Trần Hoàng Blog

►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted by hoangtran204 on 12/01/2011

Cập nhật thêm 2 bài mới:

Lạm phát của VN từ 1990 tới 2012, tài liệu của ADB (Asia Development Bank

!

Các bài liên quan tới bài Lạm Phát của Việt Nam…

*Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Và năm nay, 2011, các nhà kinh tế viết trên tờ Tạp Chí Kinh Tế (The Economist) nổi tiếng toàn cầu đã hoàn toàn thất vọng  sau mấy thập niên VN đã và đang được điều hành bởi các  “đỉnh cao của trí tuệ”:

“Việt nam hiện bị thâm thủng ngoại tệ rất lớn và thiếu hụt tiền bạc trầm trọng, vì chính phủ chỉ dựa chủ yếu vào việc xuất khẩu các món hàng hóa có giá trị thấp như gạo, xuất khẩu dệt may, và hải sản đông lạnh”, những thiếu hụt ngoại tệ làm cho chính phủ in tiền khoảng 200 000 tỷ -300.000 đồng vào thị trường để mua  10 tỷ  đô la của Việt Kiều gởi về, và in tiền ra để trả lương cho cán bộ công chức quân đội,…đã làm tiền đồng VN mất giá.  Nạn lạm phát đã lên cao tới 11,8% năm ngoái, và làm cho tiền đồng càng giảm giá trị; một món hàng năm trước mua 20.000 đồng, thì năm nay giá món hàng ấy là 23.000- 32.000 đồng.

Trong 14 tháng vừa qua, chính phủ VN đã đánh sụt giá tiền đồng 3 lần. Vì thế nhiều người VN đã đổ xô nhau vội vã mua vàng và đô la vì họ không tin vào giá trị của tiền đồng nữa. Chính quyền VN lại hứa hẹn thay đổi tình thế. Nhưng việc chạy  đuổi theo để phát triển (kinh tế) 7% một năm mà không thay đổi thế chế thì sẽ còn gây ra nhiều khó khăn khác nữa…”

Theo bảng số liệu của IMF (ở cuối bài này), vào năm 1986 và 1987, mức lạm phát lên đến 453% và 360%. Nhiều nguồn tin gần đây của chính phủ VN cho biết là mức lạm phát của 1986 và 1987 lên đến 900%, chứ không phải 453% và 360% như số liệu của IMF công bố; số liệu 453% và 360% là do nhà cầm quyền VN báo cáo với IMF. Vì muốn mượn tiền của IMF nên VN phải thu nhỏ con số lại, và để cho khỏi mắc cở với giới kinh tế tài chánh; lâu nay, nhà cầm quyền VN vẫn tự ca ngợi là “các đỉnh cao của trí tuệ loài người”, là có tài lãnh đạo sáng suốt,…và vẫn kiên định tiến lên XHCN. Vào 23-10- 2013 ông TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng băn khoăn nói: Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. (Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu)

1976-1989: vì chính sách ngoại giao và kinh tế sai lầm (Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước), đã đẩy cả nước ở bên lề nạn đói. Khắp nơi, dân chúng đã bắt đầu chống đối lại chính quyền. Vì nạn đói (giáp hạt) xảy ra hàng năm vào đợt cuối năm và vào khoảng tháng 2 và tháng 3 trong khi chờ vụ mùa, Nông dân ở huyện Quỳnh  Lưu,  Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tỉnh…đã đánh lại công an.

Cũng trong khoảng thời gian sau 1975, Trung Quốc đã tiến chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng  Sa và giúp Pôn Pốt đánh bộ đội VN đang chiếm đóng Kampuchea. Khi ấy, suốt thời gian dài từ 1979-1987, các nước phương Tây bảo: nếu  VN mở cửa để dân chúng VN đỡ khổ, thay đổi nền kinh tế tiến tới kinh tế thị trường, và rút bộ đội VN đang chiếm đóng  Kampuchea về nước, thì Mỹ và Âu Châu sẽ viện trợ, và sẽ bảo các nước  Thái, Đài Loan, Singapore đầu tư tiền bạc và mở hảng xưởng ở VN. Nhưng Lê Duẫn, Lê Đức Thọ…đã khăng khăng không chịu. (Vì bọn này đang say máu vơ vét vàng trong các đình chùa lăng tẩm của Kampuchea chở về VN. 16 tấn vàng của chính phủ VNCH cũng bị đảng viên cộng sản chia nhau nhưng đổ thừa cho ông TT Thiệu mang ra nước ngoài. Nhưng báo Tuổi Trẻ đã cho đăng bài phỏng vấn Ts Nguyễn Văn Hảo, và ông này thuật lại chuyện đã giao 16 tấn vàng cho đảng CSVN vào tháng 5-1975 “Ông cũng được biết đầu tháng 5-1975 ngoài Hà Nội đã cho riêng 1 chuyến chuyên cơ vào tiếp nhận hơn 16 tấn vàng và chở ra Hà Nội. Đầu tháng 5-1975 tôi cũng được tướng Đào Đình Luyện, chỉ huy không quân, cho biết nguyên một chuyến chuyên cơ IL 18 đã chở số vàng thu được từ Sài Gòn ra Hà Nội. Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi ...).

Sau 10 năm cứng đầu, không thi hành các đòi hỏi của các nước phương Tây và vì đang bận rộn chuyện cướp vàng trong các chùa chiền, nhà dân ở bên kampuchea, mặc cho bị cấm vận, không có ngoại tệ để mua xăng dầu, nên cả nước bị cúp điện 5-6 ngày mỗi tuần. Dân chúng không có thuốc men nên đảng chỉ đạo các bác sĩ dùng lá cây xuyên-tâm-liên để trị các bệnh nhiễm trùng. Lương thực thiếu trầm trọng vì chính sách nông nghiệp đi theo đường lối hợp tác xã (của Mác Lê Nin) là cướp đất của nông dân để  hoàn thành cái gọi  sở hữu quốc dân (tức là tất cả đất đai của cả nước do nhà nước sở hữu, làm chủ và quản lý), và ép nông dân miền Nam vào hợp tác xã nông nghiệp; nông dân đi làm ruộng của hợp tác xã, đến mùa thì được lãnh lúa về đủ ăn trong tháng ấy, tương tự  như 1 “công nhân” nông nghiệp.

Nông dân miền Nam quá tức giận vì sự ham hố quá độ của đảng, họ đã bỏ đất cho hợp tác xã muốn làm gì thì làm, riêng họ chỉ làm lúa đủ sống cho gia đình họ. Kết quả là cả nước ở bên lề nạn đói từ 1976-1988. Dân chúng ở 3 tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, và Hà Tỉnh nổi lên chống lại chính quyền địa phương vào các năm này.

Khi VN ở  vào thế cùng, cũng là lúc Lê Duẫn chết 1986.

Vào năm 1987, nhà cầm quyền VN trong cơn bỉ cực quá nên phải tuân theo các đòi hỏi của phương Tây (phải rút quân ra khỏi Kampuchea trước 1990, phải thả 300 000  sĩ quan VNCH và nhân viên hành chánh còn lại ra khỏi trại cải tạo và đồng ý để Mỹ cho họ đi định cư  kể từ 1990), thay đổi nền kinh tế quốc doanh thành kinh tế thị trường. Đây là thời gian nắm quyền của ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười.

Vì các biến đổi sâu rộng liên quan tới kinh tế nên học thuyết kinh tế tập trung của chủ nghĩa CS không còn được áp dụng nữa, và vì quá mắc cở với sự thay đổi nầy, không biết gọi tên nền kinh tế là gì, nên nhà cầm quyền Hà Nội  phải gọi chệch qua là “đổi mới”, và nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ra đời, giống như Trung Quốc đã gọi.

Cuối năm nay, 2010, theo báo cáo của VN, số ngoại tệ của  Việt Kiều gởi về cho người thân ở trong nước là 8 tỉ đô la. (Bổ sung: Cuối năm 2011, số ngoại tệ gởi về theo ngân hàng là 9 tỷ đô la. Cuối năm 2013, số ngoại tệ gởi về là 11 tỷ đô la; không tính tiền mà 500.000 Việt kiều bỏ túi cầm về VN để chi tiêu và giúp cho gia đình. Hiện nay, trung bình là 1 tỷ đô mỗi tháng.)

Tiền ngoại tệ do Việt kiều gởi về đã giúp cho đảng CSVN tồn tại, và thoát khỏi nạn lạm phát kể từ năm 1993.

Riêng việc bán dầu thô ngoài Biển Đông chắc sẽ không thu được 10 tỉ đô la như hồi năm 2008. (năm 2010-2011, Petrovietnam cho biết, tổng doanh thu số tiền bán dầu và khí đốt, cùng chế biến sản phẩm là 34-37 tỉ đô la mỗi năm, giá 1 thùng dầu thô hiện là 90-100 đô. Và mỗi ngày VN khai thác được 387.000 đến 430.000 thùng dầu và 9 tỷ mét khối khí đốt/ năm

Theo báo cáo ngày 20 tháng 1/2012  của Petrovietnam “Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010.” Số tiền bán dầu và ga của năm 2011 tương đương 34 tỷ đô la.  Mời đọc bài Tăng Trưởng bằng tài nguyên Khoáng sản là Sai Lầm). Điểm đáng nói là VN nhập khẩu 70% số lượng xăng dầu tiêu dùng. (nguồn)

Việc bán than đá cho Trung Quốc trên 10-30 triệu tấn hàng năm trong suốt hơn mười mấy năm qua đã làm cạn kiệt các mỏ than ở VN. Vì thế hiện nay, VN đang dự tính đi mua lại than của các nước khác vào năm 2013. Giá bán 1 tấn than dao động từ 55-65 đô * Coi phần Phụ Lục ở cuối bài này.

Và mời các bạn đọc bài này để thấy đảng ta, “các đỉnh cao trí tuệ của loài người” ký kết hợp đồng mỏ than ra sao mà mới đây, báo chí phát hiện và kêu trời:

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 10/90

—-

Trích từ: http://www.economist.com/node/17859425?story_id=17859425

The country now also runs big trade and current-account deficits, as it relies too heavily on exporting low-value stuff like processed seafood and rice. These deficits, added to inflation, which rose to 11.8% last year, have put the currency under pressure. Three times in the past 14 months the government has been forced to devalue, hence the rush among Vietnamese to hoard dollars and gold as they lose faith in the dong. The government has pledged to improve all these gloomy figures. Yet chasing growth rates of 7% a year or more without commensurate structural change will only generate more

Vietnam Inflation average

The Average Inflation in Vietnam was reported at 6.72 percent change in 2009, according to the International Monetary Fund (IMF). In 2015, Vietnam’s Average Inflation is expected to be 5.00 percent change. Data for inflation are averages for the year; not end-of-period data. In 2009, Vietnam’s economy share of world total GDP, adjusted by Purchasing Power Parity, was 0.37 percent. In 2015, Vietnam’s share of world total GDP is forecasted to be 0.42 percent. This page includes a chart, historical data and forecast for Vietnam’s Average Inflation.

chú ý: 1980, lạm phát là 25,156% làm tròn số là 25,2%.

Năm 2011, lạm phát là 18, 12% , IMF dự đoán là 10,25%

1980      25.156 1988   374.354 1995     16.926 2002   4.079 2009     6.717
1981       69.6 1989     95.77 1996       5.593 2003   3.303 2010     12
1982      95.401 1990     36.031 1997       3.095 2004   7.895 2011     10.25
1983      49.487 1991      81.817 1998      8.11 2005    8.394 2012      6.5
1984      64.897 1992     37.705 1999      4.108 2006     7.503 2013       5
1985      91.602 1993       8.379 2000    -1.768 2007    8.349 2014       5
1986   453.538 1994       9.483 2001     -0.31 2008   23.115 2015       5
1987   360.357        

IMF Data Specifications

Country Vietnam
Subject Descriptor Inflation; average consumer prices
Subject Notes Data for inflation are averages for the year; not end-of-period data.
Units Percent change
Scale  
Country/Series-specific Notes See notes for: Inflation; average consumer prices (Index; 2000=100).
Estimates Start After 2009
Title Vietnam Inflation average
Keywords Vietnam Inflation average, Vietnam Inflation average data,Vietnam Inflation average chart,Vietnam Inflation average historical data,Vietnam Inflation average graph,Vietnam Inflation average forecast.

View More Indicators for VIETNAM |   View More Countries

*Chú ý: lạm phát của VN từ năm 2011-2015 là các con số của IMF, mức lạm phát thực sự như thế nào phải chờ tới các năm đó mới biết được.

Lạm phát của VN từ 1990 tới 2012, tài liệu của ADB (Asia Development Bank)

Mối Quan hệ Giữa Tăng trưởng Kinh tế, Thâm hụt Ngân Sách với Lạm Phát ở Việt Nam (29-5-2013)

———————————————–

Phụ Lục:

Nhập than

Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế. Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ. Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ đắp chiếu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu. TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn. “Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025. Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, đã không biết tiết kiệm tài nguyên, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang). Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được. Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Cho nên, TKV đã đưa ra đề án thành lập ban chỉ đạo nhập khẩu than cho riêng tổng sơ đồ phát triển điện VI (còn nhập than để luyện thép, thuỷ tinh, sản xuất hoá chất… thì chưa biết). Thành phần ban chỉ đạo dự kiến đề xuất gồm một Phó thủ tướng làm trưởng ban, phó trưởng ban là bộ trưởng bộ Công thương, các thành viên khác là thứ trưởng hoặc cấp tương đương ở một số bộ, ngành liên quan. Ban này sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc nhập than; trực tiếp quyết định hoặc đề xuất với Thủ tướng về cơ chế, chính sách nhập khẩu than…

Chắc rằng, ban chỉ đạo về nhập khẩu than sẽ sớm được chính thức thành lập theo đề nghị của TKV. Nhưng với sự tham gia muộn màng vào đội ngũ các nước nhập khẩu, có thể hình dung việc nhập khẩu than từ năm 2012 là không hề dễ dàng. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than. TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu. Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Xin trích lại một đoạn trong một bài viết về vấn đề này của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc công ty Năng lượng sông Hồng, một công ty thành viên của TKV: “Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập trung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực khác mà không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam đã có thể được đẩy lùi hàng chục năm”.

Mạnh Quân

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!pjXr6C6CGBYDG0ZN8yuMdVr.asmSfg–/article?mid=1731&fid=-1

nguồn: sgtt.com.vn

http://www.atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44470/index.aspx

*http://sct.quangninh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=116&news_id=7967

—–

Xuất khẩu tài nguyên thô: Biết nguy, vẫn không dừng

Mặc dù đã có nhiều tiếng nói từ Quốc hội đề nghị hạn chế xuất khẩu khoáng sản, ngay cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại kỳ họp Quốc hội cuối năm trước đã đề nghị “chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thô” nhưng từ tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho đến bộ Công thương gần đây vẫn dường như vẫn lao theo quán tính, thói quen cũ. Khoáng sản nhiều loại vẫn được xuất khẩu với số lượng lớn bất chấp thực tế chính nhiều loại khoáng sản đó đã dần trở nên khan hiếm với chính các doanh nghiệp cần dùng đến chúng ở trong nước.

Như SGTT đã đưa tin, từ cuối năm 2009, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị  Thủ tướng Chính phủ cho xuất khẩu thêm 400 ngàn tấn tinh quặng sắt, 84 ngàn tấn tinh quặng magnetit, 18 ngàn tấn mangan, 44 ngàn tấn kẽm…Cho đến đầu năm nay, riêng hậu quả của tình trạng xuất khẩu số lượng lớn các loại tinh quặng khoáng sản kéo dài trong nhiều năm đõ đã được thấy rõ. Theo ông Phạm Chí Cường,chủ tịch hiệp hội Thép Việt Nam, vừa qua, một số doanh nghiệp sản xuất thép, đang có các dự án luyện thép lò cao qui mô lớn đã đồng loạt gửi nhiều văn bản đến bộ Công thương, hiệp hội Thép bày tỏ ý kiến phản đối việc cho phép xuất khẩu quặng sắt và nhiều loại khoáng sản khác. Theo các doanh nghiệp này, số lượng tinh quặng sắt xuất khẩu năm 2009 thực tế nhiều hơn báo cáo của Tổng cục Hải quan 600 ngàn tấn. Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam là 1,81 triệu tấn do họ thống kê cả số lượng hàng xuất theo đường tiểu ngạch, trốn thuế từ Việt Nam sang. Ông Cường cũng cho biết, về phía hiệp hội Thép Việt Nam cũng có môt văn bản đề nghị chấm dứt xuất khẩu quặng sắt để dành nguồn quặng này cho các nhà máy trong nước khai thác lâu dài.

Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thép,  ông Huang Tony, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ cho biết, chỉ tính nhu cầu quặng sắt của 3 công ty sản xuất thép trong nước (có đơn kiến nghị) trong đó có công ty của ông thì mỗi năm, lượng tinh quặng thép cần là hơn 2 triệu tấn. Ông này cho rằng, nếu tình hình xuất khẩu quặng sắt vẫn tiếp tục thì nguy cơ các dự án luyện thép lò cao đã được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng sẽ phải đắp chiếu do không có nguyên liệu để hoạt động bởi việc nhập khẩu nguyên liệu ngày càng đắt đỏ, khó khăn.

Nhưng chưa dừng lại ở đấy, mới đây nhất, ngày 27.2, tổng công ty Khoáng sản Việt Nam (trực thuộc TKV_ lại có đề nghị cho xuất khẩu 20.000 tấn tinh quặng đồng quy khô với lý do là để ổn định tình hình tài chính, duy trì sản xuất của tổ hợp khai thác Sin Quyền (Lào Cai)…Sau đó, TKV lại có đề nghị lên bộ Công thương để bộ xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận đề nghị của tổng công ty Khoáng sản.

Nếu tiếp tục đà xuất khẩu này, có lẽ trong năm nay, lượng tinh quặng khoáng sản: đồng, sắt, kẽm, mangan…có thể vượt xa năm 2009. Theo số liệu của tổng cục Hải quan, không kể than, dầu mỏ, năm 2009, số lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu lên tới 2,15 triệu tấn, đạt kim ngạch gần 135 triệu USD. Nước nhập khẩu nhiều nhất các nguồn quặng này của Việt Nam vẫn là Trung Quốc. Chỉ trong năm ngoái, Trung Quốc nhập 1,67 triệu tấn các loại trong đó có 1,2 triệu tấn tinh quặng sắt của Việt Nam với giá trị 103 triệu USD. 2 tháng đầu năm nay, theo số liệu của bộ Công thương, riêng xuất khẩu than đá, quặng và một số loại khoáng sản khác (chưa tính dầu thô) đã lên tới khoảng 2 triệu tấn trị giá 89 triệu USD.

Riêng nguồn khoáng sản được xuất khẩu lớn nhất trong nhiều năm qua là than thì năm nay có giảm xuống chút ít. Sau khi đã thực hiện xuất khẩu 24 triệu tấn than trong năm 2009, năm nay, TKV  đề nghị xuất khẩu thêm 18 triệu tấn nữa và dự tính tiếp tục giảm vào năm 2011 để đến năm 2013 và 2014 chỉ còn xuất khẩu 3-4 triệu tấn than/năm. Nhưng đáng nói, chính ông Trần Xuân Hoà, tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cuối tuần trước đã đề nghị Chính phủ cho phép ngay từ năm nay thí điểm việc nhập than cho một số hộ sản xuất trong nước bởi trong những năm tới, việc nhập khẩu than sẽ trở lên rất khó khăn. Biết trước việc nhập than (từ năm 2013) trở đi là rất lớn và  sẽ khó khăn như vậy mà TKV vẫn đề nghị và bộ Công thương vẫn cho phép thực hiện xuất khẩu than với số lượng còn lớn như vậy thì đây chỉ có thể hiểu là một việc làm cạn kiện tài nguyên, làm nghèo đất nước.

Còn nhớ, từ tháng 6.2008, bộ Công thương đã ban hành thông tư hướng dẫn số 08/2008/TT-BCT trong đó quy định rõ: kể từ 30.9.2008, khoáng sản khai thác được phải ưu tiên cho chế biến sâu trong nước; nếu xin phép xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn, hàm lượng chế biến cao. Nhưng với việc tiếp tục xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận các đề nghị cho xuất khẩu khoáng sản, tinh quặng như vậy rõ ràng bộ này đã làm trái với chính thông tư, quy định do ngành mình ban hành. Phải chăng vẫn đang có một sức ép lớn để đạt các chỉ tiêu tăng trưởng GDP, đạt thành tích xuất khẩu đã khiến bộ Công thương phải làm trái cả quy định của mình như vậy ? Còn nếu cứ viện những lý do cũ : do khai thác dư thừa, có trong nước chưa có cơ sở chế biến sâu, do thiếu vốn đầu tư…thì đó đều là những cách giải thích không hợp lẽ, khó thuyết phục.

Mạnh Quân

Nguồn Sgtt.com.vn

Báo: http://www.tinkinhte.com/cong-nghiep/mo-khai-khoang/xuat-khau-tai-nguyen-tho-biet-nguy-van-khong-dung.nd5-dt.87812.136143.html

Blog:  http://vn.360plus.yahoo.com/quan5791/article?mid=633

—————————————-

Congressional Research Service

http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL33534.pdf

Trang 12:  Figure 6. Average Monthly Wages for Selected Countries: 2000-2012

—————————————

Lạm Phát của Việt Nam thời 2006-2013:

 »

———————————–

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách với lạm phát ở Việt Nam

Thứ tư 29/05/2013 13:00

NGUYỄN THÀNH NAM

(Tài chính) Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng chậm lại (mức bình quân 8,2% giai đoạn 2004 – 2007, giảm xuống khoảng gần 6% giai đoạn 2008 – 2011), thâm hụt ngân sách lớn (khoảng trên 5% GDP) và tỷ lệ lạm phát tăng cao ở mức hai con số (bình quân khoảng gần 13% trong giai đoạn 2007 – 2012).

Xem xét các nguyên nhân dẫn đến những bất ổn này, chúng ta thấy rằng bên cạnh những tác động bên ngoài từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008; phải kể đến các nguyên nhân chủ quan như quản lý tài khóa chưa đạt hiệu quả cao, từ phương pháp tính toán, hạch toán ngân sách không theo thông lệ quốc tế, quá trình quản lý phân bổ các khoản chi tiêu công nhiều bất cập đến công tác huy động, gia tăng nguồn thu ngân sách chưa bền vững.Trước bối cảnh trên của nền kinh tế, trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ tổng hợp lại toàn bộ thực trạng tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ năm 1990 đến nay để đưa ra một góc nhìn toàn diện về tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách trong mối quan hệ với lạm phát cả trên phương diện lý thuyết cũng như thực tế. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm giảm thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.Tăng trưởng kinh tếNhững cải cách kinh tế quan trọng vào năm 1986 chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP thực tế Việt Nam tăng nhanh hơn các quốc gia khác với mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 1990 – 2009 là 7,32% (Bảng 1).Vào những năm đầu thập kỷ 1990, kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao, đặc biệt những năm 1992 và 1997 gần 9%. Tuy nhiên, đà tăng trưởng chậm lại vào cuối thập kỷ này do những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Kết thúc năm 1999, tăng trưởng chỉ còn là 4,8% kèm theo hiện tượng giảm phát những năm sau đó. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng và kích thích mở rộng đầu tư từ năm 2000, đồng thời ký kết quan hệ trao đổi thương mại song phương Mỹ 7/2000. Kết quả là kinh tế đã phục hồi trên đà tăng trưởng cao, nhưng đi kèm là tỷ lệ lạm phát tăng lên. (Bảng 1)

Hơn nữa, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) tháng 11/2006 đã mở đường cho sự tự do hóa thị trường lớn hơn và làm dấy lên làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, lượng ngoại tệ đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vay nợ nước ngoài đã tăng đỉnh điểm gấp 13 lần năm 2000. Lúc này, để duy trì khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu, ổn định tương đối tỷ giá và hạn chế gia tăng nghĩa vụ nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp quy đổi bằng VND, Ngân hàng Nhà nước đã cung lượng tiền VND để mua một lượng ngoại tệ vào, gây áp lực lạm phát tăng cao ở mức 2 con số vào năm 2007 (12,6%) và năm 2008 (19,89%).

Thêm vào đó, khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào năm 2008 ảnh hưởng tới sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam, cụ thể là bội chi ngân sách lớn, nợ công tăng cao, thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ tăng trưởng chậm lại 6,78% năm 2010 và 5,9% năm 2011 mặc dù Chính phủ đã có những biện pháp kích cầu để thúc đẩy tăng trưởng, chống suy giảm kinh tế. Đồng thời với đó là lạm phát tăng cao, kết thúc năm 2010 và 2011, lạm phát lần lượt ở mức 11,75% và 18,58%.

Năm 2012, tăng trưởng kinh tế ở mức 5,03%, đã giảm khoảng 0,87% so với năm 2011. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ suy giảm tổng cầu do chính sách tiền tệ thắt chặt kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2011, hàng tồn kho tăng cao đặc biệt là tồn kho bất động sản, nhiều doanh nghiệp phá sản (theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trên 50.000 doanh nghiệp phá sản từ đầu năm 2011 đến cuối quý I/2012), nhiều tập đoàn Nhà nước thua lỗ lớn tại Vinalines, Vinashin, EVN, Tổng công ty Xi măng Việt Nam Vicem, tập đoàn Sông Đà,…

Ngoài ra, do đà giảm kinh tế toàn cầu khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm xuống (thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm 2012 đến ngày 20/4/2012 chỉ bằng 68,5% so với cùng kỳ năm trước, vốn thực hiện giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước), xuất khẩu Việt Nam cũng giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ của nước ngoài giảm, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô giảm 3,1%; cà phê giảm 7,9%; cao su giảm 8,3%; than đá giảm 12,2%; gạo giảm 27,8%…

Năm 2012, cũng là năm mà mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên hàng đầu. Theo đó, Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách; Ngân hàng Nhà nước thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt và linh hoạt; Bộ Tài chính tiếp tục lộ trình quản lý, điều hành giá theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ giá độc quyền, chống bán phá giá, đảm bảo cân đối cung – cầu hàng hóa…

Kết thúc năm, chúng ta đã thành công khi giữ mức lạm phát ở mức một con số 6,81 %. Mặc dù mức tăng trưởng thấp, nhưng theo đánh giá của Tổng cục Thống kê trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát thì đây được xem là mức tăng hợp lý.

Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Xem xét về mặt lý thuyết, lạm phát vừa có tác động tích cực và thiếu tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Một tỷ lệ lạm phát thấp có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng. Theo nghiên cứu của Tobin (1965), Mundell (1965) mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là tỷ lệ thuận. Các nghiên cứu này cũng trùng với quan điểm của trường phái Keynes và trường phái tiền tệ khi cho rằng trong ngắn hạn, các chính sách nhằm hỗ trợ tăng trưởng của Chính phủ sẻ làm gia tăng lạm phát.

Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động tiêu cực lên tăng trưởng. Lạm phát gây giảm sút tổng cầugia tăng thất nghiệp, nó gây ra sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội, làm thông tin trong nền kinh tế bị bóp méo, khiến các quyết định đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm trở nên khó khăn hơn; lạm phát được xem như một loại thuế đánh vào nền kinh tế.

Một số nghiên cúu của Rscher (1993), Barro (1995), Bruno và Easterly (1998) đều chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mang dấu âm. Còn nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001) ở 140 nuớc giai đoạn 1960 – 1998 đã tìm thấy “ngưỡng” lạm phát từ 11-12% đối với các nước đang phát triển và khoảng 1-3% đối với các nước công nghiệp. Nếu nền kính tế ở dưới ngưỡng này, mối quan hệ tăng trưởng – lạm phát mang dấu dương và ngược lại.

Thực tế ở Việt Nam, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng cũng phù hợp về mặt lý thuyết. Với mức lạm phát cao thì lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng (giai đoạn trước 1992). Còn nền kinh tế duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng (giai đoạn 1992 – 2007).

Có quan điểm cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng thì chấp nhận một tỷ lệ lạm phát cao. Khi nền kinh tế chưa đạt đến sản luợng tiềm năng, các chính sách thúc đẩy tổng cầu như gia tăng tiêu dùng, đẩy mạnh đầu tư trong khu vực công và khu vực tư nhân, khuyến khích xuất khẩu sẽ góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phải chấp nhận mặt bằng giá cả hàng hóa dịch vụ cao hơn.

Chính điều này làm cho các nhà hoạch định chính sách tin rằng lạm phát có lợi hơn là có hại cho nền kinh tế (đặc biệt tỷ lệ lạm phát ở mức một con số), đó là khi lạm phát tăng khiến các chủ thể giảm thói quen giữ tiền mặt, thay vào đó sẽ chi tiêu, đầu tư nhiều hơn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng truởng nhanh.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã đạt sản luợng tiềm năng, sự gia tăng tổng cầu sẽ chỉ làm giá tăng lên mà không làm tăng sản lượng nền kinh tế. Điều này bởi vì, tỷ lệ lạm phát cao làm đình trệ sản xuất thông qua kênh đầu tư, tín dụng, tiêu dùng, về phía người tiết kiệm không dám gửi tiền vì lãi suất thực âm, gửi tiền kỳ hạn càng dài càng lỗ. Về phía nguời đi vay phải chịu lãi suất cao, với chi phí vốn cao họ sẽ e ngại vay vốn, không có động lực để đầu tư, hay sản xuất kinh doanh. Kết quả là kênh tín dụng bị thu hẹp.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mức dư nợ tín dụng 10 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng hơn 19,6%, thấp hơn mức tăng 37,73% so vớí cùng kỳ năm 2007, tỷ lệ lạm phát cao tháng 10/2008 là 22,14% cũng làm cho thu nhập của hộ gia đình giảm 22% so với cuối năm 2007. Thu nhập giảm dẫn tới tiêu dùng giảm đầu tư cũng giảm vì rủi ro cao tất yếu làm chậm tăng truởng kinh tếNhư vậy, quan điểm sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có tác dụng giúp kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững (còn gọi là giải pháp tăng trưởng “bong bóng”), gây hậu quả tiêu cực đến đời sống dân cư, đặc biệt là tầng lớp thu nhập thấp.

Trong nhiều năm trở lại đây, lạm phát Việt Nam luôn ở mức cao, câu hỏi đặt ra là phải chăng sản lượng nền kinh tế đã vượt mức tiềm năng, nên các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ (gói kích cầu thứ nhất hỗ trợ lãi suất trị giá 1 tỷ USD và gói kích cầu 2 trị giá 8 tỷ USD nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế vào cuối năm 2008 – 2009) khiến lạm phát tăng mạnh trong khi sản lượng không đạt mục tiêu? Theo đánh giá của IMF (2006) thì kể từ năm 2005, kinh tế Việt Nam có dấu hiệu sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng (những năm trước đó, mối quan hệ này thể hiện không nhất quán và rõ nét).

Qua thực tế chứng minh rằng, Chính phủ muốn đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững bằng các gói kích thích kinh tế thì yêu cầu phải dựa trên nền tảng mức lạm phát thấp, giá trị đồng nội tệ ổn định. Thật vậy, khi lạm phát thấp các nhà đầu tư có thể dự tính được cơ hội đầu tư, mức rủi ro của dự án. Từ đó, có các quyết định đầu tư hiệu quả, còn nguời tiêu dùng có thể yên tâm chi tiêu, không lo ngại, cân nhắc mua các mặt hàng thay thế vì giá tăng, kỳ vọng lạm phát của dân chúng không xảy ra giúp kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy mức lạm phát thấp ở đây là bao nhiêu?

Hiện nayở các nước phát triển, lạm phát được chọn gần 2% là ngưỡng tối ưu cho tăng trưởng, còn theo nghiên cứu của IMF (2006) chỉ ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho tăng trưởng ở các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam là 3,6%. Tuy nhiên, cần phải hiểu thêm rằng, lạm phát thấp và ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là các chính sách, chủ trương, định hướng của Chính phủ trong việc phát triển con người, nguồn lực tài nguyên, vốn, khoa học công nghệ…

Như vậy, xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát giai đoạn 1990 đến 2012 có thể thấy rằng kinh tế Việt Nam chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại, đi kèm với tỷ tệ lạm phát tăng cao vào những năm đầu và những năm gần cuối của giai đoạn này.

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước (NSNN) luôn trong tình trạng thâm hụt ở mức cao. Nhìn lại giai đoạn trước năm 1986, thu không đủ cho chi ngân sách, mức chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào viện trợ nước ngoài. Giai đoạn sau đó 1986 – 1990, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt dần viện trợ cho Việt Nam, bội chi Ngân sách càng trầm trọng, nguồn thu lúc này chủ yếu dựa vào vay nợ trong nước, ngoài nước và phát hành tiền. Đây cũng là nguyên nhân gây lạm phát cao thời kỳ này.

Bước sang giai đoạn 1991 – 1996, kinh tế đất nước có nhiều dấu hiệu tốt như siêu lạm phát được đẩy lùi nhờ Chính phủ thắt chặt chi tiêu cùng với thay đổi cơ cấu chi ngân sách, chi tập trung vào đúng đối tượng tạo hiệu quả phát triển kinh tế, nguồn thu đã đủ cho chi thường xuyên, thâm hụt ngân sách giai đoạn trước được bù đắp bằng vay nợ. Do vậy, thời kỳ này bội chi ngân sách đã giảm đáng kể, bội chi chỉ ở mức trung bình 2,56 % GDP trong khi giai đoạn 1985 – 1990 bội chi khoảng 7% GDP (Bảng 2)

Giai đoạn 1997 – 2001, nguồn thu NSNN đáp ứng cho cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Bội chi ở mức thấp trung bình 3,87% GDP từ năm 1996 – 2000, nợ công cũng giảm đáng kể do kết quả của cơ cấu lại các khoản nợ công qua câu lạc bộ Paris. Vào cuối những năm 1990, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, tốc độ tăng đầu tư của Nhà nước giảm, hiện tượng thiểu phát xuất hiện vào năm 2000, 2001. Đây cũng là hai năm có tỷ lệ bội chi NSNN cao nhất chiếm gần 5% GDP, nhưng điều này được xem như một tín hiệu tốt trong bối cảnh nền kỉnh tế giảm phát, sản lượng chưa đạt đến sản lượng tiềm năng, các chính sách tăng chi tiêu của Chính phủ chẳng những sẽ không gây ra lạm phát, mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những năm tiếp theo.

Giai đoạn từ năm 2002 đến nay, thu và chi ngân sách đều tăng mạnh, theo thống kê giai đoạn 2002 – 2009 tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 20%, tốc độ tăng chi bình quân là 20,2%. Bội chi NSNN ở mức trên dưới 5% GDP, tăng cao hơn so với các giai đoạn trước. Đây là kết quả của chính sách tài khóa nới lỏng theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, đặc biệt là năm 2009 với chính sách kích cầu nhằm hạn chế suy giảm kinh tế từ ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008, đã làm cho bội chi ở mức cao 6,9% GDP.

Những năm tiếp theo, Chính phủ nỗ lực trong việc tăng thu ngân sách, giảm bội chi, giảm nợ công. Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ được ban hành nhằm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khóa cắt giảm chi tiêu công nhằm giảm bội chi và kiềm chế lạm phát. Nhờ đó, tình hình bội chi NSNN đã giảm chỉ còn 5,8% GDP năm 2010, 4,9% GDP năm 2011 và 4,8% GDP năm 2012 (Biểu đồ 2).

Mối quan hệ giữa bội chi Ngân sách nhà nước và lạm phát

Bội chi NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng.

Thứ nhất, việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài như giai đoạn 1986 – 1990. Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng của cung tiền. Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ, nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự tăng của tổng cầu nền kinh tế, mặt bằng giá cả sẽ tăng lên gây áp lực lạm phát. Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu “thuế lạm phát” từ những người đang nắm giữ tiền.

Thứ hai, bù đắp thâm hụt bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài, việc vay nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trường vốn, nếu việc phát hành diễn ra liên tục thì sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, do dó, làm lãi suất thị trường tăng. Để giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, điều này làm tăng lượng tiền tệ gây lạm phát. Hay vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ để chi tiêu bằng cách bán cho Ngân hàng Trung ương, điều này làm tăng lượng tiền nội tệ trên thị trường tạo áp lực lên lạm phát. 

Thực tế những năm qua, thâm hụt ngân sách Việt Nam được tài trợ phần lớn bằng cách vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Lượng trái phiếu này có thể được mua bởi Ngân hàng Nhà nước (hình thức cấp tín dụng trực tiếp cho Chính phủ) sẽ làm tăng lượng tiền cơ sở. Hoặc lượng trái phiếu được mua bởi các ngân hàng thương mại, sau đó các ngân hàng thương mại đem cầm cố chúng tại Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường mở hoặc nghiệp vụ tái cấp vốn (cấp tín dụng gián tiếp cho Chính phủ). Điều này cũng làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng cung tiền gây lạm phát. Theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), khối lượng trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đang lưu hành có giá trị lên tới 336.000 tỷ đồng, tương đương hơn 13% GDP danh nghĩa và gần 12% cung tiền M2 năm 2011. Ngoài ra, bên cạnh việc vay nợ trong nước, Việt Nam còn vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt, số tiền vay nợ nước ngoài chiếm 1/3 thâm hụt NSNN, tương đương 1,5 – 1,7% GDP. Đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm 2007 – 2008 và 2010 – 2011.

Một số gợi ý chính sách

Một , Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát đảm bảo an sinh xã hội, làm tiền đề đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Qua những phân tích ở trên thấy rằng một mức lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế (giai đoạn trước năm 1992 và giai đoạn từ năm 2007 đến nay). Trong khi đó, nền kinh tế duy trì tỷ lệ lạm phát thấp sẽ giống như một “thứ dầu bôi trơn” hỗ trợ tăng trưởng (giai đoạn năm 1992 đến 2007). Nhưng cũng cần hiểu rằng, điều này không có nghĩa là kìm lạm phát xuống quá thấp, bởi hệ quả của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt quá mức là đầu tư nền kinh tế giảm, không khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất tăng sản lượng, không kích thích tiêu dùng của dân cư…, dẫn đến tăng trưởng sẽ chậm lại.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang nghiên cứu áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu. Đây là bước đi cần thiết nhằm kiềm chế lạm phát về mức một con số trong trung, dài hạn. Tuy nhiên, để cơ chế này được áp dụng một cách hiệu quả cần phải lưu ý một số vấn dề sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần tăng cường quyền hạn và tính độc lập hơn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng, thực thi, điều hành chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước sẽ thiết lập và tự chịu trách nhiệm về mức lạm phát mục tiêu trong trung hạn, chủ động sử dụng các công cụ chính sách để đạt được mục tiêu đó.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét đưa ra mức lạm phát mục tiêu trong ngắn hạn hàng năm. Việc thực hiện mức mục tiêu trong ngắn hạn sẽ tạo tiền đề để thành công chính sách lạm phát mục tiêu trong trung hạn. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng cần đưa ra “ngưỡng” lạm phát tối ưu cho kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp tỷ lệ lạm phát của Việt Nam ở dưới ngưỡng này, Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp để tăng lạm phát đạt xấp xĩ ngưỡng lạm phát mà không sợ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Còn nếu tỷ lệ lạm phát vượt ngưỡng này thì sẽ tác động tiêu cực (ảnh hưởng ngược chiều) đến tăng trưởng, Chính phủ phải tìm cách giảm lạm phát để hỗ trợ tăng trưởng. 

Hai , giảm thâm hụt ngân sách để kiềm chế lạm phát và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô. Bởi lẽ, thâm hụt ngân sách tăng lên làm giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Đồng thời, ngân sách thâm hụt cao và kéo dài làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ, làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của ngưởi dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.

Do đó, thâm hụt ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự ổn định vĩ mô, gây lạm phát. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh điều này, thâm hụt ngân sách cao được bù đắp phát hành tiền và vay nợ khiến lạm phát tăng cao (giai đoạn trước năm 1990). Sau đó nhờ nỗ lực của Chính phủ trong việc thắt chặt chi tiêu đã góp phần kiềm chế lạm phát (giai đoạn 1991 – 2006), ngoại trừ giai đoạn 1999 – 2001 là thời kỳ kinh tế suy thoái, thậm chí thiểu phát nên mức bội chi NSNN hầu như không ảnh hưởng đến lạm phát, mà còn có tác động tích cực hỗ trợ kinh tế đi lên. Trong những năm gần đây, chính sách tài khóa nới lỏng kích cầu đầu tư khiến tỷ lệ bội chi hàng năm khoảng 5% GDP, sức ép tăng cung tiền vào lưu thông không nhỏ đã khiến lạm phát tăng cao trở lại (giai đoạn 2007 đến nay). 

Do vậy, kiểm soát bội chi ngân sách là điều hết sức cấp thiết. Liên quan đến vấn đề này cần thực hiện một số yêu cầu sau: 

Thứ nhất, phương pháp tính, hạch toán ngân sách phải được thực hiện công khai, minh bạch theo chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, có nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu Chính phủ tài trợ cho lĩnh vực y tế, giáo dục, các khoản cho vay, cho vay lại của Chính phủ… để ngoại bảng cân đối ngân sách, không tính đầy đủ vào thâm hụt ngân sách và nợ công như thông lệ quốc tế. Nhiều khoản chi vào những dự án lớn dài hạn được phân bổ dần vào quyết toán ngân sách trong nhiều năm thay vì tính cả vào năm trái phiếu được phát hành để vay nợ… Ngoài ra, sự không thống nhất trong cách hạch toán ngân sách khiến cho các con số thống kê không phản ảnh chính xác thực trạng nợ công của Việt Nam, gây nhiễu loạn thông tin cho các chủ thể nền kinh tế, và gây trở ngại cho việc so sánh, đánh giá, quản lý rủi ro nợ công giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Do vậy, Việt Nam phải có phương pháp tính đúng, đầy đủ ngân sách theo chuẩn quốc tế nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài khóa, làm cơ sở cho sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý nhằm giảm bội chi và kiểm soát lạm phát.

Thứ hai, cắt giảm các khoản chi tiêu công chưa thật cần thiết và kém hiệu quả bằng cách đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư kém hiệu quả hoặc chưa khởi công. Tuy nhiên, cần phải có cách đánh giá toàn diện hiệu quả chi tiêu công theo các lĩnh vực khác nhau, không nên cắt giảm đồng loạt các chi tiêu theo một tỷ lệ cố định nào đó, thực hiện rà soát, đánh giá chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công, khởi công chậm, thủ tục chưa hoàn thành sang các công trình cấp bách, hiệu quả kinh tế cao hoặc hướng tới các lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể tham gia cùng. Ngoài ra, các khoản chi tiêu thường xuyên cũng cần được tra soát lại tất cả các khâu hoạt động để tổ chức lại bộ máy cho hợp lý hơn, cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết.

Thứ ba, kiểm soát các khoản đầu tư công của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) bằng cách thành lập một Hội đồng thẩm định đầu tư của DNNN độc lập, nhiệm vụ của Hội đồng sẽ đánh giá, thẩm định toàn diện khách quan các dự án đầu tư của DNNN. Các kết luận của Hội đồng sau đó sẽ được công bố rộng rãi. Đồng thời, Hội đồng cũng đánh giá hiệu quả của DNNN theo các tiêu chí về lợi nhuận, công nghệ, tạo công ăn việc làm, đóng góp vào ngân sách… dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch các thông tin về hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục cổ phần hóa, tái cấu trúc các DNNN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn cho các doanh nghiệp tư nhân trên thị truờng.

Thứ tư, cải thiện nguồn thu ngân sách một cách bền vững hiệu quả. Hiện nay, theo lộ trình cam kết WTO Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu với các nước trong khu vực và trên thế giới nên nguồn thu ngân sách tập trung chủ yếu vào thuế trong nước. Tuy nhiên, nếu tăng thuế để gia tăng nguồn thu sẽ không khuyến khích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (nếu tăng thuế thu nhập doanh nghiệp) và không khuyến khích tiêu dùng của cá nhân hộ gia đình (nếu tăng thuế thu nhập cá nhân), làm giảm tổng cầu và tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, gánh nặng thuế cao sẽ khiến hệ thống thuế hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến tình trạng trốn thuế, phân bổ nguồn lực bị bóp méo. 

Vì vậy, để gia tăng nguồn thu cần việc thực hiện khâu cải cách hệ thống thuế, đặc biệt thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền kinh tế phát triển đều lớn hơn 20%). Thực hiện đánh thuế vào một số nguồn thu nhập từ đầu tư như thuế thu nhập bất động sản, thuế thu nhập vàng, thuế thu nhập chứng khoán… Đây là những nguồn thu nhập lớn, sẽ góp phần tăng nguồn thu cho NSNN. Ngoài ra, muốn nguồn thu ngân sách tăng lên cần thực hiện triệt để nguồn thu, chống tình trạng trốn lậu thuế, tăng cường công tác kiểm tra nhằm chống và ngăn chặn hiện tượng khai báo thuế sai sự thật của các doanh nghiệp, cá nhân. 

Theo Tạp Chí Ngân hàng

http://www.tapchitaichinh.vn/Thi-truong-Gia-ca/Moi-quan-he-giua-tang-truong-kinh-te-tham-hut-ngan-sach-voi-lam-phat-o-Viet-Nam/25965.tctc

About these ads

11 phản hồi to “►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF”

  1. HUONGGIANG said

    CHAO BẠN, RẤT CẢM ƠN BẠN VỀ BÀI VIẾT, MÌNH MUỐN HỎI XIN BẠN FILE VỀ CON SỐ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THEO THÁNG(THỐNG KÊ IMF), NẾU ĐƯỢC BẠN GỬI THEO ĐỊA CHỈ EMAIL ĐƯỢC KHÔNG.
    CÁM ƠN BẠN RẤT NHIỀU,
    CHÚC BẠN MỘT NAGỲ LÀM VIỆC HIỆU QUẢ VÀ CÓ NHIỀU BÀI VIẾT CHIA SẺ.

    ———
    @HuongGiang: Bạn có thể vào lục trong website nầy xem có hay không.

    http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=217

  2. Vunguyen said

    Chao ban,
    Cam on ban ve bang du lieu lam phat. Cho minh hoi dia chi web ban lay duoc du lieu cua IMF de minh trich nguon cua no voi.
    Vunguyen

    Trả lời:
    1 Nhấp chuột vào “View More Indicators for VIETNAM” ở cuối bài.
    Sẽ xuất hiện “http://www.tradingeconomics.com/vietnam/indicators”

    2 Nhìn xuống gần cuối bài có chữ :Vietnam inflation rate, Nhấp chuột vào View Chart.

    Sẽ hiện ra mức lạm phát từng tháng của năm 2011
    Muốn tìm năm 1993-1995, bạn coi trên biểu đồ có chữ:
    Date Selection, bạn thay đổi con số 2008 thành 1980 và 1985 thành 1986…và thay đổi tháng…sẽ thấy câu trả lời mà bạn hỏi.

    Website đó chỉ cho biết một số năm gần đây, nếu muốn biết các năm 1978, phải đăng ký và nó cho xài thử 30 ngày,…

    Hoặc, nếu cần biết các năm 1978…, bạn vào website của tiến sĩ Lê Hồng Giang và nhờ anh ấy lục giúp. http://kinhtetaichinh.blogspot.com/
    Chúc may mắn. (HT204)

  3. Y Toi Hmok said

    chào bạn ! bạn có chỉ số thống kê các khoản tài trợ của IMF cho việt nam tư khi gia nhập không?

    Trả lời:

    1./ Trả lời:
    *kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã tiếp nhận khoảng 64 tỷ đôla vốn ODA từ cộng đồng quốc tế, trong đó Ngân hàng Thế giới đóng góp tới hơn 20% với 117 chương trình và dự án tập trung vào các lĩnh vực chủ chốt như tư vấn chính sách và thể chế trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường; phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội; xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe người dân, bảo vệ môi trường và đối phó với biến đổi khí hậu.
    nguồn:

    http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/world-bank-pledges-continuous-support-to-vietnams-socio-economic-development-11-4-11-133230378.html

    *Bạn xem ở đây coi có không. (Từ Trang 22-30)

    http://www.imf.org/external/pubs/ft/scr/2009/cr09110.pdf

    2./ Bạn xem ở đây coi có không. (Từ Trang 22-30)

    http://www.imf.org/external/pubs/ft/scr/2009/cr09110.pdf

  4. smile58 said

    bạn ơi , bạn có link nào tổng hợp về các hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam không?
    mình đang rất cần. mình cám ơn nhiều lắm.

  5. [...] Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  6. [...] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  7. [...] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  8. [...] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  9. [...] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  10. [...] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF [...]

  11. […] ►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: