Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm, 2012

Quyết tâm đạt đến cái đích mà cả đảng không ai biết

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Năm 28, 2012

Lời Tựa: Điều quan trong nhất mà báo chí, tài liệu lý luận, nghị quyết,…của đảng thường nhắc tới là: mục tiêu của cả nước VN là phấn đấu tiến lên xhcn, tiến lên chủ nghĩa cộng sản…

Nhưng khi có người thắc mắc hỏi chủ nghĩa CS nó ra làm sao? dài méo, vuông tròn, mùi vị của “nó” như thế nào? Có ai, có nước nào từng đạt, từng tiến đến và sống trong chủ nghĩa CS chưa…thì các đảng viên cộng sản bắt đầu cà lăm, ú ớ và ngọng miệng. 

Tất cả các đảng viên đều không thể trả lời được câu hỏi đơn giản ấy. Bù lại, họ sẽ lôi ra một loạt các lời mô tả về chủ nghĩa cộng sản một cách rất trừu tượng, trái ngược với bản chất ăn thua cố hữu và tính thực tế của người đảng viên đảng CS.

Blogger  Đinh Tấn Lực đã trích các bài viết của chính các nhà lãnh đạo của đảng, của các tác giả viết về các lãnh tụ của đảng CSVN và đưa ra các phân tích rất hay :

Quyết tâm đạt đến cái đích mà cả đảng không ai biết

Tác giả; Đinh Tấn Lực

danluan_00276_0.jpg
Cách đây 5 năm, trên Yahoo!Việt Nam Hỏi & Đáp có người nêu một câu hỏi cứ tưởng đâu ngô nghê ngờ nghệch:“Tại sao gọi là tranh trừu tượng?”.Lời đáp hay nhất, do chính người đặt câu hỏi bình chọn, như sau:
“Màu sắc là tiếng nói trực tiếp, trào tuôn từ tâm (hồn) người nghệ sĩ, không qua trung gian của lý trí mà tranh trừu tượng là điển hình. Những nét chấm phá đậm lợt là một thứ ngôn ngữ vô thanh, âm hưởng vào lòng người thưởng ngoạn tùy theo mức độ tâm thức, tạo nên những rung cảm khác nhau, do đó cái nhìn cũng khác nhau.
Cùng một bức tranh, mỗi người nhìn và cảm khác nhau, thật là kỳ diệu!Phần đông, khi xem tranh trừu tượng người ta đều không hiểu, bởi cách đặt vấn đề sai, bao giờ cũng nghĩ tranh là phải vẽ một cái gì đấy cụ thể. Họ không biết rằng các họa sĩ thường vẽ bằng cảm giác, vì vậy, mỗi khi xem tranh trừu tượng mọi người đừng quá cầu kỳ, hãy nghĩ giản đơn và trong sáng như một đứa trẻ, khi đó những nét đẹp sẽ toát ra từ các bức tranh trừu tượng”.

Người trả lời có ghi trích nguồn: Theo tạp chí Nghệ Thuật.

Lại có câu trả lời khác, dù không được bình chọn và sắp hạng, nhưng cũng đáng quan tâm:

“…Từ đó nảy sinh nhiều trường phái khác nhau trong tranh trừu tượngTùy thiên hướng của người họa sĩ mà theo 1 trong 2 hướng: + Trọng hình hơn trọng màu: trường phái tả thực, trường phái siêu thực…v..v..+ Trọng màu hơn trọng hình: trường phái dã thú, trường phái lập thể..v..v..”.

À há! Eureka! (Nguyên lý) Đây rồi! (Xin phép các họa sĩ đáng kính,) Thế là rõ:

Chủ Nghĩa Xã Hội của ta là loại bánh ga-tô có đủ cả 5 tính chất nói trên: Trừu tượng, Tả thực, Siêu thực, Lập thể, và, dễ nhận dạng nhất: Dã thú.

Vì sao à?

*Tạp chí Học Tập, số 35, tường thuật bài phát biểu của Hồ Chí Minh trong Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ II tại Việt Bắc, vào tháng 3 năm 1951, có đoạn như sau: Hồ Chí Minh chỉ hình 3 ông trên vách vừa nói.

“Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)(Đại hội vỗ tay vang dậy)
Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tư lệnh là ông kia kìa.(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE) (Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)(Đồng chí Staline muôn năm!)…”

Té ra, rõ ràng, cái Chủ Nghĩa Xã Hội mà Hồ Chí Minh đánh giá là cách mạng nhất, sáng suốt nhất, chính là một bức tranh trừu tượng của người khác.

Mà ngay cả tác giả của bức tranh trừu tượng đó cũng không hề coi ra gì đám xem tranh, cho dù là họ đang nức lòng chỉ tay hướng mặt về bức hình tác giả:

“Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ, khi hai người cùng công tác ở Liên Xô: Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí ”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).

Đã vậy,

“…Khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là Chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hóa được).
Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn Ái Quốc đi, thay bằng Luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa, và đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hóa Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh). (nguồn) đọc trực tiếp từ trang 1-303; (nguồn download)

Mà, coi nào, trong Chính Cương, Hồ Chí Minh đã viết những gì gọi là cốt lõi?

“Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, (thanh niên, Tân Việt, phái Nguyễn An Ninh v.v…) để kéo họ đi về phe giai cấp vô sản.
Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam thì phải lợi dụng, ít nữa làm cho họ trung lập.
Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến v.v…) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thỏa hiệp”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, trang 297).

Nghị quyết 6 của Trung ương đảng tháng11/1939 đề ra khẩu hiệu “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên”, và cả đảng có sứ mệnh phải “Dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”.

Sắt máu tới vậy mà vẫn chưa vừa bụng Stalin!

Có nghĩa rằng tác giả bức tranh trừu tượng XHCN, kiêm Tổng tư lệnh nói trên, không đánh giá ngược rằng tay thưởng ngoạn như Hồ có đủ tầm xứng đáng để thưởng ngoạn.

Vậy thì, làm sao biết được Chủ Nghĩa Xã Hội đó tròn méo ra sao, và làm sao tin nổi cái mà hắn đã từng cả đời ba hoa mô tả lại rằng nó đẹp lắm, cách mạng nhất, sáng suốt nhất?

Thêm một chi tiết khác:

“Ngày 16-9-1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn được ông giữ cẩn thận. Ngày 14-9-1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, Trưởng ban Tổ chức Triển lãm Cải cách Ruộng đất tại phố Bích Câu: ‘Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng’. Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bày ở phòng ‘Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương’…”. (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).

Tức là, đối với giới thưởng ngoạn cấp 2, ngọn đuốc soi đường cho họ không hẳn là bức tranh trừu tượng CNXH của ba ông/bốn bà nào sất, mà (thảm thay,) chỉ là mấy bài thơ trong tù của người xem tranh cấp 1.

Chẳng nghi ngờ gì thêm nữa. Gia tài của Hồ Chí Minh chỉ có thế.

Còn, CNXH của Hồ, với tính thật thà nói trên, hẳn phải là loại ga-tô tả thực?

*Lê Duẩn, người Bích La thôn, Quảng Trị, nổi tiếng trong 3 năm đổi đảng 3 lần: 1928 – Tân Việt Cách Mạng đảng; 1929 – VN Thanh Niên Cách Mạng Đồng Minh hội; 1930 – Đông Dương Cộng Sản đảng.

Đến 1951, Lê Duẩn vào BCH/TW và Bộ chính trị, ngay trong đại hội toàn đảng kỳ II.

Có người bảo uy tín của Lê Duẩn bấy giờ, vượt mặt Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phần lớn là nhờ vào “bằng cấp” ở tù dài hạn và nhiều lần, y hệt như ý tứ ẩn dụ của người bày quyển Nhật kí trong tù vào phòng triển lãm Ngọn đuốc soi đường… vừa kể.

Lại có người khẳng định uy tín đó có được là bởi niềm tin son sắt của Lê Duẩn vào phương thức phát triển Xô viết và các nguyên tắc kiểu Stalin hứa hẹn phù hợp mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. (đến tận năm nay là 2012, liệu VN có nền công nghiệp nặng chưa? Cái sên xe đạp, con ốc đạt chất lượng là thuộc ngành công nghiệp nhẹ mà còn chưa làm được, thì công nghiệp nặng VN cũng không có. Công nghiệp nặng  như ngành chế tạo xe hơi, xe dùng trong xây dựng, nông nghiệp, ngành xây dựng cao ốc, cầu đường,  sản suất các máy móc dùng trong kỹ nghệ, các hãng chế tạo hóa chất…mà các tập đoàn của Nhật và Nam Hàn là các thí dụ nguốn - phần chữ màu nâu là củaTrần Hoàng thêm vào)

Từ đại hội IV (1976), Lê Duẩn giữ chức Tổng bí thư đảng cho tới chết (1986), với dấu ấn đậm màu về cuộc thanh trừng “chủ nghĩa xét lại hiện đại” long trời lở đất, và được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên dương là “ngọn đèn 200 nến”.

“Giống như Mao và Stalin, Lê Duẩn khao khát quyền lực tuyệt đối. Thông qua việc cô lập ông Hồ, ông Giáp và các đồng minh của họ trong đảng, Lê Duẩn đã thiết lập một bộ máy lãnh đạo ở Hà Nội không chỉ trung thành mà còn chung quyết tâm hoàn tất các mục tiêu cách mạng”. (Pierre Asselin).

Tác phẩm “để đời” của Lê Duẩn, ngoài vụ án “xét lại/chống đảng”, chính là bản Đề Cương Cách Mạng Miền Nam (1956 – hợp thức hóa 1959 – một giai đoạn mà Trần Văn Giàu đánh giá là đen tối nhất của CSVN).

“Trong Đề cương, anh Lê Duẩn sớm nêu lên ý tưởng sâu sắc sử dụng bạo lực cách mạng cùng với ý tưởng tập hợp toàn thể các tầng lớp nhân dân, ý tưởng tổng khởi nghĩa giành chính quyền để giải phóng miền Nam. (Hoàng Tùng).

Cụ thể ra, Võ Văn Kiệt phục Lê Duẩn ở 3 công trình trọng điểm: Xua quân dàn trận Mậu Thân, trận Đường 9 Nam Lào, và trận Cổ Thành Quảng Trị.

Hai công trình phụ trội của Lê Duẩn mà Võ Văn Kiệt không dám nhắc là trận đánh chiếm Nam Vang/Siêm Rệp và trận phản công Cao Bằng/Lạng Sơn. Rất tiếc là các công trình đó không đạt yêu cầu, trong lúc toàn dân phải cắn răng đánh đổi bằng nhiều vạn bộ đội con em của họ.

Ngược lại, về mặt tư tưởng, có thể vinh danh là một phiên bản CNXH, họa sĩ Lê Duẩn cũng có tác phẩm để đời:

“Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước ‘chuyên chính vô sản’ khi mà nhân dân đã giành được quyền làm chủ đất nước bằng những hy sinh không sao kể xiết. Không thể ‘vô sản’ lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về ‘Làm Chủ Tập Thể’ mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân”.(Võ Văn Kiệt).

Cốt lõi là vậy, chi tiết thế nào?

“Có thể tóm tắt một số ý để minh chứng những suy nghĩ đó của Anh:

  • Dân chủ đến mức thực sự nhân dân làm chủ, con người làm chủ tập thể.
  • Phát huy dân tộc và phát huy cá nhân từng người.
  • Vận dụng thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội…
  • Quá trình tạo dựng xã hội mới là quá trình nảy sinh chứ không phải chỉ là quá độ.
  • Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế…
  • Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt…
  • Phải vươn lên văn hóa và tri thức tiên tiến…
  • Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững quốc phòng và an ninh bằng lòng dân, sức dân…
  • Đảng lãnh đạo, Đảng không cai trị, Đảng phát huy Nhà nước là công cụ chủ yếu, sắc bén nhất để dân làm chủ.
  • Đảng viên nhất thiết không được quan liêu, sách nhiễu và ăn cắp của dân. Đưa ngay những kẻ như vậy ra khỏi Đảng.
  • Con người Việt Nam là con người của lẽ phải và tình thương, tình thương và lẽ phải”

. (Võ Văn Kiệt).

Trên thực tế, qua nhận xét của một học giả nước ngoài:

“Niềm tin rằng phong trào cách mạng quan trọng hơn mọi quyền lợi cá nhân đã dẫn tới sự coi thường quyền và lợi ích của nhân dân, và thường trở thành lý cớ cho việc lạm dụng quyền lực của những cán bộ, những người coi thường quy tắc pháp trị tư sản, và cho rằng mục tiêu cách mạng có thể biện minh cho phương pháp”. (Pierre Asselin).

Với tư duy Làm Chủ Tập Thể này, được coi là tư tưởng cốt lõi về CNXH của Lê Duẩn, chỉ ¼ thế kỷ sau khi Lê Duẩn đi dự hội nghị với Mác, đảng viên CSVN đã tự động lật ngược điều áp chót vừa nói, để chia đất/giành đất/cướp đất, bằng một tác phẩm mới cáu là “giải phóng mặt bằng”, và tự biến thành những triệu phú, thậm chí cả tỷ phú đỏ đít.

Ai làm chủ tập thể? Chắc chắn không phải dân:

“Tôi vẫn nhớ, có lần trong những năm 60, trong một cuộc họp ở Đồ Sơn, Anh đã nổi nóng với Chính phủ: ‘Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi…’. Anh Tô (Phạm Văn Đồng) không nói một lời”. (Trần Phương – VNeconomy.vn 06/12/2009).

Năm 1976, Lê Duẩn hồ hởi tuyên bố: Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh. (Chao ôi! Đúng là kẻ điên rồ hoang tưởng. Ở miền Nam trước 1975, nhà nhà đã có 3 thứ này, kèm thêm truyền hình, xe Honda, và kể cả xe hơi. Vào google gõ chữ hình ảnh Sài Gòn trước 1975 sẽ thấy. Dân nghèo thường là các đồng bào ở các vùng có Việt Cộng tới phá hoại, lùng bắt dân đi theo chúng, đặt mìn trên các đường lộ,…dân sợ quá, bỏ trốn chạy lên thành phố lớn, ở tạm)

Năm 1986, ngay lúc hấp hối, vào giai đoạn đen tối nhất của kinh tế VN, Lê Duẩn đã thiết tha lệnh cho Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch nhà nước là bằng mọi cách, “nhân dân thủ đô Hà Nội phải có dự trữ gạo đủ 2 tháng ăn”. Nhớ là chỉ riêng nhân dân Hà Nội!

Đã có một vài học giả đồng ý với nhận xét: Những thay đổi ngay sau năm 1986 ở Việt Nam, khi Lê Duẩn chuyển sang từ trần, cũng có thể được xem là tương tự giai đoạn “tan băng” ở Liên Xô sau khi Stalin qua đời. Nghĩa là chấm dứt một thời kỳ thổ tả thượng hạng ngoại hạng.

Còn trong nội bộ đảng?

“Sau khi Lê Duẩn qua đời, những người lãnh đạo đất nước, những người trước đó đã ca ngợi Lê Duẩn (hay) không dám hé răng nói một lời xấu về Lê Duẩn, đã cố ý hay vô tình để cho chiến dịch bôi nhọ và phủ định Lê Duẩn ngày càng qui mô hơn”. (Trần Quỳnh, nguyên thư ký riêng của Lê Duẩn).

Tức là đảng viên chỉ phải khen lúc sống, sau đó quá mừng vì đã cất gánh nặng về một chế độ Stalin ngay trong nội bộ đảng:

“Lê Duẩn có kẻ thù ở hầu khắp mọi nơi”. (Pierre Asselin).

Sau cùng, CNXH của Lê Duẩn, với tính nghi ngờ hết thảy mọi người, chính là cha đẻ của truyền thống chia ghế 3 vị trí lãnh đạo theo công thức cân bằng vùng miền, hầu tránh tái diễn một đảng nhỏ cầm quyền đảng lớn có tên là Duẩn-Thọ-Thanh.

“Triều đại Lê Duẩn – Lê Đức Thọ là triều đại thiết lập và khẳng định chuyên chính vô sản, hay nói cho đúng hơn, chuyên chính vô sản lưu manh – Lumpenproletariat… Áp đặt là phép trị dân mang tính chiến lược. Không áp đặt được thì khủng bố”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Lê Duẩn nắm giữ chức Tổng bí thư lâu nhất lịch sử CSVN: 25 năm và 303 ngày. Vào những ngày cuối, lạm phát VN vượt lên mức kỷ lục: 774% (bảy trăm bảy mươi bốn phần trăm).

Phiên bản CNXH của Lê Duẩn chính là chiếc khẩu trang của Liên Xô có in hình 2 chữ S. Chữ S đầu là Stalin. Chữ S sau là lãnh thổ VN. Khi dân bịt vào thì miễn ăn và hết nói. Còn đảng viên bịt vào thì …vô phương nhận diện.

Đó là loại ga-tô CNXH dã thú.

*Nguyễn Văn Linh, gia nhập đảng cộng sản Đông Dương năm 1936, mãi 40 năm sau, tại Đại hội Đảng lần thứ IV thì được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương.

Đến đại hội V, Nguyễn Văn Linh rút khỏi TW, nhường chỗ cho Võ Văn Kiệt. Về sau, đương sự giải thích với Võ Trần Chí rằng: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút…”. Các anh ấy, ở đây, chính là mỗi mình Lê Đức Thọ.

Tháng 7 năm 1983, nhân cơ hội Lê Duẩn đi nghỉ mát ở Liên Xô, còn Trường Chinnh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công nghỉ mát ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh đã tổ chức cuộc “Hội Nghị Đà Lạt” kéo dài vừa đúng một tuần lễ, trước khi Lê Duẩn hồi giá.

Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu vào BCH/TW, Ủy viên BCT, giữ chức Tổng Bí thư:

“Đại hội VI kết thúc bằng sự lên ngôi của một nhân vật không mấy tiếng tăm là Nguyễn Văn Linh, bí danh Mười Cúc. Câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về hai anh nông dân và con sò được thiên hạ nhắc tới nhiều trong thời kỳ này”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Chính NVL cũng biết rất rõ trận chiến giành ghế giữa Trường Chinh và Lê Đức Thọ thời bấy giờ:

“Anh Nguyễn Văn Linh đã nói nhiều lần ở Hội nghị Trung ương: ‘Tôi có được chuẩn bị làm Tổng Bí thư đâu’, và lúc cần quá, phải đi tìm người, anh Linh ví: ‘Chẳng khác gì cầm bó đóm đi tìm ếch, tìm không được ếch, lại bắt được nhái’…”. (Đoàn Duy Thành – Hồi Ký)

Và không một ai tin chuyện nhái ễnh bụng thành bò:

“Từ năm 1986 đến 1991 trong nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh đã góp phần có ý nghĩa quyết định làm xoay chuyển tình thế, mở đường cho sự nghiệp đổi mới tiến lên. Nhằm khắc phục những bất cập, lạc hậu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp của Việt Nam, ông đã đưa ra những ý tưởng mới, quan niệm mới, cách làm mới. Kiên quyết làm gương về chống tác phong quan liêu, xa dân, từ bỏ những đặc quyền đặc lợi, ông đã bỏ chế độ lãnh đạo cấp cao đi máy bay chuyên cơ trong nước, đi công tác bằng xe Lada không có máy điều hoà (tiêu chuẩn dùng cho cấp Thứ trưởng); vào Nam ra Bắc đi máy bay chung với mọi người; cắt giảm chế độ bảo vệ an ninh,… ”. (Phạm Quang Nghị, Hồi Ức, 07/01/2010).

Đó là một phần nội dung “đổi mới hay là chết” được trình bày trong Hội nghị Đà Lạt nói trên.

“Trong cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy vị lãnh đạo nào dám lội ngược dòng chính trị, ngược dòng lịch sử – lội ngược mà không chìm như anh Nguyễn Văn Linh… Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, đang nằm trong Bộ Chính trị thì đến cuối nhiệm kỳ, anh Linh đã xin rút rồi được phân công trở về làm Bí thư Thành ủy TPHCM vào đúng thời kỳ cam go nhất. Anh đã vực dậy kinh tế TP, trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư. Mọi biến động, thăng trầm trong cuộc đời làm cách mạng, làm chính trị đi ngang qua anh và anh đón nhận tất cả với một thái độ bình thản đến lạ lùng”. (Võ Trần Chí).

Nguyễn Văn Linh còn nổi tiếng với một số bài báo Những Việc Cần Làm Ngay, ký tên N.V.L. đăng trên tờ Nhân Dân.

Bài báo thứ nhì của N.V.L., ngày 26/5/1987, đề cập thẳng đến khái niệm “Im lặng đáng sợ” đối với việc giải quyết thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Cho thấy tính chất makeno của CNXH không phải chỉ mới xuất hiện gần đây.

“Nhà báo phải có tấm lòng cương trực: yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi; ghét kẻ làm xấu, làm sai, làm ác để lên án”. (N.V.L. – Nhân Dân, 24/6/1987).

Khẩu hiệu nổi tiếng thời bấy giờ là: “đổi mới thì sống, không đổi mới thì chết”. Và được các báo tuyên dương là “Người tìm đường trong mớ bòng bong”, “Chứng Nhân của một thời xé rào lịch sử”, “Người CS mẫu mực, sáng tạo”, “Thuyền trưởng đổi mới”, “Người mài sắc ngòi bút báo chí”, “Người dám nhổ cỏ dại cho lúa mọc lên”…

“Tiếc thay, sau khi phấn khởi thổi bùng lên làn gió đổi mới, chính Nguyễn Văn Linh lại bị cảm lạnh bởi chính làn gió ấy”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Tại buổi lễ kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Campuchia, Nguyễn Văn Linh tuyên bố Việt Nam sẽ rút hết quân khỏi Campuchia vào tháng 9/1989. Đây là điều kiện ắt có để thế giới thu hồi lệnh cấm vận kinh tế VN suốt 10 năm qua.

“Năm 1981, khi đồng chí Nguyễn Văn Linh trở về TPHCM làm Bí thư Thành ủy thì kinh tế TP đã xuống đến tận đáy vì không còn tư liệu để sản xuất. Biết tôi có mối quan hệ với một số nhà tư bản người Hoa, anh Mười Cúc phân công tôi đi liên hệ để tìm cách nhập sợi về cứu ngành dệt TP. Bước đầu, chúng tôi nhờ các thương nhân người Hoa mua một số hàng như sợi thuốc lá, sợi dệt, xăng dầu, sau đó đi thu gom các mặt hàng như mực khô, tôm khô, đậu phộng, đồ thêu, sơn mài… để đổi. Giá cả đều tính ra USD và trao đổi bằng hiện vật. Lúc đó, TPHCM là nơi duy nhất của cả nước có USD. Có thể nói, nếu không có sự bảo trợ mạnh tay của lãnh đạo TP mà đứng mũi chịu sào là anh Mười Cúc thì TPHCM khó có thể tháo gỡ được ‘cơn đói’ nguyên liệu sản xuất”. (Lâm Tư Quang).

CNXH, bấy giờ, rõ ràng là đã dị dạng.

Một chuyện nhỏ được chính người trong cuộc kể lại: Sáu Hoa là “đệ tử” của NVL, mua được chiếc mô tô cũ…

“Bữa nọ, thấy Sáu Hoa đang hì hụi lau chùi chiếc mô tô, anh Sáu (bí số của NVL, còn gọi là Mười Cúc) bước tới và nói: ‘Tôi cũng thích cái xe này quá! Chú để tôi đi thử một đoạn đường được không?’. Sáu Hoa phân vân vì loại xe này chạy ra đường rất dễ bị bọn cảnh sát thổi lại để hỏi bằng lái, giấy tờ, mục đích là muốn ăn tiền. Người như anh Sáu mà dây dưa với cảnh sát là không ổn”. (Đoàn Khắc – ghi theo lời kể của ông Phạm Văn Hoa, nguyên cán bộ Cơ quan T78 thuộc Ban Tài chính – Quản trị Trung ương).

Té ra, CNXH thời sinh tử cũng đã coi là bình thường chuyện huơ gậy thu tiền lẻ ngoài phố.

Nó là cái bánh ga-tô trừu tượng nhồi nhân đường thốt nốt, còn được gọi là ga-tô cứu giá.

*Còn, chuyện bạc chẵn, ở mức triệu đô, thì đã có đồng chí Đỗ Mười.

Nguyễn Văn Linh trao lại ngai vàng và cái di sản CNXH mạ vàng vừa nói trong một bối cảnh thế giới vừa vẽ lại bản đồ mà không đổ máu. Bấy giờ, phi liều mạng bất thành tổng bí là ở chỗ đó.

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, giữ chức Tổng bí thư BCH/TW đảng CSVN từ tháng 6, 1991 đến tháng 12, 1997 (có thể tham khảo thêm tư tưởng và quá trình hoạt động ở đây).

“Mọi người đều biết ông đang dưỡng bệnh. Mà bệnh của ông là bệnh tâm thần, nói nôm na là điên, không ai dám nói chắc (rằng) ông sẽ khỏi. May, ông không la hét om xòm, không đánh trẻ con hay chọc ghẹo đàn bà, không hoa chân múa tay lảm nhảm, chỉ trèo tường leo cây, lúc tỉnh lúc mê, tha thẩn trước cửa nhà”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Không ai rõ có phải vì công năng leo tường và lảm nhảm đó, hay tiên tri được thành quả 91 tuổi vẫn có con mọn, mà Phạm Tiến Duật đã có bài thơ đểu ca ngợi Đỗ Mười: Một trái tim không thể nào già?

Thế nhưng theo Lê Khả Phiêu, thì trong cao điểm chiến tranh, Đỗ Mười đã từng trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu bí mật từ Lạng Sơn vào chiến trường miền Nam, bất chấp kiến thức.

Một người khác, từng là nạn nhân “tru di” của Lê Duẩn, đánh giá Đỗ Mười, như sau:

“Kiên định cách mạng, không sợ gian khổ, tính nết lại thực thà, tiếc cho ông không được học hành nhiều, do đó không cáng đáng nổi những nhiệm vụ cần đến kiến thức”. (Vũ Đình Huỳnh – theo lời kể của Vũ Thư Hiên).

Phải tầm cỡ đó mới dám giương cao khẩu hiệu: “nhiệm vụ kinh tế là trung tâm và nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt” trước 4 nguy cơ đang nhe răng cười nụ với đảng: 1) Tụt hậu; 2) Chệch hướng XHCN; 3) Tham nhũng; và 4) Diễn biến hòa bình. (Các bạn vào google.com, gõ chữ DMC tower, và search, sẽ thấy cao ốc 18 tầng tráng lệ này. DMC là Đỗ Mười Center, do con rễ của ông ĐM đứng tên. Một blogger có nhà ở trong khu vực này đã cho biết lai lịch của tòa cao ốc.)

Vẫn theo lời khen đểu (lại thêm phản biền ngẫu) của Phiêu, người ta còn nhận ra ở Đỗ Mười các tính chất bỗ bã và ba phải:

“Nhưng càng gần anh, càng hiểu anh, tôi càng thấy ở anh là một người nói to, nói lớn nhưng làm nhiều, là một đồng chí lãnh đạo thực sự cầu thị, có lúc anh nói rất căng nhưng khi được nghe trình bày lại một cách cặn kẽ thì anh sẵn sàng thay đổi quan điểm, thay đổi nhận xét cả trong các công việc, cả trong những con người cụ thể. Anh là một người vì lẽ phải, nghe lẽ phải, chính anh là người đóng góp tích cực cho Nghị quyết của Trung ương về xây dựng cơ chế dân chủ cơ sở”. (Lê Khả Phiêu – Đỗ Mười, con người của hành động).

Chỉ riêng một việc nhất quyết không thể ba phải: Đỗ Mười tuyên bố Đảng không thay đổi nhận định đối với vụ “nhóm xét lại chống Đảng”. Và, vẫn còn ngay đó một điều chắc nịch: Đảng là tao!

Hầu hết các tay trùm CSVN đều học được đặc tính chắc nịch đó từ Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, dựa vào yếu tố “khai quốc công thần”. Đỗ Mười có công gì, ngoài việc đề xuất danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng?

“Là người hiền lành, ít nói, chịu nghe lời bề trên. Ông cũng nổi tiếng kiên quyết, đã nói là làm. Với Đảng, ông có công trạng. Chính ông đã kiên quyết đập tan sự ‘trỗi dậy’ của giai cấp tư sản miền Bắc trong cuộc cải tạo công thương nghiệp những năm 1959-1960. Cũng ông đã phá tan nền công nghiệp nhẹ miền Nam trong cuộc cải tạo tư sản sau chiến thắng 1975”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Một công trạng khác là hợp thức hóa nền tảng Tư Pháp Thả Rông cho thành truyền thống, song song với cái Nghị Định 31/CP 14/4/1997 để đời của Võ Văn Kiệt:

“Cùng với vụ xử Hoàng Minh Chính (bị giam lần thứ ba – 1995) bắt đầu một thời kỳ mới, thời kỳ cuộc đổi mới cài số lùi, thời kỳ ông Đỗ Mười hạ lệnh cho các quan tòa xử lấy được, bất chấp đúng sai. Với cách giải thích luật pháp của Đảng không ai có thể biết cái lằn ranh các quyền tự do dân chủ được Đảng đặt ở đâu, cho nên công dân nào đi loạng quạng đều có cơ may bị các cảnh sát viên mác-xít thổi còi tống vào bót. Lê Đức Thọ chết rồi, nhưng hồn ma của Thọ vẫn lởn vởn trên cung đình”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Bằng cách nào họ được ủng hộ trong đảng? Các tay trùm đảng đã dựng nên những hàng rào gia nô/bảo vệ/hộ lý/đàn em trung thành quanh mình, qua những động thái có mỹ danh là “tác thành”, tức là đề bạt chức quyền. Đỗ Mười còn dồn sức ra tay tác thành cho cả con rể và con nuôi. Từ đó, đám đệ tử kết cỏ ngậm vành này chính là những hàng rào chống lưng ngược cho họ:

“Những Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Trần Trọng Tân mà Đỗ Mười dựa vào, trước kia đã mao-ít, nay còn mao-ít hơn nữa trong sự sáng tạo ra một chủ nghĩa Mác kỳ cục, đầy tính chất ngụy biện, chẳng có gì giống chủ nghĩa Mác kinh điển. Mọi việc làm của họ chỉ nhằm bảo vệ vị trí lãnh đạo độc tôn của Đảng, hay là của họ thì cũng thế. Cái gọi là đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế thị trường có điều tiết theo định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời chính là trong thời kỳ này”. (Vũ Thư Hiên – Đêm giữa ban ngày).

Báo Lao Động ngày 21/4/2001 có bài tường thuật một cuộc phỏng vấn của báo nước ngoài. Ký giả hỏi: – Theo ngài thì chủ nghĩa xã hội có tương lai trong thế kỷ XXI không? TBT Đỗ Mười trả lời: – Chủ nghĩa xã hội nhất định có tương lai. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn phải phấn đấu nhiều…

Quả thế. Thứ CNXH của những tác giả thừa tham, thiểu trí và sính tàu (nói chữ là đậm đà màu sắc TQ) này, từng làm nền tảng sửa đổi hiến pháp vào năm 1992, đổi tên gọi Hội đồng Bộ trưởng (theo LX) thành chính phủ với người đứng đầu là thủ tướng, và khởi công đường dây 500kv vĩ đại tải điện ngược… tất cả đã hợp thành một bài đồng ca hát nhép, một bức tranh chép tập thể, dù phấn đấu đến lè lưỡi vẫn nhất quyết bám gót bậc thầy họ Đặng.

Nguy cơ thứ 2 nói trên chắc chắn đã bị vượt qua: CNXH của đảng không hề chệch hướng… Bắc!

Nội dung quyển sách 532 trang ca ngợi “Đồng chí Đỗ Mười – dấu ấn qua những chặng đường lịch sử” dường như chỉ cố tập trung nhấn mạnh vào một cốt lõi: Đổi mới phải có đuôi, để vẫy.

Nó là loại ga-tô lập thể, nhân lạp xường.

*Kế tiếp là loại CNXH vượt bỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bắt đầu từ những chuyến dã ngoại đường bộ sang tậnThành Đô, kéo dài cho tới chuỗi “chứng cứ không thể tranh cãi” đến cà lăm cà lặp.

Một số tài liệu gần đây tiết lộ: Có 2 chuyến khấu kiến bí mật thời Đỗ Mười do Hồ Văn Càn và Từ Đôn Tín sắp xếp: lần đầu là Mười-Anh-Kiệt, lần sau là Mười-Kiệt. Cả hai lần đều vượt mặt mọi thủ tục ngoại giao cổ điển.

Đó chính là lớp hắc ín tráng đường cho hàng hàng lớp lớp những quan điểm hảo hán chủ đạo và công khai hợp thức hóa tinh thần công hàm 1958 hay thái độ im lặng của những năm 1974 và 1988:

“Tuy Trung Quốc nó đánh ta nhưng nó cùng là cộng sản”. (Đỗ Mười – trích từ bài phân tích Các rủi ro của VN trong vấn đề Biển Đông? của GS Nguyễn Tiến Dũng đăng trên trang mạng BBC).

Lê Khả Phiêu từng viết bài ca ngợi Đỗ Mười là con người của hành động, nhưng thực ra, chính Phiêu mới xứng tầm cho tấm danh thiếp đó: Đỗ Mười qua Thành Đô dọn bãi, nhưng chính Phiêu mới là tay đổ bộ và ký mật ước dâng đất cho giặc, từ cuối năm 1999, và mở rộng đường hữu nghị bằng đầu gối cho Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng sau này.

Một số tài liệu chưa qua kiểm chứng nhưng ngập tràn trên mạng cho biết Phiêu từng ân cần gửi gắm một hạt mầm cộng sản nhí bên kia biên giới. Đổi lại là một chuỗi thông tin liên tục về tiến trình cắm mốc biên giới, về 16 chữ vàng, 4 tương, 4 tốt và nghe đâu có cả 2 tỷ USD.

Ít ai nhắc tới Tố Hữu thời này, nhưng vẫn trân trọng nhà thơ từng làm kinh tế đó như một tay tiên tri thần kỳ, qua hai câu thơ ảo diệu: Bên kia biên giới là nhà/Bên này biên giới cũng là quê hương.

Nông Đức Mạnh (2 nhiệm kỳ Tổng bí thư 2001-2011) không có gì gọi là ấn tượng trong thời gian tại chức. Chỉ sau khi phục viên mới nảy sinh một vài vấn đề nhạy cảm liên hệ tới cô bồ nhí của cậu quý tử thích ăn thịt bò tót mà Mạnh đã dày công cất nhắc vào TW và nâng tầm lên thành bí thư tỉnh ủy Bắc Giang.

Trong bối cảnh đó, CNXH trong ba triều đại này có cùng một nền tảng cơ bản (từ thời Đỗ Mười), cho dù những triền miên hứa hẹn làm sạch đảng không sánh nổi với nỗ lực một mình làm sạch vườn rau sân thượng, của Phiêu.

Chỉ riêng GS TS ngành xây dựng đảng Nguyễn Phú Trọng, nắm chức Tổng bí thư kể từ ngày 19/01/2011, là có một số hoạt động đình đám:

1. Dũng cảm tự xác nhận là tác giả cụm từ “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”;

2. Hãnh diện rằng cụm từ đó thâm thúy hơn cả cha đẻ của nó là thứ “Kinh tế thị trường đậm đà màu sắc TQ”;

3. Mạnh dạn trao đổi với các đồng chí Cuba một số ý kiến chung quanh vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;

4. Long trọng xác định với đảng bạn về một nguyên tắc chiêm bao: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng – thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

5. Thực lòng chia sẻ một ước mơ phổ quát đúng quy luật và có lồng tiếng thuyết minh: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

6. Rồi chân thành trần tình ở bè trầm, rằng: “Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam”.

Nghĩa là, túm lại, mọi thứ vẫn còn mờ mờ trước mặt, bởi cả đảng CSVN, từ Hồ Chí Minh xuyên suốt các triều đại khúc giữa, xuống tới hàng Nguyễn Phú Trọng, đều chưa biết rõ cái CHXH đó là gì, chưa biết nó ở đâu, chưa biết đường nào tới đó, và chưa biết làm sao cướp/chộp/núm được nó.

Chỉ biết chắc chắn mỗi điều: Đã là lãnh đạo thì phải tuyên bố quyết tâm đạt đến cái đích chưa biết đó kỳ được mới thôi.

Cho dù là bằng giá xương máu của hàng nhiều triệu nhân dân qua nhiều thế hệ.

Cho dù phải nhấn chìm đất nước và dân tộc xuống đáy nhân loại, từ thế kỷ 20 nối tiếp qua thiên niên kỷ thứ ba này.

Mục tiêu của lời tuyên bố, tất nhiên, không phải là để đến đó. Mục tiêu chính yếu và lớn nhất là để… vẫn ngồi đây. Theo kiểu Trần Văn Giàu có lần hóm hỉnh: “Cái đít con người ta có trí nhớ. Nó nhớ cái ghế!”.

Rõ ràng, đó là chiếc bánh ga-tô siêu thực. Nó cần và nó cố chở đợi giới thưởng thức quen thói “nghĩ giản đơn và trong sáng như một đứa trẻ”, cứ chong mắt nhìn mớ sắc màu lung linh và tin là nó có thật.

Nhân dân ta cần phải làm gì để chấm dứt cuộc mặc cả giữ ghế đó?

“Muốn cho dân tộc ta không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: Ấy là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đảng đến nay đã hết là đội quân tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc rồi. Bây giờ nó trở thành chướng ngại vật trên đường phát triển của dân tộc. Kẻ nào trong lúc này đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của Tổ quốc là kẻ phản bội Tổ quốc… Một chế độ hạ nhục con người không phải là chế độ nhân dân ta lựa chọn”. (Vũ Đình Huỳnh – qua lời kể của Vũ Thư Hiên).

26-05-2012 – Kỷ niệm 115 năm ngày phát hành quyển Dracula của Bram Stoker.

Blogger Đinh Tấn Lực

Đăng trong Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Cướp đất ở huyện Cái Răng, Cần Thơ, hai mẹ con khỏa thân để giữ đất

Posted by hoangtran204 on Chủ Nhật, Tháng Năm 27, 2012

Hai mẹ con phụ nữ 52 tuổi và 33 tuổi này cứ tưởng rằng nếu họ cởi truồng như thế này, thì công an và chính quyền địa phương của họ sẽ xấu hổ, mà không dám dùng bạo lực cưỡng chế đất đai ruộng vườn của họ.

Nhưng họ đã lầm, chính quyền của đảng không hề biết xấu hổ, cứu cánh biện minh cho phương tiện, lấy đất của dân là chuyện quan trọng, chuyện phụ nữ cởi truồng phản đối chỉ cần có công an bộ đội giải quyết trong 10 phút là xong. Hai tờ báo, tờ Hà Nội Mới, cơ quan ngôn luận của đảng bộ thành phố Hà Nội, và tờ báo Đời Sống và Pháp Luật, cũng ở Hà Nội đăng tin để các ông chủ cộng sản, các đảng viên cao cấp ở thành phố Hà Nội đọc.

Phần thưởng của các đảng viên cao cấp hoành tráng như thế này (“bài 2, quý tử quần quật làm thêm, bí thư trổ tài ăn nói”nguồn), thì chuyện phụ nữ cởi truồng, phản đối đảng ta cướp đất để giao cho các công ty con của tập đoàn xây cao ốc bán kiếm lời, là chuyện nhỏ.

Hai mẹ con khỏa thân để giữ đất

Báo Hà Nội Mới- (Cơ quan ngôn luận của Đảng bộ thành phố Hà Nội)

Báo Đời Sống và Pháp Luật

26-5-2012

(Nguoiduatin.vn) – Giữa trưa, đám vệ sĩ lôi mẹ con bà Lài trên cát, trên bãi cỏ và các đống vật tư xây dựng trong tình trạng khỏa thân.

Trưa 22/5, tại lô 49, dự án Khu dân cư Hưng Phú (Q. Cái Răng, Cần Thơ) do Cty CP Xây dựng số 8 – CIC 8 (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư, nhóm vệ sĩ Cty đã trấn áp hai phụ nữ trong tình trạng khỏa thân ngăn cản máy công trình vào thi công. Bà Phạm Thị Lài (SN 1960, ngụ P.Hưng Thạnh) và con gái là Hồ Nguyên Thủy (SN1979) khẳng định, họ khỏa thân để giữ phần đất đã bị Cty này chiếm đoạt một cách thiếu minh bạch. Hai người này đã bị đám vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt.

Hai phụ nữ không mặc gì đang giằng co với bảo vệ

Trao đổi với PV, bà Lài nghẹn lời: “Đất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được thỏa thuận mua bán. UBND Q. Cái Răng dùng lực lượng CA cưỡng chế đất giao cho CIC 8. Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối?!”..

Theo tìm hiểu của PV, giá bồi hoàn do phía CIC 8 đưa ra bị nhiều người dân trong khu vực phản đối, vì theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, những dự án kêu gọi nhà đầu tư và thuộc dạng dự án kinh doanh sinh lợi, thì phía chủ đầu tư phải tiến hành tự thỏa thuận giá bồi thường thiệt hại với người dân. Hộ bà Lài bị cưỡng chế 3 lần. Hiện giá đất mà CIC 8 đang chào bán ngay tại vị trí đất của hộ bà Lài là hơn 5 triệu đồng/m2. Trong khi theo bà Lài, Cty này chỉ bồi thường cho gia đình bà chỉ 500.000 đồng/m2 và cũng không được bố trí tái định cư.

Chủ đầu tư nôn nóng, tự ý thi công

Chiều 24/5, trả lời PV, ông Mai Hồng Châu, chủ tịch UBND Q. Cái Răng cho biết, phía quận đã chỉ đạo tạm thời ngưng thi công chờ họp bàn, đưa ra giải pháp. Vụ việc chiều 22/5 có thể do phía chủ đầu tư nôn nóng, tự ý cho thi công mới xảy ra sự cố như vậy. Vị chủ tịch này khẳng định, UBND quận đã làm đúng thẩm quyền, giải thích động viên và tổ chức đối thoại trực tiếp 2 lần nhưng hộ dân này không đồng ý. Họ đòi tự thỏa thuận giá đất với chủ đầu tư và so sánh giá thu hồi bốn năm trăm ngàn đồng với giá mấy triệu đồng của công ty bán ra. Việc này là không chấp nhận được!.

Nhóm PV

——————————–
Báo Đời Sống và Pháp Luật đăng tin Hai Mẹ Con Khỏa Thân Để Giữ Đất có kèm theo bài viết hồi 2006,

Đăng trong Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | 3 phản hồi »

Đảng và nhà nước làm giàu nhờ vào các tập đoàn bòn rút và chia lại cho các đảng viên cao cấp

Posted by hoangtran204 on Thứ Bảy, Tháng Năm 26, 2012

Trích từ

Quả đấm bông thay vì quả đấm thép

24-5-2012

Phỏng vấn

(TBKTSG) – Câu chuyện đổ bể của Vinashin và Vinalines cho thấy chiến lược tạo ra những “quả đấm thép” trong công nghiệp hóa ở Việt Nam không thể không được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. TBKTSG đã có cuộc trao đổi về vấn đề này với TS. Nguyễn Tú Anh, Phó trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

TBKTSG: Theo ông, với tình hình đã và đang diễn ra với các “quả đấm thép”, liệu chiến lược công nghiệp hóa sẽ đi về đâu? 

- Ông Nguyễn Tú Anh: Nếu vẫn tiếp tục như thế mà không thay đổi thì chiến lược công nghiệp hóa chắc chắn sẽ phải thất bại.

TBKTSG: Vấn đề lớn nhất rút ra từ những đổ vỡ này là gì?

- Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng ở đây là quản trị. Tức là dòng vốn đổ vào cho các tập đoàn này đã không kiểm soát được. Lỗ mà không ai biết, đến khi vỡ ra rồi, mới hay.

TBKTSG: Như vậy, sự đổ vỡ là do cách thức thực hiện chứ không phải do chọn ngành?

- Tôi không nói là tất cả những ngành được lựa chọn để phát triển đều đúng. Có một thời chúng ta đã chọn rất nhiều ngành mũi nhọn, tương tự như một quả mít vậy, chỗ nào cũng mũi nhọn cả. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thất bại vì việc lựa chọn không dựa trên lợi thế gì cả. Công nghiệp ô tô là một ví dụ cụ thể.

Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch:

Cần tách bạch hai việc

Vấn đề phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải hàng hải là đúng bởi đó là những ngành kinh tế mang tính chiến lược quốc gia. Xác định ngành gì là mũi nhọn phải dựa trên lợi thế tĩnh và động của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Ví dụ, Việt Nam có chiều dài bờ biển lớn, đây là lợi thế không phải quốc gia nào cũng có trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết Trung ương về kinh tế biển cũng nói rõ, ngành đóng tàu, ngành vận tải biển là những ngành cần thiết cho nền kinh tế. Việc định hình những ngành chiến lược gắn liền với quá trình xây dựng, công nghiệp hóa đất nước, đặc biệt là kinh tế biển, cần có những chính sách phát triển phù hợp. Còn việc xử lý các tập đoàn làm ăn thua lỗ lại là chuyện khác. Cần tách bạch hai việc với nhau.

Tuy nhiên, khi xác định ngành công nghiệp đóng tàu, vận tải biển là ưu tiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì chúng ta lại thiếu chính sách để các thành phần kinh tế tham gia mà chỉ tập trung cho một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đây cũng là một nguyên nhân khiến ngành đó không phát triển được.

Sắp tới, tôi cho rằng không nên tập trung nguồn lực đầu tư vào các tập đoàn, công ty nhà nước nữa. Rất tiếc, đề án tái cơ cấu kinh tế mà Chính phủ trình Quốc hội mới chỉ đưa ra cái khung, mới ở dạng ý tưởng chứ chưa hẳn là đề án đầy đủ. Điều quan trọng, không phải chỉ xác định phát triển ngành gì mà còn là làm cách nào, dựa trên nguồn lực nào.

TS. Nguyễn Quang A:

Mềm quá thì tiêu!

Tập đoàn nhà nước ở Việt Nam là một sự tập trung quyền lực hết sức mạnh mẽ. Mà đã tập trung quyền lực, cho nó được ưu ái nhiều hơn thì ắt sẽ dẫn đến một tình trạng mà giới kinh tế học gọi là ràng buộc ngân sách mềm. Tức là ở bên ngoài mang vào cho doanh nghiệp chứ không phải do tự doanh nghiệp làm ra. Điều này dẫn đến hệ quả là làm cho người lãnh đạo doanh nghiệp đó sinh ra tâm lý ỷ lại, chẳng phải lo lắng gì cả. Cần gì phải lo khi mà được ưu ái đến vậy. Thiếu tiền, đã có ngân hàng cho vay hoặc lỗ lã thì được bù theo chỉ đạo.

Ngược lại, ngân sách cứng là doanh nghiệp phải tự lo, tự xoay xở. Ví dụ, muốn có một khoản vay tín dụng, phải bị ngân hàng săm soi tính hiệu quả. Khi ngân hàng làm vậy, họ đã thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng, đó là làm cho ràng buộc ngân sách của doanh nghiệp cứng lên. Nếu hai điều kiện cơ bản để một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là ràng buộc ngân sách cứng và cạnh tranh thì cả hai điều kiện ấy đều thiếu đối với các tập đoàn nhà nước Việt Nam.

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng CIEM:

Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật!

Trong khi hàng triệu người dân phải tính từng đồng bạc, từng mớ rau, quả trứng thì sự phung phí một cách vô lối ở các tập đoàn như thế rõ ràng là một tội lỗi. Tội lỗi đối với nền kinh tế. Tội lỗi đối với người dân. Đây chính là lúc Nhà nước phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách cầu thị và dẫu có đắng cay, cũng phải làm để có thể gầy dựng lại từ đống đổ nát này. Trước mắt, cần phải xem xét toàn diện khung pháp lý về quản trị đối với các tập đoàn nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Câu hỏi đặt ra là còn những “tên tuổi” nào chưa bị phát hiện

Đăng trong Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

Trông chờ gì từ những con nợ này!

Posted by hoangtran204 on Thứ Bảy, Tháng Năm 26, 2012

Bài 1

Trông chờ gì từ những con nợ này!

Tư Giang
24-5-2012

(TBKTSG) – Không chỉ có Vinashin và Vinalines mà hàng loạt tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang bị thua lỗ nặng nề theo những số liệu từ các cơ quan chức năng. Liệu đề án tái cơ cấu kinh tế nói chung, hay đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước nói riêng có giải quyết được bài toán thua lỗ này?

Cuối cùng, điều gì phải đến đã đến với những người từng cầm lái con tàu Vinalines. Nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Dương Chí Dũng và hai cựu lãnh đạo khác của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đã bị khởi tố bị can với cáo buộc “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Đây là hệ quả của hàng loạt sai phạm của doanh nghiệp nhà nước này trong suốt thời kỳ 2007-2010 mà Thanh tra Chính phủ đã phát hiện gần đây.

Tàu chở hàng rời Vinalines Global trọng tải 73.350 tấn do Vinalines mua về hồi tháng 7-2008. Ảnh: Kinh Luân.

Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, các khoản nợ khó có khả năng thu hồi của Vinalines lên đến 23.063 tỉ đồng. Tổng công ty đã mua 73 tàu biển từ nước ngoài tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó 17 tàu đã qua sử dụng trên 15 năm, thậm chí trên 30 năm; và 34 tàu bị lỗ nặng, có tàu phải bán. Bên cạnh đó, rất nhiều dự án đầu tư của Vinalines có sai phạm, chẳng hạn dự án mua ụ nổi No83M đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Tổng giá mua và chi phí sửa chữa của ụ nổi này lên tới gần 490 tỉ đồng, tương đương 70% giá đóng ụ nổi mới…

Báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN), cả nước có 101 tập đoàn, tổng công ty và một ngân hàng thương mại do Nhà nước giữ 100% vốn. Đến cuối năm 2010, tổng vốn của các DNNN trên 700.000 tỉ đồng, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 653.000 tỉ đồng.

Tất nhiên, Vinalines dưới thời ông Dũng báo cáo khác về tình hình kinh doanh của mình. Ví dụ, trong năm 2010 Vinalines công bố tổng doanh thu đạt 20.934 tỉ đồng, tăng 16%; tổng lợi nhuận đạt 1.241 tỉ đồng, tăng 40% so với năm 2009. Động thái này của lãnh đạo Vinalines giống hệt như báo cáo làm ăn có lãi của lãnh đạo Vinashin trước khi bị bắt. Với hoàn cảnh hiện tại, Vinalines đã làm tiêu tan hy vọng của Chính phủ trong việc lấy Vinalines để đỡ cho Vinashin.

Nhìn sang Vinashin, từ sau khi “tái cơ cấu”, tình trạng cũng bi đát không kém. Bộ Giao thông Vận tải trong báo cáo gửi thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết trong quí 1 năm nay, doanh thu của tập đoàn đạt 282 tỉ đồng, giảm 81,5% so với ba tháng đầu năm 2011. Báo cáo này cho biết thêm giá trị sản xuất của Vinashin chỉ đạt 960 tỉ đồng, bằng 10,4% kế hoạch năm và giảm 72,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tình hình khó khăn này khiến Vinashin gần đây phải xin Bộ Tài chính miễn phạt chậm nộp thuế. Điều này cho thấy, Vinashin vẫn còn chưa có tiền nộp thuế, dù đã được vay vốn với lãi suất 0% từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam để trả lương cho người lao động, cũng như được hưởng hàng loạt ưu đãi khác.

Tình trạng thua lỗ, nợ nần do đầu tư kém hiệu quả của Vinashin trước đây, và nay là Vinalines, đã tác động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế biển của đất nước, vốn rất quan trọng trong bối cảnh khu vực đầy biến động trong thế kỷ này. Thực trạng đó, một lần nữa tiếp tục thách thức sự phát triển tới đây của ngành đóng tàu đã được xác định là ngành công nghiệp trọng điểm trong đề án tái cơ cấu kinh tế đang được Chính phủ trình Quốc hội.

Theo báo cáo “Thực trạng hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2006-2010” của Bộ Tài chính, đến hết năm 2010 tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty là 1.799.317 tỉ đồng, bằng 238% so với năm 2006.Đến hết năm 2010, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là 1.088.290 tỉ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu (quy định hiện hành được huy động vốn trong phạm vi nợ phải trả không vượt quá ba lần vốn điều lệ).Báo cáo này cho biết, có 30 tập đoàn kinh tế, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn ba lần, trong đó có bảy tổng công ty trên 10 lần, có chín tổng công ty trên 5-10 lần, có 14 tổng công ty từ 3-5 lần.

Giữ vị trí quán quân về khó khăn hiện tại không ai khác là tập đoàn Điện lực (EVN), mà nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên, ông Đào Văn Hưng, đã bị miễn nhiệm đầy nhẹ nhàng. Báo cáo chính thức của Kiểm toán Nhà nước cho thấy, cho đến cuối năm 2010 nợ phải trả của EVN là 239.761 tỉ đồng, trong đó nợ ngắn hạn là 65.493 tỉ đồng, chiếm 27,31%, và nợ dài hạn là 174.268 tỉ đồng, chiếm 72,69%. Cơ quan này cho thấy, tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn là hơn 79% và tỷ lệ nợ phải trả lên đến 4,22 lần vốn chủ sở hữu.

Theo báo cáo kiểm toán cuối năm ngoái, EVN lỗ gần 17.000 tỉ đồng trong năm 2011, đưa tổng lỗ lũy kế lên đến 40.400 tỉ đồng. Kiểm toán Nhà nước khẳng định, EVN đã lâm vào tình hình tài chính khó khăn, không đảm bảo độ an toàn.

Tất nhiên, EVN khó mà biện minh cho tình trạng EVN Telecom thua lỗ triền miên, rồi cuối cùng bị chuyển cho Viettel; hay việc chi tiêu hoành tráng cho trụ sở đang xây tại phố Cửu Bắc, Hà Nội – tòa nhà bị hỏa hoạn cuối năm ngoái.

Chi phí như vậy tất nhiên là có những người gánh chịu mà điển hình nhất là tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV). Than do TKV khai thác buộc phải bán cho EVN với giá bằng 60% giá thành sản xuất. Chênh lệch giá chỉ so với giá xuất khẩu đã lên tới 900 triệu đô la Mỹ trong năm 2011, theo Tổng giám đốc TKV Lê Minh Chuẩn công bố tại một hội thảo cuối tuần trước. Như vậy, con số này đã cao hơn nhiều so với con số 8.500 tỉ đồng mà TKV phải chịu để bù chênh lệch giá mà tập đoàn này bán than cho EVN (theo đơn kêu cứu của TKV gửi Thủ tướng vào đầu tháng này). Trong đơn gửi Thủ tướng đề nghị giảm thuế xuất khẩu than từ mức 20% xuống 0%, TKV khẳng định đang đối diện với nguy cơ thua lỗ cao trong năm nay và khó cân đối về tài chính.

Cũng như TKV, một chủ nợ khác của EVN là PVN. Vào trung tuần tháng 1 năm nay, theo Thông tấn xã Việt Nam, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power) Vũ Quang Huy cho biết EVN nợ tổng công ty này 14.000 tỉ đồng, trong đó có 2.000 tỉ đồng là lãi chậm trả. Số nợ này đã cao hơn nhiều so với 10.000 tỉ đồng mà EVN mua điện nợ của PVN, theo công bố của đại diện PVN tại buổi họp giao ban tháng 10-2011 của Bộ Công Thương. Nhưng, đến lượt mình, PVN cũng rất nhập nhèm về tài chính khi bị Thanh tra Chính phủ báo cáo là có “khuyết điểm” trong chi tiêu tới 18.000 tỉ đồng hồi tháng 4 năm nay.

Cũng trong đợt công bố hồi tháng 4 năm nay, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo xử lý hơn 10.676 tỉ đồng bị sử dụng sai quy định tại tập đoàn Sông Đà. Tập đoàn này bao gồm sáu tổng công ty nhà nước như Lilama, Licogi, Coma, Sông Hồng, Sông Đà, và Dic Corp trong ngành xây dựng vốn đang gặp khó khăn. Con số này tương đương 500 triệu đô la Mỹ, lớn hơn nhiều so với 124 triệu đô la Mỹ mà tập đoàn này vay của ADB để tái cấu trúc doanh nghiệp.

Những số liệu trên chỉ là một phần nhỏ trong các báo cáo của Kiểm toán Nhà nước hay Thanh tra Chính phủ công bố tiến hành với các tập đoàn, tổng công ty gần đây. Có một điểm chung trong các báo cáo đó, là tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều bị phát hiện có sai phạm về tài chính khi được hai cơ quan này thanh tra. Không phải bàn cãi, số tiền đó là rất lớn nếu so với số tiền 2.100 tỉ đồng mà 40 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp khác đăng ký với Chính phủ hỗ trợ cho các huyện nghèo trong giai đoạn 2009-2020, theo Báo cáo của Chính phủ trình kỳ họp thứ 3 của Quốc hội đang diễn ra.

Mới đây, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chủ trì một cuộc tham vấn với nhiều bộ ngành nhằm xem xét đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước do Bộ Tài chính soạn thảo. Kết thúc buổi tham vấn, theo lời kể của một số người tham dự, Phó thủ tướng đã yêu cầu Bộ Tài chính thay đổi nhiều nội dung trong đề án này theo hướng mạnh mẽ hơn. Như vậy, đề án quan trọng nhất trong chương trình tái cơ cấu kinh tế ba trụ cột sẽ còn phải bổ sung thêm sau hơn nửa năm được bắt đầu chuẩn bị, và chưa biết bao giờ mới được thông qua để tạo hành lang thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này.

Nguồn danluan.org

Ý kiến của người đọc:

*Sợ thật. Một bên các tổng công ty nhà nước đốt tiền như lá tre, một bên hàng Trung Quốc ngập ngụa khắp nơi, bảo sao hàng vạn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không giải thể, nền kinh tế không phá sản mới là chuyện lạ.

*Bọn lãnh đạo CS này ngoài tham nhũng, bao che cho nhau, làm việc vô kỷ luật, còn bất tài trong lãnh vực được giao phó.

Không biết lái mà cứ đòi làm thuyền trưởng.

*Không phải “Không biết lái mà cứ đòi làm thuyền trưởng” như # 59137 nói đâu! Họ biết rất nhiều,rất tường tận nữa là khác. Song,vì lợi ích của họ gắn liền với con thuyền đó nên họ luôn luôn muốn làm thuyền trưởng để lái con tàu đó đến những nơi mà họ muốn đến! Chẳng hạn, trên các diễn đàn Quốc hội, khi phân tích,đánh giá tình hình KT-XH do Chính phủ báo cáo thì thấy lúc nào cũng đặt vấn đề phải tách bạch chức năng quản lí nhà nước với chức năng sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước,nếu không thì sẽ rơi vào tình trạng”vừa đá bóng,vừa thổi còi”!

Nhưng mà CP có chịu tách ra đâu(nói tách là tách một cách thật sự kìa)!Bỡi thế mới có chuyện nhiều TCy,tập đoàn trực thuộc Bộ/Chính Phủ.Và chính những TCty,tập đoàn này của Nhà nước chính là nơi cung phụng/cống nạp nhiều nhất cho các Bộ/CP.

Ở dưới các địa phương cũng tương tự như thế!Vậy thì trông chờ gì từ những tập đòan/TCty nhà nước này vì có bao giờ các “thuyền trưởng”chịu buông tay lái đâu!

————————————————————————————————

Bài 2

Quý tử quần quật làm thêm, Bí thư trổ tài ăn nói

images698148_vuon_thuong_uyen_cua_bi_thu_hai_duong1a.jpg

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố!

Cơ ngơi này là của con, chứ không phải là của bố

Cuối cùng thì sự thật rành rành xung quanh khu vườn thượng uyển lộng lẫy ở Hải Dương cũng được phơi bày, thông qua những lời thật như đếm của những người có trách nhiệm liên quan. Hẳn độc giả cũng không còn lạ, nhưng cứ xin điểm qua đây tiến trình sự thật được phơi bày, hiển hiện giữa ánh mặt trời.

Hôm thứ Hai, 21/5, trả lời báo Giáo dục Việt Nam, ông Bí thư chỉ đính chính một thông tin duy nhất, ấy là không phải gia đình ông xây nhà trên đất nông nghiệp, mà đất đã được chuyển đổi đàng hoàng. Ông tuyệt nhiên không nói đến chuyện nhà báo phản ánh: Đất của ông, tài sản trên đất cũng là của ông.

Hôm sau, 22/5, Chủ tịch UBND huyện Ninh Giang (Hải Dương) Nguyễn Xuân Thuấn mau mắn khẳng định đất này không phải thuộc sở hữu của đồng chí Bùi Thanh Quyến mà của anh Bùi Thanh Tùng, con trai ông Quyến (theo báo Lao Động). Ông Chủ tịch huyện cũng chẳng đả động gì đến chuyện tài sản trên đất là của ai.

Sang ngày 24/5, đến lượt đích thân con trai ông Bí thư lên tiếng hùng hồn nhận toàn bộ dinh cơ đang xây dựng là của mình, đồng thời không quên khẳng định: Tiền xây nhà là mồ hôi, nước mắt, xuất phát từ trí tuệ, vận động cá nhân chứ không phải là dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào mối quan hệ nào.

Cứ tạm bỏ qua những mâu thuẫn nho nhỏ trong lời phát ngôn của 3 nhân vật, hẳn người trần mắt thịt chúng ta phải vừa xuýt xoa về tài làm kinh tế, vừa gật gù trước con đường hoạn lộ thênh thang của chàng thanh niên này. Tiếc là không có nguồn thông tin nào cho biết quý tử nhà ông Bí thư đã bao nhiêu tuổi, nhưng bằng chứng về cái sự trí tuệ, vận động cá nhân của anh thì đã rành rành: Hiện đang là Trưởng phòng Việc làm – An toàn lao động của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Dương.

images698145_vuon_thuong_uyen_cua_bi_thu_hai_duong8.jpg
Sáng ngày 11/04/2012, thực hiện Quyết định sô 788/QĐ- UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương – Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức hội nghị công bố: Quyết định bổ nhiệm đồng chí Bùi Thanh Tùng, Phó trưởng phòng việc làm An toàn lao động giữ chức vụ Trưởng phòng việc làm An toàn lao động.

Ông Bùi Thanh Tùng là con trai của bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyến, người được cho là chủ sở hữu của khu vườn thượng uyển trị giá trăm tỉ đang xôn xao dư luận.

Thật đúng là tuổi trẻ tài cao, hổ phụ sinh hổ tử và người ta hoàn toàn có quyền hi vọng một ngày kia anh sẽ làm quan to hơn cả bố để xứng với câu nói của người xưa rằng con hơn cha thì nhà có phúc.

Dĩ nhiên, sẽ có một vài kẻ xấu bụng cho rằng thế nào chả có chút ít dây mơ rễ má giữa ông bố đừng đầu tỉnh với địa vị hiện tại của cậu con, nhưng xin thưa là quý vị không nên công tư lẫn lộn như vậy. Ô hay, thế cứ là con quan thì toàn là phường kém năng lực hết cả hay sao, mà cánh hậu sinh bây giờ cũng tài năng đầy mình đấy chứ. Cứ thử nhìn ra nước ngoài thì đủ biết thôi: Trong khi Nga vừa có một bộ trưởng 30 tuổi, thì ở Trung Quốc, theo truyền thông phương Tây, những tập đoàn chủ chốt trong nhiều lĩnh vực đang nằm trong tay con cái giới lãnh đạo cấp cao, đâu phải ai cũng “ăn chơi tàn bạo” như cậu ấm Bạc Qua Qua…

Dĩ nhiên, bố con ông Bí thư cũng nên thể tất cho những ý kiến không thiện ý lắm từ phía dư luận. Khổ, có ai muốn hẹp hòi làm gì đâu, nhưng cứ đọc báo thì người ta lại phải nghĩ ngợi…

Chắc bạn còn nhớ, năm ngoái, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam đã khiến dư luận một phen bổ chửng khi chỉ ra một sự thật bấy lâu nay ai cũng biết mà không ai nói, chả hiểu vì ngần ngại điều gì: Nếu trông chờ vào lương, thì các Bộ trưởng cũng phải mất 40 năm cúc cung tận tụy làm việc mới mua được nhà thu nhập thấp.

Còn liên quan trực tiếp đến cái sự vụ ở Hải Dương, mấy hôm trước, phóng viên báo Giáo dục Việt Nam đã cặm cụi ngồi làm công việc của học sinh cấp I, ấy là cộng trừ nhân chia xem với mức lương hiện tại (khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng), một ông Bí thư Tỉnh ủy liệu có thể xây một căn nhà tàm tạm hay không. Dĩ nhiên, độc giả có thể và phải tự trả lời lấy câu hỏi này. Và không biết câu hỏi trên có khó hay không, nhưng nếu áp vào trường hợp của đồng chí Trưởng phòng con trai ông, thì chắc chắn việc đưa ra đáp án dễ dàng hơn nhiều, phải không quý vị nhỉ?


Giờ, chỉ có mấy cô gái là mất nhân phẩm!Và nếu bạn vẫn thấy phân vân, thì xin mời nghe phát biểu của Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng khi ông thảo luận về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi tại hội trường Quốc hội hôm 23/5. Đọc cái tít của Báo Tuổi Trẻ rằng “Lương không đủ sống mới phải làm thêm”, bà con chúng ta hẳn sẽ phải rơi nước mắt thương cảm với con trai Bí thư Tỉnh ủy, vì không biết anh ta phải quần quật làm thêm như thế nào mới để dành được chút tiền để xây dựng cái cơ ngơi hơn 4.000m2 ở nơi chôn nhau cắt rốn.

Dĩ nhiên, không phải dành hết cảm phục cho cậu quý tử là độc giả vội quên ngay ông Bí thư đâu, người Việt ta không dễ cạn tàu ráo máng đến thế. Ừ thì ông không có tài làm kinh tế, không yêu thiên nhiên hoa cỏ, không thích thú điền viên… như đã từng được tán tụng, nhưng với tư cách đại biểu Quốc hội, ông Bí thư khiến ta phải tấm tắc về tài ăn nói.

Theo báo Dân Việt, đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Quyến đã đề nghị các nhà báo cứ tự tìm hiểu! xem những thông tin về cái biệt thự vườn có đúng hay không, vì lời ông nói thì không chắc đã khách quan.

Câu trả lời của ông Bí thư ắt hẳn phải khiến hàng loạt các đại biểu Quốc hội khác phải cảm thấy ngại ngùng, vì có vị thì báo chí không dám hỏi đến, có vị thì dân hỏi không biết trả lời thế nào.

Đây, hãy thử lấy 2 ví dụ còn nóng hổi trong ngày trên mặt các báo. Ở Đồng Nai, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy vừa ra thông cáo báo chí yêu cầu không được đề cập đến bà Đỗ Thị Thu Hằng khi nói đến vụ Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành xả thải ra môi trường. Bà Hằng là người đứng đầu Tổng Công ty Sonadezi, công ty mẹ của cái công ty bị bắt quả tang nói trên.

Phải nói đây là một yêu cầu chuẩn không cần chỉnh, vì mẹ ra mẹ mà con ra con, đừng có lẫn lộn. Dĩ nhiên, bà còn là đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, nhưng như đại biểu Bùi Thanh Quyến đã nói, phát ngôn của bà cũng khó mà khách quan cho được, nên báo chí không nên hỏi. Người ta chỉ băn khoăn một tí xíu là không lẽ bà Hằng đã làm thủ tục “từ” công ty con này từ bao giờ rồi. Vì khổ lắm, nếu nó vẫn là của bà, nếu bà còn lo cho nó, và những lời lãi của nó mà bà vẫn được hưởng chút đỉnh, thì người ta còn có quyền phàn nàn rằng con hư tại mẹ, con dại cái mang chứ nhỉ?

Nghĩ quẩn mới thấy, nếu chẳng may Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương cũng ra một văn bản yêu cầu báo chí không đề cập đến ông bố, vì cái nhà vườn trăm tỷ kia là của ông con, chả liên quan, thì có lẽ báo chí cũng ngọng thôi. May quá, ông Bí thư vẫn trả lời, mà lại còn rất sòng phẳng nữa: Các vị có giỏi thì đi mà điều tra, tôi không nói đâu! Hay là ông cũng chẳng biết, hoặc không tin con mình nó phải làm thêm quần quật để xây nhà…

Đến đây, xin có một lời mách nhỏ cho những đại biểu Quốc hội đã phát biểu rằng họ vô cùng xấu hổ, thấy mặt mình cứ trơ ra vì không biết ăn nói thế nào khi cử tri bức xúc hỏi về hết Vinashin đến Vinalines. Thưa, quý vị hoàn toàn có thể tìm thấy một cái phao cứu sinh hết sức linh nghiệm từ câu trả lời của đại biểu Bùi Thanh Quyến: Xin cử tri cứ tự tìm hiểu cho nó khách quan! Người viết có thể đảm bảo, với bí kíp này, các cử tri sẽ không bao giờ mở miệng hỏi thêm một câu nào nữa.

Cơ mà khổ lắm, có tiền thì sao không âm thầm tiêu vào mấy cái cô diễn viên, người mẫu, sinh viên 1.500 USD như hôm nay các nhà báo loan tin nhỉ. Ai biết đấy là đâu, giờ chỉ có mấy cô gái ấy là bị mất nhân phẩm thôi, dù các cô cũng cày cuốc cả ngày như ai. Thiên hạ cứ kêu giá ấy là đắt, nhưng cũng có bõ bèn gì đâu…

Tam Thái
http://danluan.org/node/12736

Ý kiến của bạn đọc Dân Luận

*Ông bí thư Hà nội Phạm Quang Nghị đoán rằng dân ta tham ô, tham nhũng nên thắc mắc : “dân lấy đâu ra lắm tiền mà mua ô tô ?”
Đúng là dân gian. Toàn ỷ lại vào nhà nước, lấy đâu ra lắm tiền vậy? Ăn cướp à?
Cha con ông bí thư Hải Dương thay mặt người dân trả lời câu hỏi của ông bí thư Hà nội. Vậy là hiểu ngay thôi, cùng là bí thư với nhau nói ngắn gọn , nhanh. Dân cu đen giải thích lăng nhằng mất thời gian.

*

Nguyễn Đăng Mạnh (khách viếng thăm) gửi lúc 17:05, 26/05/2012 – mã số 59133

Cậu con trai bí thư được bổ nhiệm trưởng phòng chuẩn bị cơ cấu PGĐ. Ông con rể tên là Diên sinh năm 1980 đang làm PGĐ Sở Kế hoạch & Đầu tư Hải Dương. Cậu Diên này là con trai ông Phạm Hồng Văn nguyên PCT Hải Dương mới về hưu. Bí thư thông gia với PCT khuynh loát chính quyền.

Đăng trong Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung và Ăn Cắp | 1 Comment »

KHÔNG NÊN ĐẶT CƯỢC TÍNH MẠNG DÂN TỘC vào việc xây dựng nhà máy điện hat nhân

Posted by hoangtran204 on Thứ Sáu, Tháng Năm 25, 2012

Các bạn cứ tin đi, mặc ai phản đối thì cứ phản đối, đảng và nhà nước của TT Nguyễn tấn Dũng một khi đã quyết định rồi thì nhà máy điện hạt nhân sẽ phải được thực hiện. Chỉ cần chấm mút 10% của số tiền Nga và Nhật cho mượn, tổng cộng sơ khởi bước đầu là 18 tỷ đô la, là đủ béo.

Đảng là “đỉnh cao trí tuệ của loài người, là bách chiến bách thắng…”.

2 bài dưới đây chỉ là  đọc cho vui để thêm phần hiểu biết.

———-

 KHÔNG NÊN ĐẶT CƯỢC TÍNH MẠNG DÂN TỘC

 Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết:
 
Ngày 5/5/2012 tại buổi đối thoại trực tuyến với nhân dân tại cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Nguyễn Quân đã giải đáp nhiều thắc mắc của người dân, trong đó có vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tại Ninh Thuận.
Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng đã thông báo năm 2014 chưa thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Một ngày sau  tuyên bố của Bộ trưởng, Nhật Bản đã chính thức đóng cửa nhà máy điện hạt nhân cuối cùng. Nhân sự kiện này, VNT (Văn Nghệ Trẻ*) đã phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – người được dư luận đánh giá cao về những phát biểu ở Quốc hội khi ông giữ vai trò Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá,  Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội – xung quanh sự kiện này.
 
Chúng ta sẽ sụn lưng nếu làm ĐHN
 
- Dư luận xã hội đánh giá ông là một trong những đại biểu Quốc hội có những ý kiến rất sâu sắc liên quan đến nhiều vấn kinh tế – xã hội, đặc biệt, ông  từng có ý kiến không đồng thuận về dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên và về vụ nợ nần cả trăm nghìn tỷ ở tập đoàn Vinashin. Nhưng hình như ông rất ít nói đến dự án ĐHN, vì sao vậy?
 
- Dự án xây dựng hai nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận được Chính phủ trình Quốc hội vào tháng 11 năm 2009, tại Kỳ họp thứ 6 QH khoá XII. Khi đó, tôi là một trong những người phát biểu ý kiến phản đối và là một trong 39 người biểu quyết không đồng tình với dự án này. Tôi nhớ là cùng với 39 người không đồng tình, còn có 18 người không biểu quyết (tức là bỏ phiếu trắng).
 
-  Ông có thể nói rõ lý do khiến ông có những ý kiến không đồng thuận?
 
- Một dự án phát triển kinh tế – xã hội phải được đánh giá trên ba phương diện: sự cần thiết, tính khả thi và tác động của dự án.
 
 Về sự cần thiết của dự án, Tờ trình của Chính phủ cho biết với tốc độ phát triển GDP của Việt Nam trung bình 8 – 9 %/năm thì nhu cầu điện năng vào năm 2020 sẽ là 380 tỷ kWh, gấp bốn lần năm 2010. Trong khi đó, Việt Nam không còn khả năng phát triển nhiệt điện do hết than, không còn khả năng phát triển thủy điện vì chỗ nào làm thủy điện được thì đã tận dụng gần hết, làm điện gió, điện mặt trời thì đắt, do đó phải làm ĐHN.
 
Tuy nhiên, trên thực tế, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của nước ta chỉ đạt 6 – 7 %/năm và trong hoàn cảnh khó khăn về tài chính và khủng hoảng kinh tế như hiện nay, khả năng tăng trưởng cao hơn là rất khó. Theo tôi, để giải quyết vấn đề thiếu điện, một mặt, Việt Nam cần tích cực giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng điện; mặt khác nên chủ động giảm tăng trưởng GDP. Trong nhiều năm, để tăng trưởng GDP, chúng ta thu hút đầu tư bằng mọi giá. Nhưng đổi lại, dân ta bị  mất đất, môi trường bị tàn phá, người lao động có việc làm, nhưng mức lương chỉ từ 1,2 – 1,5 triệu/tháng. Vốn bỏ ra nhiều nhưng hiệu quả sản xuất rất thấp. Hiện nay chỉ số ICOR (hiệu quả kinh tế) của Việt Nam là 7 tức bỏ ra 7.000 đ thì chỉ thu về được 1.000 đ. Chỉ số này ở khu vực kinh tế nhà nước còn lên đến 9,1 (tức là bỏ ra 9.100 đ thì chỉ thu về được 1.000 đ.*). Như vậy, nếu không tăng được hiệu quả đầu tư, không chống được tham nhũng, lãng phí  thì càng tăng trưởng mạnh lại càng thất thoát nhiều.
 
Thứ hai là tính khả thi của dự án. Đây là một dự án không có tính khả thi. Xét về mặt nhân lực, chúng ta chưa có bất kỳ một cán bộ kỹ thuật nào về ĐHN chứ chưa nói đến chuyên gia. Hiện nay chúng ta đã cử cán bộ ra nước ngoài để học về ĐHN. Nhưng làm ĐHN khác với đóng gạch. Học đóng gạch chỉ cần một tháng, học làm ĐHN không những đòi hỏi thời gian dài mà còn đòi hỏi tác phong công nghiệp, trước hết là tính kỷ luật, sự cẩn trọng, chính xác. Phải nói thẳng là về tác phong công nghiệp thì người Việt Nam mình hạn chế rõ ràng. Nhiều người tham gia giao thông, cứ thấy vắng bóng cảnh sát là vượt đèn đỏ, đi ngược chiều. Không hiếm trường hợp người ta tháo cả giằng cầu đi bán. Có người còn lấy cắp cả hộp phóng xạ về nhà, bán không ai mua thì đem làm đòn kê chẻ củi. Tính kỷ luật trong xã hội thấp như vậy thì không chắc người được đào tạo về ĐHN sẽ không bị ảnh hưởng hoặc những người phục vụ xung quanh không bị ảnh hưởng.
 
Về nguyên liệu, nếu làm ĐHN, Việt Nam phải nhập từ nước ngoài. Theo số liệu thống kê thì lượng uranium trên toàn cầu chỉ còn khoảng 15 triệu tấn, đủ phục vụ cho 440 lò phản ứng HN đang hoạt động trong vòng vài chục năm nữa. Và như vậy, khi uranium trở nên khan hiếm thì giá của nó vô cùng đắt đỏ; đến lúc ấy, chắc chắn ta không thể chịu đựng được, đành bỏ không nhà máy ĐHN.
 
Thứ ba là tác động của dự án. Tôi xin nói về tác động tài chính trước. Về kinh phí làm 2 nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận, Nghị quyết của Quốc hội đưa ra con số 13,2 tỷ USD, nay tương đương 260.000 tỷ đồng. Song Quốc hội lại yêu cầu làm bằng công nghệ an toàn nhất. Ngay tại phiên thảo luận của Quốc hội, nhiều đại biểu đã khẳng định rằng không thể có giá rẻ như vậy. Và trên thực tế, Việt Nam đã ký Hiệp định liên Chính phủ với Nga trong đó Nga cam kết cho vay khoảng 8 tỷ USD (chưa tính phần vốn đối ứng trong nước) cho việc xây NMĐHN Ninh Thuận 1; còn với Nhật tuy chưa ký Hiệp định, nhưng cũng đã đồng ý cho công ty Nhật triển khai làm nhà máy thứ hai dự báo giá thành cũng không thấp hơn. Đó là chưa kể đến chi phí chôn lấp chất thải HN trên dưới 2 tỷ euro/nhà máy. Chi phí dỡ bỏ nhà máy ĐHN khi hết hạn sử dụng (chừng 40 – 50 năm) cũng khác hẳn chi phí tháo dỡ một nhà máy lắp ráp ô tô. Theo GS.VS Hoàng Xuân Phú, ở CHLB Đức, để dỡ bỏ 2 nhà máy ĐHN, người ta phải chi tới 4,1 tỷ euro. Nói thẳng là nếu làm ĐHN chúng ta sẽ sụm lưng.
 
Tác động đến xã hội cũng là điều cần cân nhắc. Làm ĐHN, chắc chắn chúng ta phải vay tiền; mà khả năng vay từ nguồn ODA (viện trợ trả chậm, không lấy lãi hoặc lãi suất thấp) là không có. Trong khi đó, nợ công của Việt Nam đã xấp xỉ 60%.( con số 60% này có nghĩa là: nếu tổng sản phẩm nội địa của VN là 100 tỷ, thì nợ công hay chính phủ VN đang mắc nợ nước ngoài 60 tỷ*) Gánh nặng nợ nần có thể dẫn đến những bất ổn xã hội. Đó là chưa kể tâm lý lo lắng của người dân, nhất là ở vùng trực tiếp chịu ảnh hưởng của nhà máy ĐHN. Gần đây, tôi có đọc một số ý kiến của nhà thơ dân tộc Chăm Inrasara phản ánh tâm trạng lo lắng về ảnh hưởng của ĐHN đối với quê hương mình. Đó là những ý kiến rất cần được quan tâm.   
 
Tổ tiên run rủi?
 
- Thảm họa đến từ thiên nhiên là bất khả kháng, nhưng trên thực tế thảm họa đến từ con người không phải là không thể xảy ra, liệu công nghệ hoàn hảo như chúng ta kỳ vọng sẽ đẩy lùi được thảm họa?
 
- Trận động đất, sóng thần dẫn đến thảm hoạ ĐHN ở Fukushima, Nhật Bản, cho thấy con người không thể tưởng tượng được hết mức độ và hậu quả khủng khiếp của thiên tai. Tốt nhất là hãy từ các thảm hoạ nhỡn tiền rút ra bài học cho mình. Tôi nghĩ tổ tiên đã run rủi cho chúng ta bằng những điểm báo rất rõ ràng: Khi ta chuẩn bị triển khai đại dự án bauxite ở Tây Nguyên thì xảy ra thảm họa bùn đỏ ở Hungary; định làm đường sắt cao tốc thì xảy ra hàng loạt tai nạn tầu cao tốc ở Trung Quốc; định làm ĐHN thì xảy ra thảm họa ĐHN ở Nhật Bản. Chẳng lẽ những cảnh báo dồn dập như vậy chưa đủ hay sao? Nên nhớ công nghệ cao đến đâu cũng có rủi ro. Lấy ví dụ, cầu Cần thơ do chuyên gia Nhật Bản thiết kế và chỉ đạo thi công bị sập cầu dẫn; Nhà máy lọc dầu Dung Quất với công nghệ tiên tiến của Pháp cũng dật dờ lúc đóng lúc mở suốt từ ngày khánh thành đến nay. Chúng ta không nên đặt cược tính mạng dân tộc vào kỹ thuật nước ngoài. Nếu còn thoát ra được thì nên cố gắng thoát ra. Thảm họa  có thể xảy ra từ thiên nhiên hay từ những bất cẩn của con người mà Chernobyn là một ví dụ điển hình về sự bất cẩn ấy.
 
- Nếu không làm ĐHN, Việt Nam sẽ không thể khắc phục được tình trạng thiếu điện đang ngày càng trở nên trầm trọng?
 
- Năng lượng điện của hai nhà máy ĐHN dự kiến chỉ đóng góp được 4% vào tổng năng lượng điện quốc gia, trong khi lãng phí điện ở nước ta rất lớn. Trong sản xuất, 1kwh điện ở Việt Nam chỉ làm ra được 0,8 USD, trong khi đó cũng 1kwh ở Nhật Bản, người ta làm ra 4,6 USD; ở Singapore 3,4 USD; ở Indonesia 2,7 USD và ở và Philippines 2,1 USD. Vì điện được sử dụng hiệu quả hơn nên mức tăng trưởng điện năng trung bình (do phát triển thêm nhà máy điện hoặc mở rộng quy mô các nhà máy điện hiện có) ở Nhật trong những năm qua chỉ là 0,8%/năm; ở Singapore 4,4%; ở Indonesia 6,3% và ở Philippines 4,6%; trong khi ở Việt Nam là 14,4%, cao hơn cả Trung Quốc (13%). Để đạt 380 tỷ kwh vào năm 2020, nước ta sẽ phải nâng mức tăng trưởng năng lượng điện lên 17%/năm. Nhưng nếu không nâng cao được hiệu quả sử dụng điện thì càng tăng trưởng nhiều càng bất lợi.  
Theo GS.VS Hoàng Xuân Phú, nếu tính cả kinh phí chôn lấp chất thải HN và dỡ bỏ nhà máy ĐHN khi hết hạn sử dụng, tổng giá thành làm ĐHN sẽ cao gấp 43 lần nhiệt điện, 41 lần điện từ khí, 27 lần điện từ gió biển. Trong khi đó, với trên 20 tỷ USD dự kiến đầu tư cho hai nhà máy ĐHN, chúng ta hoàn toàn có thể làm một nhà máy nhiệt điện công suất 18.750 MW, gấp 4,6 lần 2 nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận.
 
- Sau hơn 1 năm xảy ra sự cố ĐHN, ngày 6/5 Nhật đã chính thức đóng cửa lò phản ứng hạt nhân cuổi cùng, trong khi đó nước Nhật vẫn là đối tác giúp Việt Nam xây dựng nhà máy ĐHN? Ông suy nghĩ thế nào về sự kiện này?
 
- Việt Nam lựa chọn Nga và Nhật là hai nước có khoa học – công nghệ phát triển và cũng là hai nước có thảm họa hạt nhân lớn nhất làm đối tác giúp xây dựng 2 nhà máy ĐHN đầu tiên. Với những thông tin mà mình có được, tôi không hiểu rõ lý do lựa chọn hai nước này. Nhưng điều quan trọng hơn là không hiểu vì sao nước ta vẫn kiên trì phát triển ĐHN, trong khi hàng loạt quốc gia phát triển như Đức, Bỉ, Thuỵ Điển, Tây Ban Nha, Italia,… và chính nước Nhật đã từ bỏ chính sách phát triển ĐHN. Thủ tướng Nhật Naoto Kan khi còn tại chức đã khẳng định: “Xem xét nguy cơ nghiêm trọng của các tai hoạ hạt nhân, chúng tôi cảm nhận mạnh mẽ rằng chúng ta không thể cứ tiếp tục dựa trên lòng tin là chỉ cần tìm cách bảo đảm an toàn hạt nhân.” Và ngày 6/5 vừa qua, nhà máy điện HN cuối cùng ở Nhật đã phải đóng cửa theo yêu cầu của người dân Nhật. Người dân Nhật cũng rất có thiện chí khi biểu tình đòi Chính phủ không được bán công nghệ ĐHN cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, vừa qua, một số nhà khoa học và các giới khác ở Việt Nam cũng đã gửi thư cho Thủ tướng Nhật Bản với mong muốn nước Nhật không đưa công nghệ ĐHN vào Việt Nam. Còn vì sao Việt Nam vẫn kiên trì thì câu hỏi này chỉ có thể tìm câu trả lời đầy đủ nhất từ Chính phủ.
 
- Theo nhìn nhận của ông, vì sao Nhật chấm dứt ĐHN?
 
- Thảm họa HN ở Fukushima đã làm tăng sự tàn phá của trận sóng thần đối với đất nước Nhật, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như đến đời sống người dân Nhật nói chung và người dân tại Fukushima nói riêng. Nếu ĐHN có góp được phần nào cho sự phát triển của nước Nhật trong giai đoạn vừa qua thì bây giờ nó lại chứng tỏ sức tàn phá quá khủng khiếp. Và ở một nước dân chủ như Nhật thì Chính phủ phải có những quyết định hợp với lòng dân. Chấm dứt ĐHN chính là để đáp ứng nguyện vọng của người dân.
- Bộ trưởng Nguyễn Quân khi trả lời trực tuyến báo chí đã chính thức   thông báo ĐHN chưa thể bắt đầu vào năm 2014.  Theo ông, có nên lùi thời hạn xây dựng ĐHN tới năm 2020?
 
- Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, cho rằng nên lùi thời gian ít nhất là 10 năm và chỉ nên làm vài lò phản ứng để có kinh nghiệm đã. Nhưng dự kiến của Việt Nam là đến năm 2025 – 2030 sẽ đứng vào hàng thứ 15 thế giới về ĐHN. Thiết tưởng, chạy theo thành tích trong lĩnh vực này nguy hiểm hơn các lĩnh vực khác nhiều. Mà trên thế giới, cũng không ai người ta khuyến khích mình thi đua như vậy. Ngược lại, chúng ta phải nghiên cứu xem vì sao nhiều nước tiên tiến trên thế giới đang từ bỏ ĐHN.
 
Theo tôi, là một nước nhiệt đới, chúng ta nên đầu tư học hỏi, nghiên cứu làm điện từ năng lượng gió, từ nhiệt của mặt trời, chứ không nên phát triển ĐHN. Giá thành ban đầu có thể đắt nhưng khi cải tiến được công nghệ sẽ rẻ. Năm ngoái, tôi đi châu Âu, thấy những dàn điện gió trải khắp nước Hà Lan và những tấm pin mặt trời trải khắp nước Đức, tôi cứ mong một ngày nào điện gió, điện mặt trời cũng phổ biến trên khắp đất nước ta.
 
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
                                                                                          THU HÀ (thực hiện)
 
Nguồn : Văn Nghệ Trẻ số 22 (282), ngày 27/5/2012
Phần có nội dung bằng chữ màu xanh do người được phỏng vấn chỉnh lý.
Ghi chú:
* phần chữ màu nâu trong ngoặc đơn là của TH
Nguồn bài: xuandienhannom, mời các bạn qua bên trang đó đọc các comments.
———————————————-

Người Việt trong và ngoài nước phản đối dự án điện hạt nhân do Nhật tài trợ

Tú Anh

Đài RFI

Một chiến dịch phản đối chính phủ Nhật viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam vừa được khởi động ngày hôm qua 14/05/2012. Sáng kiến này do Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện tại Việt nam và Kỹ sư Nguyễn Hùng ở Úc đề xuất và ngay tức khắc đã được hơn 100 người Việt trong và ngoài nước hỗ trợ.

Bản kiến nghị dự kiến sẽ gửi đến các cơ quan ngoại giao Nhật và thủ tướng Yoshihiko Noda, vào ngày 21/05, mang nội dung yêu cầu Nhật Bản rút lại quyết định trợ giúp Việt Nam xây nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Ngày 04/05/2012 vừa qua Nhật đã đóng cửa toàn bộ 54 nhà máy điện hạt nhân của Nhật vì thiếu an toàn nhưng lại tiếp tục bán trang thiết bị cho nước ngoài. Những người ký tên xem dự án nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận là một hành động « vô trách nhiệm và vô đạo lý » của chính phủ Nhật đối với dân tộc Việt Nam.

Trong ngày đầu tiên hôm qua, 116 người Việt trong và ngoài nước gồm đủ mọi thành phần từ giáo sư đại học, nhà khoa học, nhà báo, giới bảo vệ môi trường, cho đến các nhà tranh đấu cho dân quyền và người dân bình thường đã ký vào bản kiến nghị gởi thủ tướng Nhật và các cơ quan ngoại giao Nhật.

Trong số những người ký tên có nhà báo Thanh Thảo ở Quảng Ngãi. Ông là một trong những nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bài báo động về tai họa sóng thần và thảm họa Fukushima hồi tháng ba năm ngoái. Trả lời câu hỏi của RFI hôm nay 15/05, vì những nguyên nhân sâu xa nào mà ông ký tên phản đối Nhật Bản, nhà báo Thanh Thảo giải thích :

« Tôi là một trong những nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bài xã luận trên báo Thanh Niên về vụ tai họa sóng thần mà Nhật Bản gánh chịu hồi năm ngoái. Bài báo của tôi đã gây được nhiều xúc động trong nước Việt Nam. (Nói thế) để biết là tình cảm của tôi đối với dân Nhật và nước Nhật rất tốt đẹp. Nhưng tôi phản đối Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam xây nhà máy hạt nhân. Điều đơn giản là, sau tai nạn Fukushima thì Nhật đã phải quyết định đóng toàn bộ 54 nhà máy điện hạt nhân . Điều đó nói lên cái gì ? Đối với Nhật , phương thức dùng điện hạt nhân dễ gây thảm họa và thực tế đã gây thảm họa. Vì thế nhân dân Nhật và chính phủ Nhật đã đồng thuận bỏ nhà máy điện hạt nhân. Thế thì hà cớ gì mà Nhật lại viện trợ cái mà mình đã bỏ cho Việt Nam, là một một nước mà xưa nay chưa từng biết điện hạt nhân là cái gì cả ? Điều này rất khó hiểu. Cái mà mình không muốn có cho mình thì không nên đưa cho người khác … Phải nói thẳng là chính phủ Việt Nam chưa bao giờ có kinh nghiệm về điều hành nhà máy điện hạt nhân và những tai họa có thể gây ra cho đất nước mình … Tốt nhất là không nên làm cái gì mà người ta từ bỏ. »

 

Trích đoạn thư phản đối chính phủ Nhật viện trợ xây nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam

“(…) Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đóng cửa tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử tại Nhật sau thảm họa kinh hoàng vừa xảy ra tại nhà máy phát điện nguyên tử Fukushima, như vậy thì chính phủ Nhật Bản không có lý do gì lại giúp tài chính cùng cho phép các công ty Nhật Bản bán trang thiết bị hay xây dựng nhà máy phát điện nguyên tử cho các nước khác trên thế giới.

Đi ngược với quyết định ngưng hoạt động của toàn bộ những nhà máy điện nguyên tử cùng với quyết định không xây thêm nhà máy mới trong tương lai vì lo ngại tai nạn tại các nhà máy này ảnh hưởng đến sức khỏe và an nguy của dân chúng và những tai hại cho nền kinh tế quốc gia, chính phủ Nhật Bản lại chấp thuận viện trợ Việt Nam xây dựng một nhà máy điện nguyên tử tại Phan Rang tỉnh Ninh Thuận.

Đây là một hành động vô trách nhiệm nếu không nói một hành động vô nhân đạo và không đạo lý của chính quyền Nhật Bản đối với đất nước và dân chúng Việt Nam nếu đem so sánh với việc làm của chính quyền Nhật Bản lo cho an nguy của dân chúng Nhật Bản, nếu không coi đây là một hành động phi pháp và đi ngược lại đạo lý của loài người. Nếu chính quyền Nhật Bản đã quyết định ngưng hoạt động tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử, thì Nhật Bản không được trợ giúp tài chánh và cùng lúc cho phép các công ty của Nhật Bản xây nhà máy điện nguyên tử tại các nước khác (…)”.

(Theo trang http://anhbasam.wordpress.com)

Đăng trong Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.