Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa’ Category

►Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa (2007)

Posted by hoangtran204 on 12/11/2014

 

Những động thái mới của Trung Quốc về vấn đề biển nam Trung Hoa

南シナ海問題における中国の新動向

Lời giới thiệu

Dưới đây là bài viết của chuyên gia quốc phòng NB vào tháng 9/2007. Từ đó đến nay động thái về quân sự trên biển Đông đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc phô trương sức mạnh của Hải quân TQ và các lực lượng tuần tra của cảnh sát biển , tuần ngư, đã mở ra các chiến dịch bắt giữ ngư dân VN đánh cá một cách thô bạo xảy ra liên tục để chứng minh chủ quyền của mình trên biển Đông trong giữa năm 2008 đến nay cho thây tác giả đã quá chủ quan và lạc quan trong nhận định về những ý đồ của TQ trong vấn đề biển “Nam Trung Hoa”. Tuy nhiên bài viết cho thấy mối tương quan giữa ASEAN-TQ và các nước lớn chung quanh như Mỹ và Nhật Bản, trong đó hé lộ những ý tưởng gắn bó chiến lược giữa  NB và các nước ASEAN để đối phó với âm mưu bành trướng của TQ trên vùng biển nầy. Đó là phát hiện lý thú mà nhóm Chuyển ngữ Bauvinal muốn giới thiệu với bạn đọc gần xa.

Lê Hoàng

飯田 将史

IIda Masafumi

Lê Hoàng chuyển ngữ

Kỷ Yếu Nghiên Cứu Quốc Phòng, số 1 tập 10 (tháng 9/2007)

Tóm tắt

Cho đến giữa thập kỷ 1990, TQ mang ý đồ mở rộng sự thống trị bằng sức mạnh trên vùng biển Nam Trung Hoa, gây ra một mối đe dọa mới của TQ đối với Đông Nam Á. Nhưng kể từ sau hậu bán thập kỷ 90, TQ đã có thái độ hợp tác với các nước ASEAN về vấn đề nầy. Thí dụ, đối với VN là nước đối nghịch lớn nhất, TQ đã xúc tiến đường lối đối thoại để phân định đường biên giới của khu vực đặc quyền kinh tế EEZ lãnh hải trên vịnh Bắc Bộ cũng như trên đất liền. Trong vấn đề biển đông, TQ tỏ tư thế sẵn sàng giải quyết thông qua thương thảo như đã thấy qua việc thực hiện thăm dò tài nguyên tay ba với VN và Philippines. Bối cảnh của sự thay đổi nói trên phát xuất từ yêu cầu bảo đảm sự ổn định của khu vực chung quanh—là nhân tố không thể thiếu—đối với sự phát triển kinh tế của TQ, cần thiết phải ngăn ngừa sự tăng cường quan hệ giữa Đài Loan và các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển đông, và sự can thiệp của các nước lớn nằm ngoài vòng tranh chấp  như Nhật bản hay Mỹ hoặc không để mối liên kết giữa các nước nầy với ASEAN ngày càng gắn bó hơn.

Mở đầu

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông mà chủ yếu là quần đảo Trường Sa (Nam Sa quần đảo) vốn là điểm đối đầu nghiêm trọng và ngấm ngầm từ xưa đến nay giữa TQ và các nước ASEAN và cũng là vấn đề bảo đảm an ninh cho eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên ở vùng Đông Bắc Á. Năm 1974, TQ đã dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa (Paracel) thuộc chủ quyền của Nam Việt Nam, năm 1988 giao chiến với hải quân VN, giết hại 80 binh sĩ để chiếm đóng rặng San hô Johnson thuộc quần đảo Trường Sa. Vào thập kỷ 90, TQ gia tăng việc chiếm giữ các đảo ở quần đảo Trường Sa, năm 1992 lập ra “Luật lãnh hải”, sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ chủ quyền các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa, năm 1995 tiến chiếm rặng đá ngầm Mischief(Mỹ tế) thuộc chủ quyền của Philippines.

Tuy nhiên kể từ hậu bán thập kỷ 90, thái độ đối phó của TQ về vấn đề nầy đã  thay đối rõ rệt. Nghĩa là từ thái độ cứng rắn không từ nan việc sử dụng vũ lực chuyển sang tư thế hợp tác đối thoại với các nước liên quan để làm lắng dịu vấn đè tranh chấp. TQ đã đồng ý việc thương thảo đa phương như yêu cầu của các nước ASEAN, và đồng ý ký vào “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan về vấn đề biển Nam Trung Hoa” vào năm 2002 (Qui tắc ứng xử trên biển đông—ND chú). Vào năm 2005 đã cùng với VN và Philippines bắt đầu điều tra về tài nguyên dưới đáy biển Đông. Với những hợp tác về vấn đề biển Nam Trung Hoa như trên, mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ASEAN dần được giảm bớt. Đến năm 2003 TQ và ASEAN đã kí kết hiệp ước xây dựng quan hệ đối tác chiến lược.

Sự thay đổi về cách đối phó của TQ đối với vấn đề biển Đông đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối với TQ của các nước ASEAN cũng như tình hình trên biển Đông vốn là đường thông thương quan trọng và là nhân tố không thể không xét đến khi nghiên cứu về chính sách an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản. Bài viết nầy một mặt xác nhận lập trường cơ bản của TQ đối với vấn đề biển Đông, rà soát lại những phương thức đối phó của TQ trong thương thảo đối với VN là nước đối đầu mạnh mẽ nhất trong vấn đề nầy (1). Cuối cùng là phân tích những nhân tố gây nên.

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ (1838) bởi Linh Mục J.L.Taberd

TABULA GEOGRAPHICA EMPERII ANAMITICI (1838)

Trong họa đồ này, ngay điểm của quần đảo Hoàng Sa), linh mục Taberd có ghi chú: Đảo Cát Vàng. Linh mục là người đã viết trong cuốn sách “Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions, Moeurs et Coutumes (1833)” là người Việt Nam gọi đảo Paracel là Cát Vàng (Hoàng Sa).

1. Căn cứ của chủ quyền lãnh hải(*phụ chú)

TQ cho rằng tất cả các quần đảo trên biển Đông như quần đảo Trường Sa (Pratlys—Nam Sa), Hoàng Sa (Paracel—Tây sa), Quần đảo san hô Maccle field(Trung Sa), Platas(Đông Sa) và cả các vùng đặc quyền kinh tế chung quanh đều thuộc lãnh hải của TQ. Về quần đảo TS là nơi xảy ra nhiều tranh chấp về chủ quyền với các nước ASEAN, TQ đã đưa ra 3 căn cứ như dưới đây khi chủ trương nó là của họ (2):

Một là, rằng TQ là nước phát hiện quần đảo Trường Sa sớm nhất. Theo chính phủ TQ, người TQ phát hiện quần đảo TS từ thời Hán, hơn 2000 năm trước. Thời Đông Hán(25-220 năm) Dương Phu đã ghi lại trong “Dị Vật Chí”『異物誌』”biển ở Kỳ Đầu Trương Hải cạn và có nhiều đá ngầm”. “Trương Hải”「張海」là tên gọi biển Nam Trung Hoa của người TQ thời bấy giờ, “Kỳ đầu”「崎頭」là các quần đảo ở biển Đông gồm cả HS và TS,và các rặng đá san hô, bãi cát, đá ngầm…Thời Đường (năm 618-907) hay Đời Tống (960-1279) các thư tịch về địa lí gọi TS và HS là “Cửu Nhủ Lỗ Châu”「九乳螺洲」, Thạch Đường「石塘」, “Trường Sa 「長沙」 、”Thiên lý Thạch Đường” 「千里石塘」 、”Thiên lý Trường Sa”「千里長沙」 、”Vạn lý Thạch Đường 「万里石塘」 、”Vạn Lý Trường sa” 「万里長沙」…

Trong bản đồ trong tập “Bản đồ họa quốc gia-thủ đô các triều đại của “Hỗn Nhất Cương Lịch Đại Quốc Đô Chi Đồ”『混一疆理歴代国都之図』 xuất bản vào thời Minh (1368-1644) có ghi “Thạch Đường”「石塘」 và “Trường Sa” 「長沙」, nhìn vào vị trí của bản đồ nầy thì “Thạch Đường” là đúng ở vị trí của Trường Sa ngày nay. Trong tập “Canh Lộ Mộ”『更路簿』 vào đời nhà Thanh (1636-1911), ngư dân có ghi lại tên gọi và vị trí của các đảo, đá san hô, bãi cát, Than, Châu, trong đó tên gọi số 83 là quần đảo TS(Pratlys).

Hai là, TQ là nước khai thác và kinh doanh đầu tiên quần đảo TS. Lịch sử của những hoạt động của người Hoa ở những quần đảo trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 1000 năm. Trong “Quãng Châu Ký”『広州記』 thời Phổ Đại (năm 265-420) ghi “Huyện San Hô Châu(Đông Viễn) cách 500 lý về phía Nam, người xưa đã bắt cá, san hô”. Trong hiện vật chôn cất tìm thấy ở quần đảo trên biển Đông có cả đồ gốm thời Nam Triều (năm 420-589). Dù muộn đi nữa thì những ngư dân đời nhà Minh đã đến quần đảo TS để đánh bắt hải sản. Trong cuốn “TQ Hải chỉ nam” xuất bản năm 1866 ghi rõ hàng năm vào tháng 12 hoặc tháng giêng, có khoảng 200 tàu đánh cá rời cảng Hải Nam  ra TS để mua hải sản với các ngư dân bản địa và xuôi gió mùa Tây Nam để trở về quê hương.

Ba là, TQ cho rằng họ là người hành xử quyền cai quản sớm nhất đối với quần đảo TS. Theo chủ trương nầy, TQ đã xác định khu hành chính của quần đảo trên biển Nam Trung Hoa từ đời nhà Đường, đặt các quần đảo nầy dưới quyền cai quản dưới chính phủ TQ. Trong “Nguyên Sử” và bản đồ trong “Nguyên Đại Cương Vực Đồ Tự[元代疆域図叙』 thì quần đảo TS thuộc lãnh thổ của nhà Nguyên và có ghi lại việc hải quân của nhà Nguyên đã ra tuần tra quần đảo TS. Trong nhiều bản đồ thời nhà Thanh, vẽ quần đảo TS là một phần nằm trong bản đồ của TQ.

Vào năm 1932 và 1935, Bộ tham mưu, Bộ Ngoại giao, Bộ Hải quân, Bộ Giáo dục và Ủy ban Mông-Tạng của Trung Hoa Dân Quốc xác định 132 tên gọi của các đảo ở biển Nam TH, những đảo nầy được đặt trong quản lý chung của các quần đảo TS, HS, Maccles field bank(Trung Sa), Pratas(Đông Sa) và theo TQ thì quần đảo TS là quần đảo bị NB chiếm đóng đã được trao trả. Trong thế chiến thứ hai, NB đã chiếm đóng quần đảo TS và đã đặt dưới sự cai quản của Đài Loan.  “Tuyên bố Cairo” giữa ba nước Mỹ-Anh-Nga Xô viết  vào năm 1943 qui định “phải trao trả cho TQ (Trung Hoa Dân Quốc) tất cả những khu vực mà NB đã cướp đoạt của nhà Thanh như đảo Bành Hồ, Đài Loan, Mãn Châu” một trong những mục đích chiếm đoạt của cuộc chiến, và“Tuyên bố Postdam” năm 1945 cũng đã xác nhận tương tự. Sau khi NB thua trận, TQ chủ trương rằng Đảo Đài Loan bao gồm cả vùng quản lý trước đây là quần đảo TS đã được trao trả về TQ, vì vậy từ đó chủ quyền của TQ về quần đảo TS nầy đã được khôi phục(3).

2. Mở rộng chiếm đóng bằng vũ lực

Nước CHNDTH cho rằng quyền cai quản quần đảo TS đã được trao trả cho TQ sau khi NB bại trận nhưng trên thực tế quân đội của Trung Hoa Dân Quốc(THDQ) là người đã đứng ra tiếp thu những hòn đảo nầy. Đảo Ba Bình (Itu Aba) là đảo lớn nhất trong quần đảo TS đã được hải quân THDQ tiếp quản từ quân đội NB, và Đài Loan vẫn  cai quản từ đó cho đến ngày nay(4). Sau khi tuyên bố độc lập, TQ không đủ lực lượng hải quân, chẳng có thể tiếp thu các quần đảo trên biển Nam TH. Muốn tiến ra các quần đảo trên biển Nam TH, TQ phải chờ cho đến khi  có một lực lượng hải quân đủ mạnh mới có thể thực hiện được.

TQ bắt đầu tiến quân ra biển Nam TH từ năm 1974 khi tiến hành chiếm đóng quần đảo HS. Sau khi quân Pháp rút lui vào giữa thập kỷ 1950, Nam Việt Nam chủ trương quần đảo HS và TS là của mình và đã chiếm đóng một phần quần đảo TS và một phần phía Tây quần đảo HS, còn TQ chỉ chiếm giữ phía Đông quần đảo HS. Tình huống nầy kéo dài gần 20 năm nhưng đến tháng 1/1974 thì Hải quân TQ đã tấn công vào quân Nam VN và chiếm đóng toàn bộ quần đảo HS (5).

Vào thời kì nầy sự thất trận của Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng, quân Nam VN trên quần đảo HS không đủ sức chống trả lại cuộc tấn công của quân đội TQ, hơn nữa là quân đội Mỹ cũng đã thu hẹp việc chi viện cho quân dội Nam VN vì vậy cho dù TQ có tấn công vào quần đảo HS thì khả năng can thiệp của nước Mỹ hầu như không  thể. Mặt khác TQ đang chi viện cho miền Bắc VN vì vậy miền Bắc cũng không thể phản đối việc quân đội TQ chiếm giữ quần đảo HS. Với bối cảnh quốc tế thuận lợi nói trên , TQ đã ra tay cưỡng đoạt quần đảo HS bẵng quân sự một cách dễ dàng.

Với chiến thắng (cuộc chiến chống Mỹ–ND chú) cuộc nội chiến, chính quyền Hà Nội ra tuyên bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo HS-TS, phê phán việc TQ chiếm giữ HS, đặt quần đảo TS của chính quyền Sài gòn cũ dưới quyền kiểm soát của mình. Quan hệ giữa VN-TQ trở nên căng thẳng, chiến tranh Trung-Việt bùng nổ vì vấn đề Cămpuchia. Trong khi quan hệ hai nước dang căng thẳng, vào tháng 3/1988 một lần nữa TQ sử dụng sức mạnh quân sự tiến chiếm một số đảo VN đang trú đóng ở quần đảo TS. Quân VN đã đụng độ với quân TQ ở dãy san hô Johnson thuộc quần đảo TS mà VN đang chiếm giữ, khoảng 80 người bị phía TQ sát hại và bị thương. Với chiến thắng ở dãy san hô Johnson, TQ đã tiến chiếm thêm một số hòn đảo thuộc quần đảo TS. Đây cũng là thời điểm chính quyền Gorbachov ở LX đang xúc tiến chính sách hòa hoãn Đông-Tây theo thuyết ngoại giao mới, tích cực cải thiện quan hệ Xô-Trung. Mặt khác, LX cũng đã giảm bớt sự giúp đỡ cho VN dù vẫn giữ quân hệ đồng minh nhưng không có khả năng tích cực can thiệp vào sự xung đột Trung-Việt chung quanh vấn đề quần đảo TS. Có thể nói rằng TQ đã không có lý do gì để chần chừ trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để tái chiếm các đảo nầy.

Bước vào thập ký 1990, TQ đã mở rộng việc lấn chiếm các đảo thuộc quần đảo TS. Ngày 25/2/1992 Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc TQ(quốc hội TQ—ND chú) quyết định “Luật lãnh hải và khu vực tiếp giáp”(gọi tắt là Luật lãnh hải), được ban bố rộng rãi theo chỉ thị của Chủ tịch Nước Dương Thượng Côn. Luật  lãnh hải nầy ghi rõ quần đảo TS là thuộc lãnh thổ của TQ, và rằng để ngăn ngừa tàu bè nước ngoài đi lại gây hại cho lãnh hải, “nước CHNDTH có quyền thực thi mọi biện pháp cần thiết”. Ra Qui định việc “truy đuổi khẩn cấp” những tàu bè nước ngoài vi phạm luật pháp của TQ, trong đó ghi rõ là TQ sẽ sẵn sàng sử dụng cả Tàu chiến lẫn máy bay để đối phó.(6)

Những qui định của Luật lãnh hải của TQ đã gây nên một sự lo lắng cho các nước ASEAN gồm các nước có yêu cầu về chủ quyền trên quần đảo TS. Việc tiến chiếm ở quần đảo trên biển Đông không chỉ nhắm vào VN mà còn có khả năng năng đối phó cả với các nước ASEAN.  Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 ở Manila vào tháng 7/1992 đã ra tuyên bố ASEAN về vấn đề biển Nam TH ” nhấn mạnh đến việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông theo phương pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, yêu cấu các nước liên quan tự kiềm chế và đề xuất việc cần xây dựng qui ước cho hành động quốc tế trên biển Đông (7).

Tiếp theo những qui định  vế luật lãnh hải của TQ, tháng 5 năm ấy VN đã kí hợp đồng cung cấp quyền thăm dò cho một công ty khai thác dầu mỏ của Mỹ trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình và cam kết sẽ bảo vệ những hoạt động của công ty nầy. Tháng 7 VN đã cho quân đổ bộ lên đảo Gaven(8).

Mối lo ngại của các nước ASEAN về việc TQ mở rộng tiến quân vào biển Đông đã trở thành hiện thực vào năm 1995. TQ đã xây dựng cơ sở kiên cố trên dãy Mischief thuộc chủ quyền của Philippines. Ngày 8/2/1995 Tổng thống Ramos họp báo xác nhận TQ  đã xây dựng nhiều dãy nhà kiên cố trên dãy Mischief và nhiều tàu chiến của TQ trú đóng chung quanh. Chính phủ Philippines đã phản đối thông qua đại sứ quán của TQ nhưng chính phủ cho rằng đó chỉ là những cơ sở tránh bão do ngư dân xây dựng theo chủ trương của chính quyền địa phương, bác bỏ kháng nghị của phía Philippines. Nhằm đối phó với những hành động nêu trên của TQ, hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN đã nhóm họp tại Singapore ra “tuyên bố ngoại trưởng về tình hình gần đây ở biển Nam Trung Hoa”. Trong tuyên bố nầy, các ngoại trưởng ASEAN đã bày tỏ mối “lo ngại sâu sắc” trước một loạt tình huống  gây ảnh hưởng hòa bình và an ninh trên biển Nam TH, yêu cầu nhanh chóng giải quyết vấn đề gần đây ”(9). Nhưng phía TQ không rút quân ra khỏi Mischief, cho quân đội đồn trú thường xuyên và tiếp tục chiếm cứ.

3. Đề xuất “Gác tranh cãi, cùng khai thác chung”

Kể từ thập niên 1970, TQ đã dùng sức mạnh quân sự, sử dụng như một thủ doạn để uy hiếp, để ngày càng mở rộng chi phối trên biển Đông, mặt khác đưa ra phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” như một chính sách chính thức. Theo giải thích của phía TQ chính sách “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là phương châm để giải quyết vấn đề chủ quyền trên đảo Senkaku với Nhật Bản và đó là đề xuất của Đặng Tiểu Bình (10)

Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sang thăm Nhật Bản vào tháng 10/1978, trong buổi hội đàm với Thủ tướng Fukuda Takeo, Ông nói rằng không cần phải gấp vội giải quyết vấn đề chủ quyền các đảo Senkaku, giao cho các thế hệ tương lai tìm ra được phương cách giải quyết. Tháng 5 năm sau (1979 Đặng Tiểu Bình lại phát biểu trong lần Nghị sĩ Suzuki Zenko sang thăm TQ rằng có thể tính đến việc  khai thác  chung nguồn tài nguyên chung quanh quần đảo Senkaku, không đụng đến vấn đề chủ quyền. Tháng 6 năm 1980, TQ chính thức đưa ra đề nghị cùng khai thác tài nguyên ở chung quanh quần dảo Senkaku thông qua con đường ngoại giao. Đây là lần đầu tiên TQ công bố lập trường muốn giải quyết việc tranh chấp lãnh thổ và quyền lợi trên biển với các nước chung quanh theo mô hình “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”.

Năm 1986, TQ nói rằng cũng có thể áp dụng phương thức “Gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” trong vấn đề tranh chấp lãnh hãi ở biển Nam Trung Hoa. Phó tổng thống Raul của Philippines hội đàm với Đặng Tiểu Bình khi sang thăm TQ vào tháng 6/1986, ĐTB nói “Chúng ta phải gác lại vấn đề Nam Sa, không thể để cho vấn đề nầy cản trở quan hệ hữu nghị giữa TQ với Philippines hay các nước khác”, nhấn mạnh đến việc cần phải gác lại vấn đề chủ quyền. Tháng 4/1988 ĐTB còn nói với Tổng thống Akino lúc bà sang thăm TQ rằng “Khi nghĩ đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước, chúng tôi thấy cần phải gác lại một thời gian vấn đề nầy để tìm con đường cùng khai thác”, chính thức đề nghị “gác lại những điểm khác nhau, cùng nhau khai thác”. Tuy nhiên cùng lúc ĐTB vẫn không quên nhấn mạnh chủ quyền của TQ đối với quần đảo TS.

Theo Bộ Ngoại Giao TQ, nội dung của chủ trương “gác lại tranh cãi, cung nhau khai thác” gồm 4 điểm như sau:

(1)Chủ quyền lãnh thổ của các khu vực liên quan là thuộc về TQ

(2)Khi chưa có đủ điều kiện để giải quyết toàn diện vấn đề tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ, thì tạm ngưng tranh luận, gác lại vấn đề nhưng điều nầy không có nghĩa là TQ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ.

(3)Có thể khai thác chung ở vùng có tranh chấp về chủ quyền.

(4)Mục đích của việc khai thác chung là nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua hợp tác, tạo điều kiện để giải quyết rốt ráo vấn về chủ quyền lãnh thổ.

Giải thích nầy cho thấy tiền đề lớn của phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” là thừa nhận  TQ vẫn có chủ quyền ở những quần đảo đang  tranh chấp. Nếu hiểu đúng thì phương châm “gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” của TQ có nghĩa là  “chủ quyền là thuộc về TQ, không tranh cãi, cùng nhau khai thác”(Chủ quyền thuộc ngã, cách trí tranh luận, cộng đồng khai thác 主権属我、擱置争議、共同開発)(11)

Có thể nói, như vậy mục tiêu cuối cùng của “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”nhằm tạo điều kiện để buộc các nước phải chấp nhận chủ quyền ở những đảo đang tranh chấp thông qua việc thực hiện “cùng nhau khai thác”. Chúng tôi không cho rằng mối quan tâm của TQ về thực chất là đặt nặng đến những lợi ích thực tế trong việc khai thác chung .

4.Thương thảo song phương Việt-Trung

Quan hệ Trung-Việt được bình thường hóa vào tháng 1/1991 mặc dù vào thời điểm nầy ngoài việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, còn tồn tại những mâu thuẩn về đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ và trên đất liền. Trong bản thông cáo chung liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước, bày tỏ ”Hai bên đông ý tiếp tục những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định khu vực biên giới giữa hai nước, khôi phục sự qua lại hữu nghị truyền thống của nhân dân quanh vùng biên giới, thúc đẩy làm phát triển hơn nữa biến biên giới  Trung-Việt thành biên giới hòa bình và hữu nghị” đồng thời nhất trí rằng “ về vấn đề lãnh thổ tồn tại giữa hai nước, hai bên sẽ thông qua đàm phán để giải quyết một cách hòa bình”(12)

Trong bản tuyên bố chung không hề đề cập đến vấn đề cụ thể như vấn đề chủ quyền Quần đảo TS hay đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, có thể cho rằng hai nước Trung-Việt đã không đạt đến một sự thỏa thuận nào cụ thể về vấn đề chủ quyền lãnh thổ-lãnh hải. Có thể nói điểm đột phá trong quan hệ Trung-Việt là chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999. TBT Giang Trạch Dân lúc hội đàm với TBT Lê Khả Phiêu sang thăm “hữu nghị chính thức” đã đánh giá cao ” Việc giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và quân sự đã phát triển không ngừng và ngày càng được củng cố”,  nói rằng ”TQ muốn xây dựng một quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài hướng tới tương lai”(16 chữ vàng—ND chú)

Về động thái mới của TQ trong vấn đề biển Nam TH, và những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước “Việc giải quyết nhanh chóng vấn đề lãnh thổ và biên giới giữa hai nước là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước. Sự phát triển sâu đậm của quan hệ hợp tác toàn diện láng giềng hữu nghị Trung-Việt và nhận thức chung của lãnh đạo hai nước sẽ tạo điều kiện tốt đẹp để hai nước giải quyết các vấn đề lịch sử  để lại. Nếu hai bên  xuất phát từ đại cuộc  theo quan điểm  chiến lược và hữu nghị để tăng tốc quá trình đàm phán trên tinh thần “hiệp thương hữu nghị, công bằng hợp lý, nhường nhịn lẫn nhau” thì có thể tin tưởng rằng chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử to lớn và vinh quang”. TBT Lê Khả Phiêu đã đáp lại rằng hai nước sẽ xây dựng  một đường biên giới hòa bình, hữu nghị ổn định, giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước một cách nhanh chóng với sự nổ lực chung và trách nhiệm cao” (13).

Bàn thông cáo chung Trung-Việt được công bố sau cuộc hội đàm đánh giá chuyến đi thăm TQ của TBT Lê Khả Phiêu đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước và hai Đảng trong thế kỷ 21, tích cực đem lại hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực” và ghi rõ hai bên đã “nhất trí xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng hữu nghị lâu dài và ổn định hướng đến tương lai trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo hai Đảng và hai nước Trung –Việt”. Hơn thế nữa hai nước còn xác nhận việc giải quyết một cách hòa bình vấn đề biên giới, cho biết “sẽ kí kết hiệp ước về biên giới trên đất liền trong năm 1999 và trong năm 2000 sẽ giải quyết đường phân giới trên vịnh Bắc Bộ thể hiện quyết tâm xây dựng đường biên giới giữa hai nước thành đường biên giới hòa bình ổn định và phát triển  ”

Với sự thỏa thuận nầy của lãnh đạo hai nước, tháng 12/1999 TQ và VN đã lần lượt kí kết “Hiệp ước cắm mốc biên giới trên đất liền”, tháng 12/2000 “Hiệp định về đường phân chia ở thềm lục địa, vùng biển đặc quyền kinh tế và lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ”. Như vậy các vấn đề cơ bản được gác lại lúc bình thường hóa quan hệ thì hai vấn đề liên quan đến chủ quyền đã được giải quyết, riêng tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông thì chưa đạt được thỏa thuận, vẫn đang được hai nước thương thảo. Dù vậy có thể nói quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Sự hợp tác trên vịnh Bắc Bộ là một thí dụ cụ thể.

Các quần đảo trên biển Đông

Hơn thế nữa, để tránh việc tàu đánh cá nhỏ vượt đường biên, đụng độ gây xung đột, hai bên còn lập ra “khu vực tranh xung đột tàu thuyền nhỏ” không dùng vũ lực bắt giam, xử phạt các tàu đánh cá cở nhỏ vi phạm. Từ tháng 1/2006 hai bên tiến hành điều tra chung về nguồn tài nguyên ngư nghiệp ngoại vi trên vịnh Bắc Bộ.

Vịnh Bắc bộ là vùng rất giàu tài nguyên ngư nghiệp, những cuộc đụng độ trên ngư trường nầy giữa ngư dân hai nước không lúc nào ngưng. Trong cuộc đàm phán về hiệp định phân chia ranh giới ở Vịnh Bắc Bộ, từ quan điểm bảo vệ lợi ích thiết thực cho ngư dân nước mình, phía TQ đòi hỏi phía VN phải cùng lúc kí kết hiệp định hợp tác về nghề cá và cuối cùng hai bên đã đạt đến việc kí kết hai hiệp ước xác định đường phân chia ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác về nghề cá cùng lúc. Điểm chủ yếu của Hiệp định hợp tác về nghề cá việc đặt ra “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Hai nước đồng ý xác định vùng biển rộng 33,000 cây số vuông tiếp giáp vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) theo qui định của Hiệp định đường ranh giới, là “khu đánh cá chung ngoài biên giới”. Khu đánh cá chung nầy có thời hiệu là 12 năm và sau thời hiệu nầy sẽ tự động gia hạn trong mỗi 3 năm. Ủy ban hỗn hợp Trung Việt về nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ được thành lập hằng năm xác định số thuyền đánh bắt của hai bên trong vùng biển đánh cá chung. Hai nước đã có thể thực hiện việc giám sát, quản lý chung ở vùng biển thuộc lãnh hải của nhau tính từ đường ranh giới vào vùng biển nước mình. Phát xuất từ thực tế khó có thể đuổi ngư dân TQ ra khỏi vùng biển thuộc lãnh hải VN, ngoài khu đánh bắt chung nêu trên, hai nước còn đặt ra “vùng biển đệm trên đường biên giới” cho phép tàu đánh của TQ được phép khai thác trong 4 năm (**xem phụ chú).

Vấn đề hợp tác nghề cá trên vịnh Bắc Bộ giữa TQ-VN diến ra thuận lợi, việc hợp tác tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động trong khu vực nầy cũng diến ra tích cực. Vào tháng 9/2006 Hai nước Trung-Việt đã triển khai hoạt động điều tra chung lần đầu tiên về “khu đánh bắt chung”. Tại hoạt động kiểm tra chung nầy đội tàu kiểm soát của TQ và đội tàu cảnh sát biển của VN đã kết hợp thành một biên đội đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nhau để kiểm tra hoạt động đánh bắt của tàu đánh cá nước mình. Tháng 4/2006 hải quân của hai nước cũng đã bắt đầu tuần tra chung trên biển  thuộc vịnh Bắc Bộ. Đây là hành động dựa trên đề xuất của phía VN.Hai nước đã kí kết ”Hiệp định tuần tra chung ở vịnh bắc Bộ của hải quân Trung-Việt” vào tháng 10/2005. Đây cũng là lần đầu tiên hải quân của TQ tiến hành tuần tra chung với hải quân của nước ngoài cho thấy quan hệ hữu nghị hợp tác hải quân của hai nước Trung-Việt ngày càng thắt chặt hơn. Hơn thế nữa TQ và VN bắt đầu tiến hành việc khai thác chung nguồn khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ vắt ngang đường ranh giới giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.

Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ

Cuối năm 2005, Tổng công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và Công ty Dầu hỏa Việt nam đã kí kết “hiệp định khung hợp tác khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa trên Vịnh Bắc Bộ”. Việc hợp tác kinh tế giữa hai nước Trung-Việt đang phát triển theo những dự án có qui mô rộng lớn  hơn vịnh Bắc Bộ. “Một vòng đai hai hành lang” kinh tế là dự án hợp tác kinh tế có qui mô như vậy. Tháng 10/2004 Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm VN, đã hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh. Bản tuyên bố chung Trung Việt ghi rõ rằng “Trong khuôn khổ của Ủy ban hợp tác mậu dịch và kinh tế của chính phủ hai nước,(lãnh đạo hai nước) đã đồng ý thiết lập nhóm chuyên gia để tích cực nghiên cứu  khả năng xây dựng  hai hành lang kinh tế một vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, “Côn Minh-Lao Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh” và “Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh”(16)

Theo bản tuyên bố chung nầy hai con đường thông thương giữa Côn Minh (tỉnh Vân Nam) và Khu Dân tộc tự trị Choang ở Nam Ninh thuộc Tỉnh Quảng Tây với Quảng Ninh sẽ được nối kết là bước cụ thể hóa dự án xây dựng vòng đai kinh tế bao quanh Vịnh bắc Bộ. Một Ủy ban chỉ đạo hợp tác giữa hai nước Trung-Việt đã được thiết lập vào tháng 1/2006 để làm phát triển sâu đậm hơn nữa việc hợp tác kinh tế hai nước TQ-VN, Lần họp lần thứ nhất của Ủy ban nầy đã diến ra tại Hà Nội với sự chủ trì của Ủy viên quốc vụ viện Đường Gia của TQ và Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ủy ban chỉ đạo hợp tác nhắm tăng cường chỉ đạo vĩ mô của cơ chế hợp tác hiện có, thống nhất toàn thể chương trình hợp tác của các ngành, các cấp của hai nước, giải quyết các vấn đề nẩy sinh nghiêm trọng trong quá trình hợp tác và quyết định về nguyên tắc mỗi năm sẽ nhóm họp một lần. Về Ủy ban chỉ đạo hợp tác nầy, Ông Đường Gia đánh giá cao rằng “Việc lập ra Ủy ban chỉ đạo hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện hữu nghị Trung Việt”(17)

Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc. Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 (nằm phía Việt Nam của đường trung tuyến) và LD20-1 (nằm vắt ngang đường trung tuyến) bắt đầu bị Trung Quốc khai thác.

Ngay sau khi phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban chỉ đạo hợp tác kết thúc TBT Hồ Cẩm Đào đã sang thăm Việt Nam. Những phát biểu của Hồ Cẩm Đào trong chuyến viễng thăm nầy và nhìn vào bản tuyên bố chung được công bố sau đó, có thể thấy được những nét đặc trưng của chính sách đối với VN của TQ.

Trước tiên, một là TQ đã tìm thấy lợi ích khi VN “bị” Đảng Cộng Sản thống trị một cách ổn định. Trong cuộc hội đàm với Nông Đức Mạnh,  Hồ Cẩm Đào đã đánh giá cao sự lãnh đạo của đảng CSVN, phát biểu “Dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, nhân dân VN đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, đất nước đang trên đà phồn vinh. Đảng, chính phủ và nhân dân TQ ủng hộ chính sách đối ngoại và đối nội đã được Đại Hội 10 của Đảng CSVN xác định, mong rằng  nhân dân VN sẽ sớm xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa công nghiệp hiện đại giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Tiếp đó, Hồ Cẩm Đào còn đề nghị “hai bên sẽ tiếp tục giao lưu sâu hơn để Đảng giữ vững sự thống trị và củng cố lý luận của chủ nghĩa xã hội và thực tiển nhằm đóng góp vào việc xây dựng đất nước của mỗi bên”(18)

Trong tình hình tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối với TQ, VN là một trong số ít nước còn lại có cùng chế độ xã hội chủ nghĩa. Nếu VN thành công trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định chính trị dưới sự thống trị của Đảng CS, thì đó cũng sẽ là chứng cứ hùng hồn chứng minh sự đúng đắn về sự thống trị độc quyền của Đảng CS ở TQ. Đối với VN cũng là điều tương tự, có thể nói VN và TQ đang ở trên một mối quan hệ dựa lẫn qua lại để cùng nhau “chính thống hóa”(chứng minh sự đúng đắn của—-ND chú) củng cố sự thống trị độc đảng của  đảng CSTQ cũng như đảng CSVN ở mỗi nước với những thành tích đã đạt được .

Đặc trưng thứ hai, TQ xem trọng sự phát triển quan hệ mậu dịch-kinh tế với VN. Tại cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, CT Hồ Cẩm Đào đã đề nghị “hai nước kiên trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, thực hiện phồn vinh và phát triển chung”, cho rằng “Nắm chắc kế hoạch vĩ mô, thực hiện việc mở rộng chiều sâu hiệp định hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước, triển khai ý tưởng hợp tác xây dựng “hai hành lang một vành đai ” theo tuần tự vững chắc, nâng cao mức chuẩn của hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước. Qua việc mở rộng qui mô và cải thiện cơ cấu mậu dịch, đạt trọng tâm vào việc nắm chắc những sản phẩm thương mại chủ yếu sẽ nâng việc hợp tác mậu dịch-kinh tế giữa hai nước vào một giai đoạn mới”. Trong bản tuyên bố chung Trung-Việt sau cuộc hội đàm nầy, hai bên đã đồng ý “mở rộng hơn nữa hợp tác mậu dịch-kinh tế, nâng cao về chất và tầm mức của hợp tác” thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch mậu dịch song phương lên 15 tỷ đô la vào năm 2010, tăng tốc qui trình xây dựng”hai hành lang một vòng đai kinh tế”(19).

Để làm sâu hơn quan hệ hợp tác mậu dịch-kinh tế với VN, TQ sẽ cung cấp những cơ sở để xây dựng duy trì quan hệ tốt đẹp với VN đồng thời TQ còn đặt kỳ vọng việc làm nầy sẽ giúp kinh tế vốn trì trệ ở vùng Tây Nam TQ phát triển. Thí dụ Khu tự trị Quảng Tây của dân tộc Choang tiếp giáp với biên giới Việt Nam đang có kế hoạch thực hiện thông qua việc hợp tác kinh tế với VN (20). Kim ngạch mậu dịch với VN của khu tự trị dân tộc Choang đã tăng lên rõ rệt, năm 2005 đạt mức 980 triệu đô la, tương đương với ¾ kim ngạch mua bán với các nước ASEAN. Trong 7 năm liên tiếp Khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây là đối tác đứng hàng đầu trong các nước ASEAN. Từ năm 2004 “Hội chợ Quảng Tây-ASEAN” được mở ra hàng năm tại Nam Ninh thuộc khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây nhằm tăng cường quan hệ đầu tư, mậu dịch giữa TQ và ASEAN. Trục giao thông từ Nam Ninh kéo dài đến Singapore, lấy lưu vực sông Mêkong và khu vực hợp tác kinh tế bao quanh Vịnh Bắc Bộ làm hai cánh như đề án xây dựng ”Một trục hai cánh” của Bí thư Lưu Kỳ Bảo của khu tự trị nầy, biến khu vực hợp tác kinh tế vòng đai Vịnh Bắc Bộ thành cứ điểm mậu dịch cho TQ và các nước ASEAN với hi vọng khu vực nầy sẽ là vùng phát triển mới ở ven biển Tây Thái Bình Dương trong tương lai(21).

Vị trí Lào Cai trong một vành đai hai hành lang Kinh tê Việt-Trung

Và ba là trên cơ sở lợi ích chung về chính trị và kinh tế, TQ sẽ tăng cường quan hệ với VN theo tầm nhìn chiến lược. Sau Đại hội Đảng lần thứ 16 của Đảng CS TQ, TQ đã triển khai “ngoại giao với các nước chung quanh”  theo phương châm “láng giềng thân thiện, xem lân bang là đối tác “(Dự Lân Vi Thiện, Dĩ lân Vi Bàn 与隣為善、以隣為伴 ) trong đó đặt vị trí của VN rất cao.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong lần sang thăm VN vào tháng 10/2004, trong cuộc hội đàm với TBT Nông Đức Mạnh, nhấn mạnh “Đảng và chính phủ TQ trước sau vẫn rất xem trọng  quan hệ với VN, đặt vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại với các nước chung quanh của TQ”(22). CT Hồ Cẩm Đào trong lần sang thăm VN vào tháng 11/2006 cũng cho rằng “Trung-Việt, hai bên đều đứng trên quan điểm chiến lược toàn cục để nắm chắc phương hướng chính xác của việc làm phát triển quan hệ ”. Bản tuyên bố chung Trung-Việt đưa ra sau đó đã xác nhận “Hai nước Trung-Việt có chung lợi ích chiến lược trên nhiều vấn đề quan trọng”, đồng ý sẽ là “Ổn định lâu dài,  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện hướng đến tương lai để phát triển quan hệ Trung Việt, mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”( “tinh thần 4 tốt”) của nhau.

Từ những đặc trưng trên, chúng ta có thể nhận định rằng TQ sẽ nổ lực làm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với VN trong những năm sắp đến. Với phương châm “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác” vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam TH đang dần lắng dịu trở lại, TQ sẽ tiếp tục mục tiêu xây dựng “đối tác chiến lược” với VN trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế.

5. Bối cảnh của việc “mềm mỏng” trong đối phó của TQ

Như chúng ta đã thấy trong việc TQ chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief, cho đến nửa thập kỷ 1990, thái độ của TQ đối với vấn đề TS rất cứng rắn, gây đe dọa rất lớn đối với các nước ASEAN. Nhưng kể từ hậu bán thập kỷ 1990 thái độ của TQ trở nên vô cùng mềm mỏng đối với vấn đề nầy như chúng ta đã thấy qua việc làm phát triển quan hệ với VN.

Sau khi chiếm đóng dãy đá ngầm Mischief vào năm 1995, TQ đã tăng cường việc xây dựng các cơ sở trên dãy đá nầy nhưng không triển khai việc chiếm cứ thêm các đảo, dãy đá khác. Mặt khác, TQ đã đáp ứng việc thương thảo đa phương với các nước ASEAN trong vấn đề TS kể từ những năm cuối thập kỷ 1990. Kể từ khi vấn đề chủ quyển trên biển Nam TH trở nên nghiêm trọng, phía ASEAN đã kêu gọi TQ thương thảo nhằm mục đích lập ra một qui chế “phạm vi hành động” trên biển Đông nhằm mục đích tránh xung đột bằng vũ lực và duy trì nguyên trạng.

Trước việc nầy, TQ đã tỏ ra khó chịu đối với việc đàm phán chính thức trong khuôn khổ đa phương về vấn đề biển Nam TH nhưng vào tháng 10/1999 phía TQ đưa ra bản dự thảo cho phía ASEAN, đề nghị “Qui tắc ứng xử” và bắt đầu bước vào đàm phán cấp thứ trưởng với các nước ASEAN (23). Cuộc đàm phán giữa TQ và ASEAN đã gặp nhiều khó khăn vì ý kiến khác nhau về phạm vi áp dụng giữa các nước liên quan, mãi đến tháng 11/2001 mới có thể đạt được sự đồng thuận. Ngoại trưởng các nước ASEAN và TQ đã kí kết vào bản “Tuyên bố về hành động của các nước liên quan đến biển Nam TH”

Bản tuyên bố nầy kêu gọi việc tranh chấp chủ quyền giữa các nước liên quan sẽ giải quyết một cách hòa bình, không đòi hỏi bằng cách dùng vũ lực hay uy hiếp bằng vũ lực, không bố trí người đến trú đóng ở những hòn đảo không có người, chủ động thông báo (cho các nước liên quan) những cuộc diễn tập quân sự và đảm bảo việc tự do đi lại trên biển (24).

Sự đồng ý nầy là một “Tuyên ngôn Hành Động”(Declaration on the Conduct) thiếu sức ép buộc như một “qui tắc hành động”(Code of Conduct) mà ASEAN yêu cầu, phía TQ cũng cho rằng tuyên ngôn nầy “không phải là một văn bản pháp lý” mà là “một văn bản chính trị”(25). Thế nhưng trong “Tuyên Ngôn Hành Động” nầy còn ghi là các nước liên quan nhất trí nổ lực tiến đên một sự thỏa thuận về “Qui tắc hành động”. Trong bản “Tuyên ngôn đối tác chiến lược hướng đến hòa bình và phồn vinh” kí kết giữa ASEAN và TQ vào tháng 10/2003, xác nhận sẽ thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động “ cam kết sẽ tiếp tục thương thảo về phương pháp  “theo dõi”(giám sát-follow-up) việc thực hiện bản tuyên ngôn nầy (26). Hơn nữa trong “Kế Hoạch hành động”(Action Plan) trong 5 năm theo “Đối tác chiến lược”đạt được vào tháng 11/2004, có ghi rõ là TQ và ASEAN sẽ họp định kỳ ở cấp cao để thực hiện “Tuyên Ngôn Hành Động”, nổ lực hướng đến việc thông qua “qui tắc hành động” cuối cùng. (27)

Tiếp theo  thỏa thuận “Tuyên ngôn Hành Động”, TQ đã bước sang việc khai thác cụ thể chung ở biển Nam TH. Vào ngày 1/9/2004 Công ty Dầu hỏa Hải dương TQ và công ty Dầu Hỏa quốc gia Philippines đã đồng ý thực hiện việc thăm dò điều tra dịa chấn chung. VN đã phản đối thỏa thuận này nhưng vào ngày 14/3/2005 hai công ty nầy đã mời thêm Tổng công ty dầu khí VN tham gia, đạt thỏ thuận chung giữa ba nước vể việc thăm dò địa chấn. Vùng biển thăm dò lên đến 143,000 km vuông, sử dụng sóng địa chấn trong 3 năm, lần 2 và lần 3 sẽ thu các dự liệu dưới biển để xác nhận trữ lượng Dầu mỏ và khí đốt. Chi phí của việc điều tra nầy sẽ do 3 công ty đảm trách  và cả 3 đều cùng sở hữu các dự liệu thu thập được. Sau 3 năm điều tra kết thúc các bên sẽ tiếp tục xem xét co nên tiếp tục điều tra sâu thêm nữa hay không. Việc thực hiện cuộc điều tra chung nầy được xem là không ảnh hưởng gì đến chủ trương về chủ quyền các các nước(28)

Phía TQ xem thỏa thuận nầy là bước thực tiển đầu tiên của chủ trương “Gác lại tranh cãi, cùng nhau khai thác”,đánh giá cao, xem biện pháp là bước tiến quan trọng trong việc thực hiện “Tuyên Ngôn hành Động”(29). Như vậy, lý do TQ mềm dẽo hóa đối sách trong vấn đề biển Nam TH có thể phát xuất từ nhu cầu muốn gắn kết quan hệ với các nước ASEAN. Đối với TQ, các nước ASEAN là lân bang tiếp giáp TQ, nếu quan hệ với các nước nầy không ổn định sẽ gây bất lợi cho việc duy trì tình hình quốc tế ổn định—là điều kiện không thể thiếu– để phát triển kinh tế của TQ. Mặt khác ASEAN đứng thứ 4 trong đối tác mậu dịch của TQ, là một đối tác kinh tế quan trọng có nhiều tư bản Hoa thương đầu tư vào TQ. Hơn thế nữa , ASEAN còn giữ vai trò trung tâm trong Hợp tác Đông Á (10 +3) hay Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vì vậy việc duy trì quan hệ tốt đẹp với ASEAN rất quan trọng trong việc xây dựng một Cộng Đồng Đông Á  trong chiến lược của TQ ở tương lai. Phó viện trưởng viện nghiên cứu đối ngoại của TQ, Tần Á Thanh cho rằng “Để có thể xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược với ASEAN, TQ phải xử lý vấn đề một cách khí khái  mang phong cách của một nước lớn, phải hiểu được và quan tâm một cách hợp lý đến lợi ích của nước đối tác, phải biết nhân nhượng nhất định trên một số vấn đề theo một tầm nhìn lâu dài”(30). Có thể nói rằng thái độ mềm mỏng của TQ trong vấn đề biển nam TH là một bước nhượng bộ để duy trì “quan hệ đối tác chiến lược” với ASEAN.

Các tuyến hàng hải từ Trung Đông sang Nhật Bản

Hai là, việc tranh thủ ra tay hòa hoãn mối quan hệ căng thẳng với các nước ASEAN về vấn đề chủ quyền trên biển Đông cũng là để ngăn chận việc Đài Loan lợi dụng vấn đề nầy hòng tiếp cận các nước Đông Nam Á. Vào thập kỷ 1990, Đài Loan đẩy mạnh các hoạt động tăng cường quan hệ với các nước ĐNÁ theo cái gọi là “Chính sách hướng Nam” [南向政策」. Nguyên tổng thống Lý Đăng Huy, hay Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biền (đương nhiệm) thuộc phe đòi Đài Loan độc lập bị TQ phê phán, đã nổ lực mở rộng “không gian sống chung quốc tế” của Đài Loan, thực hiện những chuyến đi thăm các nước ĐNA không chính thức. Việc Đài Loan tiến gần với các nước ĐNÁ cũng do từ nhận thức cho rằng TQ là mối đe dọa chung cho cả hai vì vậy đối với TQ việc ngăn chận ASEAN tiếp cận Đài Loan là một việc quan trọng nhằm làm giảm thiểu mối lo ngại về sự uy hiếp của TQ đang bùng lên ở các nước ĐNÁ vì vấn dề chủ quyền ở biển Nam TH.

Hơn thế nữa, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên toàn quần đảo TS, đang chiếm đóng đảo Ba Bình(Đảo Thái Bình—Itu Aba) lớn nhất, và cũng là người trong cuộc trong vấn đề biển Nam TH, vì vậy việc tăng cường khuôn khổ giải quyết vấn đề(chủ quyền) riêng với ASEAN sẽ làm cho Đài Loan không còn có cơ hội để thương lượng với ASEAN về vấn đề nầy. Ông Dương Thanh thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế của Trường Trung Ương Đảng CSTQ cho biết phát xuất từ cục diện lớn(đại cục) từ lợi ích của quốc gia—một lợi ích chủ yếu—rằng “việc giải quyết vấn đề biển Nam TH một cách thỏa đáng giữa TQ và các nước ASEAN là rất quan trọng”(31).

Hình ảnh thường thấy sau hội nghị cấp cao ASEAN

Ba là ngăn chận  các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề biển nam TH. Nước Mỹ vẫn giữ thái độ bàng quang đối với vấn đề chủ quyền ở biển Đông nhưng quan tâm lo lắng vấn đề nầy sẽ gây ra tình huống ngăn cản sự đi lại tự do trên biển(32). Mặt khác,sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa Mỹ và các nước ASEAN về thực chất là đã khắng khít hơn vì lo ngại trước động thái mở rộng (phạm vi hoạt động) của Hải quân TQ. Nếu vấn đề ở biển nam TH trở nên nhạy cảm thì có khả năng nước Mỹ nhảy vào can thiệp vấn đề nầy với lí do là để đảm bảo sự tự do đi lại trên vùng biển nầy đồng thời có khả năng các nước ASEAN cũng sẽ tăng cường quan hệ với không quân Mỹ. “Một số nước ASEAN tương đối dành được một môi trường quốc tế thuận lợi trong vấn đề biển Đông nhờ vào sự cân bằng chiến lược giữa các nước lớn. Chủ trương của Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của nước Mỹ đã tạo điều kiện để cho các nước ASEAN duy trì lợi ích hiện có bằng sức mạnh của các nước ngoài khu vực”(33)

Cho nên điều quan trọng đối với TQ là xử lý vấn đề biển Nam TH một cách êm thắm, không để cho nước Mỹ lợi dụng vấn đề nầy để can thiệp. Thứ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của TQ nói rằng “ý nghĩa của Tuyên Ngôn Hành Động ASEAN là xử lý tốt vấn đề biển Nam TH thông qua đối thoại với các nước trong khu vực, TQ đã phát ra tín hiệu rõ ràng với bên ngoài rằng có khả năng duy trì hòa bình và ổn định của vùng biển Nam TH thông qua đối thoại”(34). Có người cho rằng hợp tác giải quyết hợp lý vấn đề biển Nam TH với các nước ASEAN “sẽ ngăn ngừa được việc các nước lớn lợi dụng vấn đề biển Đông làm con cờ để “bao vây” TQ (35).

Và điểm cuối cùng là TQ cần phải bảo đảm nguồn tài nguyên năng lượng—không thể thiếu được—cho việc phát triển kinh tế liên tục từ nay về sau. Đi cùng với sự phát triển kinh tế nhảy vọt, nhu cầu về năng lượng của nền kinh tế TQ ngày càng tăng gấp bội. Về dầu hỏa, từ năm 1993 TQ đã trở thành nước thuần nhập khẩu dầu mỏ, hiện nay là đứng hàng thứ hai sau Mỹ trong số các nước tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới.(35)

Theo ông  Xa Trường Ba, giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược tài nguyên dầu mỏ-khí đốt thiên nhiên thuộc Bộ Tài Nguyên TQ, nhu cầu vè dầu mỏ năm 2010 là 380 triệu tấn và 2020 là 450 triệu tấn.(37)

Tuy nhiên đối với TQ việc xem khả năng khai thác dầu khí ở biển Nam TH như một biện pháp đảm bảo nguồn năng lượng hiện nay không mang tầm quan trọng cho lắm. Những năm gần đây TQ nổ lực thực hiện việc nhập khẩu ổn định năng lượng cũng như dành quyền khai thác dầu khí thông qua việc tăng cường hợp tác với các nước sản xuất năng lượng. Đồng thời tích cực tham gia đấu thầu quốc tế đối với các mỏ dầu có trữ lượng lớn đã qua điều tra, thăm dò. Điều nầy có nghĩa là trước mắt TQ không cảm thấy gấp vội bắt tay khai thác biển Nam TH mà chi phí khai thác có thể rất cao và chưa được điều tra toàn diện trong khi trên thế giới vẫn còn rất nhiều khu vực có thể hoạt động cung cấp ổn định năng lượng cho mình. Tất nhiên, nhìn về lâu dài, rõ ràng việc khai thác nguồn tài nguyên trên biển Nam TH mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của TQ, rất nhiều khả năng cho thấy TQ sẽ hành động để dành phần. Nếu như kết quả điều tra Trung-Việt-Phi tốt đẹp thì có khả năng TQ sẽ có chính sách đối phó mới nhằm đảm bảo quyền lợi và bước vào khai thác qui mô ở vùng biển nầy. Vì vậy,có thể nói rằng thay vì làm xấu đi quan hệ với các nước ASEAN nhằm bảo đảm tài nguyên ở vùng biển chung quanh quần đảo TS mà trước mắt không lấy gì cấp bách thì một mặt kéo các nước vào tiến hành điều tra chung để xác nhận trữ lượng tài nguyên, tránh đụng chạm với nước khác là phương sách tốt nhất đối với TQ trong tình cảnh hiện nay.

Kết

TQ là quốc gia đầu tiên thủ tướng Abe Shinzo sang thăm vào tháng 10/2006 sau khi nhiệm chức. Hai bên đã đồng ý hướng đến việc xây dựng một “quan hệ chiến lược cùng có lợi”, bắt đầu cho thấy dấu hiệu cải thiện quan hệ Nhật-Trung đã xấu đi trong thời kì của chính quyền Koizumi. Tháng 4 năm sau Thủ tướng Ôn Gia Bảo sang thăm NB,đạt được một nhận thức chung với phía NB, rằng  “hai nước sẽ cùng nhau đóng góp một cách tích cực vào ổn định, hòa bình và phát triển của Châu Á cũng như thế giới”, lập ra “Đối thoại cấp cao kinh tế Nhật-Trung” nhằm tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, đồng thời tăng cường giao lưu quốc phòng như cho các tàu chiến sang thăm qua lại hay bộ trưởng quốc phòng viếng thăm NB…. Hơn thế nữa, TQ đã bày tỏ lòng biết ơn việc NB cho TQ vay ODA đóng góp vào phát triển kinh tế của TQ, đặt kì vọng vào việc mở rộng hơn nữa vai trò xây dựng của NB trong xã hội quốc tế, “đồng tình và thông cảm với quan tâm nhân đạo của nhân dân NB” trong vấn đề bắt cóc của Bắc Triều Tiên(***Phụ chú) và tỏ ra hết sức tích cực để cải thiện quan hệ đối với NB.(39)

Mặt khác, NB luôn luôn cảnh giác cao độ các chính sách đối với NB của TQ. Trước hết là vấn đề khai thác tài nguyên ở biển Đông TH, trong tinh huống giữa TQ và NB còn nhiều vấn đề không thể bỏ qua như lãnh thổ, chủ quyền giữa hai nước, TQ vẫn tiến hành cấp tốc việc hiện đại hóa sức mạnh quân sự trong khi xã hội quốc tế đang đòi hỏi TQ phải minh bạch mà TQ hằng che dấu. Một bộ phận của NB cũng có khuynh hướng NB nên chia sẻ một nhận thức chung với các nước ASEAN—đang có vấn đề chủ quyền trên biển Nam TH– đối với TQ. Nhưng như chúng tôi đã trình bày trong bài viết nầy, TQ đang có những thay đổi lơn trong cách đối phó và mối quan ngại về sự uy hiếp của TQ đối với các nước ĐNÁ đang lắng dịu rõ rệt.

Tháng 5/2007 trong khi sang thăm TQ, Chủ tịch nước VN Nguyễn Minh Triết đã trả lời phỏng vấn của báo giới truyền thông TQ rằng “vấn đề lãnh thổ giữa hai nước là vấn đề trong nhà”, cho biết không có vấn đề gì hai nước Việt-Trung không giải quyết được. Cho biết VN sẵn sàng làm cầu nối giữa TQ và ASEAN ra sức  thúc đẩy quan hệ giữa hai bên ngày càng phát triển(40). Nhận thức đúng đắn về  sự thay đổi của TQ trong chính sách đối với các nước ASEAN như chúng ta đã thấy qua cách ứng phó trong vấn đề biển Nam TH và những tiến triển của quan hệ ASEAN-TQ theo sau là vô cùng cần thiết trong việc vạch ra chính sách Đông Á và chính sách đối Trung của NB sắp tới.

=========================================================Phụ chú:

(*)xem thêm ”Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa -

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc” của Từ Đặng Minh Thu

Thời đại mới, số 11-  tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa” của Đinh Kim Phúc

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 4(75)-2009

(**) xem thêm http://www.mofa.gov.vn/vi/cs_doingoai/cs/ns04081808401148

(***) Vấn đề bắt cóc người Nhật về Bắc Triều Tiên xảy ra trong khoảng thòi gian từ năm 1977 đến 1983. Theo công bố của chính phủ NB thì đã có 12 vụ bắt cóc về Triều Tiên với 8  Nữ và 8  Nam ở NB, trong khi  phía Triều Tiên xác nhận là 13 người (6 Nam 7 Nữ).   Có nguồn tin khác cho biết con số người bị bắt cóc lên đến 70-80 người. Đây là một trong những vấn đề ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ Nhật-Triều. Hiện nay,vấn đề “bắt cóc” này vẫn chưa được hai nước giải quyết ổn thỏa.(HLT chú)

xem thêm:

http://en.wikipedia.org/wiki/North_Korean_abductions_of_Japanese

http://www.japanesestudies.org.uk/discussionpapers/2007/Ito2.html

=========================================================

Chú thích:

(1)中越間の領土・領海問題についてベトナム側の視点から考察したものとして、庄司智孝「ベトナム・中国間の国境線画定・領土問題」 『防衛研究所紀要』第8巻第3号( 2 0 0 6 年3月) 5 3 ~ 6 7 ページが参考になる。

Vấn đề lãnh hải-lãnh thổ Trung-Việt nhìn từ Việt Nam có thể tham khảo Shoji Michitaka”Vấn đề lãnh thổ-phân định biên giới Việt-Trung” Kỷ yếu nghiên cứu quốc phòng quyển thứ 8, tập 3(3/2006) trang 53-67

(2) 以下の記述については「南海問題」 『中国外交辞典』 (世界知識出版社、 2 0 0 0 年) 2 3 8 ページ、 「中国対南沙群島擁有主権的歴史依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

những chi tiết trong bài viết lấy từ “Vấn đề Nam Sa”[Từ điển ngoại giao Trung quốc](NXB Tri Thức Thế Giới năm 2000) trang 238 “Căn cứ lịch sử chủ quyền quần đảo Nam SA của TQ”(BNGTQ home page 22.11.2000). Tham khảo

<http : //www.fmprc.

gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10648.htm> および “Historical Evidence to Support China’s Sovereignty

over Nansha Islands,” November 17, 2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/topics/3754/t19231.htm>

(3)「中国対南沙群島擁有主権的法理依拠」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月 2 2 日)

<http: //www.fmprc.gov.cn/chn/ziliao/wzzt/2305/t10649.htm> を参照。

(4)「南沙太平島」(台湾・行政院海巡署南部地区巡防局ホームページ)

<http: //www.cga.gov.tw/south/taiping/> を参照。

(5) Ramses Amer, “The Territorial Disputes between China and Vietnam and Regional Stability,” Con-

temporary Southeast Asia, Vol. 19, No. 1, June 1997, p. 87.

(6)「中華人民共和国領海及毘連区法」 『人民日報』 1 9 9 2 年2月 2 6 日。

(7) “ASEAN Declaration on the South China Sea,” July 22, 1992 <http: //www.aseansec.org/politics/pol_agr5.htm>.

(8)『読売新聞』1992年7月19日。この記事で中国軍が上陸した岩礁名がダラク礁となっているが、正確にはガベン礁であると思われる。

(9) “Statement by the ASEAN Foreign Ministers on the Recent Development in the South China Sea,” March 18, 1995 <http: //www.aseansec.org/politics/scs95.htm> .

( 1 0 )「擱置争議、共同開発」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 0 年 1 1 月7日)<http: //www.fmprc.gov.cn/chniliao/2159/t8958.htm> 。英語版は “Set aside dispute and pursue joint development,” November 17,2000 <http: //www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm> を参照。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 1 )「南海問題」 『中国外交辞典』 2 3 8 ページ。

( 1 2 )「中越発表聯合公報」 『人民日報』 1 9 9 1 年 1 1 月 1 1 日。

( 1 3 )「江沢民与黎可漂挙行会談」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 6 日。

( 1 4 )「中越聯合声明」 『人民日報』 1 9 9 9 年2月 2 8 日。

( 1 5 ) 以下、トンキン湾における両国の協力に関する記述は、江淮「北部湾:中越合作之湾」 『世界知識』 2 0 0 6 年第 2 4 期、 2 7 ~ 2 9 ページによる。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 6 )「中越発表聯合公報」 (中国外交部ホームページ 2 0 0 4 年 1 0 月8日) <http: //www.fmprc.gov.cn/chn/wjb/zzjg/yzs/gjlb/1338/1339/t163636.htm> 。

( 1 7 )「中越双辺合作指導委員会首次会議在河内挙行」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 2 日。

( 1 8 )「胡錦濤同越共中央総書記農徳孟越南国家主席阮明哲会談」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 7 日。防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 1 9 )「中越聯合声明」 『人民日報』 2 0 0 6 年 1 1 月 1 8 日。

( 2 0 ) [1]亜平・梁思奇・蒋桂斌「北部湾:区域経済合作新接口」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年6月5日、 3 8

~ 4 0 ページ。

( 2 1 ) 杜新・劉偉「 “一軸両翼”推動和諧共贏」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年 1 0 月 3 0 日。

( 2 2 )「温家宝会見越共総書記農徳孟」 『人民日報』 2 0 0 4 年 1 0 月8日。

( 2 3 )「外交部発言人答記者問 東盟“南海地区行為準則”第二次磋商」 『人民日報』 2 0 0 0 年8月 3 1 日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 2 4 ) “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea,” November 4, 2002 <http: //www.

aseansec.org/13165.htm>.

( 2 5 )「中国与東盟簽署南海各方行為宣言」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 2 6 ) “Joint Declaration of the Heads of State/Government of the ASEAN and the PRC on Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” October 8, 2003 <http: //www.aseansec.org/15266.htm>.

( 2 7 ) “Plan of Action to Implement the Joint Declaration on ASEAN-China Strategic Partnership for Peace and Prosperity,” December 8, 2004

<http: //www.aseansec.org/16806.htm>.

( 2 8 )「中菲越簽署南海地震聯合勘探協議」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日、 「中菲越打破僵局開発南海」 『環

球時報』 2 0 0 5 年3月 1 7 日および張学剛「南海:共同開発大歩走」 『世界知識』 2 0 0 5 年第7期、 3 2 ~

3 3 ページ。

( 2 9 )「変争議之海為合作之海(短評) 」 『人民日報』 2 0 0 5 年3月 1 6 日。

( 3 0 ) 王健君・劉新宇「胡錦濤越南之旅詮釈中国周辺戦略」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 5 年第 4 5 期( 1 1 月7日)

5 3 ~ 5 4 ページ。

( 3 1 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 『瞭望新聞週刊』 2 0 0 6 年第3期(1月 1 6 日) 3 9 ページ。

( 3 2 ) Joshua P. Rowan, “The U.S.-Japan Security Alliance, ASEAN, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. 65, No. 3, May/June 2005, pp. 429-431.

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

( 3 3 ) 鞠海龍「南海問題能 和平解決 」 『世界知識』 2 0 0 7 年第3期、 3 0 ページ。

( 3 4 )「朱鎔基出席東盟有関会議和訪問柬埔砦取得成功」 『人民日報』 2 0 0 2 年 1 1 月5日。

( 3 5 ) 譚再文「南海共同開発的国際政治経済学」 『南洋問題研究』 2 0 0 5 年第3期、 1 3 ページ。

( 3 6 ) 十市勉「中国のエネルギー戦略と日本」 『東亜』 2 0 0 4 年7月号、 1 1 ~ 1 2 ページ。

( 3 7 )「中国、 2 0 1 0 年の石油生産量が2億トンに」 『人民網日本語版』 2 0 0 5 年 1 2 月 1 2 日。

( 3 8 ) 楊青「正確認識和処理南海権益争端」 3 9 ページ。

( 3 9 )「日中共同プレス発表」 (日本国外務省ホームページ 2 0 0 7 年4月 1 1 日)<http: //www.mofa.go.jp/mo-faj/area/china/visit/0704_kh.html>。

(40)「将越中関係推向新高度――訪越南国家主席阮明哲」『人民日報』2007年5月19日。

防衛研究所紀要第 1 0 巻第1号( 2 0 0 7 年9月)

(いいだまさふみ 研究部第6研究室主任研究官)

www.nids.go.jp/dissemination/kiyo/pdf/bulletin_j10_1_4.pdf

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Bill Hayton: chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu Cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi- sách mới xuất bản “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

Posted by hoangtran204 on 27/10/2014

Ngược lại, đảng CSVN đã xem Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của TQ. Lý do: đảng CSVN và nhà nước đã trao đổi Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng  lấy vũ khí để chiếm Miền Bắc 1954 và “giải phóng” Miền Nam 1975, cho nên, những ai biểu tình phản đối TQ xâm lăng vùng biển đảo này (hoặc cho rằng vùng này  là của VN) đều bị  đảng CSVN và nhà nước thù ghét coi như kẻ thù.

Vì đưa bênh vực cho Việt Nam và đưa ra chứng cớ lịch sử Biển Đông, HS và TS thuộc chủ quyền của VN từ triều Nguyễn 1802, Bill Hayton đã bị ngăn cấm vĩnh viễn không cho trở lại VN, đã hai lần ông không xin được Visa vào Việt Nam để dự hội nghị Biển Đông 2012.

Tương tự, vì biểu tình phản đối TQ xâm lăng biển đảo, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang….đã bị án tù 4 năm-12 năm. Vì điểm tin và dịch các bài báo cảnh cáo về các hành động của TQ và bênh vực cho chủ quyền Biển Đông,  HS, TS, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đang bị bắt giam 5-5-2014 ở Hà Nội, và đang chờ đợi bản án tù đày. Hồ Cương Quyết đã hoàn tất phim Hoàng Sa và Trường Sa năm 2011, nhưng không được trình chiếu ở VN và phải chiếu ở Châu Âu. 3 năm qua, ông bị công an ngăn cấm, xua đuổi, hăm dọa, cúp điện…khi muốn trình chiếu phim ở Sài Gòn cho mọi người xem.  Hồ Cương Quyết tên thật: André Menras, là một người Pháp nổi tiếng qua bộ phim “Hoàng Sa – Việt Nam: nỗi đau mất mát” (bản tiếng Pháp “Hoang Sa Vietnam – La Meurtrissure” và bản Pháp-Anh là “La Meurtrissure – Painful Loss”). Chỉ sau khi giàn khoan của TQ vào khai thác dầu khí ở Hoàng Sa 2-5-2014, phim của ông mới được cho trình chiếu ngày 15-7-2014 ở Hà Nội. 

Trong tuần lễ từ 12 đến 16-10-2014, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh ở Đức dành 3 ngày (13, 14, 15) đi khắp nước Đức xin tiền và phân bua chuyện Biển Đông và giả vờ nhờ Đức can thiệp vấn đề chủ quyền biển đảo, nhưng khi hội nghị diễn ra ngày 16-10 tại Milano, thì Nguyễn Tấn Dũng không đưa vấn đề này lên bàn hội nghị vì lúc âý có mặt Thủ tướng Trung Quốc. Bà thủ tướng Đức Angela Merkel, thủ tướng Bỉ, thủ tướng Ý, và lãnh đạo các nước Châu Âu khác đã chưng hửng vì thái độ tráo trở nói một đàng, làm một nẻo của Nguyễn Tấn Dũng. Mời đọc ►Chuyến công du của Nguyễn Tấn Dũng ở Âu châu 10-2014 hoàn toàn thất bại:  Hành động cực kì mâu thuẫn và trái khoáy khác là, trong các cuộc tiếp xúc với các chính khách quốc tế từ Bruxelles, Berlin, Rome từ ngày 12 đến 15 tháng 10,  Nguyễn Tấn Dũng hồ hởi kêu gọi họ kết án chính sách đe dọa an ninh hàng hải quốc tế trên biển Đông, các nước Âu Châu hứa sẽ ủng hộ VN về việc này. Nhưng qua hôm sau, sáng ngày 16.10, khi đặt chân tới Milano để tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 10 thì Nguyễn Tấn Dũng đã vội vàng xin gặp Thủ tướng Trung quốc Lý Khắc Cường cũng đang có mặt ở đây. Và trong hội nghị, Nguyễn Tấn Dũng đã không đề cập tới vấn đề hàng hải ở Biển Đông! Các lãnh đạo 10 nước Âu Châu rất ngạc nhiên về thái độ bất nhất và tráo trở của Nguyễn Tấn Dũng.

Nhiều chính khách và chuyên viên ngồi nghe ông Thủ nói rồi so sánh với những gì đang xẩy ra ở VN thì đều rất ngỡ ngàng. Trong họ có những dấu hỏi cực kì lớn: Người cầm đầu chính phủ toàn trị ở VN muốn gì? Những gì ông nói với chúng tôi có thực không?

Bill Hayton và “Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu”

25-10-2014

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

Có lẽ các bạn đã biết kí giả Bill Hayton vừa mới xuất bản một cuốn sách có tựa đề là “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” (Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu). Tôi chưa đọc cuốn sách (và chắc cũng không có thì giờ đọc trong tương lai gần) nhưng có nhận bài điểm sách của David Brown đăng trên Asia Sentinel (1). Đọc bài điểm sách này, tôi thấy sách có lẽ là nguồn thông tin tốt cho những ai còn quan tâm đến chủ quyền biển đảo và sự đe doạ của Tàu cộng đối với Việt Nam. Nhưng câu chuyện về mối liên hệ giữa cá nhân của tác giả với Chính phủ VN cũng thú vị.

Trong sách, Bill Hayton chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi. Ông chỉ ra rằng những chứng cứ đó không thể nào đứng vững khi xem xét đến các văn chứng của triều Nguyễn của Việt Nam. Từ 1750, triều Nguyễn đã điều các đội hải quân ra trấn giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội quân triều Nguyễn còn có chức năng cứu vớt thuyền bị nạn, và mỗi chuyến hải hành, họ ghi lại trong sử sách rất cẩn thận.

Thật ra, những cái gọi là chứng cứ lịch sử của Tàu cộng về chủ quyền Biển Đông thì những học giả nghiêm chỉnh đều bác bỏ và chẳng xem ra gì. Nhưng bác bỏ những chứng cứ đó một cách có hệ thống, có khoa học, và ghi thành một cuốn sách như Bill Hayton đã làm là một công lớn. Một số học giả VN ở trong nước suốt ngày này sang tháng nọ nói về chủ quyền, về văn bản triều Nguyễn, về “chứng cứ không thể chối cãi”, nhưng chưa có ai hệ thống hoá chứng cứ thành một cuốn sách viết bằng tiếng Anh. Nói như thế để thấy cái công của Hayton là đáng kể.

Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng “lải nhải” (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN. Còn Tàu cộng thì họ biết các yêu sách và chứng cứ của họ yếu, nên họ dùng vũ lực và tẩy não. Họ tẩy não người Tàu rằng chủ quyền của Tàu cộng ở Biển Đông là không thể chối cãi, rằng các nước nhỏ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai đang chiếm biển đảo của Tàu!


Nhưng đoạn tái bút của bài điểm sách mới là thú vị vì liên quan đến cá nhân tác giả. Bill Hayton là phóng viên của đài BBC và từng công tác ở Việt Nam trong thời gian 2007-2008. Dù Bill Hayton có quan điểm và phát biểu có lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh duy trì chủ quyền biển đảo, nhưng ông không được Việt Nam chào đón. Thật ra, Chính phủ Việt Nam cấm không cho ông vào Việt Nam!

Năm 2012, Bill Hayton xin visa để vào VN dự hội nghị về biển đảo do Bộ Ngoại giao VN tổ chức, nhưng đơn của ông bị bác.

Vài tháng sau, ông lại đệ đơn xin visa vào VN để phỏng vấn các quan chức cho cuốn sách này, và một lần nữa, Chính phủ VN không cho ông vào. Hệ quả là ông không có nhiều chất liệu để viết về VN trong cuộc đấu tranh chủ quyền về biển đảo. Do đó, phần liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách này tương đối “mỏng” so với các phần khác.

Phải nói thái độ của Chính phủ VN thật khó hiểu. Theo suy nghĩ bình thường, trong khi các học giả VN chưa viết được hay chưa đủ khả năng viết được một cuốn sách như Bill Hayton, thì đáng lẽ phải chào đón một người có quan điểm “gần” VN như Bill Hayton đến VN, hay ít ra là cung cấp dữ liệu cho ông ấy. Nhưng suy nghĩ bình thường đó có lẽ không ăn khớp với suy nghĩ của Nhà nước. Nghe nói trong thời gian làm kí giả ở VN, Hayton đã có những bài làm cho Chính phủ VN không hài lòng. Nhưng tôi nghĩ việc nào ra việc đó, có thể những bài đó không hợp gu với Chính phủ, nhưng về Biển Đông thì nên sử dụng mọi quan điểm và dữ liệu từ mọi nguồn để đem lại lợi ích cho chủ quyền quốc gia.

Nếu Chính phủ VN chào đón các học giả Tàu vào VN tham dự hội nghị (và đó là quyết định hoàn toàn đúng) thì VN chẳng có lí do gì để từ chối không cho người bạn như như Bill Hayton vào VN.

____________________

(1) http://www.asiasentinel.com/book-review/south-china-sea-struggle-power-asia/

Sách “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia”, xuất bản bởi Yale University Press, dày 320 trang, giá bán 28 USD.

* * *

David Brown – Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

Tác giả: David Brown
Người dịch: Trần Văn Minh

Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.

Bất kể tính thận trọng của Tổng thống Barack Obama, biết rằng tham gia vào một cuộc chiến ở nước ngoài dễ hơn là giành chiến thắng, sự đe dọa của các chiến thuật mà Bắc Kinh đặt ra trước lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đang lôi kéo Washington vào một cuộc đối đầu khó tránh khỏi với Trung Quốc. Cho tới một vài năm trước, có thể thấy rằng vấn đề Biển Đông là một cuộc tranh cãi giữa các nước ven biển về nguồn cá và tài nguyên dưới đáy biển, bị làm trầm trọng thêm bởi tính dửng dưng của Trung Quốc. Bây giờ đã rõ ràng là Trung Quốc không muốn đàm phán chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà chỉ quan tâm tới những điều có lợi cho họ. Washington đã phải gác lại giấc mơ về quan hệ đối tác toàn cầu với siêu cường mới trỗi dậy của châu Á, trong khi cân nhắc sự kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc trong tương lai. Theo Bill Hayton thì Biển Đông “là vị trí đầu tiên trong tham vọng của Trung Quốc đưa tới việc đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mỹ”.

Đây là một cuộc đối đầu mà chúng ta cần phải hiểu, và Hayton, phóng viên BBC đã từng có thời gian ở Myanmar và Việt Nam, đã cung cấp cốt truyện. Cuốn Biển Đông, với phụ đề Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á mà ông nghiên cứu kỹ lưỡng và viết thật chải chuốt, đã được xuất bản tại Anh vào cuối tháng 9 và sẽ được Nhà xuất bản Yale Press xuất bản tại Mỹ vào ngày 28 tháng 10. (Cuốn sách được bán trên Amazon với giá 28 USD).

Cuốn sách dày 320 trang của Hayton chắc chắn sẽ được so sánh với một cuốn sách gần đây của Robert Kaplan có cùng chủ đề, Vạc dầu châu Á: Biển Đông và sự kết thúc của Thái Bình Dương ổn định. Đó là hai cuốn sách khác nhau. Kaplan tung ra sự khái quát nhẹ nhàng về bản sắc, lợi ích quốc gia và nỗi ám ảnh có tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Á. Kaplan cho biết, tất cả là sự cân bằng quyền lực, một cuộc cạnh tranh diễn ra “trong cảnh quan mới và có phần hoang vu này của thế kỷ 21″. Đông Nam Á trong mắt ông là một nơi mà Trung Quốc có sứ mệnh đưa những nước chư hầu ngày xưa trở lại quỹ đạo thích hợp của họ và là nơi, nếu Washington thực tế trong sự phân tích, thì phải vui vẻ nhường lại vị thế ưu tiên cho Bắc Kinh.

Ngược lại, Hayton thì giải thích. Các chương mở đầu của ông đã dễ dàng dẫn độc giả đi qua năm ngàn năm trên Biển Đông, rằng đó là một khu vực chung bị chi phối bởi những nhà thám hiểm tiền-Mã Lai. Sau đó, các đế quốc thương mại trỗi dậy và suy tàn: Phù Nam, Champa, Majahapit và Malacca. Vào khoảng năm 1400, lần đầu tiên và duy nhất trước thời đại hiện nay, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc biển, gửi các đội tàu lớn tới Ấn Độ và Đông Phi trước khi chuyển sự chú ý của mình vào nội địa. Người Âu Châu trong việc tìm kiếm các loại gia vị, đồ gốm và lụa, đến vào những năm 1500. Tây Ban Nha thiết lập quyền thống trị trên quần đảo Philippines; ba thế kỷ sau đó, Pháp ở Đông Dương và Anh tại các bang Malay đã tạo ra các thuộc địa của họ và thậm chí bắt buộc Trung Quốc phải quy phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm.

Những người Âu Châu, với ý định phân định ranh giới và thiết lập độc quyền lãnh thổ, đã vô tình đặt nền móng cho ý thức tinh thần quốc gia mãnh liệt, vào giữa thế kỷ 20, trở thành cựu thuộc địa và nhượng địa của họ. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Trung Hoa (cả chính phủ Đài Loan và Bắc Kinh) tất cả tuyên bố những mảng lớn và chồng chéo trên một vùng biển mở rộng mà trong quá khứ đã nối kết họ với nhau thay vì phân chia. Tất cả đã hối hả dựng quốc kỳ của họ trên các rạn san hô, đá và những đảo nhỏ (những ‘cụm’ tập hợp) rải rác trên vùng biển rộng lớn.

Tấm thảm đắt giá mà Hayton dệt tự nó có sức hấp dẫn, nhưng tầm quan trọng đáng chú ý là sợi chỉ ông cẩn thận kéo ra: Đòi hỏi chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử của Trung Quốc ở vùng biển phía nam Hồng Kông và đảo Hải Nam chủ yếu là rác vụn. Bằng chứng của Trung Quốc đơn giản là không đứng vững trước biên niên sử của các chúa Nguyễn ở Việt Nam, vào khoảng năm 1750, đã phái những cuộc thám hiểm hàng năm đến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam chủ yếu khai thác các tàu đắm, chắc chắn như thế, nhưng họ đã để lại những dấu vết và lưu giữ hồ sơ cẩn thận.

Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức. Đối với một thường dân Trung Quốc vấn đề đó thật giản dị. Các giáo viên và truyền thông đại chúng đã thuyết phục ông ta rằng chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng biển phía Nam và các quần đảo là “không thay đổi” và “không thể tranh cãi.”

Các nhà phân tích – trong số đó gồm có Hayton và tác giả bài viết này – khó có thể giải thích vì sao Bắc Kinh quá ngạo mạn, làm sứt mẻ sự kính trọng [của thế giới dành cho họ] để cho đến gần đây họ đã phải cố gắng hết sức để lấy lại. Hayton thử đưa ra quan điểm cho rằng giới lãnh đạo hải quân, các công ty dầu mỏ và chính quyền địa phương đã mạnh mẽ theo đuổi chính sách đối ngoại tự lập, kéo theo những nhà lãnh đạo cấp cao không muốn lộ vẻ yếu đuối. Lập luận trên không đứng vững trong thời đại Tập Cận Bình; trong những năm gần đây chiến thuật của Trung Quốc đã được phối hợp nhịp nhàng một cách đáng chú ý.

Các nhà phân tích khác đổ lỗi cho cơn khát dầu hỏa và khí đốt dữ dội của siêu cường đang lên. Không nghi ngờ rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung cấp phong phú của cả hai. Nhưng chắc phải có nghi ngờ rằng Biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ hai” thường được đề cập trong phương tiện truyền thông Trung Quốc. Hơn nữa, ngang bằng với tỷ giá hối đoái, Trung Quốc đã không có khó khăn tìm nguồn cung ứng dầu khí bên ngoài khu vực, cũng như không nước nào có lợi ích để can thiệp vào mối thương mại đó.

Những quan sát viên phương Tây không cố gắng tìm hiểu vấn đề thường có xu hướng coi những yêu sách và tham vọng của Trung Quốc không kém giá trị hơn tất cả những nước khác. Kaplan đi xa hơn, xem luật pháp quốc tế thực ra không thích đáng trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, tầm mức to lớn của yêu sách lãnh thổ và chiến thuật được sử dụng trong việc theo đuổi mục tiêu của Trung Quốc, là rất quan trọng đối Mỹ và các quốc gia có lợi ích lớn trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình, dựa trên luật pháp và tự do mậu dịch. Các nhà phân tích này cho rằng một “Trung Quốc đang trỗi dậy” sẽ chỉ chơi theo luật khi phù hợp với lợi ích của họ. Điều đó có nghĩa rằng, Hayton kết luận, khu vực rộng 3.5 triệu kilomet vuông này — vùng ‘biển kín’ lớn nhất thế giới — đã trở thành nơi mà bản chất khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ có ngày xung đột.”

Mỗi năm trôi qua, sự căng thẳng tăng cao hơn. Một động lực không ổn định khó tránh khỏi việc sẽ kéo Mỹ và đồng minh châu Á chủ yếu là Nhật vào, để hỗ trợ Việt Nam và Philippines. Trung Quốc không cho thấy có dấu hiệu dịu xuống. Chưa nhìn thấy một kết cuộc hài hòa.

Tái bút: Trớ trêu thay, Bill Hayton không được chào đón tại Việt Nam. Ông là thông tín viên thường trú của BBC tại Hà Nội trong năm 2007-2008. Rõ ràng là các bài viết của ông vào thời điểm đó đã gây khó chịu cho nhà cầm quyền. Khi Hayton nộp đơn xin visa tham dự một cuộc hội thảo tháng 11 năm 2012 về các vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức, ông đã bị từ chối. Vài tháng sau, Hayton nộp đơn một lần nữa, đặc biệt với yêu cầu phỏng vấn các quan chức Việt Nam cho cuốn sách sắp tới của mình. Một lần nữa ông lại bị từ chối. Kết quả là phần trong cuốn sách của Hayton nói về Việt Nam và Biển Đông tương đối “mỏng” — thiếu những chi tiết để thu hút độc giả mà cuộc nói chuyện với các chuyên gia Việt Nam có thể sẽ cung cấp. Đó là một điều đáng tiếc – và một câu chuyện khác (cho đến nay) có kết cuộc chẳng mấy hay ho gì!

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, là người viết về các chủ đề Đông Nam Á với sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam đương đại. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ nworbd@gmail.com.

—–

Ghi chú: Bản tiếng Anh đã được đăng trên trang Asia Sentinel: Book Review: The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. Một bản khác, tác giả viết riêng cho các độc giả Việt Nam, có phần khác với bản này.

Theo blog Anh Ba Sàm

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa, Sách- Báo- Hồi Ký | 1 Comment »

►Blogger Điếu Cày gặp gỡ cộng đồng người Việt hải ngoại và phát biểu tại phi trường Los Angeles -

Posted by hoangtran204 on 22/10/2014

 Trước đây, có tin đồn ông Nguyễn Văn Hải bị mất một cánh tay. Tuy nhiên, ngay sau đó tin đồn này bị bác bỏ.

Hiện nay, sức khỏe của ông Hải khá ổn. Tuy nhiên, di chứng của đợt bị bệnh ‘giời leo’ – Zona vẫn còn

(Bệnh Shingles: do cơ thể suy yếu và vi trùng tấn công vào dây thần kinh ngoại biên. biểu hiện như bệnh ngoài da, ngứa ngay, tê, kéo dài nhiều tháng, nhiều năm và gây đau toàn thân, trí nhớ sụt giảm…Tuy vậy, bệnh này dễ trị. Chỉ cần uống thuốc Acyclovir hoặc Valacyclovir trong vài tuần là khỏi. Nếu bị đau, uống thêm acetaminophen hoặc advil (ibuprofen). Nếu bị ngứa, xoa kem benadril vào chỗ bị ngứa). 

Do vậy, cánh tay trái của ông hiện hơi khó khăn khi cử động. Đặc biệt trong thời gian giá lạnh, ông Hải sẽ khó khăn cử động cánh tay này cũng như nhấc nó lên cao.

Hy vọng rằng trong thời gian ngắn tới, trong tình yêu thương của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải sẽ sớm khoẻ trở lại.

Video Điếu Cày Nguyễn Văn Hải phát biểu tại phi trường Los Angeles 

.

*Một phỏng vấn rất hay – câu hỏi và câu trả lời-

VOA Tiếng Việt phỏng Vấn chị Dương Thị Tân, vợ của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, ngày 22-10-2014

http://voatiengviet.share.voanews.eu/externalaudio-FLRM/Audio/2490990.html

 

Con Đường Việt Nam

Hình ảnh do blogger Đoan Trang cung cấp trực tiếp tại sân bay, lúc cộng đồng hải ngoại đón chào ông

 

 

Tại phi trường Los Angeles, California, (USA)

 

 

Hình của Điêú Cày Nguyễn Văn Hải 2007 . Điếu Cày bị bản án 12 năm. Anh bị tù 2008 đến 10/2014.

 

—————–

 

Ngày 27/4/2014, con trai blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải là Nguyễn Trí Dũng cùng một số nhà hoạt động đã đến trại giam số 6 (Thanh Chương – Nghệ An) để làm thủ tục thăm nuôi định kỳ hàng tháng.

Như thường lệ, chỉ một mình Nguyễn Trí Dũng được vào bên trong để thăm gặp bố. Lúc 15:15 phút chiều, Điếu Cày với mái tóc cắt ngắn bước ra gặp con với một tâm trạng đầy vui vẻ và lạc quan.

Theo lời kể của Nguyễn Trí Dũng, hai bố con bị ngăn cách bởi một cánh cửa sắt. Sức khỏe của Điếu Cày đang chuyển biến xấu do chứng bệnh ‘Giời leo’ (y học gọi là zona), tay trái gần như mất cảm giác, thường xuyên đau nửa đầu. Mặc dù đã nhiều lần gửi đơn yêu cầu được chăm sóc y tế và khám chuyên khoa, nhưng phía trại giam chỉ thực hiện các thủ tục đo tim mạch và cho uống những loại thuốc không rõ nguồn gốc.

Kiên trì đấu tranh

Năm nay bước sang tuổi 62, với thời gian ngồi tù tổng cộng 6 năm nghiệt ngã, blogger Điếu Cày vẫn cho thấy bản lĩnh của một tù nhân lương tâm đầy kiên cường và bất khuất.

Ở trong tù, anh vẫn tiếp tục đấu tranh và gửi đơn thư phản đối bản án bất công mà nhà cầm quyền CSVN đã cố tình áp đặt. Cho đến nay, Điếu Cày vẫn chưa nhận được bản an phúc thẩm và quyết định thi hành án. Theo anh, điểm mấu chốt là phía CA đã sử dụng những bằng chứng không đúng sự thật để kết tội anh cùng các thành viên CLB Nhà báo Tự Do, đặc biệt là trong phiên xử kín tất cả quyền của bị can – bị cáo đã bị tước bỏ.

Điếu Cày liệt kê tổng cộng anh đã gửi 12 lá đơn từ lúc chuyển sang trại 6 Nghệ An. Tuy nhiên đến giờ vẫn chưa có hồi âm. Một vài lần, VKSND Nghệ An và VKSND Tối Cao đã cho người xuống hứa hẹn nhưng đây cũng chỉ là hình thức câu giờ nhằm tránh thời điểm ‘nhạy cảm’.

Anh nhắn nhủ gia đình và bạn bè bên ngoài tiếp tục thực hiện các thủ tục kháng nghị, tố cáo những vi phạm nghiêm trọng trong vụ án các blogger CLB Nhà Báo Tự Do.

Về đời sống trong tù, Điếu Cày cho biết hiện tại anh vẫn đang bị biệt giam, bị cách ly và cô lập hoàn toàn. Cán bộ trại giam số 6 đã tước đoạt hoàn toàn các quyền được học tập và sinh hoạt văn hóa của anh.

Trong tù, Điếu Cày chỉ được đọc duy nhất tờ báo Nhân Dân, sau khi nội dung tờ báo của đảng này đã được qua một khâu kiểm duyệt gắt gao của cán bộ trại giam. Nhiều tài liệu, sách vở về pháp luật do gia đình gửi vào cũng bị phía trại giam từ chối không nhận.

Về bệnh tật, do điều kiện giam giữ khắc nghiệt và không được chăm sóc y tế đúng mức, bệnh tật của Điếu Cày đã chuyển biến nặng hơn, đặc biệt là đối với chứng bệnh zona thần kinh (bệnh giời leo).

Tinh thần lạc quan

Tại buổi thăm gặp, Nguyễn Trí Dũng đã cập nhật cho bố một số thông tin về các hoạt động đấu tranh bên ngoài, trong đó có việc EU đề nghị chính phủ VN được vào thăm gặp blogger Điếu Cày nhưng liên tiếp đều bị từ chối.

Điếu Cày và con trai

Điếu Cày tỏ ra rất vui khi biết có nhiều nhà hoạt động đã đi cùng Nguyễn Trí Dũng vào tận trại 6 – Nghệ An để ủng hộ tinh thần. Anh gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người về các nỗ lực đấu tranh đòi dân chủ và nhân quyền trong thời gian qua. 

Tại buổi thăm gặp, Nguyễn Trí Dũng đã đọc cho bố nghe bức thư của bà Dana gửi đến Điếu Cày. Mặc dù bức thư bị CA giật lấy ngay sau đó với lý do ‘thư chưa kiểm duyệt’, nhưng Điếu Cày vẫn có thể nghe và hiểu được sự quan tâm của dư luận quốc tế.

Điếu Cày gửi lời hỏi thăm và cảm ơn đến tất cả mọi người, các cơ quan, tổ chức ở trong và ngoài nước. Nhân dịp này, Điếu Cày cũng chuyển lời cảm ơn Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) đã có nhiều nỗ lực nhằm vận động trả tự do cho anh.

 

Lời nhắn gửi nhân ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới

Cũng tại buổi thăm gặp, Điếu Cày nhắn nhủ gia đình và bạn bè bên ngoài cần làm các thủ tục kháng nghị bản án bất công, đặc biệt là vận dụng các cơ chế Nhân Quyền của Liên Minh Châu Âu và Liên Hiệp Quốc để tiếp tục gây áp lực.

Nhân ngày Tự Do Báo Chí Thê Giới 5/3 sắp tới, Điếu Cày tiếp tục kêu gọi các nỗ lực đấu tranh đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.

Điếu Cày cho biết, điều anh hết sức quan tâm hiện nay không phải là luật hay hiến pháp 2013 mà Việt Nam trưng ra, mà chính là những thông tư nghị định do chính phủ ban hành.

“Theo thông lệ thì khi một văn bản thấp hơn mà lại có nội dung trái lại với văn bản cấp cao hơn thì cán bộ nhà nước phải thực hiện theo văn bản cấp cao hơn. Nhưng tại Việt Nam thì những thông tư, nghị định, chỉ thị là thứ duy nhất được thực hiện triệt để và đa số chúng đều vi hiến và vi phạm pháp luật…”

“Hiến pháp và pháp luật là do 500 đại biểu Quốc hội bầu ra phê duyệt, nhưng thông tư nghị định và chỉ thị lại chỉ do một người trong nhà nước ký duyệt, vì vậy mà việc ban hành và thi hành thông tư nghị định đó đã hoàn toàn vứt bỏ tất cả những lá phiếu của nhân dân vào sọt rác”, blogger hiện đang bị kết án 12 năm tù giam phân tích.

Về tình hình tự do báo chí tại Việt Nam, trong tư cách là một người sáng lập CLB Nhà Báo Tự Do, Điếu Cày khẳng định: “Hơn 700 tờ báo tại VN chỉ ưu tiên định hướng dư luận theo ý nhà nước chứ không phải là đưa những thông tin xác thực đến với người dân.”

‘Tạm xong nhiệm vụ’

Lúc 15:45, buổi thăm nuôi kết thúc sau 30 phút ngắn ngủi. Khi chia tay, Nguyễn Trí Dũng cố gắng chạy đến chỗ cổng ra vào để ôm bố.

Trong lúc hai bố con ôm nhau, Điếu Cày vẫn tỏ ra đầy lạc quan và mạnh mẽ. Anh vui vẻ nói với con: “Mọi người cố gắng lên, tinh thần bố rất tốt. Không có gì đâu. Bố bây giờ như người đã tạm làm xong nhiệm vụ, xem như bố tạm nghỉ ngơi thôi mà, có gì đâu mà”.

Sau nụ cười dí dỏm, anh liền ngẫu hứng xuất khẩu một câu thơ ‘con cóc’: “Sài Gòn là chốn biểu tình – Trại 6 là chỗ chúng mình nghỉ ngơi” – “Con nhớ chưa? Thơ cho dễ nhớ…[cười]“

 

Khi bố bị đưa đi mất dạng, Nguyễn Trí Dũng bị CA giữ lại khoảng nửa tiếng để lập biên bản và gửi trả một số đồ đạc mà trại giám không cho nhận như: sách nhạc, bản đồ thế giới, sách pháp luật…
Chia sẻ cảm nghĩ sau cùng về buổi thăm gặp bố, Nguyễn Trí Dũng cho biết: “Trong suốt buổi gặp, bố tôi cười rất nhiều. Bố còn nói “Bố bây giờ như người tạm làm xong nhiệm vụ”, có thể nói là ông đang cảm thấy rất thư thái. Tất cả đều nhờ vào sức mạnh của công luận quốc tế, và tất nhiên bố lúc nào cũng biết bạn bè ở ngoài cũng đang nỗ lực rất nhiều”.

 

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►TQ đã hoàn tất đường băng dành cho sân bay dài 2000 mét ở Hoàng Sa (đảo Phú Lâm)– Hà Nội phản đối lấy lệ

Posted by hoangtran204 on 11/10/2014

BBC

9 tháng 10 2014

Tạp chí The Diplomat hôm 8/10 đăng bài của cây bút Zachary Keck trong đó cho rằng việc xây dựng đường băng là một phần trong nỗ lực củng cố sự hiện diện của quân đội Trung Quốc trên các đảo và bãi đá ngầm này đang kiểm soát trên Biển Đông.“Điều này nhằm mục đích củng cố yêu sách chủ quyền cũng như khả năng tuần tra của Quân Giải phóng Nhân dân trên vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền”.Tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng trong tin đăng hôm 8/10 dẫn lời chuyên gia quân sự Nghê Lạc Hùng tại Thượng Hải so sánh đường băng mới của Trung Quốc với một “hàng không mẫu hạm không thể bị đánh chìm”.“Nó sẽ trở thành nơi cất cánh – hạ cánh lý tưởng cho các máy bay hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân,” ông cho biết.

“Động thái mới nhất trên đảo Vĩnh Hưng có mục đích cảnh báo Washington rằng Bắc Kinh đã sẵn sàng cho trường hợp Hoa Kỳ hậu thuẫn Việt Nam để chống lại Bắc Kinh nếu có xung đột lãnh thổ diễn ra trong tương lai”.

Tờ này cũng dẫn lời ông Lý Giải, một cựu sỹ quan của Quân Giải phóng Nhân dân, nói đường băng này sẽ mở đường cho việc thiết lập một vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông.

“Đường băng này đã trở thành sân bay lớn nhất ở vùng cực nam của Trung Quốc,” ông Lý nói.

“Nó sẽ giúp các phi cơ củng cố khả năng chiến đấu, làm nhiệm vụ trinh thám cũng như chống lại các hoạt động trinh thám khác”.

“Sân bay Tam Sa cũng được thiết kế để làm nơi trữ hàng cho các hạm đội của Trung Quốc … Đường băng này cũng có thể giúp cho các hoạt động du lịch tại quần đảo Hoàng Sa”.

.

Hình chụp đường băng mới của Trung Quốc từ trên cao

.

Chỉ trích quan hệ Việt – Mỹ

Trong một diễn biến khác, tờ China Daily hôm 9/10 đã có bài viết chỉ trích việc Hà Nội thắt chặt quan hệ với Washington, thể hiện qua quyết định nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam của Hoa Kỳ hồi đầu tháng 10.

“Việc Hoa Kỳ cho phép bán vũ khí sát thương cho Việt Nam được nhiều ý kiến trong khu vực xem là không chỉ phục vụ cho chiến lược chuyển trục về châu Á của Hoa Kỳ, mà còn giúp Hà Nội đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa,” bài viết có đoạn.

“Hà Nội cần tỉnh táo và hiểu rằng nước này chỉ là một quân trên bàn cờ chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ.”

“Sự nồng ấm trong mối quan hệ này dựa trên một nền tảng mong manh do sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai nước và những vết thương của chiến tranh.”

“Việt Nam chưa bao giờ được lột tả một cách tích cực trong những bộ phim của Hoa Kỳ, và tâm lý chống Mỹ vẫn còn rất rộng lớn trong xã hội Việt Nam – điều đang cản trở nước này thắt chặt quan hệ với cựu thù”.

“Bên cạnh đó, cả hai nước cũng cần cẩn thận để việc thắt chặt quan hệ quân sự không làm ảnh hưởng quan hệ với Bắc Kinh. Dù gì đi nữa, một cuộc đối đầu trên Biển Nam Trung Hoa sẽ không phục vụ cho lợi ích của bất cứ ai”.

Đường băng dài mới được cho là sẽ giúp quân đội Trung Quốc gia tăng hiện diện trong khu vực

Bắc Kinh vừa hoàn tất đường băng quân sự trên đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa, trong lúc báo Trung Quốc chỉ trích việc Hà Nội thắt chặt quan hệ với Washington.

Đường băng dài 2 km sẽ được sử dụng cho các hoạt động của Quân Giải phóng Nhân dân, Tân Hoa Xã cho biết.

“Với việc hoàn tất và tiếp tục nâng cấp đường băng trên đảo Vĩnh Hưng (tên gọi Trung Quốc dùng cho đảo Phú Lâm), các máy bay quân sự giờ đây có thể hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa và giúp nâng cao khả năng phòng vệ của Trung Quốc trên Biển Nam Trung Hoa”, bản tin cho hay.

Tân Hoa xã cũng đăng tải nhiều hình ảnh chụp đường băng được bao quanh bởi nước biển và nhiều cần cẩu xây dựng.

Phản ứng về tin này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình được truyền thông trong nước dẫn lời nói “Hành động trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Hồi tháng Sáu, Trung Quốc đã xây một trường học trên đảo Phú Lâm để phục vụ cho gia đình các công nhân làm việc tại đây, hãng thông tấn AFP cho biết.

Động thái mới nhất từ phía Trung Quốc diễn ra 5 tháng sau khi nước này đưa giàn khoan vào vùng biển tranh chấp với Việt Nam, cách đảo Lý Sơn 120 hải lý, châm ngòi cho hàng loạt cuộc đụng độ trên biển suốt một tháng sau đó giữa các tàu chấp pháp hai nước.

‘Cảnh cáo Washington’

 

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội Nghị San Francisco 1951

Posted by hoangtran204 on 12/08/2014

Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội Nghị San Francisco 1951

Tác giả:

8-8-2014

Thế chiến thứ hai chấm dứt năm 1945, nhưng cho đến năm 1951 Hội nghị tại San Francisco (Hoa Kỳ) giữa Nhật Bản và các nước Đồng minh mới diễn ra để Nhật Bản xác định lập trường hòa bình, từ bỏ chủ quyền trên các vùng đất Nhật Bản chiếm đóng trong thế chiến, bàn chuyện Nhật Bản bồi thường cho các nạn nhân và tù binh chiến tranh, cũng như quyết định chấm dứt quân đội nước ngoài chiếm đóng Nhật Bản và trao trả chủ quyền lại cho Nhật Bản.

1.- NHẬT BẢN THẤT TRẬN

Nhật Bản xâm lăng Mãn Châu năm 1931, lập ra Mãn Châu Quốc năm 1932, đưa vị vua cuối cùng của nhà Thanh là Phổ Nghi (Pu Yi, trị vì Trung Hoa 1908-1912) lên làm giám quốc vì nhà Thanh gốc người Mãn Châu. Nhật chiếm Nam Kinh (Trung Hoa) ngày 13-12-1937, gây ra cuộc thảm sát kinh hoàng trong 6 tuần lễ, giết hại khoảng 300,000 dân Trung Hoa.

Ngày 25-11-1936, Nhật ký với Đức hiệp ước chống Đệ tam Quốc tế (Anti Cominter Pact) nhắm vào Liên Xô. Năm sau, Ý gia nhập tổ chức nầy ngày 6-11-1937. Ba nước còn ký Hiệp ước Liên minh tay ba tại Berlin ngày 27-9-1940, thường được gọi là Trục Bá Linh–La Mã–Đông Kinh (Berlin–Roma–Tokyo Axis). Từ đó, trong khi Đức Ý tung hoành ở Âu Châu, thì Nhật bành trướng ở Á Châu.

Nhật đưa quân đến Đông Dương năm 1940, nhưng vẫn để Pháp cai trị Đông Dương. Ngày 7-12-1941, Nhật bất ngờ tấn công Pearl Harbor (Hawaii), tàn phá hạm đội Hoà Kỳ ở Thái Bình Dương, giết hại 2,400 người Hoa Kỳ. Hôm sau (8-12-1941), Hoa Kỳ và Anh tuyên chiến với Nhật Bản. Quân đội Nhật ào ạt đổ bộ lên miền nam Thái Lan (8-12-1941), bắc Mã Lai (8-12), tấn công Manila (8-12), đến quần đảo Luzon (10-12-1941), chiếm Bataan (9-4-1942), và toàn bộ Phi Luật Tân (5-1942).

Trong khi chiến tranh diễn ra càng ngày càng ác liệt tại Đông Á giữa lực lượng Đồng minh (gồm quân đội Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Quốc Dân Đảng) với quân đội Nhật Bản, thì Liên Xô vẫn tiếp tục bang giao với Nhật Bản vì Liên Xô ký hòa ước bất tương xâm với Nhật Bản từ ngày 13-4-1941. Ngày 6-8-1945, Hoa Kỳ thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima (Nhật Bản). Liên Xô biết chắc chắn Nhật Bản sẽ đầu hàng, liền mời đại sứ Nhật tại Moscow đến bộ Ngoại giao Liên Xô lúc 5 giờ chiều ngày 8-8-1945 và ngoại trưởng Liên Xô Mikailovich Molotov thông báo cho đại sứ Nhật Bản biết rằng Liên Xô quyết định tuyên chiến với Nhật. (Basil Collier, The Second World War: a Military History, Gloucester, Mass: Pater Smith, 1978, tt. 529-530).

Sáng sớm hôm sau (9-8-1945), Liên Xô tràn quân qua chiếm Mãn Châu và vùng đông bắc Trung Hoa, chỉ vài giờ trước khi Hoa Kỳ dội thêm quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagasaki. Liên Xô tiến quân chiếm luôn cả miền bắc bán đảo Triều Tiên. Cuối cùng, Nhật hoàng quyết định đầu hàng ngày 14-8-1945. Hiệp ước đầu hàng được ký kết trên chiến hạm Missouri, thả neo trong vịnh Đông Kinh, do đại tướng Mac Arthur chủ trì.

Như thế, Liên Xô dựa vào thời cơ để nhập cuộc trong chiến tranh chống Nhật Bản năm 1945, thiệt hại không đáng kể mà hưởng lợi tối đa ở miền đông bắc châu Á.

2.- HỘI NGHỊ SAN FRANCISCO

Sau chiến tranh, đất nước Nhật Bản kiệt quệ, kinh tế suy thoái. Nhật Bản thay đổi chính sách, từ bỏ chế độ quân phiệt, từ bỏ tham vọng đế quốc, ban hành hiến pháp hòa bình ngày 3-11-1946, có hiệu lực từ 3-5-1947. Theo hiến pháp mới, Nhật Bản theo đại nghị chế, Nhật hoàng chỉ còn giữ địa vị tượng trưng. Đặc biệt điều 9 chương II hiến pháp quy định Nhật Bản không có có Hải, Lục, Không quân và chính phủ Nhật Bản từ nay không được quyền tuyên chiến.

Hoa Kỳ là nước có quân chiếm đóng Nhật Bản đồng thời viện trợ cho Nhật Bản tái thiết đất nước. Cuộc thương thuyết giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ đưa đến hai hội nghị hòa bình San Francisco từ ngày 4 đến ngày 8-9-1945. Hội nghị thứ nhất gồm có 51 quốc gia tham dự trong đó có cả Nhật Bản, đưa đến Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản (Treaty of Peace with Japan). Hội nghị thứ hai giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản đưa đến Hiệp ước An ninh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản (Security Treaty between United States and Japan). Chuyện giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản không nằm trong bài viết nầy.

Hội nghị 51 nước tham dự theo thứ tự ABC là: Argentina, Australia, Belgium, Bolivia, Brazil, Cambodia, Canada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Czechoslovakia, Dominican Republic, Ecuador, Egypt, El Salvador, Ethiopia, France, Greece, Guatemala, Haiti, Honduras, Indonesia, Iran, Iraq, Japan, Laos, Lebanon, Liberia, Grand Duchy of Luxembourg, Mexico, Netherlands, New Zealand, Nicaragua, Norway, Pakistan, Panama, Peru, Republic of the Philippines, Poland, Saudi Arabia, Soviet Union, Syria, Turkey, Union of South Africa, United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, United States of America, Uruguay, Venezuela, Viet Nam.

3.- THÁI ĐỘ CỦA CÁC NƯỚC CỘNG SẢN

Trong 51 nước trên đây, có ba nước lúc đó theo chế độ cộng sản là Czechoslovakia (Tiệp Khắc, chưa chia hai), Poland (Ba Lan) và Soviet Union (Liên Bang Xô Viết hay Liên Xô). Cả Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) lẫn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) đều không được mời tham dự, vì hội nghị không biết mời ai là đại diện cho Trung Hoa tại hội nghị.

Trong dự thảo hiệp ước, Nhật Bản quyết định từ bỏ quyền hành ở các hải đảo dọc bờ biển Trung Hoa và Việt Nam, nhưng không ghi là giao lại cho ai, vì hải đảo của nước nào thì nước đó đương nhiên nhận lại. Dự thảo nầy được gởi đến các nước để tham khảo và tu chính trước ngày diễn ra hội nghị.

Trung Cộng không được mời tham dự hội nghị nên ngoại trưởng Trung Cộng lúc bấy giờ là Chu Ân Lai lên tiếng phủ đầu ngày 15-8-1951: “Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký một hòa ước với Nhật Bản thì dù nội dung và kết quả của một hiệp ước như vậy có như thế nào, chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp và vì vậy vô hiệu.” (People’s China, tập IV, số 5 ngày 1-9-1951, do Quốc Tuấn trích dẫn trong bài “Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa”, tập san Sử Địa số 29, Sài Gòn: tháng 1-3/1975, tr. 221).

Lập trường của Trung Cộng là đòi hỏi chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo duyên hải Trung Hoa và duyên hải Việt Nam. Trung Cộng không tham dự hội nghị, nhưng đòi hỏi của Trung Cộng được đại diện Liên Xô trình bày trong phiên họp ngày 5-9-1951. Andrei Gromyko, đại diện Liên Xô, phản đối bản dự thảo hòa ước vì cho rằng đây là bản dự thảo do Hoa Kỳ và Anh soạn thảo, chưa đáp ứng được những yêu cầu cần thiết cho một nền hòa bình với Nhật Bản. Lời phản đối của Gromyko bị các thành viên khác trong hội nghị la ó. (Xin xem tài liệu đính kèm số 1).

Lý do đại diện Liên Xô bị hội nghị la ó có thể vì bản dự thảo đã được gởi trước để các nước tham khảo, nhưng Liên Xô không trả lời, mà mãi đến khi hội nghị bắt đầu, mới lên tiếng làm mất thời giờ hội nghị và đại diện các nước không chuẩn bị trước với chính phủ của họ. Cũng có thể các nước Đồng minh biết rằng trong chiến tranh chống Nhật Bản, Liên Xô chờ đợi đến phút chót, Nhật Bản bị sụp đổ, Liên Xô mới tham chiến để chia phần nên các đại biểu không cảm phục.

Sau khi chủ tịch hội nghị can thiệp, kêu gọi tái lập trật tự hội trường, thì Gromyko mới tiếp tục phát biểu, đưa ra trước sau 13 điểm tu chính (sửa đổi 5 điểm cũ và đưa thêm 8 điểm mới), trong đó có một tu chính là sửa đổi khoản (b) và khoản (f), điều 2 chương II, liên quan đến các hải đảo dọc duyên hải Trung Hoa và duyên hải Việt Nam. Andrei Gromyko cho rằng các đảo Paracels (Hoàng Sa) và các đảo khác về phía Nam, được xem là lãnh thổ của Trung Cộng, và yêu cầu bổ sung vào hiệp định là các hải đảo đó thuộc chủ quyền của Trung Cộng. (Xin xem tài liệu đính kèm số 1.) Tuy nhiên, Gromyko không đưa ra bằng chứng cụ thể nào về chủ quyền của Trung Cộng đối với các đảo trên.

Trong cuộc biểu quyết ngày 7-9-1951, tất cả những tu chính của Liên Xô do Gromyko đưa ra, trong đó có cả tu chính khoản (b) và khoản (f) điều 2 chương II, tất cả đều bị hội nghị bác bỏ. Kết quả biểu quyết cụ thể là 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận của ba nước cộng sản (Tiệp Khắc, Ba Lan và Liên Xô), 1 phiếu trắng và Nhật Bản không bỏ phiếu. Tỷ lệ bác bỏ là 46/51.

4.- Ý KIẾN CỦA VIỆT NAM

Đại diện Việt Nam tại hội nghị San Francisco là thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) Trần Văn Hữu. Chính phủ QGVN do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng. Theo hiệp định Élysée ngày 8-3-1949 Pháp giải kết hòa ước bảo hộ 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Chính thể QGVN chính thức được thành lập ngày 14-6-1949. Đạo dụ ngày 1-7-1949 chia Việt Nam làm ba phần: Bắc, Trung và Nam Phần. Hai ngày sau, quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ba vị thủ hiến phụ trách ba phần, trong đó thủ hiến Trung Phần là dược sĩ Phan Văn Giáo.

Ngày 14-10-1950, khi Pháp quyết định giao lại quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ QGVN, thủ hiến Phan Văn Giáo, đại diện chính phủ, đến tận quần đảo Hoàng Sa để nhận bàn giao chủ quyền quần đảo nầy. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, tập B: 1947-1954, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 196.)

tai lieu 5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyên dưới thời vua Bảo Đại (trị vì 1926-1945), Pháp thiết lập tòa Đại lý Hành chánh quần đảo Hoàng Sa ngày 15-6-1932. Vua Bảo Đại ban dụ số 10 ngày 30-3-1938 sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên, nên năm 1950, thủ hiến Trung Phần Phan Văn Giáo, đại diện chính phủ tiếp nhận việc bàn giao của Pháp.

Ngoài thủ tướng Trần Văn Hữu, phái đoàn chính phủ QGVN còn có các ông: Nguyễn Trung Vinh (tổng trưởng bộ Tài chánh), Nguyễn Duy Thanh (tổng trưởng bộ Kế hoạch và Tái kiến thiết), và Bửu Kính.

Vì sắp theo thứ tự ABC, phái đoàn Việt Nam đứng áp chót, chỉ trước phái đoàn Nhật Bản là nước trong cuộc. Vì vậy phái đoàn Việt Nam được mời phát biểu gần như sau cùng ngày 8-9-1951. Vào cuối phần phát biểu của mình, thủ tướng Trần Văn Hữu nhấn mạnh: “And as we must frankly profit from all opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam.” Tạm dịch: “Và chúng tôi phải thẳng thắn lợi dụng tất cả các cơ hội dành cho chúng tôi để chận đứng những mầm mống bất đồng, chúng tôi xác định chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vốn luôn luôn thuộc Việt Nam.”) (Xin xem tài liệu đính kèm số 2, 3 và số 4.) Lời phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu không bị đại diện phái đoàn nào trong hội nghị phản đối và được ghi vào biên bản, chứng tỏ hội nghị đồng ý với quan điểm của chính phủ QGVN.

Cuối cùng, hội nghị đi đến việc ký kết bản Treaty of Peace with Japan (Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản) cũng trong ngày 8-9-1951 với 48 phiếu thuận, trừ ba nước cộng sản, đồng minh của Trung Cộng, không chịu ký. Bản hiệp ước có hiệu lực ngày 28-4-1952.

Bản hiệp ước San Francisco gồm 7 chương, 27 điều, trong đó khoản (f), điều 2, chương II, liên hệ đến Việt Nam nguyên văn như sau: “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracels Islands.” (United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, pp. 45 – 164.) (Nhật Bản từ bỏ mọi quyền hành, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Spratly [Trường Sa] và quần đảo Paracels [Hoàng Sa].) (Xin xem tài liệu đính kèm số 5). Nhật Bản từ bỏ mọi quyền hành, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, nghĩa là Nhật Bản trả hai quần đảo nầy trở về với chủ cũ, mà thủ tướng Trần Văn Hữu đã minh định trước hội nghị và không một ai phản đối.

5.- KẾT LUẬN

Hội nghị hòa bình giữa Nhật Bản và 50 nước trên thế giới tại San Francisco, riêng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, liên hệ đến Việt Nam, có thể rút ra hai kết luận:

Kết luận thứ nhứt là từ năm 1951, các nước trên thế giới, trừ các nước cộng sản đồng minh với Trung Cộng, đều phủ nhận đòi hỏi của Trung Cộng là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng qua phần phát biểu của đại diện Liên Xô tại hội nghị. Đồng thời các nước tham dự hội nghị không phản đối, nghĩa là chấp nhận và cho ghi vào biên bản lời thủ tướng Trần Văn Hữu xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ sơ toàn thể hội nghị cùng lời phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ấn hành ngay sau hội nghị, gởi cho tất cả các nước, cũng không bị nước nào phản đối, trừ Trung Cộng.

Kết luận thứ hai là lời phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu chứng tỏ chính phủ Quốc Gia Việt Nam luôn luôn tận dụng mọi cơ hội có thể có được, để tranh đấu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, chống lại âm mưu xâm lược của nước ngoài và trong trường hợp nầy là Trung Cộng. Trong khi đó, Việt Minh cộng sản luôn luôn tuyên truyền rằng chính phủ Quốc Gia Việt Nam là “Việt gian bán nước”. Việt Minh cộng sản nhồi sọ học sinh bằng những câu thơ như:

“Văn Xuân, Văn Hữu cũng tay bợm già,
Cũng phường cỏng rắn cắn gà,
Rước voi giày mả ông bà tổ tông,
Cha đời lũ bán nước rong!”

(Thơ cộng sản dạy cho trẻ em trước năm 1954).

“Văn Xuân, Văn Hữu” là hai thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Thử so sánh lời phát biểu của Trần Văn Hữu với công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 về vấn đề Hoàng Sa, xin quý vị độc giả hãy tự kết luận ai là “lũ bán nước rong”?

(Toronto, 4-8-2014)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

————————–

 

 

—————–

TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM trích từ:

Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace
With Japan, San Francisco, California – September 4-8-1951, Record of Proceedings
Do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ấn hành. Nhận được qua giáo sư THB (California)

Tài liệu 1: Phát biểu của đại diện Liên Xô

Tài liệu 2: Phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu

Tài liệu 3: Phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu (tiếp)

Tài liệu 4: Phần cuối lời phát biểu của thủ tướng Trần Văn Hữu

Tài liệu 5: Chương II, điều 2, khoản (f)
Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản

 

Các bạn Copy và Paste (cắt và dán) hàng chữ này vào hộp search của trang google.com để nhìn thấy hình ảnh của hội nghị

Thủ tướng Trần Văn Hữu tại hội nghị San Francisco 1951

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Thư ngỏ của một số đảng viên Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 29/07/2014

Nguồn: anhbasam.wordpress.com

28-7-2014

THƯ NGỎ

 Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị.

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!

______________________

DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
  2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
  6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
  9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
  10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
  11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
  12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
  13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
  14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
  15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
  16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
  17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
  18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
  19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
  20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
  21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
  22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
  24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
  25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
  26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
  28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
  30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
  31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
  33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
  35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
  36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
  38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
  39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
  41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
  42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
  43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
  45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
  47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
  49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
  50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
  51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
  52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
  53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
  54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
  55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
  56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
  57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1991, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1996, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.

_____________________

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

Posted by hoangtran204 on 27/07/2014

 

Lãnh đạo nào của Việt Nam chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc Báo cáo viên Liên hiệp quốc?

 27-7-2014
Phạm Chí Dũng
.

.

Vụ việc Công an TP.HCM và công an một số địa phương ngăn chặn không cho ra khỏi nhà đối với những người đấu tranh dân chủ vào ngày 25/7/2014 và cả một số ngày sau đó là bằng chứng mới nhất, sống động nhất và cũng lộ liễu nhất về việc “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người”.

Ngày 25/7 cũng là thời điểm mà một đoàn giám sát về tự do tôn giáo của Liên hiệp quốc dẫn đầu bởi ông Heiner Biederfeldt, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ, vào TP. HCM để gặp gỡ một số chức sắc tôn giáo và nhân chứng, nhằm kiểm chứng tính thực chất về việc “Việt Nam chấp nhận các khuyến nghị của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” là như thế nào.

Không chỉ bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, bà Dương Thị Tân (vợ tù nhân Điếu Cày Nguyễn Văn Hải), cựu tù nhân chính trị Phạm Bá Hải, mà hai mục sư Tin Lành là Nguyễn Hoàng Hoa và Nguyễn Mạnh Hùng cũng bị công an địa phương ngăn chặn ngay tại nhà riêng nhằm không cho tiếp xúc với ông Heiner Biederfeldt – Báo cáo viên đặc biệt của LHQ. Bất cứ động tác nào của công dân hợp pháp muốn rời khỏi nhà đều bị nhân viên an ninh và cảnh sát xô đẩy bằng hành vi thô bạo và hoàn toàn bất hợp pháp.

Vi phạm cam kết

Trước khi được chấp thuận tham gia chính thức vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, Nhà nước Việt Nam đã cam kết trước chủ tịch Hội đồng nhân quyền 14 điều, trong đó có nội dung sẽ mời báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo đến Việt Nam, và “sẽ tạo điều kiện tốt nhất” để báo cáo viên này được tiếp xúc với những ai mà Liên hiệp quốc thấy cần gặp.

Vào nửa đầu năm 2014, cam kết trên được giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam là ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước, và ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng chính phủ, cùng Bộ Ngoại giao và Bộ Công an Việt Nam nhiệt tình lặp lại trong những cuộc làm việc với Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Wendy Sherman và Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hoa Kỳ. Cam kết về tự do tôn giáo cũng được đưa vào báo cáo chính thức của Phái đoàn Việt Nam tại buổi xem xét báo cáo đầu ra của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 6/2014 tại Thụy Sĩ.

Một ủy viên Bộ chính trị khác và được xem là ứng viên tiềm tàng cho cương vị Tổng bí thư tại đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 vào năm 2016 – ông Phạm Quang Nghị – cũng vừa đưa ra khẩu hiệu “Việt Nam luôn bảo đảm nhân quyền” trong chuyến công du của ông ở Hoa Kỳ vào thời gian này.

Để có được sự thuận thảo của các quốc gia trong khối Hiệp định đối tác thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận tham gia vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cùng các điều kiện về nhân quyền và dân chủ hợp lý mà cộng đồng quốc tế đòi hỏi. Tuy nhiên, bằng chứng ngăn chặn công dân mới nhất vừa nêu đã cho thấy đối với giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam, nói làm vẫn là hai hành vi khác nhau về bản chất, không chỉ bản chất chính trị mà cả về tư cách chính khách.

Tư cách chính khách?

Sự khác biệt quá cơ bản về bản chất trên có lẽ đã là nguyên do đủ nặng ký để Nhà nước Úc, dù trước đây khá nhã nhặn với chính quyền Việt Nam, nay cũng phải tỏ thái độ kiên quyết hơn trong việc đòi hỏi Việt Nam phải tôn trọng hơn nữa các quyền con người.

Ngay trước thềm cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Úc sẽ diễn ra vào cuối tháng 7/2014, chính quyền Việt Nam lại ghi thêm một điểm rất xấu về “thành tích” vi phạm nhân quyền. Việc vi phạm không chỉ lần đầu và mang tính hệ thống như thế tất yếu dẫn đến những câu hỏi không thể lảng tránh:

1. Việc ngăn chặn bất hợp pháp đối với công dân như trên là do Công an TP. HCM và công an một số địa phương “chủ động biện pháp nghiệp vụ”, hay những cơ quan công an này được chỉ đạo bởi những cấp lãnh đạo nào?

2. Nếu cơ quan công an được chỉ đạo, vậy những lãnh đạo nào của Việt Nam đã chỉ đạo ngăn chặn công dân tiếp xúc với Báo cáo viên Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo?

3. Nếu việc chỉ đạo ngăn chặn công dân như thế thuộc về trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam – những người vẫn thường ra mặt hứa hẹn với Liên hiệp quốc và Hoa Kỳ 14 điều cam kết về nhân quyền, liệu Liên hiệp quốc và chính giới phương Tây nên có cái nhìn sâu xa và rạch ròi đến mức nào đối với những lãnh đạo ấy, kể cả một cái nhìn liên đới với hai dự luật Nhân quyền Việt Nam và Chế tài nhân quyền Việt Nam còn đang treo ở Thượng nghị viện Mỹ?

.

Phạm Chí Dũng
Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam
Phát ngôn viên Hội Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam
Thành viên Diễn đàn Xã hội dân sự Việt Nam

* * *

Pham Chi Dung – What government leaders of Vietnam ordered to prevent citizens from meeting UN Rapporteur?

Ho Chi Minh City Department of Police and some local policemen barred some pro-democracy activists from going out of home from July 25, 2014 to some days later it’s the latest, liveliest and most blatant example about “State of Vietnam always respects and guarantees human rights.”

On July 25, Mr. Heiner Biederfeldt, the UN Special Rapporteur on freedom of religion arrived HCM city to meet a number of religious leaders and witnesses to verify how the nature of the “Vietnam accepted the recommendations of the Human Rights Council of the United Nations” is.

Not only Dr. Nguyen Dan Que, independent journalist Pham Chi Dung, Mrs. Duong Thi Tan(ex-wife prisoner Nguyen Van Hai Dieu Cay), former prisoner of conscience Pham Ba Hai were prevented at their home gate, but also two Protestant pastor Nguyen Hoang Hoa and Nguyen Manh Hung did. Any movement of legitimate citizens to go out one’s houses was pushed inside by security policemen rudely and entirely illegally.

Breached its Commitment

Before being formally approved to be a member of the Human Rights Council of the UN, the Vietnam authorities committed 14 conditions, including inviting the UN special rapporteurs of religious freedom to Vietnam, and “creating the best conditions” so that he can meet anyone necessarily.

In the first half of 2014, the above commitment was reiterated by the high-level leaders, President Truong Tan Sang, PM. Nguyen Tan Dung, the Foreign Ministry and the Ministry of Public Security in the meeting with U.S. Deputy Secretary of State Wendy Sherman and Special Advisor to the Government of the United States. Commitment to religious freedom also integrated in the official report of the Vietnam delegation at the UN Human Rights Council in June 2014, Switzerland.

One other member of Politburo Mr. Pham Quang Nghi, considered as a potential candidate for General Secretary of the Communist party in the 12th congress in 2016, also just launched the slogan “Vietnam always ensures human rights” in his tour to the United States recently.

By the agreement of nations within Trans-Pacific Partnership (TPP), the State of Vietnam was accepted to participate in the Human Rights Council at the United Nations with condition that it meets human rights and democracy the international community requires. However, the most last evidence to prevent citizens mentioned has shown that to senior leaders in Vietnam, “say and do” are still two different acts, politically and morally.

Morality of politician?

The said difference may be the reason that Australia, though formerly quite courteous to the government of Vietnam, expressed their stronger stance in demanding the Vietnam state should respect more human rights.

Ahead of the human rights dialogue between Vietnam and Australia on late July 2014, Vietnam government scored a very bad point about the “achievement” of human rights violations. Such not-to-be-the-first violation but systemic, inevitably leads to questions can not be avoided:

1. Illegal prevention with “actively operational measures” to the above citizens executed by either themselves – the HCMC police and some local police or order from the higher levels?

2. If the police was directed, so what leaders of Vietnam have instructed to prevent citizens contacting with the UN Rapporteur on freedom of religion?

3. If such direction to prevent citizens is the responsibility of Vietnam’s leaders who often come out promising with the UN and the U.S. about 14 commitments on human rights, what extend the UN and the Western world should have a deep and sharp look at these leaders, including a link with two bills, Vietnam human Rights Act and the Vietnam Human Rights Sanctions, are still pending in U.S. Senate?

Pham Chi Dung, PhD.
President of Independent Journalists Association of Vietnam
Spokesman of Former Vietnamese Prisoner of Conscience
Member of Vietnam’s Civil Society Forum

Translated by Trang Thien Long

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

Posted by hoangtran204 on 25/07/2014

Chứng cứ lịch sử và khía cạnh pháp luật về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông

 18-7-2014

 GS Tạ Văn Tài, Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN

Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS).

Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế.

1. Căn bản về sự kiện lịch sử và pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ quyền trong các vùng biển bao quanh chúng

1.1. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Sự xác lập này phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay thông lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối.

Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá (reef, rock), chứ không phải là đảo (island), theo định nghĩa của UNCLOS), thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình. (Vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế).

Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngoài là Trung Quốc, chiếm đoạt bằng võ lực đá Gạc Ma từ tay Việt Nam vào năm 1988, giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Philippines, đuổi dân chài và tàu chiến của Philippines ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung Quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Philippines liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi xảy ra.

Riêng trường hợp Việt Nam, thì đã có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hoàng Sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch). Hải trình này thực hiện bởi Đội Hoàng Sa (lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635 – 1648). Và cũng đi ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên – hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử được ghi nhận trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) của Đỗ Bá hay trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn. Ngoài ra, còn có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (1696) của Thích Đại Sán. Đến thế kỷ XIX, tài liệu lịch sử thời Nguyễn cho thấy các cuộc hải trình do nhà nước tổ chức vẫn tiếp tục từ năm 1803 đến khi người Pháp đô hộ Việt Nam (từ năm 1884), với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất với 29 đảo, đá (hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung Quốc chiếm năm 1988 và các năm sau). So sánh với nước khác thì Trung Quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ bản đồ “đường 9 đoạn” thâu tóm 80% Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đối với Trường Sa, Trung Quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chiếm đảo Itu-Aba (đảo Ba Bình) năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) tấn công lực lượng hải quân Việt Nam năm 1988 tại đảo Gạc Ma. Trong khi Trung Quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1.1.2013, ghi nhận là danh sách các đảo, đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau – chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác.

Trong vùng quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung Quốc, vào tháng 5.2014, đặt giàn khoan dầu khí HD-981 ở vùng biển giữa Hoàng Sa và miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô thăm dò dầu khí 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung Quốc tuyên bố một câu là vị trí đặt giàn khoan “là hoàn toàn trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, hàm ý là ở trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, tính từ Hoàng Sa, nơi họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hoàng Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hoảng gây ra do giàn khoan HD-981 chỉ là biến cố gần đây nhất.

Những sự kiện lịch sử về việc Việt Nam khám phá và chiếm cứ Hoàng Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ biên tạp lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung Quốc không đả động gì tới Hoàng Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp soạn, mà một bản sao của J.B. Bourguignon mới được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập quản lý cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nhật ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây phuơng cũng nhắc lại như vậy.

Có hai nhóm đảo/đá trong Hoàng Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (nhóm Nguyệt Thiềm hay nhóm Lưỡi Liềm), trong đó có Hoàng Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung Quốc chiếm, vì Trung Quốc đoạt bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong sự chống cự của hải quân VNCH thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thừa kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam), mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay.

Về nhóm các hòn đảo, đá phía đông của Hoàng Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có Phú Lâm (tiếng Anh gọi là Woody, tiếng Pháp gọi là Boisée), thì do người Pháp lơ là, nên vào năm 1909, Tổng đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt Nam không vững lắm. Nhưng lập trường giải thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đoàn khoa học tới Amphitrite, kể cả ở Phú Lâm, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội THDQ chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về hậu chiến, Liên Xô đưa ra đề nghị để Trung Quốc cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc gia Việt Nam ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại VNCH (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva 1954), thì ngoại trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt Nam lần nữa, khi Trung Quốc chiếm Phú Lâm bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa.

Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái công thư (hay công hàm) ngoại giao ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH ở Miền Bắc Việt Nam) gửi Tổng lý (Thủ tướng) Chu Ân Lai nhân dịp Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý. Sau nhiều lần viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng, coi đó là lời nhượng lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, thì vào tháng 6.2014, Trung Quốc lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung Quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Phạm Văn Đồng viết cho ông Chu Ân Lai như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý (Chu Ân Lai) rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”.

Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho VNCH ở phía nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc thẩm quyền VNCH. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân VNCH – lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo – và hải quân Trung Quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của VNDCCH không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc VNCH. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố trước đó.

Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Việt Nam, tức VNDCCH và VNCH, là đúng với luật quốc tế, và theo đó VNCH là quốc gia hành xử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó.

CHXHCN Việt Nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25.11.2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung Quốc dùng võ lực chiếm nốt Hoàng Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Sai Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Năm 1975..Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa,….năm đảo này do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta mở rộng thêm lên 21 đảo”.

Chiếu điều khoản quy định về sự hiện hữu của một. quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 đúc kết luật pháp quốc tế truyền thống hay thông lệ đã có nhiều thế kỷ, thì VNCH là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do đó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác, nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Xô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc quyền miễn trừ ngoại giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khoản ký thác trong các ngân hàng ở Liên Xô. Thế mà VNCH đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Xô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất. Sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và VNCH “không có dưới ánh mặt trời”. Nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp định Geneva mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận VNCH, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngoại giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu Ân Lai mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Phạm Văn Đồng có quyền ban bố cho Trung Quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả VNCH? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian 20 năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại. Tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất.

Điểm thứ hai là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”,không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức với Đan Mạch và Hà Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngoài ra, Tòa án Công lý Quốc tế, trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France” năm 1974 (I.C.J.253), xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử rằng khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải giải thích chặt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành động của mình, thì cần giải thích chặt chẽ… Chỉ cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác giả về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… Và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “within the four corners of the page”–trong bốn góc của trang giấy), thì công thư trên chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác. Ngoài ra, công thư cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt công thư đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH. Theo đó, vai trò Thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì Chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, khoản a và h), rồi lại phải có Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Phạm Văn Đồng không thể hành xử quyền qua mặt Chủ tịch nước và Quốc hội được. Nghĩa là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung Quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa Kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung Quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Hoa Kỳ hỗ trợ với tàu chiến và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mã Tổ, chỉ cách Trung Quốc đại lục vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan.

Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích công thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 một cách chủ quan, như Trung Quốc đã làm, để thủ lợi cho mình.

Còn vài luận cứ khác của Trung Quốc cũng nên bàn để bác bỏ:

Trung Quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân nhật báo, số ngày 6.8.1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đoạn ghi hai chữ Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và số báo ra ngày 9.5.1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung Quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao VNDCCH Ung Văn Khiêm về sự kiện này, rồi nói VNDCCH đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung Quốc khi Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc nhóm Amphitrite ở phía đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, và khi Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Cresent phía tây vào năm 1974. Sau hết, Việt Nam đã in bản đồ có ghi tên Tây Sa (Trung Quốc), Nam Sa (Trung Quốc) cùng với cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa, tới Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ và Châu Sơn, có hình như cái cung và tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”.

Việt Nam có thể phản biện là ngay công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Ung Văn Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung Quốc để “nịnh” Trung Quốc ở thời điểm Việt Nam tùy thuộc viện trợ Trung Quốc. Những lời này không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của VNDCCH khi mất các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay VNCH, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo. Và VNCH đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của VNDCCH nhanh chóng chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung Quốc để bảo lưu chủ quyền trên các đảo, đá, đã bị Trung Quốc chiếm. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung Quốc (mà Trung Quốc có cử cố vấn làm việc trong cục bản đồ của Việt Nam), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như Quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung Quốc in hình “đường 9 đoạn” vào hộ chiếu do Trung Quốc cấp cho công dân của họ, thì cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung Quốc đòi chiếm trên 80% Biển Đông. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung Quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất. Mà làm sao Việt Nam có thể nhượng Đài Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung Quốc chỉ bằng việc in một câu trong sách giáo khoa?

Sau khi giải quyết khúc mắc chính là công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn toàn cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954 – 1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay VNCH, do Hiệp định Geneva 1954 trao phó. Hiệp định này có một số cường quốc ký, cả Trung Quốc và VNDCCH cũng ký (do ông Phạm Văn Đồng đại diện). Hành xử chủ quyền do quốc tế giao, Tổng thống Ngô Đình Diệm của VNCH ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của VNCH đối với quần đảo Hoàng Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung Quốc tới xâm chiếm Hoàng Sa, sau khi Trung Quốc thông báo chủ quyền (với hòn đảo này) vào ngày 12.1.1974 thì VNCH đã phản đối vào ngày 16.1.1974 với lời yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận hải chiến, ngày 20.1.1974, VNCH lại yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn để can thiệp. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung Quốc là tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào ngày 28.6.1974 ở Caracas (Venezuela).

Sau khi thống nhất đất nước, CHXHCN Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung Quốc. Ngày 24.9.1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư (sách trắng) vào các năm: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối Trung Quốc ký hợp đồng với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung Quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung Quốc tàn sát 64 chiến sĩ hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ giàn khoan HD-981 từ tháng 5.2014 đến nay, Việt Nam đã đưa tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển tới vùng biển nơi HD-981 đang hoạt động trái phép để bảo vệ chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan. Ngư dân Việt Nam vẫn tiếp tục đánh cá ở gần đó, mặc dùng bị các tàu Trung Quốc bao vây nhưng họ vẫn giữ một khoảng cách an toàn, hầu tránh xung đột võ trang, vừa để mưu sinh, vừa để bảo vệ chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung Quốc rất hung hãn, dùng võ lực, đâm tàu Việt Nam và dùng súng nước tấn công tàu Việt Nam. Các lời phản đối và hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển Hoàng Sa trong vụ giàn khoan HD-981 càng cho thấy chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh luôn được duy trì, không hề bị xói mòn.

1.2. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông là nơi Trung Quốc gây ra tranh chấp vì Trung Quốc vẽ ra “đường 9 đọan”, còn gọi là “đường lưỡi bò”, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như đã nói ở trên.

Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với UNCLOS, vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyềnquyền chủ quyền (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thủy triều thấp, và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra thềm lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”.

Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng đặc quyền kinh tế hay vùng biển cả (high sea) ở ngoài xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách “đường 9 đoạn” vô căn cứ của Trung Quốc (tại Hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston, Hoa Kỳ năm 2010, đại điện Trung Quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là “vào trong vùng ‘đường 9 đoạn’, quí vị phải tuân theo luật Trung Quốc”). Đường “đường 9 đoạn” này hoàn toàn trái với UNCLOS (điều 89 của UNCLOS nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi).

Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp thấp từ thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, “đường 9 đoạn” bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, thì Trung Quốc mới đưa “đường 9 đoạn” này vào hồ sơ xin nới rộng thềm lục địa gửi Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Ấn định biên giới thềm lục địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf). Lập tức, nó bị Việt Nam, Philippines và Indonesia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “đường 9 đoạn” xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, như bằng chứng về các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hòa vào thế kỷ XV, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Malaysia, Indonesia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Philippines, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam thời trung đại – có trình bày trong hồ sơ Philippines nộp cho Tòa án Trọng tài về Luật Biển.

Các viên chức và học gỉa Trung Quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong “đường 9 đoạn” tại các hội nghị quốc tế.

2. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ xảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa giải (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán.

Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung Quốc vào ngày 2.5.2014 đã kéo giàn khoan dầu khí HD-981 vào đặt trong vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa, cách bờ biển miền Trung Việt Nam chưa tới 120 hải lý để khoan thăm dò dầu khí. Trong khi Trung Quốc nói vị trí đặt giàn khoan này nằm ở trong vùng biển của Tri Tôn, gần đảo Hải Nam của Trung Quốc thì Việt Nam nói là nó đặt trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mý,Úc,Nhật,Ấn v.v.thì đến ngày 15.7.2014,Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai. cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách.

Trước tiên, phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan, định chế và thủ tục giải quyết tranh chấp.

2.1. Việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới của UNCLOS 1982 dành cho các quốc gia, nhất là các quốc gia cận duyên quanh Biển Đông.

Bộ Ngọai giao Trung Quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn “đường 9 đoạn” đã bị các nước chất vấn, rằng giàn khoan “đặt hoàn toàn trong vùng nước của Hoàng Sa của Trung Quốc” (placed completely within the water of China’s Paracels). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên:

- Vế (i): Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ đưa thêm vào hồ sơ nộp cho Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, công thư ông Phạm Văn Đồng và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung Quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của ICJ.

- Vế (ii): vị trí giàn khoan ở trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa đang thuộc quyền Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi Trung Quốc dùng võ lực tấn công quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và năm 1974, rồi chiếm đóng từ đó đến nay; khẳng định rằng Trung Quốc không có quyền về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa như họ tuyên bố. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết – giả thiết mà thôi – là Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa án Trọng tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bắt buộc về giải thích và áp dụng UNCLOS, phải ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm tại Hoàng Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của Điều 121 của UNCLOS. Đó phải là nơi có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế tự túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có cocacola thay nước như một học giả Malaysia nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo khoản 3 của Điều 121. Và nếu là đá thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (theo khoản 3, Điều 121). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone), vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giống như lục địa vậy. Trước Tòa án Trọng tài Luật Biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) để kéo Trung Quốc ra tòa, mà yêu cầu tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng UNCLOS (Điều 286 và Điều 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của đội Hoàng Sa trước đây hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung Quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hoàng Sa được, và cũng không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan HD-981 đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thiên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung Quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm – điều 60 UNCLOS), không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xuất phát từ các hòn đá; và “đường 9 đoạn” càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ điểm xuất phát.

Nhưng Trung Quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hoàng Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ là 200 hải lý, và đo đó giàn khoan nằm trong khoảng 180 hải lý của các vùng biển đó của Trung Quốc, và dù giàn khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự chồng lấn giữa hai vùng biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Chiếu theo UNCLOS, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một giải pháp công bình (equitable solution) trước khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng “đường trung tuyến” (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là vụ Việt Nam kiện Trung Quốc thì sẽ có khó khăn hơn vụ Philippines kiện Trung Quốc (dù Philippines kiên nhẫn thương nghị với Trung Quốc suốt 17 năm, Philippines cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung Quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung Quốc hơn ngàn hải lý, ở trong thềm lục địa của Philippines, chứ không có vùng chồng lấn nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, cho nên nó không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo đó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung Quốc mà không được trả lời, thì Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS như đề cập dưới đây.

Điểm thứ 2 để Việt Nam kiện trước Tòa án Trọng tài Luật Biển là Trung Quốc đã vi phạm Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp võ lực như bắn súng nước hay đâm vào tàu Việt Nam để gây thiệt hại về vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam, thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thời, theo các điều khoản trên.

Điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung Quốc, đó là Trung Quốc với tư cách là một quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm khoản 1a Điều 297 của UNCLOS – bằng cách gửi một số lớn tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, cả tàu quân sự và máy bay quấy rối ở vùng biển quanh vị trí họ đặt trái phép giàn khoan, không cho các tàu của các nước khác tới gần, không cho tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật hay thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động mưu sinh theo truyền thống.

Điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện Trung Quốc là hành động do họ gây ra đã vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là họ đã dùng bạo lực đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam (vụ Trung Quốc đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 ngày 26.5.2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyền thống của họ, chiếm đoạt ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá. Như vậy là tước đi quyền kiếm sống của ngư dân Việt Nam. Vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam có thể viện dẫn Hiệp định Trung – Việt về Nghề Cá ở vịnh Bắc Bộ, buộc hai bên phải giải quyết hòa bình. Nếu vi phạm xảy ra ở ngoài vùng vịnh Bắc Bộ, thì Chính phủ có thể kiện Trung Quốc hay ủy quyền cho dân chài kiện Trung Quốc, trước Tòa án Trọng tài Luật Biển theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề Trung Quốc vi phạm nhân quyền hàng loạt này trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Trong tương lai, các điểm vi phạm của Trung Quốc nói trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hoàn cảnh khác sau vụ giàn khoan, trong đó Trung Quốc tuy tuyên bố “trỗi dậy trong hòa bình” nhưng kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam

2.2. Các cơ quan, định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp.

Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu theo Điều 2 và điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình.

Có 3 thủ tục chính: (i) các thủ tục phi tài phán như thương lượng, hòa giải; (ii) thủ tục tài phán trước Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa án Trọng tài Luật Biển; và (iii) trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại hội đồng hay Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức khu vực như ASEAN.

(i). Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa giải

Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp chồng lấn giữa hai vùng đặc quyền kinh tế hay hai thềm lục địa của hai nước, thì khoản a Điều 298, cũng như Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS đòi hỏi các quốc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam liên lạc với lãnh đạo Trung Quốc mà Trung Quốc không hồi đáp. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành xử bình tĩnh hơn Trung Quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình trung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS và các thỏa ước trong vùng nhưTuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN với Trung Quốc. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu lo ngại sự hung hãn của Trung Quốc qua những gì họ đã làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 và 6.2014, sẽ khiến các nước này ngã theo Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc, thì Trung Quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tờ trình, gợi ý là có lẽ hai nước Trung Quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp trình các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16.7.2014 thì Trung Quốc rút giàn khoan.

Ngoài thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung Quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung Quốc sẽ ngại bị cô lập hóa. Đặc biệt, Việt Nam nên sử dụng ngoại giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất Đông Nam Á về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung Quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là Việt Nam muốn làm việc với ASEAN trước tiên về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (Code of Conduct, COC) trước khi bàn với Trung Quốc, hay khi ông kêu gọi tại Diễn đàn Shangri-La là cần tạo “niềm tin chiến lược” (strategic trust).

Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung Quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Biển Đông: “zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa” (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai DOC, vốn chỉ là khuyến cáo, thành COC có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát triển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác, thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông Nam Á, vì có vẻ như Trung Quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị giải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung Quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung Quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trường các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung Quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói rằng: “Đương đầu với Trung Quốc cần phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ hãi, mà cũng không tỏ sự tức giận”.

(ii) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Trọng tài Luật Biển (ATLS)

a. Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đang xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối trình diện tòa của Trung Quốc vì họ sẽ không ký điều khoản nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý vụ kiện.

Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này.

- Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia từ chối trình tòa để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu Tòa án Công lý Quốc tế thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó về thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia nguyên đơn có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể tuyên án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa có trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc vào năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung Quốc trong vụ kiện của Philippines không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tế; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hoàng Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, kèm lời mời Trung Quốc chấp nhận thẩm quyền của tòa để làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Jerome A. Cohen trong Hội thảo quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa – Sự thật lịch sử, tổ chức ở Đà Nẵng ngày 20.6.2014 mong đợi các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa án Công lý Quốc tế rồi mời Trung Quốc (nếu họ tin là lẽ phải về phần mình), thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung Quốc không chịu trình tòa, thì cũng như đã “treo” được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế.

- Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh hưởng mạnh, có thể yêu cầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hay một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc xin một bản án cho ý kiến (advisory opinion)về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa thì Tòa án Công lý Quốc tế cũng có thể cho. Thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hệ mà vẫn cho một bản án ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ.

b) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài Luật Biển. Một quốc gia có thể dùng thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) quy định trong các Điều 286 và 288 của UNCLOS để yêu cầu tòa giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra tòa của họ, thì quốc gia khác, dựa vào khoản 4 Điều 298, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra tòa theo thủ tục bắt buộc.

Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bắt buộc trước Tòa án Trọng tài Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau:

- Trung Quốc, trong các hành vi quanh giàn khoan HD-981 vừa qua, đã vi phạm khoản 1a Điều 297, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và hoạt động khác như đặt cáp ngầm của quốc gia cận duyên khác.

- Trung Quốc có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần.

- Trung Quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự ủy quyền của nhà nước Việt Nam, theo đúng tinh thần của UNCLOS.

(iii). Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quốc tế

- ASEAN, với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông.

- Can thiệp của Tổng Thư ký hay Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể làm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung Quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời Thủ tuớng Nhật Bản Shinzo Abe hay lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2014. Sau khi Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5.2014, yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần, sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung Quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung Quốc cũng tuyên bố không dùng tàu chiến bảo vệ giàn khoan. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi.

Kết luận

Dư luận quốc tế, nhất là các nước phương Tây và Nhật Bản, Ấn Độ đã bênh vực cho lẽ phải của Việt Nam. Philippines thì mong Việt Nam khởi kiện sớm. Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lỡ dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền lợi quốc gia của mình.

18.7.2014

Tác giả: GS Tạ Văn Tài là Tiến sĩ, Luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên Đại học Luật Harvard, Hoa Kỳ

nguồn: anhbasam.wordpress.com

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Posted by hoangtran204 on 22/07/2014

Việc Trung Quốc rút giàn khoan chẳng nói lên điều gì

Clint Richards (The Diplomat – Nhật Bản

Phạm Nguyên Trường dịch
Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đứng vững trước áp lực trong khu vực và dường như sẽ trở lại khi họ muốn.

Hôm thứ tư, Hong Lei, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc bất ngờ tuyên bố với Tân Hoa xã là giàn khoan HYSY 981 của Công ty dầu khi quốc gia của nước này (CNPC) đã rời khỏi vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, đang tranh chấp với Việt Nam, tức là rút khỏi vị trí mà nó đã chiếm giữ từ ngày 2 tháng 5. Từ khi được đưa tới đây, giàn khoan này luôn là nguồn gốc xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc, với những vụ đụng độ hầu như hàng ngày giữa cảnh sát biển và tàu đành cá giữa hai nước, và những vụ biểu tình phản đối Trung Quốc đầy bạo lực ở Việt Nam. Trong khi việc di chuyển vội vàng là một bất ngờ và quan trọng vì một số lí do, thì bà Hong khẳng định rằng Hoàng Sa vốn là lãnh thổ của Trung Quốc và rằng “Trung Quốc cực lực phản đối những hành động cản trở phi lí của Việt Nam và đã có những biện pháp an ninh cần thiết nhằm bảo đảm cho hoạt động của giàn khoan này.”

gian-khoan-4437-1399609626-7771-1405493056
Quyết định đưa giàn khoan về đảo Hải Nam một tháng trước khi kết thúc kế hoạch hoạt động đặt ra một số câu hỏi. Ban đầu CNPC tuyên bố rằng giàn khoan sẽ ở lại vị trí đó cho đến ngày 15 tháng 8, nhưng thứ ba vừa rồi họ lại nói rằng công tác thăm dò và khoan đều đã hoàn thành. Phó giám đốc phòng nghiên cứu của CNPC, ông Wang Zhen, nói phân tích ban đầu cho thấy rằng khu vực này có “những điều kiện căn bản và tiềm năng cho việc khai thác dầu, nhưng phải đánh giá toàn diện các số liệu thì mới có thể tiến hành khai thác thử.” Như vậy là, Trung Quốc đã tự đưa ra lí do để họ có thể quay trở lại nếu họ muốn, nhưng bằng cách nói một cách tù mù về việc cần phải đánh giá thêm trước khi quay trở lại có nghĩa là Trung Quốc có thể quyết định khi nào và có cần xem xét lại cuộc tranh cãi này với Việt Nam hay không.

Việc rút giàn khoan trước thời hạn một cách bất ngờ mà không hề báo trước đưa người ta đến giả thiết cho rằng Trung Quốc đang tìm cách giảm căng thẳng với Việt Nam và có thể khuất phục trước áp lực của cộng đồng quốc tế về đòi hỏi tới 90% diện tích biển Đông của họ, một việc làm đã gây nên những cuộc tranh cãi đầy thù nghịch của nước này với cả Việt Nam lẫn Philippines. Có thể là như thế, nhưng Trung Quốc vẫn giành cho mình lí do để quay trở lại nếu họ muốn.

Trong khi không đưa ra lí do chính thức cho việc rút sớm giàn khoan, Tân Hoa xã nhận xét rằng công tác khai thác thử không thể tiến hành ngay được vì đã đến mùa gió bão. Còn một quan chức trong ngành này, một người có hiểu biết về công việc, thì nói với hãng Reuters rằng rút sớm sẽ tạo điều kiện sử dụng giàn này vào những công việc khác. Vì đây là giàn khoan mới nhất và hiện đại nhất của Trung Quốc, có thể khoan sâu gấp đôi những giàn khoan khác của Trung Quốc cho nên hai lí do này có thể nghe được. Trung Quốc cũng đã rút hết tất cả các tàu biển dùng để bảo vệ giàn khoan và khu vực tranh chấp. Theo ông Hà Lê, phó cục trưởng Cục kiểm ngư Việt Nam, thì Việt Nam cũng đã rút 30 tầu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư khỏi khu vực để tránh cơn bão Rammasun.

Điều lạ lùng là Trung Quốc đã từ bỏ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa đúng vào lúc khi mà những cú đâm bằng tàu và tấn công bằng súng phun nước của họ đã làm hỏng 27 tàu và 15 kiểm ngư của Việt Nam bị thương. Thậm chí những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, bùng lên hồi tháng 5, cũng đã giảm hẳn sau khi bị chính phủ đàn áp, có thể là do sự phụ thuộc về kinh tế của nước này vào Trung Quốc, mà cũng có thể là họ nhận thức được rằng hải quân của Việt Nam không thể nào địch được Trung Quốc.
Vì trong tương lai gần Việt Nam đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, quyết định rút sớm dường như là do căng thẳng trong khu vực đang gia tăng. Đường chín đoạn mà Trung Quốc mới đưa ra gần đây khẳng định chủ quyền trong khu vực biển Đông gây ra căng thẳng với cả Việt Nam và Philippines đã là chất xúc tác cho sự hợp tác về an ninh trong khu vực. Nhật Bản, đối thủ lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực này, đã tận dụng được cơ hội và hứa cung cấp tàu cảnh sát biển và thắt chặt quan hệ quốc phòng với các nước có liên quan. Trung Quốc cũng trở thành mục tiêu phê phán chủ yếu trong cuộc đối thoại Shangri-La hồi cuối tháng 5 vừa qua, lúc đó cả Mĩ và Nhật đều nói cố gắng của Trung Quốc nhắm làm thay đổi hiện trạng là xu hướng quan trong nhất trong khu vực.

Mặc dù Trung Quốc dường như đã tạm thời lùi bước, nhưng có vẻ như họ đang tính đến những bước đi lâu dài về sau. Trung Quốc chưa từ bỏ bất kì đòi hỏi nào, mà còn cho thấy họ có thể khẳng định được ý chí của mình (ít nhất là với nước Việt Nam yếu hơn hẳn) và sẽ đạt được mục đích của mình mặc cho sự bất mãn trong khu vực và những vụ đụng độ diễn ra hầu như mỗi ngày. Trung Quốc dường như coi đây là việc tạo ra một tiền lệ, chứng tỏ rằng họ có thể áp đặt cách lí giải của mình về những đường biên giới trong khu vực mà không gặp phải phản ứng tiêu cực mạnh mẽ nào. Thay vì giảm áp lực, có khả năng xảy ra là các nhà lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy có thể xem xét lại những vấn đề như thế này vào lúc và ở nơi mà họ lựa chọn trong tương lai, và cho đến lúc đó cán cân an ninh khu vực sẽ không có thay đổi đáng kể hoặc chưa thể củng cố được. Nếu không phải như thế thì cũng không có gì phải lo, giàn khoan đã trở về vùng lãnh hải của mình một cách an toàn và Trung Quốc đã chứng minh rằng họ có đủ phương tiện để có thể đứng vững trước áp lực được duy trì thường xuyên trong khu vực này.

Theo Blog Phạm Nguyên Trường

 

Tác giả: Phạm Nguyên Trường

 

 

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

►Thói quen Khó bỏ- Vì có bão lớn, Trung Quốc chỉ tạm thời rút Giàn khoan, nhưng Thủ tướng Dũng đang phét lác: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Posted by hoangtran204 on 18/07/2014

“Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan”

Gs Nguyễn Minh Thuyết nói 18-7-2014: “…Người đứng đắn không bao giờ nhận anh em với quân trộm cướp, giết người”. 

“Phải tìm cách nhanh chóng thoát khỏi sợi dây thòng lọng”

 

Nhưng, Thủ tướng Dũng vào ngày 17-7-2014 vẫn nhắc lại  “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Lão Nguyễn Tấn Dũng có lẽ không biết TC rút đi vì bão nên đã chém gió:

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/18…trai-phep.html

 

Thói quen khó bỏ

17-7-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn
.
.

Ngay từ lúc cái giàn khoan HD-981 còn ở vùng biển VN, đã có người tưởng tượng rằng một ngày nào đó Tàu quyết định rút giàn khoan đi nơi khác, và tác giả một cách hài hước cho rằng lúc đó sẽ có một số quan chức VN xuất hiện trên báo chí nói đó là một thắng lợi của VN. Tưởng chỉ là chuyện giả tưởng, ai dè nó lại là sự thật.

Khi giàn khoan mới rút đi được một ngày, đã có quan chức kiểm ngư tuyên bố rằng “Tôi cho rằng Trung Quốc di chuyển giàn khoan vì sức ép đấu tranh của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển; trên nhiều mặt trận khác họ đều rơi vào thế bị động, cô lập”.

Phải nói đó là một tuyên bố rất … khó nghe. Trong suốt thời gian giàn khoan HD-981 ở vùng biển của VN, các nhóm “chấp pháp” VN có gây được tác động nào đâu. Mỗi lần tàu kiểm ngư hay tàu cảnh sát biển ra ngoài đó là bị tàu của Tàu xua đuổi, đâm húc gây hư hại nghiêm trọng. Nếu không bị đâm va, thì tàu của VN cũng phải trốn chạy loanh quanh trên vùng biển của mình. Tàu của VN chẳng những rất nhỏ so với tàu của Tàu, nhưng còn rất cũ kĩ. Lực lượng kiểm ngư qua lời của chính ông cục trưởng còn không bảo vệ được ngư dân thì nói gì đến chuyện gây sức ép cho Tàu cộng. Tàu kiểm ngư không có cách gì đến gần giàn khoan do các tàu của Tàu cộng dàn ngang bảo vệ, thì làm gì tàu kiểm ngư VN có khả năng gây áp lực cho giàn khoan. Ấy thế mà vị quan chức đó nói lấy có lấy được rằng giàn khoan HD-981 phải rút đi vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN!

Người khác thì suy luận rằng giàn khoan rút đi là một thắng lợi về ngoại giao của VN. Thật ra, ngoại giao VN có làm nhiều trong trường hợp này, nhưng tác động thì không rõ mấy. Những bài báo tranh luận trên báo chí phổ thông chắc chắn chẳng có tác động gì đến giàn khoan. Những nỗ lực ngoại giao cấp cao đều chẳng dẫn đến đâu. Dương Khiết Trì sang VN cũng chẳng có một thoả thuận nào. VN nói về nộp hồ sơ phản đối Tàu thì Tàu đã làm trước! VN nói sẽ kiện Tàu cộng ra toà án quốc tế, nhưng cho đến nay thì việc làm đó chắc sẽ không thành hiện thực. Nói tóm lại, hoạt động ngoại giao thì có đấy, nhưng tác động thì không rõ ràng, nếu không muốn nói là không hiện hữu. Ngay cả 13 ngư dân VN bị Tàu bắt, ngoại giao VN đã làm gì ngoài việc nhờ Tàu … xác định toạ độ!

Tàu cộng rút giàn khoan vì họ đã đạt được mục tiêu, chứ không phải vì sức ép của các lực lượng chấp pháp VN, và càng không do áp lực ngoại giao của VN. Dĩ nhiên, VN phải tuyên bố là Tàu không được đưa giàn khoan vào biển VN. Nhưng nếu ngay ngày hôm nay, Tàu cộng tuyên bố kéo giàn khoan khác vào vùng biển VN thì phía VN cũng chẳng làm gì được để ngăn chận họ. VN không có nhiều lựa chọn để đối đầu với Tàu, và đó là một thực tế.

Có thể tiên đoán rằng sau giàn khoan sẽ đến ngư dân là nạn nhân của Tàu cộng. Chúng sẽ cho tàu tuần tra trong vùng biển mà chúng cho là của Tàu. Chúng sẽ tăng cường ngăn chận ngư dân ta đánh cà và bắt bớ ngư dân, như là một phát biểu về chủ quyền của họ đối với vùng biển bao bọc bởi bản đồ 9 đoạn. Theo tôi nghĩ, bản đồ này chính là nguồn cội của tất cả nguồn cội về xung đột giữa Tàu và các nước trong vùng. Ngày nào bản đồ này chưa được vô hiệu hoá, ngày đó ngư dân VN vẫn còn khổ và sẽ có nhiều giàn khoan được hạ đặt vào vùng biển của VN.

 

———–

 

Thủ tướng Dũng: ‘Không được tái diễn’ hạ đặt giàn khoan

Hiệu Minh

Giàn khoan bắt đầu rút.

Truyền thông VN đưa tin, Thủ tướng Việt Nam “yêu cầu Trung Quốc không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan” sau khi Trung Quốc dịch chuyển giàn khoan Hải Dương 981. Người phát ngôn BNG VN cũng ra tuyên bố tương tự.

Tin cho hay, giàn khoan đã được dịch chuyển ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Phía TQ cho biết họ rút giàn khoan vì lý do mưa bão, dù đã tìm thấy dầu. Họ có thể quay lại bất kỳ lúc nào.

Thủ tướng Dũng còn nói thêm “Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi và cùng phát triển. Việt Nam sẵn sàng cùng Trung Quốc và các bên liên quan đàm phán hòa bình, giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế.”

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cùng ngày vẫn khẳng định khu vực giàn khoan tác nghiệp là “lãnh thổ vốn có của Trung Quốc”. “Trung Quốc kiên quyết phản đối Việt Nam quấy nhiễu một cách vô lý hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp Trung Quốc,” người phát ngôn Hồng Lỗi nói.

Bài học cho VN

Việc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam là một tín hiệu rõ ràng của phía Trung Quốc gửi lãnh đạo đảng CS Việt Nam, hãy STOP “hữu nghị và hợp tác tốt đẹp”, 16 chữ vàng, 4 tốt. Đó là sự lừa đảo.

TQ không tôn trọng Việt Nam, quan hệ giữa hai nước không bình đẳng, không muốn cùng phát triển, không đếm xỉa đến dư luận quốc tế. Kẻ thù số 1 đã lộ mặt. Thay vì sợ diễn biến hòa bình đến từ phương Tây và Mỹ, hãy biết đối phó với kẻ đang đâm sau lưng Việt Nam.

Nếu Trung Quốc tái diễn hạ đặt giàn khoan, các vị đừng tái diễn bằng sự im lặng và hành xử lúng túng như vừa qua. VN phải lên tiếng mạnh mẽ, đừng ra lệnh cho truyền thông phải im lặng hay rút bài vì sự “toàn cục” theo đạo diễn của Trung Quốc. Cần xốc lại những tờ báo, tìm tổng biên tập giỏi, đạo tạo đội ngũ phóng viên có hiểu biết, để đối phó với bộ máy khổng lồ của Trung Quốc.

Tìm quan hệ, đối tác, đồng minh nhằm chống lại sự bành trướng của TQ là mục tiêu đối ngoại hàng đầu trong những tháng tới.

Xây dựng nội lực mạnh, bớt phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc, tìm sự hợp tác lâu dài và ổn định, hơn là phụ thuộc vào ý thức hệ.

Quyền lợi quốc gia là tối thượng.

HM. 16-7-2014

 

———–
-Trung Cộng rút giàn khoan 981 chỉ vì lý do họ biết trước bão sắp quét qua vùng Hoàng Sa mà thôi.
———–
Mục tiêu của TQ trong vụ đặt giàn khoan 981 trong vùng biển của đảo Tri Tôn, thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, từ đầu tháng 5-2014 theo tôi, là : 
1/ khẳng định chủ quyền của TQ tại quần đảo Hoàng Sa, 
2/ thăm dò thái độ VN trong việc xác định ranh giới biển của quần đảo Hoàng Sa,
3/ xác định trữ lượng dầu khí dưới thềm lục địa trong vùng lưu vực sông Hồng (lưu vực sông Hồng trải dài từ các cửa các nhánh sông Hồng ở miền Bắc, trải dài cho đến các tỉnh miền Trung). Việc khảo sát này đã được thực hiện đồng bộ cùng lúc với những giàn khoan khác của TQ, đặt rải rác trong vùng cửa vịnh Bắc Việt.
4/ chuẩn bị cho việc tuyên bố « vùng nhận diện phòng không » của TQ trong biển Hoa Nam (tức Biển Đông theo VN). Đây là phần quan trọng nhất còn thiếu trong chiến lược phòng ngự hải dương của TQ.
Việc cho rút lui giàn khoan 981 vào thời điểm này, nhân cơn bão Rammasun, là quyết định khôn ngoan của TQ. Không cần phải lưu lại giàn khoan lâu hơn (đến tháng 8 như dự định), vì các mục tiêu đã đạt được, trong lúc chi phí cho giàn khoan là quá lớn (vì phải điều động cùng lúc hàng trăm tàu bè cùng nhân sự điều hành).
Thái độ của VN (xem việc giàn khoan rút lui) như là một chiến thắng (về ngoại giao) là không phù hợp. Trong vụ này, ngoài Phi lên tiếng ủng hộ VN, các nước khác trong khối ASEAN đều im lặng, cũng như phần còn lại của thế giới. Hoa Kỳ và Nhật lên tiếng phản đối TQ trong vụ giàn khoan 981, là vì TQ làm thay đổi nguyên trạng Biển Đông. Việc này đe dọa cho an ninh và quyền lợi kinh tế của họ (và các nước đồng minh của họ). 
Vì vậy VN cần phải chuẩn bị những bước đi thích hợp để đối phó với tình trạng giàn khoan này di dời xa hơn về phía nam, cận bờ biển VN hơn. Mọi tán dương (theo lối tự sướng) của VN hôm nay (khi TQ rút giàn khoan), không phải đơn thuần là một thái độ không phù hợp với hoàn cảnh, mà còn thể hiện một hiện tượng bệnh hoạn về trí tuệ của lãnh đạo VN trước dư luận thế giới.

Posted in Bien Dong: Hoang Sa va Truong Sa | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.