay. Vậy không phải chống Khổng học thì Thoát Trung mà có khi ngược lại, vì nhiều nét của Khổng học đã được người Việt đồng hóa để thành vốn liếng văn hóa của chính người Việt.

Cuối cùng, xin cảm ơn việc khơi ra cuộc thảo luận Thoát Trung, đã huy động được sự đóng góp từ nhiều phía, làm cho một vấn đề rất hệ trọng được sáng ra, lần đầu tiên được đề cập một cách hệ thống, thiết tưởng là một sáng kiến đóng góp rất hữu ích cho công cuộc Thoát Trung hiện nay.

7. Nghĩ về mấy ngụy biện trong việc chống Tàu xâm lược

* Ngụy biện về đoàn kết và phân ly

Như quy luật của muôn đời, sự đấu tranh để dân chủ hóa luôn luôn là cuộc đấu tranh giữa giới cai trị và giới bị trị, giữa chủ và thợ, nước nào cũng có, ở những mức độ khác nhau. Nhưng Đảng Cộng sản muốn phủ định, coi như cuộc đấu tranh ấy không có trong xã hội ưu việt này, nên dùng khẩu hiệu “ý Đảng lòng dân” để đúc hai khối “cai trị và bị cai trị” thành một khối đồng nhất (nhưng đầy mâu thuẫn bên trong). Dân mà “có ý kiến khác” tức tách khỏi khối đúc ấy thì không phải là dân, Đảng coi là kẻ xấu hay là địch đấy!

- Nay trước tình trạng bị nước Cộng sản lớn xâm lược đang xuất hiện ngụy biện:

“Bây giờ phải tập trung chống xâm lược, cả nước phải một lòng, đứng dưới sự lãnh đạo mà chống giặc, trong nước mà còn đấu tranh với nhau là mắc mưu chia rẽ của phản động đấy!”

Lời hô hào nghe cảm động ghê, đoàn kết cả với kẻ nội xâm, nội gián sẵn sàng “mở cửa thành” cho giặc hả?

- Lập trường đúng đắn của Đảng ta là làm bạn với tất cả mọi người, không liên minh với nước này để chống lại nước kia! Nghe sao đạo đức quá, thế sao trước đây lại dựa hẳn vào Liên Xô – Trung Quốc để đánh “Mỹ-Ngụy”, sao bây giờ chỉ liên kết chiến lược toàn diện, thiết lập cả đường dây nóng với quân xâm lược, để đề phòng nhân dân ư?

Ngụy biện này là để giải thích vì sao Việt Nam không liên minh chiến lược với Hoa Kỳ, nhưng nội bộ Đảng giải thích với nhau nếu liên minh với Hoa Kỳ thì mất Đảng! Vẫn biết nếu liên minh với Hoa Kỳ thì sẽ không mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn là mất Đảng! Thế là rõ!

- Nhiều nhà nghiên cứu, bình luận cứ phát hiện “con đường cho Việt Nam”, “lối thoát cho Việt Nam”, “giải pháp tối ưu cho Việt Nam” mà không biết rằng bây giờ làm gì có “Việt Nam” như một khối thống nhất. Như ông Lê Hồng Hà nhận xét “Đảng bây giờ chỉ còn mỗi chức năng là cản trở sự phát triển của dân tộc”, vậy thì bài toán cho chính quyền Việt Nam và bài toán cho nhân dân Việt Nam là hai bài toán đáp số ngược nhau, đáp số tối ưu cho bên này sẽ là tai họa cho bên kia, làm gì còn khái niệm “Việt Nam” chung chung?

* Ngụy biện về cương và nhu

Bất đắc dĩ phải tuyên bố công khai mâu thuẫn với Trung Quốc (về lãnh hải thôi, còn những mâu thuẫn khác vẫn giấu biệt), nhưng không cho dân bộc lộ sự phẫn nộ, mà khuyên
“phải bình tĩnh, chuyện lâu dài không nóng vội, mâu thuẫn như anh em trong nhà, mình phải chung sống lâu dài với nước bạn, bát nước đổ đi khó bốc lại, ta cần mềm dẻo giữ hòa bình để phát triển kinh tế…”
Ai cũng biết cương quá hay nhu quá đều không tốt, nhưng lúc cần nhu lại cương, lúc cần cương lại nhu thì thật quái đản.

Có một danh ngôn “kẻ nào chấp nhận nhục nhã để tránh chiến tranh cuối cùng sẽ lãnh đủ cả hai thứ đó”. Có cứng rắn, không sợ chiến tranh mới tránh được chiến tranh. Chính sự hèn nhát là thủ phạm rước chiến tranh vào nhà! Còn tình nghĩa anh em ư, nó đập vào mặt, nó nhục mạ cả dân tộc, nó xâm lăng rành rành, nó tè vào cái bát nước hữu nghị, còn anh em nữa ư?

* Ngụy biện về lòng thương dân

Người ta đang giải thích phải chịu nhún nhường Tàu Cộng hết cỡ vì sợ đánh nhau thì nhân dân khổ! Chỉ thương dân thôi!

Ôi chao, cảm ơn! (Giá nói 50 năm trước đây thì hơn).

Sao một bảng thống kê về điều tra, chỉ xếp nhân dân Việt Nam thuộc loại hạnh phúc thứ nhì thế giới thôi nhỉ, chắc vì lúc ấy cơ quan điều tra chưa được “quán triệt” chủ trương rất cảm động này.

2-7-2014


Bài do tác giả gởi. DCVOnline minh hoạ.

[*] “Nhân vật Phan Châu Trinh và những bài học cho hôm nay/ Sàng lọc và kết hợp văn hóa Đông Tây”: http://www.hasiphu.com/baivietmoi_12.html

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Tình “hữu nghị viễn vông”, hay vẫn cung cúc phục vụ và hợp tác với tỉnh Quãng Đông trong mọi lãnh vực

Posted by hoangtran204 on 07/07/2014

TT Nguyễn Tấn Dũng nói: “Không thể đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viễn vông”…làm cho người đọc có cảm giác như ông Dũng là một người yêu nước, và sự kiện giàn khoan của TQ sẽ làm ông ta sẽ cắt đứt quan hệ với TQ, đưa TQ ra tòa án quốc tế để đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông.

Nhưng, thực tế các công văn dưới đây cho thấy: hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc vẫn quan hệ thắm thiết, hợp tác với nhau rất khắng khít. Cả hai đảng CS anh em vẫn coi như không có chuyện giàn khoan HD 981, không có vụ tranh chấp giành nhau quyền khai thác dầu khí ở Biển Đông…Điều đó có nghĩa là các lời tuyên bố của TT Nguyễn Tấn Dũng, của Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Chí Vịnh, Phạm Bình Minh…đều nhằm mục đích lừa gạt người dân VN, và rằng đảng CSVN và nhà nước đã có sự giàn xếp đàng sau lưng với TQ về chuyện giàn khoan HD 981 và về chuyện HS và TS. 

Đó là lý do tại sao tờ Tạp chí Đối Ngoại của Hoa Kỳ, Foreign Affairs, (số tháng 5 và 6, và số tháng 7 và 8) không có lấy mọt giòng về vụ tranh chấp ở Biển Đông. Dường như Mỹ đã biết rõ các bí mật về vụ giàn khoang HD-981, HS và TS giữa đảng CSVN và đảng CSTQ…nên các cây bút chính trị  không cần đề cập đến chuyện này?

 

 

“Hữu nghị viển vông” hay cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông ?

 

Diễn Đàn

Sau chuyến thăm của Bí thư Quảng Đông, đây là 16 công việc mà các Bộ và tỉnh thành Việt Nam “phải làm”, được ghi rõ trong công văn của Bộ ngoại giao VN gửi các Bộ và UBND tỉnh, thành phố.

28-06-2014

Chúng tôi vừa nhận được, từ ba bạn đọc ở Hà Nội và Sài Gòn, bản chụp công văn số 1832/BNG/ đề ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ ngoại giao, do thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ký tên, đóng dấu, liên quan đến “danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư tỉnh Quảng Đông Hồ Xuân Hoa“.

H6Công văn nay được gửi cho : một là, “Các Bộ Công Thương ; Kế hoạch và Đầu tư ; Giao thông Vận tải ; Giáo dục và Đào tạo ; Tài chính ; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ; Khoa học và Công nghệ ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch” ; hai là, “Ủy ban nhân dân các tỉnh / thành phố : Hà Nội ; Thành phố Hồ Chí Minh ; Quảng Ninh ; Hải Phòng ; Quảng Nam ; Đà Nẵng“.

Đính kèm công văn (1 trang) này là “Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 – 17/4/2014)

H7

Dưới đây là toàn văn bản công văn :

Ngày 20/5/2014, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao bản Danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 -17/4/2014).

Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông.

Bộ Ngoại giao xin trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý Cơ quan./.”

Kèm theo là danh mục (hai trang) 16 “công việc phải làm” (xem hình kèm theo)

H8

H9

Để có một ý niệm cụ thể về công văn ký tên Hồ Xuân Sơn nhằm thực hiện ý muốn của Hồ Xuân Hoa, bí thư (hay tổng đốc ?) Quảng Đông, chỉ cần chép lại nguyên văn hai “công việc phải làm” số 1 và số 2 :

“1. Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.

“2. Trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa hai Đảng Trung Việt, triển khai công tác đào tạo cho cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế hoạch trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam“.

Thiết tưởng mọi bình luận là quá thừa. Câu hỏi duy nhất đáng đặt ra : đây là công văn của “Bộ ngoại giao Việt Nam” hay là của Sở nội vụ tỉnh Quảng Đông ?

B.T.

—————

 

Coi như Không Có gì xảy ra ở Biển Đông,  đảng CS VN vẫn khắng khít hợp tác và nhờ đảng CSTQ đào tạo cán bộ!

Không Có Gì Xảy Ra 

Hai hôm nay, trên mạng lưu truyền bản chụp Công văn đề ngày 3-6-2014 của Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn; kèm theo công văn (gửi một số bộ và một số địa phương) là “Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 – 17/4/2014). 

Chỉ cần đọc phần 1 của “Danh mục” nhiều người cảm thấy shock:

“Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông”.

Trao đổi qua email, nhiều người cho rằng đây có thể là tài liệu ngụy tạo nhằm bẫy các bloggers hoặc để khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền. Nhưng, tìm hiểu kỹ thì đây không phải là đồ giả.

Tuy nhiên, do người cung cấp cắt khúc công văn nên người đọc không phân biệt được hai phần: phần nội dung gửi các bộ, địa phương của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn; phần “danh mục những việc phải làm” của Bí thư Quảng Đông.

Trong phần cuối công văn của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn có ghi: “Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông”. Tuy nhiên, phần “Danh mục” in riêng, đã không nói rõ là của Bí thư Quảng Đông triển khai cho các sở ngành trong tỉnh của ông ta, nên khi đọc riêng dễ có cảm giác như Bí thư một tỉnh của Trung Quốc đang ra lệnh cho các bộ và địa phương Việt nam”.

Cho dù có những hiểu lầm về mặt hình thức, Công văn ngày 3-6-2014 của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn cũng cho thấy “tình hữu nghị” giữa hai đảng là có thật. Theo “Danh mục” này, chỉ trong “Kế hoạch 05 năm”, Trung Quốc đã “đào tạo 300 cán bộ” cho Đảng Cộng sản Việt Nam (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam).

Và, ở thời điểm mà dân chúng đang tràn trề hy vọng “thoát Trung” thì ngày 20-5-2014, Tỉnh Quảng Đông gửi Bộ Ngoại giao VN “danh mục” hợp tác này như không có gì xảy ra. Ngày 3-6-2014, Bộ Ngoại giao VN cũng gửi công văn triển khai một “chương trình hợp tác” giữa đôi bên như không có gì xảy ra.
http://anhbasam.wordpress.com/2014/06/29/2397-huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong/#more-134208

 

 

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Kế hoạch xâm lấn Việt Nam theo kiểu “tằm ăn dâu” của Trung cộng và sự tiếp tay đồng lõa của CSVN

Posted by hoangtran204 on 06/07/2014

Kế hoạch xâm lấn Việt Nam theo kiểu “tằm ăn dâu” của Trung cộng

và sự tiếp tay đồng lõa của CSVN

 

HD981

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả: 

5-7-2014

Trước việc Trung Cộng ngang nhiên đặt giàn khoan dầu ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhiều người dân nhận thấy Trung Cộng đang dần dần xâm chiếm đất nước ta từng bước một. Sở dĩ Trung cộng làm được điều này là nhờ Đảng và nhà nước CSVN tiếp tay đồng loã.

Thời nay, Trung cộng không thể xâm chiếm đất nước ta bằng cách tràn quân qua biên giới để tiến sâu vào nội địa Việt Nam như thời nhà Nguyên, nhà Minh ngày xưa đã từng làm. Thế giới hiện nay được tổ chức lại một cách có quy củ và trật tự hơn, việc xâm lăng như thế sẽ bị thế giới kết án và sau đó là tẩy chay, chế tài. Vì thế, để thực hiện mộng bành trướng, Trung cộng xâm chiếm các nước nhỏ theo một hình thức mới, vừa an toàn, vừa hữu hiệu, lại vừa tránh được sự kết án của thế giới.

Đó là xâm chiếm một cách tiệm tiến theo kiểu “tằm ăn dâu”, hay theo kiểu “luộc ếch chậm”. Phương cách này lợi hại ở chỗ nó làm cho dân tộc bị xâm chiếm không cảm thấy nguy hiểm quá đột ngột khiến dân tộc ấy phải phản ứng chống lại ngay. Ngược lại, nó làm cho dân tộc ấy nếu không chống lại ngay được thì sẽ tự thích ứng tình trạng hiện tại, cứ thích ứng như thế cho tới khi “con tằm ăn hết lá dâu” hay “con ếch bị luộc chín trong nồi nước sôi” ([1]), hay tới khi Việt Nam chính thức trở thành một tỉnh của Trung cộng.

Muốn thực hiện thành công phương cách xâm chiếm này, Trung cộng rất cần sự tiếp tay đồng lõa của thế lực cầm quyền đang điều hành bộ máy nhà nước của dân tộc ấy. Thiếu sự tiếp tay đồng lõa này thì việc xâm chiếm không thể thực hiện được.

Để thực hiện việc xâm chiếm Việt Nam, Trung cộng đã phải chuẩn bị nhiều thập niên trước để có được một bộ máy nhà nước nội gián, làm công cụ, sẵn sàng tiếp tay đồng lõa với Trung cộng như nhà nước CSVN hiện nay. Và tới nay, họ đã thành công. Bằng chiến thuật đơn giản và cổ điển là “cây gậy và củ cà-rốt”, hay nói cụ thể hơn là “thưởng và phạt”, họ đã biến đảng CSVN thành một tập đoàn tay sai, giúp họ thực hiện mộng thôn tính toàn Việt Nam theo kế hoạch “tằm ăn dâu” như đã nói trên.

Đảng CSVN sở dĩ chấp nhận một việc ngu xuẩn và bán nước như vậy chính vì tham vọng muốn nắm quyền độc tôn trừng trị dân tộc Việt Nam, không chấp nhận nhường quyền cai trị cho bất cứ một đảng hay một thế lực nào khác cho dù có xứng đáng hơn mình gấp trăm lần hay có thể làm đất nước tiến bộ, giàu mạnh trên thế giới hơn mình. Nỗi sợ lớn nhất của đảng CSVN là bị mất quyền cai trị, nên với bất cứ giá nào, cho dù phải hy sinh cả dân tộc này, họ phải giữ cho bằng được “cái ghế quyền lực” mà họ đang ngồi trên đó. Trung cộng nắm được tham vọng cũng như nỗi sợ đó, nên tha hồ đe dọa lẫn dụ dỗ, mua chuộc cũng như lũng đoạn cả bộ máy cai trị của CSVN.

Kế hoạch xâm chiếm Việt Nam theo kiểu “tằm ăn dâu” này là gì? Để hiểu rõ kế hoạch này, chúng ta cần xét việc làm của hai phía: Trung cộng và CSVN.

1) Phía Trung cộng

Trung cộng chủ trương thực hiện việc xâm chiếm dần dần từng bước lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam theo đủ mọi cách, và dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi thì ký mật ước xác định lại các mốc ranh giới phía bắc Việt Nam khiến Việt Nam mất đi hàng ngàn cây số vuông dọc theo biên giới phía bắc. Khi thì ký Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ khiến Việt Nam mất đi hàng chục ngàn cây số vuông biển. Khi thì ký hợp đồng với CSVN để lập những khu công nghệ ngay trên lãnh thổ Việt Nam như khai thác bauxit ở Tây Nguyên (một vùng có tầm chiến lược hết sức quan trọng cho sự tồn vong của Việt Nam), thuê rừng đầu nguồn để khai thác một nguồn lợi nào đó. Khi thì chấp nhận cho dân của Trung cộng được tự do nhập cư vào Việt Nam không cần visa, từ đó phát sinh những China town, những trung tâm du lịch của Tầu ở rải rắc khắp nơi tại Việt Nam… Khi thì đòi CSVN phải chấp nhận cho những khu China town kia được tự trị. Khi thì dùng sức mạnh quân sự đánh chiếm một số hải đảo của Việt Nam như đảo Gạc Ma, đảo Len Đao, đảo Chữ Thập, v.v… Còn nhiều sự việc khác không tiện kể dài dòng ở đây.

Trung cộng thì cứ việc từ từ lấn tới, chiếm dần lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam cũng như dần dần điều khiển bộ máy lãnh đạo của đảng và nhà nước CSVN. Hiện nay tuy mới chỉ chiếm được một số lãnh thổ và lãnh hải, nhưng rõ ràng là Trung cộng đã nắm trong tay bộ Chính trị, Quốc hội CSVN nên Việt Nam cứ càng ngày càng bị mất đất mất biển dần dần vào tay Trung cộng.

2) Về phía Việt Nam

Công việc mà Trung cộng đòi buộc bọn tay sai CSVN phải làm được là làm sao giúp Trung cộng giữ được, bảo vệ được những thành quả đã đạt được, nghĩa là Trung cộng chiếm được bất kỳ phần đất hay phần biển nào của Việt Nam, thì CSVN phải làm sao tiếp tay để Trung cộng giữ được hay bảo vệ được nguyên trạng vừa mới thành hình.
Để thực hiện được nhiệm vụ này, trước hết CSVN phải che dấu để người dân không nhìn thấy được bản chất của mình là bán nước, là đang tiếp tay giúp Trung cộng xâm lược tổ quốc mình theo kiểu “tằm ăn dâu”. Kế đến, CSVN phải hoàn toàn kiểm soát được phản ứng của người dân trong nước đối với việc Trung cộng chiếm đất hay chiếm biển của Việt Nam, không được để dân chúng phản ứng quá mạnh.

● Để che dấu trước người dân bản chất bán nước và hành động tiếp tay giúp Trung cộng xâm lược, CSVN phải giả bộ phản đối Trung cộng mỗi khi Trung cộng chiếm được một phần đất hay phần biển, hoặc mỗi khi Trung cộng xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách nghiêm trọng như trường hợp cắt cáp tàu Bình Minh hay cắm dàn khoan khổng lồ HD-981 và giàn khoan NH-9 ngay trong thềm lục địa thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trung cộng cho phép CSVN được đóng kịch, nghĩa là được phép phản đối Trung cộng trong mức độ vừa phải, miễn sao không đến nỗi buộc Trung cộng phải rút lui hay lùi một bước so với những gì đã đạt được. Nếu không giả bộ phản đối trước những hành vi xâm phạm quá trắng trợn và nghiêm trọng của Trung cộng, thì người dân sẽ thấy quá rõ ràng và có thể xác định được chắc chắn bản chất đồng lõa tiếp tay của CSVN. Điều này khiến người dân quá phẫn nộ, có thể nổi dậy lật đổ đảng CSVN; điều này sẽ gây bất lợi cho cả Trung cộng (vì không còn tay sai để tiếp tay Trung cộng xâm lược Việt Nam nữa).

Thật vậy, có những lúc CSVN mua vũ khí, tàu ngầm, máy bay như thể đang chuẩn bị chống lại Trung cộng, hay tổ chức những buổi hội thảo về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng-Trường Sa, hay có lúc CSVN phản đối Trung cộng khá mạnh mẽ đến nỗi nhiều người dân “mừng húm”, những tưởng CSVN đã thay đổi, đã từ bỏ hẳn lập trường thân Trung cộng mà trở thành chống đối. Nhưng sau đó thì dường như tình hình chẳng có chuyện gì thay đổi cả. Tất cả chỉ là đóng kịch để lòe bịp dân chúng, để dân chúng nghĩ rằng CSVN cũng chống lại Trung cộng, chứ đâu có tiếp tay cho giặc.

● Để hoàn toàn kiểm soát được phản ứng của người dân trong nước đối với việc Trung cộng chiếm đất hay chiếm biển của Việt Nam, CSVN đành phải chấp nhận cho người dân biểu tình phản đối Trung cộng trong mức độ mà họ có thể kiểm soát được. Sự cho phép này có thể đánh lừa người dân thơ ngây cho rằng CSVN cũng thực tình muốn chống Trung cộng. Tuy nhiên, nếu cuộc biểu tình có nguy cơ lớn mạnh hơn, vuột khỏi mức độ kiểm soát được của CSVN, hoặc biến thành biểu tình chống lại chế độ, thì họ sẵn sàng thẳng tay đàn áp không nhân nhượng.

Nếu hiểu được phương pháp xâm chiếm Việt Nam của Trung cộng được sự tiếp tục đồng lõa của CSVN thì chúng ta sẽ không bị CSVN lừa dối. Chúng ta sẽ không “mừng húm” khi thấy CSVN đóng kịch giả phản đối Trung cộng cách mạnh mẽ, giả bộ bắt tay với Hoa Kỳ để nhờ Hoa Kỳ chống lại Trung cộng, giả bộ lên tiếng sẽ kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế, v.v… Chắc chắn còn nhiều trò giả bộ, đóng kịch khác…

CSVN nhiều lần cho vài ba chiếc tàu hải giám bằng gỗ hay bằng sắt nhỏ gấp nhiều lần tàu của Trung cộng ra vùng giàn khoan HD-981 để mang danh giám sát việc làm của Trung cộng. Thế rồi cả hàng chục chiếc tàu sắt lớn của Trung cộng ra xông ra nghênh chiến, phun vòi rồng và đâm vào tàu Việt Nam khiến tàu Việt Nam bị hư hại nặng nề, thậm chí phía Việt Nam có người bị thiệt mạng hoặc bị trọng thương. Chắc chắn đây chỉ là trò đóng kịch lố lăng của CSVN, vừa tốn tiền thuế của dân (do những chiếc tàu Việt Nam bị hư hại), vừa hy sinh nhân mạng người Việt cách phí phạm. CSVN làm như thế chỉ là để cho người dân thấy rằng CSVN cũng tìm cách… giám sát, phản đối, đối phó Trung cộng chứ đâu phải không làm gì.

Nhưng việc cần làm hơn và ích lợi hơn gấp bội là chính Quốc hội CSVN, trên danh nghĩa là cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam, phải ra một nghị quyết phản đối Trung cộng, thì CSVN lại không chịu làm. Điều này chứng tỏ Quốc hội CSVN hoàn toàn vô trách nhiệm trước nguy cơ mất nước của cả dân tộc. Nếu Quốc hội không làm thì Chủ tịch nước hay Bí thư đảng phải lên tiếng phản đối chính thức bằng văn bản. Hay việc cần làm gấp là kiện cáo Trung cộng về vụ Hoàng Sa và Trường Sa ra trước tòa án Quốc tế, vì mình đã đầy đủ bằng chứng thuyết phục để có thể thắng kiện. Những việc hết sức cần thiết phải làm, tại sao đến giờ này CSVN vẫn chưa chịu làm?

Việc thật sự cần làm thì không làm, khiến cho những việc không cần làm kia chỉ lộ ra tính “đóng kịch” của chúng mà thôi.

Sau khi Trung cộng cắm giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam, với sự phản đối chiếu lệ và đóng kịch của CSVN, thì Trung cộng chẳng những không dời HD-981 đi mà còn tiến hành bước kế tiếp là đưa thêm giàn khoan NH-9 vào nữa. Nếu CSVN cứ tiếp tục phản đối cách yếu sìu như thế thì Trung cộng sẽ còn tiếp tục cắm nhiều giàn khoan khác nữa, sẽ còn nhiều màn lấn tới nữa… Cuối cùng Việt Nam sẽ ra sao?

Điều quan trọng là người Việt trong và ngoài nước nhận thức được ác tâm của Trung cộng quyết xâm lấn Việt Nam theo kiểu “tằm ăn dâu” và dã tâm của CSVN muốn tiếp tay giúp Trung cộng thực hiện việc xâm lấn ấy bằng cách phản đối một cách chiếu lệ, hầu tạo điều kiện thuận lợi cho Trung cộng tiến hành bước xâm lấn kế tiếp.

Nhận thức được như thế, chẳng lẽ chúng ta lại chấp nhận thích ứng với tình trạng hiện tại như kiểu con ếch trong thí nghiệm “luộc ếch chậm”, nó sẵn sàng thích ứng với nước đang nóng lên rất từ từ, cho tới khi không chịu được mới quyết định nhảy ra, thì lúc ấy… đã quá muộn! Năng lực cần thiết để có thể nhảy ra thì đã tiêu thụ hết trong việc thích ứng với nhiệt độ nóng dần rồi, nên cuối cùng đành chấp nhận bị luộc chín! Không hành động kịp thời, e rằng khi thấy mất nước tới nơi mới hành động thì… đã quá muộn!!!

Houston, ngày 30-6-2014

© Nguyễn Chính Kết

© Đàn Chim Việt

________________________________________
[1] Trong một trang facebook nọ có kể về một thí nghiệm thật ý nghĩa và thích hợp để minh họa cho kế hoạch tiệm tiến của Trung cộng trong việc xâm chiếm Việt Nam.

Khởi đầu, người ta bỏ một con ếch vào một nồi nước nóng khoảng 70 độ C. Con ếch lập tức nhẩy phóng ra ngoài liền, nhờ phóng ra mà nó tiếp tục sống. Sau đó, người ta bỏ con ếch đó vào một nồi nước lạnh, con ếch thấy không có gì nguy hiểm nên ngồi yên trong đó. Người ta bắt đầu đun từ từ cho nước nóng lên thật chậm. Khả năng thích nghi với môi trường của loài ếch rất cao, nên khi nước nóng lên từ từ nó vận dụng khả năng thích ứng đó và cảm không thấy có gì nguy hiểm đến nỗi phải nhẩy ra khỏi nồi nước cả. Đến khi nước nóng tới độ không chịu được nữa nó mới quyết định nhảy ra. Nhưng lúc này nó nhảy ra không nổi vì năng lực của nó đã cạn kiệt do tiêu hao quá nhiều vào việc thích ứng với nhiệt độ tăng dần của môi trường. Chú ếch đành ở lại trong nồi để rồi cuối cùng bị luộc chín.

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.