Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2012

►Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc

Posted by hoangtran204 on Thứ Tư, Tháng Hai 29, 2012

Từ tiếng hát Việt Khang tới thỉnh nguyện thư

Cách đây hơn một tuần tôi đến trung tâm y tế Ne Ponset Health Center ở Boston để hỏi về những chương trình y tế. Ở đây tôi đã gặp một chuyện đặc biệt là một cô gái Việt làm ở phòng Dịch Vụ Tư Vấn đã nói với tôi về nhạc sĩ Việt Khang. Cô cho biết Việt Khang làm hai bản nhạc: Việt Nam Tôi Đâu? Và Anh là ai?. Nội dung hai bài hát nói lên lòng yêu nước và sợ mất nước và hỏi công an Việt Nam tại sao lại đàn áp, đánh đập những người Việt biểu tình biểu lộ lòng yêu nước. Và chỉ vì hai bài hát này mà Việt Khang đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam bắt ngày 23/12/11. Vì thế nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN và tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành BPSOS đã phát động một chiến dịch kêu gọi người Việt ở Mỹ ký Thỉnh Nguyện Thư vào thẳng trang mạng của White House yêu cầu Tổng Thống Obama tạo áp lực, yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho Việt Khang và những người tù lương tâm trong nhà tù hay tù tại gia.

Sau khi trình bày xong biến cố Việt Khang và thỉnh nguyện thư, cô nói:

- Cháu xin bác một chữ ký để cứu Việt Khang.

Tôi xúc động nhìn cô nói:

- Cám ơn cháu đã cho bác biết chuyện Việt Khang. Việc này bác đã biết qua trên net, cũng có ý định ký, nhưng vào trang mạng tòa Bạch Ốc khá phức tạp nên chưa ký được. Tiện đây cháu giúp bác thì tốt quá.

Cô nhìn tôi cười tươi, xoay chiếc laptop, rồi miệng hỏi cùng với những ngón tay di chuyển trên keyboard. Và chỉ khoảng 15 phút sau, cô dừng tay nói:

- Xong rồi bác.
– Cám ơn cháu, tôi nói rồi hỏi:

- Từ ngày khởi đầu chiến dịch đến nay, cháu đã kêu gọi được bao nhiêu người ký tên?

Cô ngẫm nghĩ một lát, rồi đáp:

- Dạ, trên 20 người. Cũng có người từ chối, nhưng đa số đã sốt sắng ký tên. Ngoài Boston, cháu đã gọi cho những người bạn ở mấy tiểu bang khác tham gia vào việc này – Cô ngừng lại, mở tấm bìa dày, lấy 5 tờ giấy đầy chữ đưa cho tôi

– Thưa bác đây là tiểu sử Việt Khang, 2 bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Và một bài viết về Việt Khang, cháu lấy từ trang mạng Tuổi Trẻ Yêu Nước… Xin bác vận động người thân và bạn bè cho Việt Khang một chữ ký. Nếu không có computer hay không thể vào trang mạng của White House, bác bảo họ đến Hội Người Việt bên Dorchester. Ở đó có người thường trực hướng dẫn bà con việc ký tên.

Giọng nói nhiệt thành với ánh mắt của cô gái đã theo tôi mấy ngày nay. Tôi đã sống ở Mỹ trên 25 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một cô bằng tuổi cháu mình, nói với mình về một người yêu nước ở quê nhà, rồi lại còn khẩn khoản nhờ tôi đi vận động những người khác: Bác xin cho Việt Khang một chữ ký.

Qua việc theo dõi chiến dịch và làm theo lời cô gái, tôi có một số ý nghĩ, nên xin ghi lại:

1. Từ tiếng hát Việt Khang:

Sau khi nghe Việt Khang hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, tôi có nhận định là hai bài hát đã kết tinh được thảm kịch cách mạng vô sản của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân, với nước.

Thảm kịch với dân: Khởi đi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân nghèo, đảng Cộng Sản đã cướp được chính quyền và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa 20 năm ở miền Bắc và 37 năm trên cả nước, nhưng Việt Khang đã nhận rõ: Chế độ của đảng Cộng Sản không giải phóng dân nghèo mà là chế độ dối trá, áp chế, bóc lột dân nghèo:

Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Thảm kịch với nước: Khởi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng đất nước, đảng Cộng Sản đã phát động 2 cuộc chiến tranh, gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975), hủy diệt trên 3 triệu sinh mạng, cướp cho được miền Nam. Nhưng Việt Khang cũng lại nhận rõ: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp cả nước để dâng cho Tàu:

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất? Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta.

Hoàng, Trường Sa đã bao người dân vô tội,
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu.

Vì thế, trước nỗi nguy của nước và nỗi đau, nỗi nhục của dân, Việt Khang kêu gọi mọi người đứng lên:

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam.

Với những tiếng kêu thảng thốt: Việt Nam tôi đâu?, Việt Khang đã đứng dậy cùng đồng bào yêu nước đấu tranh cho sự sống còn của dân tộc:

Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi phải đắm chìm một ngàn năm hay triền miên tăm tối.
Tôi không thể ngồi yên, để đời sau con cháu tôi làm người,
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này không còn Việt Nam?

Nhưng công an của đảng Cộng Sản đã đàn áp, đánh đập, bắt bỏ tù những người biểu tình yêu nước lên tiếng chống Tàu xâm lược. Trên nửa thế kỷ đảng Cộng Sản Việt Nam đã đồng hóa hai tiếng yêu nước với đảng Cộng Sản: Yêu nước chống Pháp, yêu nước chống Mỹ, yêu nước chống bá quyền Bắc Kinh. Nhưng nay thì đảng Cộng Sản lại từ bỏ hai tiếng yêu nước, về phe với bọn bá quyền Bắc Kinh để đàn áp dân Việt yêu nước. Vì thế Việt Khang đã hỏi: Anh Là Ai?

Câu hỏi Anh Là Ai, nhìn gần thì đó là hỏi những tên công an đánh đập, đạp vào mặt, quăng những người biểu tình lên xe như quăng súc vật, còn nhìn xa hơn thì Anh là Ai là hỏi đảng Cộng Sản. Anh là Ai? Là Việt hay Tàu mà lại làm tay sai cho Tàu để đưa Việt Nam vào vòng nô lệ Tàu?

Với 2 bài hát, Việt Khang đã tổng kết được lịch sử 67 năm của đảng Cộng Sản: Từ cách mạng giải phóng lao động thành áp chế, bóc lột lao động. Từ yêu nước thành tay sai bán nước. Ở đây xin nói thêm là đảng Cộng Sản đã làm nên lịch sử ấy bằng núi xương, sông máu, bằng hận thù dân tộc, bằng tàn phá đất nước nhân danh cách mạng vô sản.

Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai là hai câu hỏi đảng Cộng Sản không dám trả lời mà chỉ dùng công an và nhà tù để đáp lại những người dám lên tiếng hỏi thẳng đảng Cộng Sản như Nguyễn Xuân Nghĩa, Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Phạm Thanh Nghiên, Cù Hà Huy Vũ, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng… và nay đến lượt Việt Khang.

2. Đến Thỉnh Nguyện Thư

Bao lâu nay, mỗi lần chính quyền Cộng Sản Việt Nam bắt một người đấu tranh cho dân chủ là mỗi lần cộng đồng người Việt ở Mỹ biểu tình lên án chế độ độc tài và kêu gọi quốc tế can thiệp. Lần này với Việt Khang cũng thế. Nhưng với sáng kiến làm Thỉnh Nguyện Thư gửi Toà Bạch Ốc của nhạc sĩ Trúc Hồ và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã đưa cuộc vận động lên một bình diện cao, rộng, đơn giản mà cụ thể. Vì thế kết quả không ngờ là cùng với hai bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, chiến dịch đã lan tỏa nhanh chóng, dấy lên như những lớp sóng:

- Thành phố lớn nào có cộng đồng người Việt là có hội đoàn đứng ra cùng với những người trẻ thông thạo máy điện toán, vừa vận động vừa giúp đồng bào ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư.

- Chiến dịch dâng cao với những con số thay đổi từng giờ. Ngày khởi đầu là 8 tháng 2, chỉ 4 ngày sau, con số đã vượt 25.000, con số cần đạt được trong 30 ngày để Tòa Bạch Ốc trả lời trực tiếp.

- Đến ngày 19/2, con số lên tới 54.000 và Tòa Bạch Ốc đã phải lên tiếng xin được gặp cộng đồng người Việt để nghe tiếng nói của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ về những vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và về những tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong nước.

- Theo sự thông báo của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng thì chiến dịch có thể đạt quá con số 100.000 vào ngày Cộng Đồng Người Việt vào Tòa Bạch Ốc, và hiện đã có một số tác dụng đáng kể:

Thứ nhất, Tòa Bạch Ốc cho biết một số tổ chức thuộc các cộng đồng bạn ngỏ ý muốn vào Tòa Bạch Ốc ngày 3/5 để yểm trợ tiếng nói của cộng đồng người Việt.

Thứ nhì, nữ dân biểu Zoe Lofgren (Dân chủ, CA) sẽ thảo một văn thư để các đồng viện cùng ký gởi Tổng Thống Obama, kêu gọi Hành Pháp đáp ứng thỉnh nguyện của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Thứ ba, Người Việt ở nhiểu nơi sẽ về Hoa Thịnh Đốn tham gia việc biểu dương ý chí và nguyện vọng trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ tư, Cựu dân biểu Cao Quang Ánh lên tiếng kêu gọi người Việt ở mọi nơi đồng loạt tổ chức các cuộc biểu tình ngay tại địa phương của mình vào cùng ngày và cùng giờ với cuộc biểu tình trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ năm, hưởng ứng chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư của người Việt ở Mỹ, ngày 24/2, Liên Hội Người Việt Canada phát động chiến dịch gửi Thỉnh Nguyện Thư lên chính phủ Canada với mục đích tương tự như Thỉnh Nguyện Thư của cộng đồng người Việt ở Mỹ.

Kết luận

Từ biến cố Việt Khang và chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư chúng tôi có mấy kết luận sau đây:

1. Từ đầu thập niên thế kỷ XXI đến nay, những người trẻ ở trong nước đã vượt qua sự sợ hãi bạo quyền, xuất hiện ngày càng nhiều với những bài viết cùng tiếng nói để đấu tranh cho dân chủ, dân quyền và hầu hết đã bị bắt với những bản án 3, 7 năm tù. Đến nay Việt Khang tiếp nối những người đi trước, và anh đã dùng thân mạng mình để hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Lời đau, cay đắng mà hùng của hai câu hỏi này đã vang xa, vì chỉ trong một tuần chúng tôi đã được nghe chục người hát từ nhiều nơi vọng lại. Nghe lời hát cùng những lời phát biểu của nhiều người ở trong nước cũng như ở Hoa Kỳ về hiện tượng Việt Khang, chúng tôi nghĩ rằng rồi đây dân Việt, người người sẽ hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai, hỡi người Cộng Sản Việt Nam?

2. Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ luôn luôn có những cuộc vận động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư trước biến cố Việt Khang có thể nói là cuộc vận động chính trị đầu tiên được giới trẻ tham dự đông đảo và nhiệt thành. Thật sự các bạn trẻ đã thúc đẩy lớp người có tuổi vào cuộc. Và chính người trẻ với chiếc laptop đã đưa cuộc vận động đi xa, đi vào từng ngõ ngách của cộng đồng người Việt ở khắp nơi.

Trong bài “Hiện Tượng Việt Khang”, trên trang mạng của đài RFA (2/27/12), thông tín viên Hiền Vy đã ghi lại nhiều lời ca ngợi Việt Khang của các bạn trẻ. Trong đó một bạn tên là Linh Trần ở Houston đã nói: “Cùng với một số ông bà và anh chị em, tôi đã thu ra 200 cái CD trong đó có 2 bài ca bất hủ của Việt Khang. Chúng tôi đã vận động được trên 1000 chữ ký để nỗ lực đấu tranh đòi hỏi lại cái dân quyền bình đảng cho người dân trong nước”. Và trong cuộc biểu tình do Ủy Ban Đấu Tranh Chính Trị Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận tổ chức trước Lãnh Sự Quán Việt Nam (2/27/12) để đòi Hà Nội trả tự do cho những người tù lương tâm, một bạn trẻ tên Thông đã nói: “Việt Khang là một người trẻ sinh ra sau 75. Anh dám viết nói lên cái nguyện vọng cuà anh đối với đất nước. Anh Việt Khang là một người rất can đảm, là cái gương sáng cho tất cả tuổi trẻ sống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại. Tuổi trẻ ở hải ngoại có rất nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói của mình và tham gia các cuộc biểu tình cũng như những cuộc vận động cho dân chủ và tự do tại Việt Nam”. Anh Thông cho biết: “Em là một trong những người ký tên ngày đầu tiên. Em cũng giúp mẹ em ký tên và em cũng vận động chị, anh và bác của em ở San Francisco, thì họ đã gọi vào SBTN ký tên rồi”.

Trước hiện tượng giới trẻ đi vào cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư, chúng tôi phấn khởi với một niềm tin là thế hệ trẻ dù sanh Mỹ hay ở đâu, nhưng các bạn ấy vẫn quan tâm đến quê cha đất tổ, vẫn biết Việt Nam bây giờ ra sao.

3. Từ hai câu hỏi: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Cùng những việc đàn áp, bắt bớ, coi những người biểu tình chống Tàu xâm lược như kẻ thù, chúng tôi có một nhận định là chế độ độc tài đảng trị đã đưa đất nước tới chỗ cùng. Và từ chỗ cùng này hồn nước đã bật dậy.

- Tại sao một đảng, một chế độ đã dùng mấy chữ yêu nước chống xâm lăng để có chính quyền và giữ chính quyền lại đưa dân tới một câu hãi hùng: Việt Nam Tôi Đâu?

Việt Dương gửi tới

© Đàn Chim Việt

 

Đăng trong Dân Chủ và Nhân Quyền, Tu Do ngon Luan | 1 Comment »

►“Việt Nam tôi đâu?” câu hỏi của nhiều thế hệ

Posted by hoangtran204 on Thứ Hai, Tháng Hai 27, 2012

Tác giả: Trần Trung Đạo


Buổi trưa ở Chennai.

Làm việc xong trên đường trở về khách sạn, tôi nhờ người lái xe đưa đi thăm vịnh Bengal. Đứng bên bờ vịnh nhìn sang phía bên kia bờ là Đông Nam Á. Tôi tự hỏi Việt Nam đang nằm ở đâu sau dòng nước xanh xa thẳm kia. Và cùng lúc tôi chợt nghĩ đến bài hát “Việt Nam tôi đâu” của Việt Khang đang trở thành khẩu hiệu cho tuổi trẻ trong vào ngoài nước.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi của tôi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát Chennai nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi.

Thì ra, không phải người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn, cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam.

Thời gian tôi sống ở xứ người dài hơn so với thời gian sống ở Việt Nam và đã nhiều năm làm công dân Mỹ nhưng ngoại trừ việc phải điền vào những giấy tờ cần thiết, khi được hỏi tôi là ai, tôi luôn trả lời tôi là người Việt Nam. Một phần, tôi cảm thấy chút gì đó ngượng ngùng khi nhận mình là người Mỹ và một phần khác tôi không thể từ chối đất nước đã sinh ra tôi. Tôi cám ơn nước Mỹ đã cứu vớt tôi từ biển cả, cho tôi chiếc nệm ấm, giúp tôi có cơ hội học hành, dang rộng đôi tay chào đón khi tôi bước xuống phi trường lần đầu trong một đêm đông lạnh, nhưng suy nghĩ và phân tích cho cùng, tôi vẫn là người Việt Nam. Tôi nghĩ về nước Mỹ với một trách nhiệm công dân mang tính pháp lý hơn là một người con mang trên vai nghĩa vụ tinh thần. Tôi không biết kiếp sau, nếu có, tôi là gì nhưng kiếp này tôi là người Việt Nam. Tôi dặn lòng như thế.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi có vẻ ngô nghê nhưng không phải dễ trả lời. Nếu ai hỏi, thật khó cho tôi gỉải thích đủ và đúng trong một câu ngắn gọn. Việt Nam của tôi không phải là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dĩ nhiên không phải là chế độ cai trị con người bằng nhà tù và sân bắn như hiện nay.

Nhìn chiếc ghe hư nằm trơ trọi trên bờ biển Chennai, tôi chợt nhớ đã có một thời, nhiều thuyền nhân Việt Nam từng hỏi “Việt Nam tôi đâu” và đã đồng ý với nhau rằng Việt Nam đã chết như trong bài hát Một lần miên viễn xót xa quen thuộc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Thành:

Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẻo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào
Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye
Con gục đầu chua xót đắng cay.
Thưa me, thưa me, thưa me, quê hương mình
Đã chết rồi, mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ Việt Nam ơi …”

Vì “quê hương mình đã chết rồi” nên hàng triệu đứa con của mẹ phải bỏ ra đi khắp chân trời góc biển.

Có người không đồng ý và cho rằng quê hương vẫn còn đó, núi sông vẫn còn đó, chết chóc gì đâu mà than vãn. Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta. Không có quê hương của người quốc gia hay quê hương của người cộng sản. Không có quê hương tư sản hay quê hương vô sản. Quê hương vẫn còn có đó và sẽ mãi mãi còn đó cho ngàn đời sau.

Đúng hay sai, còn hay mất, sống hay chết tùy theo cách hiểu và cách nhìn về đất nước. Với tôi và có thể với nhiều đồng bào cùng cảnh ngộ, quê hương không chỉ là những vật vô tri, vô giác nhưng phải là một quê hương sống động và có tâm hồn. Sau 30 thágng Tư năm 1975, quê hương Việt Nam đã mất tâm hồn và thậm chí trở thành tù ngục. Việt Nam, nơi con người bị đối xử như con vật. Việt Nam, nơi con người không có quyền nói những điều họ muốn nói, hát những bài hát họ yêu thích, viết những dòng thơ họ muốn viết. Hàng triệu người Việt Nam đã không còn chọn lựa nào khác hơn là ra đi.

Hành trình của hơn hai triệu người Việt Nam từ sau tháng Tư năm 1975 không chỉ được ghi bằng những bước chân rỉ máu trên những chặng đường đầy đau thương thử thách nhưng còn qua những bài hát được viết như tiếng thét gào của đoàn lưu dân trên sa mạc trần gian.

Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào ngươì nỗi chết
Quê hương ta sống chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin.
(Mai tôi đi, nhạc Nguyễn Đình Toàn)

Những ngày tháng lênh đênh đó, ai không dừng tay dù đang làm việc gì khi nghe Người di tản buồn của nhạc sĩ Nam Lộc, Sài Gòn niềm nhớ không tên của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn hay Đêm nhớ về Sài Gòn của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cất lên từ giọng ca Khánh Ly? Có ai không chợt nghe lòng mình chùng xuống khi chị Nguyệt Ánh cất lên những lời não nùng trong Một chút quà cho quê hương của nhạc sĩ Việt Dũng? Có ai không nghe như có tiếng mưa rơi dù đang đứng giữa phố Bolsa nắng gắt khi nghe giọng Ngọc Lan kể lể trong Khóc một dòng sông của nhạc sĩ Đức Huy? Và nhiều nữa, Phạm Duy với 1954 Cha bỏ Quê 1975 Con bỏ Nước, Nhật Ngân với Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh, Châu Đình An với Đêm chôn dầu vượt biển, Phan Văn Hưng với Ai trở về xứ Việt, Phan Ni Tấn với Bài hát học trò, Tô Huyền Vân với Quê hương bỏ lại v.v…

Và tất cả đã đóng góp phần mình viết nên bài trường ca đầy bi tráng của một bộ phận dân tộc Việt Nam sau mùa bão lửa 1975. Từ Camp Pendleton đến Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang, những tên tuổi địa danh đi vào lịch sử Việt Nam qua  cái chết tủi buồn của mẹ, qua  giọt nước mắt của em, qua tiếng gào thống thiết của anh vọng lên giữa Thái Bình Dương bát ngát.

Thời gian cuốn đi bao vết tích, tạo ra bao đổi thay của thời thế và con người. Bây giờ, một số nhạc sĩ đã qua đời, một số đang qua đời trong cách khác và một số vẫn tiếp tục đi trên con đường lý tưởng dù tuổi tác đã già. Nhưng dù sống hay chết, bỏ đi hay ở lại, những bài hát của họ đánh dấu một giai đoạn lịch sử nhiều bi tráng của đất nước và góp phần xây lên tấm bia đá thuyền nhân bi thương ngàn đời trong lịch sử Việt Nam.

Và những người còn ở lại, phải chăng họ dễ dàng trả lời “Việt Nam tôi đâu?”

Không. Tôi không nghĩ thế. Nếu ai hỏi những người thuộc thế hệ đã trải qua giai đoạn cùng cực những năm sau 1975 còn sống hôm nay có thể họ cũng sẽ trả lời trái tim Việt Nam có một thời ngừng đập. Thời gian dừng lại. Không gian đóng kín bịt bùng. Việt Nam đã chết ngay cả trong lòng những người đang sống giữa lòng đất nước. Một triệu dân Sài Gòn dắt nhau sống lây lất trong các vùng kinh tế mới. Nhiều trăm ngàn sĩ quan viên chức miền nam bị đầy đọa khắp các trại tù. Con người Việt Nam sau 1975 vẫn phải sống, phải thở, phải tìm mọi cách để sinh tồn trong hoàn cảnh nghiệt ngã chứ không phải là những con người an vui hạnh phúc như phần lớn của sáu tỉ người còn lại trên thế giới. Chính ông Võ Văn Kiệt khi còn sống đã phải thừa nhận niềm vui của đảng Cộng Sản là nỗi buồn của nhiều triệu người dân Việt.

Dân tộc nào cũng có thể phải trải qua những chặng đường đau thương gian khổ nhưng Việt Nam có thể nói là một trong số rất ít quốc gia mà sự chịu đựng kéo dài qua nhiều thế hệ. Hơn nửa đời người trôi qua, tiếng thét vẫn còn vang vọng qua bài hát của nhạc sĩ Việt Khang:

Viêt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Sau 36 năm, Việt Nam  chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, so với đà tiến nhân loại, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức đang trở về với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Người mẹ đang từng cơn xót dạ nhìn đời mà Việt Khang gặp hôm nay không khác gì người mẹ mà tôi gặp đi bán máu ngoài nhà thương Chợ Rẫy mấy chục năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của mẹ ở đâu, chắc chắn mẹ sẽ chỉ ra những nấm mồ vô chủ. Những bầy em đói khổ nghèo nàn mà Việt Khang mô tả hôm nay cũng không khác gì đám trẻ tôi đã gặp ở vùng kinh tế mới Đồng Xoài ba mươi lăm năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của các em đâu, các em sẽ chỉ ra những vỉa hè bụi bặm, những góc phố tối tăm. Nhưng hiểm họa đất nước đang phải đương đầu không chỉ là độc tài, tham nhũng mà còn là đại họa mất nước.

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất
Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta
Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nệ chi
Già trẻ gái trai giơ cao tay
Chống quân xâm lược
Chống quân nhu nhược
Bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu
Việt Nam tôi đâu

Chúng ta đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, hãnh diện quá nhiều về lịch sử hào hùng bốn ngàn năm giữ nước. Vâng, nhưng đó chỉ là những hào quang của quá khứ, là những thành tựu của tổ tiên, không phải của chính chúng ta. Những bài học thuộc lòng về một quá khứ hào hùng của dân tộc không thể giúp lau khô đi dòng nước mắt hôm nay:

Kính thưa thầy đây bài thuộc lòng của con
Tổ quốc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến
Một trăm năm Pháp thuộc
hai mươi năm đọa đày
Làm sao con thuộc được truyện Kiều Nguyễn Du.
Kính thưa thầy đây là quyển vở của con
suốt một năm không hề có chữ
con để dành ép khô những giòng nước mắt
của cha con, của mẹ con, của chị con, và của …chính con.
(Bài học của con, nhạc Phan Ni Tấn)

Lịch sử không phải là một ngôi miếu để thờ cúng nhưng là một đời sống luôn đổi mới. Truyền thống chỉ là một thói quen lỗi thời nếu truyền thống không được hiện đại hóa. Angkor Wat, Angkor Thom nguy nga, đồ sộ nhưng không cứu được một phần tư dân tộc Khờ Me khỏi bàn tay Pol Pot. Tương tự, Ấn Độ, một dân tộc có nền văn minh lâu đời nhất nhân loại và trải qua các thời đại hoàng kim từ Ashoka đến Gupta, cũng đã chịu đựng hàng loạt ngoại xâm từ Mông Cổ, Hồi Giáo và thực dân Anh kéo dài suốt 600 năm.

Việt Nam cũng thế. Nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ và làm ngơ trước hiểm họa Trung Quốc hôm nay, rồi lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ. Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa mất nước, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc, đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó.

Đừng để lại cho các thế hệ Việt Nam tương lai một ngôi đền mà ngay hôm nay hãy xây cho họ một căn nhà Việt Nam Mới tự do, dân chủ, công bằng, bác ái.

Bài hát Việt Nam tôi đâu của Việt Khang là tiếng chuông đánh thức hồn thiêng sông núi đang ngủ quên trong lòng người. Ngọn đuốc Việt Khang thắp lên soi sáng con đường đi về phía trước. Các thế hệ Việt Nam từ lúc chào đời đã mang tinh hoa tinh huyết của dòng giống Lạc Long, nhưng tinh hoa tinh huyết  đó phải được mài dũa thành vũ khí để bảo vệ đất nước hôm nay. Cứu Việt Khang, do đó, không phải chỉ cứu một thanh niên, một nhạc sĩ đang bị tù đày nhưng hơn thế nữa, tự cứu chính mình và từ đó đứng lên cứu dân tộc mình.

© Trần Trung Đạo

© Đàn Chim Việt

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Đăng trong Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Độc thoại với anh Tư về bầy sâu

Posted by hoangtran204 on Chủ Nhật, Tháng Hai 26, 2012

Huỳnh Ngọc Chênh

Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này“.

Từ hồi nghe anh Tư nói đến bầy sâu như trên, tôi tò mò dò tìm lại những vụ lùm xùm trong quá khứ để xem chân dung của bầy sâu ra sao và việc xử lý chúng như thế nào. Nhưng rồi tôi thất vọng.

Vụ PMU 18 ban đầu nổi đình nổi đám lên với một bầy sâu bị bắt. Nhưng dần về sau thế cờ bị lật ngược, những con sâu bự lên đến cấp thứ trưởng cũng được thả ra, chỉ còn vài con sâu ở cấp PMU trở xuống bị tù.
Rồi tiếp theo, tôi cứ tưởng vụ đại lộ đông tây TP HCM cũng sẽ lòi ra một bầy sâu nhung nhúc vì một mình con tốt Sỹ làm sao cả gan nuốt hết gần một triệu USD. Để ăn hết và ăn được chừng ấy tiền thì phải có đến cả một bầy sâu, phải có những con sâu lớn hơn Sỹ nữa kia. Thế nhưng kết thúc chỉ có một con sâu bé nhất bị diệt.

Gần đây nhất, ở chỗ tôi tưởng như đã thấy được cả một bầy sâu đó là tập đoàn Vinashin với khoản thất thoát lên đến 4 tỷ USD. Nhưng rồi qua một thời gian điều tra xem xét, quy trách nhiệm lại chỉ thấy có một con sâu Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT lộ ra. Vài đại biểu Quốc hội cố truy lần trách nhiệm lên trên lại chẳng thấy sâu nào, chỉ thấy kết luận của Bộ chính trị về vụ Vinashin là không có cá nhân nào trách nhiệm cả.

Rồi những chuyện xảy ra gần đây cũng chỉ thấy vài con sâu bé nhỏ và lẻ tẻ lòi ra. Cở như Lèo cờ đánh bạc tiền tỷ, cở viện trưởng VKS huyện dẫn gái đi chơi thuyền… Chưa thấy đâu có sâu lớn bị bắt hoặc thấy có cả bầy sâu làm “chết” đất nước nầy như anh Tư nói. Chẳng lẻ anh Tư vì quá bi quan mà nói sai? Bầy sâu ở đâu? Bầy sâu ở đâu nào?
Thế như là để trả lời những boăn khoăn của tôi, một bầy sâu to đùng xuất hiện. Chúng công khai trỗi dậy, bò lổn ngổn, kết bè với nhau tàn phá cả một vùng của đất nước.

Đó là bầy sâu mà đến hôm nay không cần nói ra nhưng ai cũng biết: Bầy sâu ở Hải Phòng.

Từ những con sâu rất bé là bọn đầu gấu xã hội đen cướp giật tôm cá trong đầm anh em Đoàn Văn Vươn, ngăn cản hành hung báo chí vào đầm tìm hiểu. Tiếp theo là các con sâu cấp xã như Hoan, Liêm, rồi đến những con sâu to hơn ở cấp huyện như Nghĩa, Hiền, Khanh, Mải… Mới chừng ấy đã thấy một bầy rồi.

Nhưng chưa hết, những con sâu cấp cao hơn vì muốn bao che, chống chế cho đàn em, dần dần lộ mặt. Ban đầu là sâu Thoại, sâu Ca và mới đây nhất con sâu to nhất ở Hải Phòng lộ diện: Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành.

Đến đây và đến hôm nay đã có một bầy sâu xuất hiện nguyên hình. Chúng cấu kết với nhau từ cấp xã hội đen lên cấp xã, cấp huyện rồi đến cấp thành… Lâu nay chúng đã ngang nhiên đục khoét, tàn phá địa phương này, gây hại người dân qua biết bao nhiêu vụ việc. Bây giờ bị phát hiện chúng tiêp tục cọ quậy, tìm cách chống trả. Không biết bên trên còn con sâu nào nữa chống lưng cho chúng mà chúng chẳng tỏ ra chút nào sợ sệt.

Cả một đàn sâu đấy anh Tư ạ! Còn chờ gì nữa mà anh không nhanh chóng ra tay như đã hứa với cử tri trước đây. Xịt liền cho chúng một bình thuốc rầy. Để càng lâu chúng sẽ lây lan ra khắp nơi và không khéo dự báo của anh “ tất cả thành sâu hết” trở thành hiện thực thì đúng là “chết cái đất nước nầy”. Anh Tư ới, anh Tư à!

*nguồn: danluan.org

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Đăng trong Tham Nhung và Ăn Cắp, Đảng CSVN-Hành vi của những đảng viên | Leave a Comment »

Đi thăm Cù Huy Hà Vũ đang ở tù ở Thanh Hóa

Posted by hoangtran204 on Thứ Bảy, Tháng Hai 25, 2012

Nguyễn Huệ Chi

Phải trở dậy lúc 4 giờ sáng đối với tôi là cả một cực hình, nhất là mấy hôm nay lại trở chứng, rối loạn tiền đình làm chóng quay cả mặt, nhưng việc anh em mời đi thăm Cù Huy Hà Vũ khiến tôi không còn cách nào khác là vừa nghe chuông đổ đã phải vin thành giường đứng dậy. Dù cảm thấy trời xoay nghiêng ngả vẫn cứ phải bật cười nhớ đến Phùng Quán: “Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Đúng là mình không biết vịn vào thơ nên mới xoay tít mù như thế này đây.

Đúng 5 giờ kém 15, người bạn thân, Thượng tá C. quân phục oai nghiêm, đã có mặt trước cổng nhà. Tiếp ngay đó, bạn Lê Dũng bấm chuông: xe anh đã sẵn sàng đón tôi. Chúng tôi lên xe trong cái lạnh tinh mơ của Hà Nội nên nhà tôi cố nhét thêm cho anh C. một chiếc khăn quàng len vì thấy bộ quân phục của anh tuy trông rất oách nhưng lại quá mỏng. Đường Hà Nội lúc này mới thật là Hà Nội lý tưởng của 60 năm về trước, trên đường chỉ lác đác vài bóng người. Hình như đây cũng là giấc mơ không có thật của ông Bộ trưởng Đinh La Thăng, một Hà Nội sạch sẽ tinh tươm và không phải lèn nhau như nêm cối. Biết đâu ông ấy chẳng ra lệnh đổi ngày làm đêm để làm cho biện pháp điều chỉnh giao thông của mình đích thực có hiệu quả? – Hình như cả mấy chúng tôi nhìn lướt trên con đường chưa rõ mặt người đều có ý nghĩ vậy thì phải.

Khi đến chỗ hẹn thì chỉ mới lố nhố dăm bảy anh chị em, nhưng chỉ loáng cái cả năm chiếc xe và người đều đến đầy đủ. Đúng 20 người, toàn những mặt quen, trừ vài ông đầu bạc ra còn thì đều là Tiến sĩ trong một vài viện nghiên cứu, hoặc Kỹ sư đang thành đạt trong vai doanh nhân, lại có cả một “biểu tình viên” ba tuổi mẹ từng ẵm đi biểu tình tại Hồ Gươm chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nay cũng có mặt, vừa nhìn thấy các cô chú đã nhoẻn cười như gặp lại bạn bè thân quen. Ai nấy vui như hội vì biết rằng mình đang thực hiện cái nghĩa vụ tình cảm lâu nay vẫn canh cánh là làm sao có một lần được tháp tùng Dương Hà vào thăm bạn Hà Vũ mà có người chỉ mới “văn kỳ thanh” chứ đã một lần xáp mặt nào đâu. Nhưng dầu gặp hay chưa thì kể từ khi chàng phải giã biệt Hà thành khoác chiếc áo phạm nhân, những lá đơn kiện nẩy lửa gửi lên các cấp cũng vắng bặt trên báo chí và các trang mạng khiến hình như ai cũng thấy thiêu thiếu một cái gì.

Tất cả lên xe sau khi đã trao đổi đường đi và các chú tài cứ thế theo ngả Xuân Mai phóng tít để đi vào con đường Hồ Chí Minh với đích đến đầu tiên là thị trấn Cẩm Thủy Thanh Hóa. Xe chạy ngon quá làm tôi tưởng mình thiếp đi và khi tỉnh dậy thì ô kìa đây rồi, đã đến thị trấn Cẩm Thủy, kỳ thực có ngủ được chút nào đâu, bởi có mấy chiếc áo vàng công an đứng đếm tốc độ bên đường tôi đều nhìn rõ. Vượt cầu Cẩm Thủy mươi km, đã nhìn thấy tấm biển chỉ Trại giam số 15 rẽ trái, và vượt một quãng đường 30 km nữa, hơi khó đi và mù mịt bụi, đến giữa một vùng núi đá vôi thuộc huyện Yên Định, rẽ phải, lại rẽ trái, đúng 10 giờ thì chúng tôi đã ở ngay trước mặt chiếc cổng K5: Cù Huy Hà Vũ ở trong khu trại này, gần chúng tôi lắm lắm rồi.


Khu Trại giam 15 nằm giữa một vùng núi đá vôi ở huyện Yên Định Thanh Hóa
Cả mấy chiếc xe đều lấm láp bụi đường
Và người cũng phải nhắm tịt mắt lại, nhưng thế là đã đến đíchĐương nhiên là như mọi người dự đoán, chỉ một mình Dương Hà được vào theo chế độ thăm nuôi cùng với một chiếc xe chở số lượng thực phẩm đúng quy định. Anh lái xe cho Dương Hà đang đứng nghỉ, nghe người lính gác cổng truyền rõ thế bèn chuẩn bị lên buồng lái chở Hà vào khi hai cánh cổng vừa mở, thì nhanh như cắt bạn J.B. Nguyễn Hữu Vinh đã nhảy tót lên lái thay. Anh kia ớ người ra trong khi anh em cười ồ. Thôi thì được người nào vào hay người ấy. Chúng tôi nhìn chiếc xe đi tít sâu vào phía trong và hai cánh cổng đóng lại mà lòng ngẩn ngơ buồn tiếc. Dù mục đích chuyến đi là để cho Vũ ở trong kia biết có anh chị em đông đảo đến thăm để anh phấn chấn hơn trong việc chống chọi với mọi khó khăn của kẻ “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”, yên tâm chờ ngày trở về với vợ con bầu bạn, nhưng đến đây rồi mà không được vào thì ai mà không cảm thấy hụt hẫng.


Sau khi xe Dương Hà đi vào, hai canh cửa sắt cổng K5 Trại giam 15 lại đóng lại làm ai nấy ngẩn ngơ buồn tiếcMọi người đành lấy bánh mỳ giò chả và mấy chai nước ra cùng nhấm nháp, bởi từ sáng dậy sớm chưa ai có trong bụng một tí gì. Đang ăn, tôi bỗng nghe điện thoại reo. Dương Hà gọi ra khuyến khích tôi lấy tư cách một người nhiều tuổi vào tán anh bộ đội gác cổng đề nghị cho gặp ông Giám thị để xin cho mọi người cùng vào. Tôi làm ngay tắp lự. Anh lính gác nói với tôi với giọng nhã nhặn, rằng việc đó rất khó vì vượt nguyên tắc, mà chúng tôi lại không có một giấy giới thiệu của tổ chức nào cả. Tôi ngẫm nghĩ một tí, trở ra ghé tai bảo Thượng tá C. vào tiếp sức. Quả nhiên, C. đã thành công. Bằng kinh nghiệm của một Thượng tá lâu năm, anh được anh lính gác rất nể đưa cho số điện thoại của cả Giám thị Tuyến và Phó giám thị Sáu. Lại bằng cái giọng thân mật của cánh lính với nhau, anh mời được anh Phó giám thị Sáu ra tiếp chúng tôi. Thế mới giỏi làm sao!

Một người còn khá trẻ gầy và cao, khuôn mặt điềm đạm từ xa đi lại. Trước những lời trình bày chân tình của chúng tôi anh ta cũng đáp lại bằng giọng nhẹ nhàng từ tốn và có vẻ cởi mở. Còn C. thì không úp mở, không cần xưng anh tôi, gọi thẳng tên ngay: “Sáu à…”. Nhưng anh Sáu này vẫn nghiêm trang nói cho biết, chúng tôi không được vào là luật định, vì không có ai ở trong danh sách thăm nuôi đăng ký định kỳ của trại cả. Thế thì vào sao được. Tuy nhiên, khi thấy giọng của C. đúng giọng “cánh lính mình” quá, lại thấy trên khuôn mặt mọi người đều thuỗn ra cùng một dấu hỏi của sự chờ đợi một “biệt lệ” nào đấy, anh ta bèn thong thả nói thêm: “Thôi thì các bác đã đến đây… chỉ có đồng chí Giám thị mới quyết định được việc này. Các bác cứ ghi rõ tên họ, trình chứng minh thư, để tôi cầm vào xem thế nào…” Được lời như mở cờ, người nào người ấy đến ghi tên lên một mảnh giấy thành một danh sách dài, riêng tôi ngồi yên không nhúc nhích, bởi đã có C. ghi thay cho mình. Khi bước ra, anh chị em tề tựu trước căn phòng xét giấy tờ của người canh cổng, bảo anh Sáu chụp chung một “bô” ảnh làm kỷ niệm, anh ta ngần ngừ một tí, cười nhưng rồi lắc đầu. Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu nhỏ và đi vào khuôn ảnh của chúng tôi.

clip_image010_thumb1.jpg
Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu bé và vào khuôn ảnh của chúng tôiclip_image012_thumb1.jpg
Có chữ “Trại giam số 5” trên đầu mình là một kỷ niệm quý giá đấyChỉ chừng mươi phút sau đã có điện gọi ra: ông Giám thị từ chối! Từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ đến điều ấy. Danh sách kia hoặc vì anh Phó giám thị nể quá, hoặc cũng có thể là tương kế tựu kế để giúp ngành an ninh biết rõ ai đã dám đến đây “vuốt râu hùm”, biết đâu! Nhưng chúng tôi cười xòa với nhau: Thì mình cũng muốn cho họ biết kia mà, mình đăng hết lên mạng còn sợ quái gì nữa. Tôi chỉ hơi so sánh thoáng qua: Hồi còn mồ ma thực dân Pháp bà Tôn nữ Thị Cơ đã đến thăm nuôi GS Cao Xuân Huy tại Lao Bảo vào năm 1930 mà lúc ấy họ chỉ mới là quen sơ chứ đã có chuyện gì với nhau đâu, bà con cũng chẳng phải. Thế mà vẫn được thăm mới lạ chứ. Nhưng nghĩ thoáng qua thôi, bới đấy là thời Pháp. Thời bây giờ dân chủ gấp triệu lần, vì thế mà chỉ đi thăm cô Bùi Minh Hằng vẫn còn đủ quyền công dân còn không được gặp, huống nữa là thăm một anh chàng phản động đứt đuôi vì… hai bao cao su đã qua sử dụng như Cù Huy Hà Vũ! Vậy thì so sánh làm gì cho mệt người.

Một tiếng sau thì chiếc xe chở Dương Hà quay ra. Mọi người tíu tít quây lại. Người vừa được chồng ôm hôn có khác, nét mặt rạng rỡ hẳn làm ai nấy cũng vui lây, nhưng điều vui thích nhất là sự có mặt của chúng tôi đã truyền niềm vui và nghị lực cho chính Cù Huy Hà Vũ, theo lời Dương Hà. Vũ không ngờ lại có đông người ở ngoài cổng trại đến thế. Ai cũng biết rằng đấy là Hà hạn chế báo tin đấy, còn nếu báo rộng hơn, có thể đã có đến vài trăm người. Bởi vì ai mà không mong muốn được tiếp thêm một chút nội lực của mình cho Vũ có thêm vài đêm ngon giấc, và nhất là ai cũng đinh ninh trong bụng câu nói của Vũ: “Tôi là người trung thành với Tổ quốc. Nhân dân cả nước sẽ phá án cho tôi”.

Trên đường về, tôi có một băn khoăn thắc mắc cứ muốn đem hỏi Dương Hà mà thấy chưa tiện nên ngồi trên xe mặt cứ bần thần. Mãi đến chỗ ngã ba trước thị trấn Cẩm Thủy, cả 5 xe cùng dừng lại, mang xách bánh mỳ giò chả vào quán ăn trưa, nhân thể, Hà đứng yên một góc, giở túi lấy ra hai tấm ảnh Vũ vừa vẽ chân dung Hà và tự họa chân dung mình ấp lên ngực, mặt đăm đăm có vẻ đang tư lự, tôi mới đến gần hỏi nhỏ: “Thế chế độ thăm nuôi được có mỗi tháng một tiếng đồng hồ thôi ư?”

clip_image014_thumb3.jpg
Dương Hà với hai tấm ảnh quý chồng vừa tặngHà quay nhìn tôi lâu lâu một chút rồi mới nói: “Anh ạ, mọi tù nhân khác thì đều được hưởng chế độ thăm nuôi không quá 24 giờ mỗi lần, riêng Vũ nhà em có lệnh cấm, chỉ được thăm có một tiếng thôi, mà luôn luôn có giám thị chứng kiến”. “Ôi thế a?” – tiếng kêu cùng lúc bật ra của nhiều người, và tiếng bàn tán xôn xao. Riêng tôi, cứ đuổi theo cái ý nghĩ vốn đã hình thành trên suốt chặng đường về: Cái kẻ nào đưa ra “điều lệnh” này thật là quá giỏi, bởi vì đây mới đúng là để trị cái tội… hai bao cao su đã qua sử dụng. Rồi như một kẻ vô thức, vừa đi ra phòng toa lét tôi vừa buột thốt thành lời câu văn của Nam Cao: “Tài thật! Tài thật Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!”

N.H.C

Đăng trong Tù Chính Trị, Trại Tù, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Posted by hoangtran204 on Thứ Sáu, Tháng Hai 24, 2012

Trích:

    “Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, “đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.” Ông bị vùi dập cho tới ngày ông qua đời 1997 tại Hà Nội.

Năm 2012, thầy giáo Đinh Đăng Định cũng đang bị bắt cầm tù và đang bị công an giam giữ và hỏi cung ở Tỉnh Dak Nông.  Lý do thầy Định bị bắt cũng không khác gì với trường hợp của luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Ai nói tới đảng, dù là lên tiếng một cách ôn hòa, cũng đều bị tù. Có người  vừa mới  trở về và đang bị quản chế như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Huỳnh Nguyên Đạo, bác sĩ Lê Nguyên Sang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, tiến sĩ Hà Sĩ Phu…Và có những người còn đang ở trong tù như các anh Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, luật sư Cù Huy Hà Vũ…

Vậy là 56 năm trôi qua, quyền tự do ngôn luận và các thứ quyền cơ bản khác vẫn còn tiếp tục bị đảng khống chế và không cho ai nói gì trái ý đảng.

 

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Trịnh Bình An

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Thế nhưng tay tôi vẫn lật qua mấy trang. Và một dòng chữ ập vào mắt tôi, đó là lời giới thiệu của chính Nguyễn Mạnh Tường, Bản thảo của cuốn sách này đã được soạn và đánh máy trong một tình thế lén lút và bị cô lập…

Một cuốn sách của một luật sư nổi tiếng bậc thầy, được viết trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, vậy mà tôi, tôi chỉ bỏ ra ít thì giờ nhàn nhã để đọc, thế mà đã nhăn nhó hay sao?

Vâng tôi sẽ đọc, và tôi sẽ hỏi ông Tường cho ra ngô ra khoai, rằng tại sao ông là người giỏi giang cỡ ấy lại cắm đầu chui vào cái rọ Cộng Sản để bị chúng lợi dụng chán chê mê mỏi rồi vứt vào xọt rác không thương tiếc. Mấy năm trước, Đảng còn bày đặt mừng sinh nhật 100 tuổi (!) của ông nhưng thực chất chỉ muốn ra cái điều Đảng cũng biết sửa sai (1).

Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại Học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa và Tiến sĩ Quốc gia Văn chương (ii).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ. Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, ông làm luật sư, dạy học tại Thanh Hóa. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự Hội nghị Trừ bị Đà Lạt năm 1946, dự các Hội Nghị Hòa Bình Thế Giới ở Bắc Kinh và Wien năm 1952. Sau năm 1954, ông từng giữ những chức vụ quan trọng như trưởng khoa Đại Học Luật Hà Nội, phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, chủ tịch Đoàn Luật Sư, phó trưởng khoa Đại Học Sư Phạm Hà Nội, thành viên Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, và sáng lập viên Câu Lạc Bộ Đoàn Kết.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.

Nguyễn Mạnh Tường mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Bìa Hồi Ký của Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


“Kẻ bị khai trừ” được viết bằng tiếng Pháp – Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel – do Nguyễn Quốc Vĩ dịch sang tiếng Việt, tựa là “Kẻ Bị Rút Phép Thông Công”. Thuật ngữ “rút phép thông công” hay “vạ tuyệt thông” nói tới một kỷ luật nặng nề nhất trong Giáo hội Thiên Chúa Giáo khi một người bị cho là đã phạm trọng tội nên sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Giáo hội. Hiểu như thế thì ta sẽ thấy Nguyễn Mạnh Tường tự ví mình là một kẻ mắc tội trọng với Đảng Cộng Sản vì thế mà bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội.

“Kẻ bị khai trừ” gồm có ba chương: 1– Đến đỉnh vinh quang. 2 – Mỏm đá Tarpeinne. 3 – Hành trình đi vào sa mạc. Ba chương này tương ứng với 3 đoạn đời của Nguyễn Mạnh Tường: 1 – Được cưng chiều (và bị lợi dụng). 2 – Phản kháng và bị “đấu tố”. 3 – Bị cô lập và đày đọa.

Một trong những điểm đặc biệt của “văn” Nguyễn Mạnh Tường là mang nhiều điển tích Tây phương. Nếu đọc truyện Kiều mà không biết các điển tích Trung Hoa, ta sẽ rất khó hiểu hết ý nghĩa gởi gắm trong câu thơ; với Kẻ Bị Khai Trừ cũng thế, nếu một người không biết các điển tích cổ của phương Tây thì sẽ khó hiểu được trọn vẹn ý tác giả.

Như chữ “Mỏm đá Tarpeinne”. Roche Tarpéienne – tiếng Pháp, hay, Tarpeian Rock – tiếng Anh, là một vực núi đá vách dựng đứng tại nước Ý. Thời cổ La Mã, những ai bị kết án giết người, phản bội, làm chứng dối, và những nô lệ phạm tội ăn cắp, sẽ bị xử tử bằng cách ném từ trên mỏm Tarpéienne xuống vực sâu. Đây là một hình phạt nặng nề hơn bị treo cổ hay đốt trên dàn lửa vì kẻ bị ném xuống vực – và gia đình họ – đã bị coi là những kẻ đồi bại, đáng nguyền rủa nhất trong xã hội.

Khi hiểu được ý nghĩa của “Mỏm đá Tarpeinne” ta mới phần nào hình dung được cái bản án Đảng dành cho luật sư Nguyễn Mạnh Tường – người dám nghi ngờ sự lãnh đạo “anh minh” của Đảng. Thật ra Đảng đã sai lầm ngay từ đầu khi tưởng rằng có thể mua chuộc được Nguyễn Mạnh Tường bằng những thủ đoạn mua chuộc vuốt ve từng tỏ ra rất thành công với nhiều người khác.

Bìa Kẻ bị khai trừ
Nguồn ảnh: TQH


Năm 1956, Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ triệu tập đại hội tại thủ đô Bruxelles của Bỉ, nhà cầm quyền Bắc Việt tổ chức một đoàn đại diện đi tuyên truyền cho chính nghĩa của mình. Trong cương vị phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, Nguyễn Mạnh Tường được giao làm trưởng đoàn với nhiệm vụ là làm sao được hội nghị đưa ra nghị quyết ủng hộ dân tôc, quyền đấu tranh thống nhất đất nước. Luật sư Tường đã đọc một bản tham luận sắc bén, cháy bỏng lòng yêu nước và đã thuyết phục được hội nghị, đạt được thành quả mỹ mãn.

Thế nhưng cố gắng của Nguyễn Mạnh Tường không hề để phục vụ cho Đảng, ông chỉ làm vì lòng yêu nước, vì muốn đất nước được thống nhất để tránh một cuộc chiến nồi da xáo thịt. Còn mỗi khi có dịp, ông sẵn sàng phân tích những sự thật rung rợn về chế độ Cộng Sản. Như khi ghé thủ đô Prague, gặp các luật gia Tiệp Khắc, ông mô tả bản chất của chế độ này trong một câu ngắn nhưng trọn vẹn:

“Đây là một chế độ chuyên chế ở ba chiều không gian, một chế độ chuyên quyền gần như tuyệt đối, gian xảo nhất, cứng rắn nhất trên thế giới và trong lịch sử nhân loại. Dưới một chế độ như thế, quyền tự do là một lầm lẫn, một loại bệnh hoạn cần phải loại bỏ trong dân chúng. Vì vậy, không có bất cứ ngành nghề nào là nghề tự do.”
Nguyễn Mạnh Tường còn cảnh báo các đồng nghiệp biết rằng, trong các ngành nghề, Đảng ghét nhất là giới luật gia:

“Nếu Đảng áp dụng biện pháp khắt khe trên giới luật gia, trước hết vì họ là người trí thức và là đối tượng ghét hận của những kẻ chuyên quyền, vì luật gia là người có cái đầu để suy nghĩ và có cái miệng để nói, hai thuộc tính gây ác cảm nơi kẻ cầm quyền, làm phức tạp cho công việc và gây xáo trộn cho kế hoạch của họ. Hơn nữa, trong hàng ngũ trí thức, giới luật gia càng nổi trội với kiến thức về Luật, thông thạo, thường nắm vững các hội nghị, các cuộc phê bình, và hơn nữa, họ còn có ý thức về tư cách, danh dự và trách nhiệm. Họ tự mình đặt vào thế tương phản với con người máy khúm núm nịnh bợ những kẻ chuyên quyền.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói quả không sai. Gần đây, giới luật sư là những người lên tiếng phản kháng mạnh mẽ nhất để chống lại những hành vi sai trái của Đảng. Các luật sự này được đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa và không hề dính dáng tới chế độ “ngụy”, vậy mà họ vẫn ương ngạnh làm “phức tạp và xáo trộn” những kế hoạch do Đảng đề ra; đó là những Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật, Huỳnh Văn Đông, Lê Công Định, Trần Quốc Hiền,…

Rồi tới khi ghé qua Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa Cộng Sản, Nguyễn Mạnh Tường cũng gặp gỡ và trò chuyện với các luật gia nước này. Ông bảo thẳng với bạn rằng Đảng CS sẽ tự chuốc lấy kết quả bi thảm:

“Bi thảm là ở chỗ chính Đảng đã tự lừa dối, nghĩ rằng mình có thể đưa ra nhừng đường lối chính trị trẻ con phát xuất từ bệnh ấu trĩ, duy ý chí, chủ quan, vi phạm những định luật của khoa học, quay lưng lại với thực tiễn, những chính sách này sớm hay muộn cũng sẽ đưa đất nước vào sự nghèo túng và đưa nhân dân vào sự đau khổ. Bên cạnh đó, với niềm tin cho rằng mình là vô địch, Đảng nghĩ rằng mình có thể áp chế nhân dân, chơi đùa trên sinh mạng của họ, buông lơi pháp luật, hành động với sự tàn ác vô nhân tính như đã xảy ra trong đợt Cải Cách Ruộng Đất, một kỷ niệm đau buồn không bao giờ quên được trong tâm khảm của người dân.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói cũng đã thành sự thật, chế độ Cộng Sản đã đưa mọi quốc gia đến chỗ tận cùng lụn bại, để rồi Nga và các nước Đông Âu đã tìm mọi cách gỡ bỏ cái chủ nghĩa ma quái ấy để tự cứu lấy chính mình.

Nếu như Nguyễn Mạnh Tường không kể lại những điều trên thì tới ngày nay người ta vẫn tưởng rằng ông Tường đã bị mờ mắt, bùi tai vì những chức tước và lời ca tụng của “Bác và Đảng” đã dành cho ông. Đảng nhìn lầm ông Tường chỉ vì họ tưởng ông cũng là loại như họ. Sự thật, Nguyễn Mạnh Tường là một người khác hẳn với họ, ông là người có học, có trí tuệ, và nhất là, có trái tim; vì thế ông không thể im lặng khi thấy đồng bào ông quằn quại dưới những nhát chém đẫm máu của cái-gọi-là Cải Cách Ruộng Đất.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

Trong đó, Nguyễn Mạnh Tường chỉ rõ mọi tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, kể cả các cán bộ, đều phải chịu đau đớn cơ cực vì các cuộc đấu tố, xử giảo man rợ trong Cải Cách Ruộng Đất. Ông tin rằng pháp luật chân chính là phải theo nguyên tắc: “Thà 10 địch sót còn hơn 1 người bị kết án oan”. Cuối cùng, ông đề nghị phải xây dựng một chế độ pháp trị chân chính, thực sự dân chủ trong đó các cán bộ Đảng phải chiu trách nhiệm với việc mình làm, và mọi người dân được quyền lên tiếng.

Hẳn không quá khó cho chúng ta biết Đảng đã làm gì với những đề nghị ấy. Cho tới tận ngày nay, Đảng vẫn ôm quan điểm “Thà chết 10 người oan còn hơn để sót 1 địch” vì đó là sức mạnh cốt lõi của chế độ. Kết quả, Đảng ném những đề nghị của ông Tường vào sọt rác và ném cái người dám nói những lời lẽ “phản động” ấy xuống vực Tarpéienne bằng cách đưa Nguyễn Mạnh Tường ra kiểm điểm công khai hòng bêu xấu ông, hạ gục ông trước mặt mọi người.

Nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, đám đông đứng nghe như nuốt từng lời của vị lưỡng quốc luật sư tài giỏi và can trường. Đó là điều cực kỳ nguy hiểm cho sự tồn vong của chế độ. Cuối cùng, để trả thù nhưng không muốn đánh động dư luận, Đảng thi hành cái kế hèn hạ nhất, độc địa nhất mà chỉ có họ mới đủ ác để nghĩ ra: cho Nguyễn Mạnh Tường và gia đình được sống, nhưng đó là cái sống tệ hơn cái chết gấp trăm lần, cái sống mà không ai dám đến gần như thể họ là những kẻ cùi hủi, cái sống mà thân xác lúc nào cũng quằn quại đớn đau vì… đói.

Tới đây, hẳn có người sẽ bảo ông Tường biết Cộng Sản nó gian nó ác, nó ngu dốt, nó cứng đầu mà còn muốn sửa sai nó, thế thì tự chuốc họa vào thân là đúng rồi.

Tôi cũng đã từng nghĩ như thế, nhưng sau khi đọc những điều ông viết tôi chợt nhận ra rằng Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình. Ta hãy xem thái độ của Nguyễn Mạnh Tường trước một buổi “kiểm điểm – xử án” mà ông gọi là màn “đấu bò” mà ông là chính con bò bị đẩy ra giữa đấu trường:

“Cho đến hôm nay tôi đã phải trải qua những thử thách không ai có thể nghĩ tới. Trong tình thế đó, tôi có thể lượng sức chịu đựng của mịnh và sự tò mò đã giúp tôi vượt qua nỗi ức chế. Bất chấp các “đồng sự” đang lay động tấm vải đỏ trước mắt, chính tôi là kẻ tấn công!”
Chính nhờ khả năng “tách mình làm đôi” ấy nên trong những lúc cùng quẫn nhất, ông vẫn tìm ra lối thoát cho mình; dù phải một mình đối đầu với kẻ địch to lớn nhất, ông vẫn giữ vẹn con người của mình.

“Và ngày nay, đối diện với người Cộng Sản, người ta phải sống với thái độ nào để giữ được con người thực và chân chính của mình?

Tôi, tôi tự thu mình vào cuộc sống nội tâm, bày biện và vui với nó. Phải tách góc nhà đó (nội tâm) khỏi cộng đồng vợ chồng, kể cả con cái, kể cả người dưng. Từ đài quan sát đó, nơi mà mình tự quan sát lấy mình, chúng ta có thể làm khán giả nhìn cuộc đời người khác để rồi tự đánh giá và điều chỉnh bản thân.”

Cái mà Nguyễn Mạnh Tường gọi là “sự tò mò” phải chăng là cái cốt lõi nhất của một người làm khoa học, đó là lòng muốn biết, biết tới cái tận cùng của sự việc. Sự hiểu biết của nhà khoa học còn phải được chứng thực bằng thử nghiệm, do đó, nếu Nguyễn Mạnh Tường không thử hết các cách có thể làm được thì hẳn ông sẽ không thể cam lòng. Vì thế dù biết Đảng ghét và sợ bị phê bình và sẵn sàng khủng bố kẻ nào dám phê bình thì Nguyễn Mạnh Tường cũng vẫn phải thử.

Nhiều người sống dưới chế độ Cộng Sản không dám thử kiểu ông Tường nên họ được sống yên tới già tới chết theo cái kiểu của Nguyễn Tuân “Tôi tồn tại được vì tôi biết sợ”. Nhưng, nghĩ lại mà coi, Nguyễn Mạnh Tường vẫn “tồn tại” tới cái tuổi cổ lai hy đó thôi. Cuối cùng, Đảng chẳng giết nổi ông. Nguyễn Mạnh Tường vẫn sống nhờ có sự giúp đỡ của những người chung quanh.

“Và khi chúng tôi cạn kiệt tiền bạc thì tấm lòng hào hiệp của các người bạn ở trong nước hay ở nước ngoài ném cho những chiếc phao cứu hộ giúp chúng tôi nổi trên mặt nước thay vì phải chìm đến tận đáy sâu của hư không (…) Họ là những kẻ không tên, không biết mặt nhưng không thiếu thận trọng đã sáng tạo ra nhiều phương cách tài tình chế nhạo những kẻ cầm quyền trên thế giới, bất kể cái hung tàn đần độn và cái cảnh giác gay gắt của chúng. Họ đã chung tay làm nên một mặt trận không chính thức nhưng năng động, mặt trận của lòng trắc ẩn và sự tử tế, đưa bàn tay cứu giúp đến các nạn nhân của độc tài khát máu.”
Hoặc nhờ những tấm lòng của người chung quanh, hoặc vì chính tấm lòng của Nguyễn Mạnh Tường quá lớn, hoặc vì cả hai, nên dù phải chịu sự tra tấn ác độc của kẻ thù, ông vẫn không hề đem lòng oán hận.

“Tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Cộng Sản đang chờ tôi trút cơn giận điên người lên chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi là nạn nhân. Nhưng xin mọi người hãy tha thứ cho tôi: tôi chọn thái độ của một triết gia: chỉ tìm hiểu chứ không xử án. Hiểu biết đòi hỏi mình phải tìm hiểu dưới mọi khía cạnh và dưới hai phía: mặt ưu và mặt khuyết, mặt trái và mặt phải của trang giấy, sự tốt và sự xấu. Nó sẽ dẫn đến sự công bằng, và người trí thức chỉ muốn điều đúng đắn.”
Tất cả những điều Nguyễn Mạnh Tường viết về chủ nghĩa Cộng Sản, về Đảng Cộng Sản không là sự trả thù, đó chỉ là sự chiến đấu của một trí thức chống lại cái ngu, cái ác.

“Cuộc chiến đấu của trí thức chống lại thứ độc tài mù quáng và vô nhân đạo bởi kẻ độc tài đã ra tay đày đọa người trí thức. Một trí thức, với cái liêm chính của con người và cái minh mẫn của tinh thần, là người lính chống lại kẻ áp chế chuyên lặp đi lặp lại các lời hứa hão huyền và sự bất lực đã phải cầu cứu đến sức mạnh của công an để giữ vững ngai vàng.”
Cái đày đọa Nguyễn Mạnh Tường nhất, thật ra, không phải là cái khổ, cái đói, mà là ông không còn cơ hội truyền đạt kiến thức của mình cho các thế hệ đàn em. Đảng không chỉ tước đoạt quyền làm người, Đảng còn xé nát cả mơ ước được xây dựng đất nước của một người. Nhưng Đảng không toàn thắng như Đảng thường rêu rao, Đảng thua vì Nguyễn Mạnh Tường không chịu thua. Hơn 20 năm bị cô lập trong đói khổ, Nguyễn Mạnh Tường không ngừng viết. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm như một hiến dâng cho đất nước và dân tộc.(2)

Vậy là, qua từng trang giấy, lần lượt Nguyễn Mạnh Tường đã trả lời đầy đủ cho tôi mọi câu hỏi. Nguyễn Mạnh Tường không ngu, cũng không dại, ông biết kẻ thù là ai, ông cũng biết số phận của mình rồi sẽ như thế nào. Sở dĩ Nguyễn Mạnh Tường làm những điều ông đã làm vì Nguyễn Mạnh Tường thà chọn cái khổ, cái chết hơn cái nhục, và cái nhục ở đây không là do kẻ khác gán lên mình, cái nhục nhã nhất là làm trái với lương tâm và rồi mình sẽ phải tự khinh bỉ chính mình. Nguyễn Mạnh Tường thà làm kẻ bị Đảng khai trừ nhưng không thể làm kẻ bị lương tâm nguyền rủa.

Có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một tự truyện đau đớn và bi thảm của một con người yêu nước, tài hoa, nhưng bất hạnh; nhưng cũng có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một trường ca hào hùng của con người không khuất phục trước cái Ác, để rồi trong tận cùng đau khổ, người đó đã tìm ra chân lý đích thực cho chính mình.

“Từ 1958 tới nay, gần bốn mươi năm hiện hữu, tôi đã sống qua những thử thách tồi tệ nhất mà người ta có thể gán cho một trí thức, một con người. Đó lại là những năm tuyệt vời mà tôi biết được. Tôi như được thăng hoa, sung sướng là đã thắng mọi nghịch cảnh mà người ta đưa ra để chặn đường sống của tôi, đã thể hiện cách sinh hoạt của mình hướng theo sở thích, theo chọn lựa và cống hiến khả năng khiêm nhường cho dân tộc. Ý chí của tôi đã thắng tâm địa độc ác, đồi bại của những kẻ thề hạ gục tôi. Nhưng tôi vẫn tha thứ cho họ bằng cách lặp lại câu nói bất hủ: “Chúng không biết chúng đang làm gì!”. Người ta sẽ quên đi Cinna, và sẽ nhớ mãi August với lòng khoan dung quảng đại” (3)

DCVOnline

(i) Bản dịch sang tiếng Việt của Nguyễn Quốc Vĩ cuốn Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel của Nguyễn Mạnh Tường đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thông Luận với tựa đề Kẻ bị rút phép thông công. Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức

Lời người dịch

Cuốn tự truyện Kẻ bị rút phép thông công được cụ Nguyễn Mạnh Tường hoàn tất năm 1991 viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Anh năm 2008(*).
[…]
Người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ
Paris ngày 23 tháng 11 năm 2009

© Thông Luận 2009

(*) Bản dịch tiếng Anh của Gs. Phó Bá Long hoàn tất năm 2008, nhưng hiện chưa ấn hành và phổ biến rộng.

(ii) – Nguyen Manh Tuong, L’Annam dans la littérature française. Jules Boissière (1863-1897). Thèse complémentaire pour le doctorat ès lettres. Université de Montpellier. Faculté des lettres. Impr. de Mari Lavit, 1932 – 226 pages.
– Nguyen Manh Tuong, L’Individu dans la vieille cité Annamite. Thèse pour le doctorat en droit. Université de Montpellier. [The Individual in the Old Annamese Society. (Trad. RAF.)] Édition: Montpellier: Impr. de la Presse, 1932 – 411 pages.

(iii) Nguồn của tất cả các trích dẫn về/của Nguyễn Mạnh Tường (trong block quote) trong bài đều trong cuốn Kẻ bị khai trừ. (Tiếng Quê Hương, 2011).

Chú thích của tác giả
(1). Như trong bài “Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường” của Nguyễn Văn Hoàn (2009) nhân sinh nhật 100 năm (!?) của Nguyễn Mạnh Tường, đã cố tình lờ đi nhừng cuộc luân phiên đấu tố và những năm tháng bị bỏ đói mà ông đã phải chịu đựng, thay vào đó chỉ là câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Tường “Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa.”
(2). Nguyễn Mạnh Tường để lại khoảng hơn 20 tác phẩm như: Nền tảng Pháp, Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Kinh nghiệm và nước mắt tuổi trẻ, Những chủ thuyết về Giáo Dục của Âu Châu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, Eschyle và bi kich của Hy Lạp, Bản dịch tiếng việt của tác phẩm Oresteia của Eschyle, với một chương nghiên cứu dùng như lời giới thiệu, Virgile và sử thi Hy Lạp, Tình yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản, Bi kịch di dân, Tiểu thuyết về Việt Nam 1950-1990, v.v. Một số viết bằng tiếng Pháp chưa được dịch và in ra tiếng Việt.
(3). – Câu “Chúng không biết chúng đang làm gì!” là viết tắt của câu “Lạy Cha, xin tha tội cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”, là lời khấn nguyện của Đức Jesus khi Người đang chịu nạn trên thập giá (Phúc âm Lu-ca 23: 34).
– Cinna và August là hai nhân vật trong vở kịch Cinna ou la Clémence d’Auguste (Cinna, hay sự ân xá của đại đế Augustus). Cinna nghe lời người yêu là Émilie nên rắp tâm mưu sát vua để trả thù cho cha của Émilie bị vua giết tội. Mặc dấu mưu đồ bị lộ, Cinna và Émilie không bị trị tội mà được vua August ân xá và ban chức tước.

Đăng trong Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.