Trần Hoàng Blog

►Nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc

Posted by hoangtran204 on 30/10/2010

 

THỨ SÁU 08 THÁNG MƯỜI MỘT 2013

M.Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật

Căn nhà của bà Marguerite Duras tại Sa Đéc AFP /C. Boisvieux

Hè 03 tháng Sáu năm 1929, trên chuyến phà băng qua một nhánh sông Mêkông để đi về Sài Gòn, một nữ sinh trung học người Pháp tình cờ làm quen với một chàng công tử người Việt gốc Hoa, sống tại Sa Đéc. Người sau đó đã trở thành tình nhân của cô.

Mối quan hệ tình cảm này đã ghi lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn thiếu nữ và sau này trở thành nguồn cảm hứng cho ba tác phẩm văn học, làm nên tên tuổi nữ sĩ Pháp Marguerite Duras. Trong đó, tác phẩm “L’amant” (Người tình) đã đoạt giải Goncourt năm 1984, giải thưởng văn học danh giá của Pháp. Tác phẩm được đạo diễn Jean-Jacques Annaud chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1990.

Trong loạt bài mùa hè có tiêu đề « Những nhà văn Viễn Đông » của nhật báo Le Monde số ra trung tuần tháng Tám này, Bruno Philips, tác giả bài viết « ‘Marguerite Duras ở Sa Đéc’ : Những mối quan hệ nguy hiểm » đã có dịp quay lại vùng đất Nam Bộ năm xưa, tìm kiếm những vết tích còn đọng lại như để hiểu rõ thực tại trong toàn bộ không gian hư ảo của Duras. Cái « thực tại » mà Duras suốt cả cuộc đời mình luôn tìm cách chối bỏ. Và cả nghiền ngẫm nữa.

« Tôi phải nói gì với bạn đây, khi ấy tôi mười lăm tuổi rưỡi. Đó là chuyến phà băng qua sông Mêkông », câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm. Chính trên chuyến phà đó, mọi chuyện đã bắt đầu.

Con phà năm xưa giờ không còn nữa. Thấp thoáng xa xa là hình bóng cây cầu hiện đại, được khánh thành vào năm 2000, bắc qua một nhánh sông Mêkông mà người dân bản xứ gọi là « Cửu Long » tức chín con rồng. Dấu ấn còn lại của con phà năm xưa giờ chỉ là chiếc cầu kè bê-tông vẫn còn nằm trơ ra phía sông. Tuy cảnh vật có thay đổi chút với thời gian, nhưng không gian của Duras như vẫn còn đọng lại đó : cũng dòng sông nặng trĩu phù sa, cuồn cuộn chảy xiết, lu mờ dưới làn mưa không ngớt.

Đông Dương: điểm xuất phát cho sự nghiệp của Marguerite Duras

Phông cảnh nền đó đã được Jean-Jacques Anneaud tái hiện một cách trung thành trong bộ phim cùng tên, chuyển thể từ tác phẩm « Người tình » của Marguerite Duras. Người xem tại Việt Nam chắc cũng không khỏi ngỡ ngàng trước ống kính tài tình của đạo diễn, đưa một góc sông nước Hậu Giang hiện đại ngày nay trở lại với không gian Đông Dương những thập niên 20 của thế kỷ trước: một miền đất đậm chất Nam Bộ mộc mạc, giản dị của một thời còn là thuộc địa.

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=NNNQ4ztrEoI

Đây cũng chính là điểm xuất phát cho sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Pháp Duras. Vùng đất Nam Bộ đó như là một phần xương thịt trong con người bà. Khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên người Ý, Leopoldina Pallota della Torre, Duras thổ lộ “Đôi khi tôi cũng nghĩ rằng sự nghiệp viết lách của tôi bắt đầu từ đó, giữa những cánh đồng, những khu rừng, và trong sự hiu quạnh. Có một đứa trẻ da trắng, gầy còm và lạc lõng mà người đó chính là tôi, giống người Việt hơn là Pháp, lúc nào cũng chân đất, không biết giờ giấc, không biết cách sống, thích ngắm chiều hoàng hôn trải dài trên sông, với khuôn mặt bị rám nắng”.

Trở lại với chuyến phà nối đôi bờ một nhánh sông Mêkông, nơi diễn ra buổi đầu gặp gỡ của đôi tình nhân. Có thể nói buổi gặp định mệnh đó chính là cột mốc quan trọng cho cả cuộc đời nữ sĩ. Nó ám ảnh, đeo đuổi dai dẳng trong tâm hồn Duras, đến nỗi mà trong vòng bốn thập niên liên tiếp bà có đến những ba phiên bản khác nhau cho cuộc phiêu lưu tình cảm đó: Un barrage contre le Pacifique (tạm dịch là Đập chắn Thái Bình Dương – 1950), L’Amant (Người tình – 1984, giải Goncourt cùng năm), cho đến L’Amant de la Chine du Nord (Người tình Hoa Bắc – 1991).

Nhân vật nam chính trên chuyến phà được bà tái hiện dưới ba nhân dạng khác nhau : Ông « Jo » da trắng trong tác phẩm đầu cho đến « công tử người Hoa », tình nhân không tên trong tác phẩm “Người tình”. Riêng đến tác phẩm thứ ba “Người tình Hoa Bắc”, nhân vật huyền thoại lại được phác họa dưới một góc cạnh rất là điện ảnh. Cũng chính là anh chàng đó, nhưng lại điển trai hơn và cao to hơn so với nhân vật chính trong L’Amant : một kẻ nghiện ngập, nhu nhược và biếng nhác. Và đây cũng chính là con người thật ở ngoài đời.

Theo nhà báo Laure Adler, người viết tiểu sử Marguerite Duras, nhân vật “công tử người Hoa” ngoài đời thật sự ra không mấy điển trai như nhân vật Léo trong tác phẩm thứ ba hay như trên phim. Anh ta thật sự rất giàu và rất lịch lãm, nhưng gương mặt xấu xí, bị hủy hoại vì căn bệnh đậu mùa. Thực tế này quả thật quá khác xa với những gì độc giả tưởng tượng, hay chí ít ra như những gì ta đã xem qua trong phim của Jean Jacques Annaud: một anh chàng cao to, gương mặt điển trai, lịch lãm với những cảnh ái ân nồng cháy, khát vọng nhục dục lồng trong một không gian lãng mạn đầy huyễn hoặc. Đây cũng chính là điểm bất đồng giữa nữ sĩ với đạo diễn. Annaud thì nghĩ đến việc khai thác câu chuyện tình giữa một cô gái Pháp mới lớn đầy khêu gợi với người tình gốc Hoa điển trai, trên một phông nền thuộc địa lãng mạn.

Marguerites Duras : “Người tình”, tiểu thuyết ba xu rẻ tiền !

Nhưng đối với Marguerite Duras, cả « Người tình » lẫn hai tác phẩm còn lại là những quyển tự truyện về chính cuộc đời bà, về tuổi thơ và tuổi trẻ của bà tại cựu thuộc địa Đông Dương, nơi bà được sinh ra và lớn lên, dù rằng cho đến lúc gần cuối đời bà cũng không bao giờ chịu nhìn nhận. Bà nhắc đi nhắc lại là « Người tình » chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Cuộc phiêu lưu tình ái đó không bao giờ tồn tại. Sự phủ nhận của nữ sĩ mãnh liệt đến mức bà chối bỏ cả tuyệt tác của mình một năm sau khi xuất bản. Duras nói rằng: “ Người tình, chỉ là một quyển tiểu thuyết ba xu, rẻ tiền. Tôi viết nó trong một lúc say xỉn mà thôi”. Bởi vì Duras nghĩ rằng “chuyện đời bà chẳng có gì đáng để mà kể”.

Chính vì vậy, trong suốt tác phẩm « Người tình », các nhân vật chính là những kẻ vô danh, không tên gọi, được hiện ra dưới những cách gọi « cô gái » và « công tử người Hoa ». Trên chuyến phà ngày ấy, đưa « cô bé » đi về Sài Gòn, còn có « anh chàng người Hoa ». « Cô bé » đó không ai khác chính là nữ sĩ, khi ấy cũng vừa được 15 tuổi. Còn « chàng công tử người Hoa », ngoài đời tên thật là Huỳnh Thủy Lê, lúc ấy được 27 tuổi, là con trai của một điền chủ gốc Hoa sống tại Sa Đéc. Vào thời điểm đó, Marguerite Duras vừa đi thăm mẹ ở Sa Đéc về.

Ta không khỏi tự hỏi vì sao Marguerite Duras lại có những thái độ tiêu cực đối với đứa con đẻ tinh thần của mình đến như vậy. Bà đã mất tổng cộng bốn thập niên để mà thêu dệt nên ba tuyệt tác, trong đó tác phẩm « Người tình » đã đoạt giải Goncourt năm 1984, một giải thưởng văn học cao quý của Pháp, đưa tên tuổi của bà ra toàn thế giới. Tác phẩm « Người tình » đã được dịch ra 35 thứ tiếng và hơn 2,5 triệu bản đã được bán chạy.

Marguerite Duras: hiện thân của sự nổi loạn

Theo Bruno Philips, có lẽ chính vì tuổi thơ buồn tủi, đầy khó khăn, cô độc và thiếu vắng tình thương của gia đình đã dẫn nữ sĩ có những hành động « chối bỏ » kỳ quặc như thế. Sinh ngày 04/04/1914, tại Gia Định (tên cũ của Sài Gòn), Marguerite Donnadieu, tên thật của nữ sĩ, là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có ba anh em. Thế nhưng, nữ sĩ lại sớm chịu cảnh mồ côi cha khi vừa được bốn tuổi. Mẹ bà một giáo viên tiểu học, trải qua nhiều nhiệm sở Hà Nội, Phnom Penh, Vĩnh Long rồi sau này là hiệu trưởng một trường nữ sinh tại Sa Đéc (giờ là trường Trưng Vương). Tuổi thơ của nữ sĩ hầu như trải qua tại Đông Dương, nhưng giữa sự hung bạo của người anh cả, sự lạnh lùng và những cơn điên loạn của bà mẹ bởi nỗi ám ảnh thiếu thốn tiền nong.

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=apdgsxdlZhw

Chính vì vậy, Duras cũng có lần nhìn nhận rằng lúc ban đầu khi bà đến với “chàng công tử” triệu phú người Hoa đó cũng chỉ vì tiền. Trong tác phẩm “Người tình”, Duras có nói rằng bà không bao giờ kể cho mẹ bà biết mối quan hệ vụng trộm này. Nữ sĩ nhận thức được rằng, đấy sẽ là một điều sỉ nhục cho gia đình, cho mẹ bà. Nhưng với bản năng của người mẹ, nên có lẽ mẫu thân nữ sĩ cũng có những nghi ngờ.

Đôi lúc bà vừa đánh đập cô con gái vừa gào thét « con gái bà là một con điếm, bà sẽ vứt cô ra ngoài, bà ước gì thấy cô chết bờ chết bụi và không ai muốn thấy cô nữa, cô ấy đã bị ô uế thanh danh, thà làm con chó còn hơn ». Trên thực tế, chưa bao giờ Duras được hưởng chút tình thương yêu của mẹ. Mọi tình thương và kỳ vọng mẹ bà đều dành trọn cho người anh cả, một kẻ hư hỏng, thô bạo, bê tha cờ bạc rượu chè, nghiện ngập, suốt ngày chỉ biết hành hung hai đứa em của mình.

Marguerite Duras : viết sách là để giải bày những điều thầm kín

Cuộc đời của Marguerite hầu như tan vỡ, sống không chủ đích. Cuộc phiêu lưu tình ái đó cũng phản ảnh phần nào tâm trạng nổi loạn của bà như để bù đắp lại khoảng trống tình thương trong tâm hồn. Tuy nhiên, cho dù cuộc tình đó nó có thật hay không, điều đó đối với nữ sĩ cũng không có chút tầm quan trọng nào. Nó chỉ là một công cụ để Duras có dịp khuất lấp sự thiếu thốn về tinh thần và vật chất.

Ngay từ đầu tiểu thuyết « Người tình », Duras đã viết rằng : « Sử dụng chuyện viết lách không chỉ nhằm tái hiện sự việc dưới dạng huyền thoại mà còn là cách để tiếp cận với nhiều điều khác nữa, vẫn còn ẩn náu trong sâu thẳm tâm hồn mù quáng […] ». Đúng như là lời giải thích của nhà văn Laure Adler, người viết tiểu sử về Marguerite Duras, tham vọng của tác phẩm thể hiện « ao ước được giải bày hơn là để mà tự kể về mình ».

Về phần nhân vật « người tình », các nhân chứng hiếm hoi mà Bruno Philips, phóng viên báo Le Monde may mắn gặp được tại Sa Đéc cho biết sau khi chia tay với người bạn tình Pháp, Huỳnh Thủy Lê phải nghe lời cha lấy một cô gái rất xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có khác tại Tiền Giang, nhằm cứu rỗi kinh tế gia đình do làm ăn thất bại. “Người tình gốc Hoa” của bà sau khi đám cưới còn sống chung lén lút với người em vợ.

Sau thống nhất, Huỳnh Thủy Lê đã cùng gia đình di tản sang Mỹ. Vốn là người rất trọng truyền thống, trước khi mất ông có tâm nguyện muốn được chôn cất tại quê nhà Sa Đéc. Một người cháu của Huỳnh Thủy Lê buồn tủi cho tác giả Bruno Philips biết, các hậu thế trực tiếp của Huỳnh Thủy Lê hiện đều có cuộc sống giàu sang đây đó tại Mỹ hay Pháp, nhưng để ông mồ côi mả quạnh tại Sa Đéc, do vài đứa cháu nghèo khổ còn sót lại trông coi.

nguồn: viet.rfi.fr

Mời các bạn ghé qua trang dưới đây có nhiều bài rất hay  http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/

 

———————————-

Nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc

Ghé thăm ngôi nhà “Người tình”

Nguồn

SGTT.VN – Tôi có dịp trở lại ngôi nhà của ông Huỳnh Thuỷ Lê lần thứ hai. Lần đầu chỉ được phép nhìn từ ngoài cổng bởi khi ấy nhà được chính quyền địa phương sử dụng làm trụ sở công an, lần này thì được vào trong xem kỹ từng chi tiết khắp nơi với sự giới thiệu tận tình của cô hướng dẫn viên du lịch sau khi mua tấm vé tham quan.

Bên trong nhà trang trí bao lam chạm khắc rất đẹp

Việc bán vé cho công chúng tham quan ngôi nhà cổ, theo tôi là hoàn toàn hợp lý. Tôi đã từng đặt ra vấn đề này và chia sẻ với những chủ nhân của các ngôi nhà cổ mà tôi ghé thăm. Thế nhưng hầu hết chủ nhân của những công trình nghệ thuật kiến trúc ấy đều e dè, liệu thu được bao nhiêu, lại mất công tiếp khách, kể lể những câu chuyện về ngôi nhà của cha ông mình. Ở nhiều nước hay ngay tại Mỹ, du khách muốn chiêm ngưỡng các công trình di sản kiến trúc cổ dù do tư nhân làm chủ hoặc nhà nước quản lý đều phải mua vé vào xem. Cách tổ chức và liên kết với các ngành chức năng như thế nào để phát huy giá trị công trình là một vấn đề cần nghiên cứu thêm. Gần đây, nhà cổ Bình Thuỷ ở Cần Thơ có bán vé cho du khách vào tham quan, xem ra cách làm này nên nhân rộng đối với các công trình được công nhận và xếp hạng kiến trúc nghệ thuật trong nước.

Thế nhưng nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê được nhiều du khách trong và ngoài nước đến xem không phải chỉ vì đó là di sản kiến trúc nghệ thuật của thành phố Sa Đéc, mà bởi sự nổi tiếng của nhân vật Huỳnh Thuỷ Lê được tái hiện qua bộ phim Người tình. Dưới các cảnh quay mượn bối cảnh ngôi nhà cổ Bình Thuỷ tuyệt đẹp trên những thước phim đã khiến du khách bốn phương tò mò muốn tìm hiểu về ngôi nhà người tình thật sự của nữ văn sĩ nổi tiếng người Pháp Marguerite Duras.

Năm người con ông Huỳnh Thủy Lê ngày còn bé, giờ hiện sống ở nước ngoài.

Ngôi nhà Huỳnh Thuỷ Lê có kiến trúc kiểu Hoa pha trộn đường nét trang trí kiểu Tây toát lên một vẻ đẹp lạ so với các ngôi nhà truyền thống Việt lai Tây ở miền Nam. Diện tích nhà không lớn, chia làm ba gian, phần ngoài thờ tự và tiếp khách, phần sau có hai phòng ngủ hai bên tạo một hành lang rộng dẫn xuống nhà dưới đã được xây lại. Việc xây dựng một vài công trình phụ bị thay đổi. Tóm lại chỉ còn ngôi nhà chính. Bên trong nhà, một vài vật liệu nội thất như gạch bông, kính màu được nhập từ Pháp, trần laphông gian giữa trang trí rồng, dơi. Gian giữa đặt một khám thờ Quan Công rất lớn (vị thần độ mạng của nam giới) như hầu hết các nhà người Việt gốc Hoa. Các bộ bao lam chạm trổ khá đẹp, sơn thâm thếp vàng tạo nên một không gian nội thất có màu sắc sinh động và nhờ ánh sáng từ cửa sổ hai bên, cửa trước, sau làm ngôi nhà sáng sủa hơn. Một số đồ nội thất hiện nay tuy không thuộc nguyên gốc của ngôi nhà nhưng được trang bị bổ sung như thế cũng đã là một sự đổi mới trong việc nhận ra giá trị của một công trình văn hoá kiến trúc vốn trước đây chưa được quan tâm đúng mức. Nghe đâu bà Huỳnh Thuỷ Tiên (con gái lớn của ông Huỳnh Thuỷ Lê) từ Mỹ về có ghé thăm và cho biết từng vật dụng nào được sắp đặt ở đâu trong ngôi nhà của cha ông mình tạo lập.

Tuy nằm trong một khuôn viên rộng rãi có sân trước và sau, nhưng nhà thiếu đi mảng xanh chung quanh vốn có ở miền sông nước Nam bộ. Sân trước ngay cổng vào chỉ còn kỷ niệm một cây sứ đại già cỗi, vài chậu kiểng dưới bậc tam cấp không đủ tạo nét duyên cho ngôi nhà. Hơn nữa vách tường của hai căn nhà cạnh bên chèn lên làm hẹp không gian hai bên hông. Cần có một giải pháp làm xanh chung quanh ngôi nhà để giảm thiểu tối đa những khuyết điểm và tăng tính thẩm mỹ cảnh quan. Việc bảo tồn không chỉ dành riêng cho bên trong bất kỳ ngôi nhà cổ nào mà cũng cần bảo tồn ngoại cảnh hoặc phục dựng thêm cảnh trí chung quanh, thậm chí tôn tạo cảnh quan gần khu vực, để nâng cao giá trị di tích kiến trúc.

Đứng trước cổng nhìn ra bến sông trước mặt, tôi mường tượng lại cảnh cũ người xưa. Lòng thấy vui khi nhận ra cảnh cũ, chợ xưa, nhà cổ còn đó. Đó chẳng phải là cái may mắn cho các thế hệ ngày nay có dịp đến xem, tìm hiểu nét đẹp trong nghệ thuật kiến trúc và trang trí nội thất trong các công trình cổ hiếm hoi còn tồn tại.

Phòng ngủ được bố trí hai bên phía sau, trang trí hoa văn dành cho các cô con gái.
Mặt tiền ngôi nhà Huỳnh Thuỷ Lê thiếu cây xanh và bị vách nhà hai bên áp sát
Kính màu nổi bật khi nhìn từ bên trong phòng ngủ. Hoa văn trang trí chạm nổi ở các ô hộc.
Rồng tạo tác từ thiếc sơn màu trang trí trên laphông trần

bài và ảnh: Ngô Kế Tựu

************************************************************************

Theo lời yêu cầu của một người tên là ngngoctran, nhận là tác giả của bài báo  Theo Dấu Người Tình (bạn đọc xem comment ơ phía dưới), bài này đã được gỡ bỏ bài và hình có cờ quạt vào ngày 26-3-2012. Mong bạn đọc thông cảm. Lời phê bình dưới đây là dành cho bài báo và 2 tấm hình trong bài ấy.

*Về lá cờ treo không đúng nơi ở một khu vực lịch sử.  Sự hiện diện của lá cờ treo ngay cổng ngôi nhà cổ có ý nghĩa cao quý hay nhằm để tôn vinh cái gì thì chưa biết, nhưng chắc chắn làm mất hết cảnh quan và phá vở kiến trúc hài hòa của ngôi nhà và làm nãn lòng du khách. Căn nhà cổ là một bất động sản của tư nhân, sự hiện diện của lá cờ cho biết là nhà nước đã chiếm hữu ngôi nhà này một cách bất hợp pháp. Thêm vào đó, hai căn nhà hai bên xây ép căn nhà cổ vào chính giữa đã làm giảm đi giá trị cảnh quan của khu du lịch này rất nhiều. Sự hiện diện của hai căn nhà hai bên tòa nhà cổ (theo nhiều bài báo khác cho biết là khu nhà này ngày xưa là biệt thự kiểu Pháp, và hai bên có đất rất rộng) đã phản ảnh sự chiếm đất đai một cách bất hợp pháp, sự chiếm đoạt này chắc chắn phải có bàn tay của chính quyền đã diễn ra sau 1975. (TH)

*Để thay cho 2 tấm hình có cờ quạt đã bị tác giả  bài báo”theo dấu Người Tình” (xem dưới phần comment) yêu cầu rút khỏi bài báo này và đáng ngac nhiên là tác giả cũng tự kiểm duyệt và rút 2 hình này khỏi mạng internet. Mời các bạn xem video dưới đây sẽ thấy lời phê bình “Về lá cờ treo không đúng nơi ở một khu vực lịch sử” có chính xác hay không…và phim này cho thấy vẫn còn có rất nhiều nhà cổ ở Sa Đéc.

—————————–

Kiến trúc cổ vùng đất phù sa mới

Đánh mất dần những báu vật

Thứ Hai, 25.10.2010 | 08:57 (GMT + 7)

Nếu cụ Nguyễn Du sống lại, ắt hẳn cụ cũng lại phải thốt lên trước cảnh người ta cư xử với những công trình kiến trúc cổ được xây dựng cùng thế kỷ với cụ trên đất đồng bằng. Do nghèo, do nhận thức, hay gì gì nữa mà người đồng bằng đang đánh mất dần những báu vật của tiền nhân để lại!

Đồng bằng Nam Bộ là vùng đất mới được bồi đắp bởi phù sa sông Cửu Long, nên được gọi là đất “phù sa mới”. Lịch sử khai phá vùng đất này mới chỉ trên dưới 300 năm. Hơn 100 năm đầu tổ tiên người đồng bằng phải tập trung khai phá rừng hoang thành ruộng đất, rồi lập làng, lập ấp, chưa xây dựng nổi những công trình bề thế, vì vậy mà những kiến trúc xưa nhất được ghi nhận ở đây cũng chỉ có tuổi 160 – 170 năm. Nền đất phù sa mới không vững chắc, khí hậu nơi đây lại ẩm thấp, rồi chiến tranh tàn phá… là những nguyên nhân làm cho các kiến trúc cổ ở đồng bằng còn rất ít. Xót xa hơn, khi chính bàn tay con người đang góp phần xoá dần những di tích lịch sử văn hóa còn sót lại nơi đây!   

Bài 1: Những điều trông thấy

Nỗi lòng một nhà văn

Long An là tỉnh thuộc loại nghèo kiến trúc cổ nhất đồng bằng, những công trình có tuổi trên dưới 100 chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cách đây 25 năm, khi về định cư ở Tân An, tôi rất thích ngôi nhà cổ “dinh Tổng Thận” nằm ngay trung tâm thị xã. Ngôi nhà bề thế này nổi tiếng không chỉ vì “cổ” và rất đẹp, mà còn do là di tích LSVH – nơi đặt cơ quan đầu não tỉnh Long An trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Thỉnh thoảng tôi đến thăm bạn là nhà văn Mặc Tuyền đang sống tập thể nơi đây. Anh rất tự hào vì được sống (dù sống tập thể) trong ngôi nhà “có giá trị” nhất tỉnh Long An.

Dinh tỉnh Gò Công hiện đang dùng để nuôi chim yến.
Dinh tỉnh Gò Công hiện đang dùng để nuôi chim yến.

Ban đầu ngôi nhà cổ dinh Tổng Thận còn khá nguyên vẹn. Rồi những viên gạch bong ra, những tấm ngói bị bể, cửa sổ bị gãy bản lề… Rồi nhà bị dột nát, kết cấu gỗ bị mục gãy, anh bạn nhà văn phải dọn đi sống nơi khác. Mới đây, anh Mặc Tuyền đã thẫn thờ suốt mấy ngày khi chứng kiến cảnh người ta san bằng tòa nhà 117 năm tuổi để xây lại tòa nhà mới (theo mẫu cũ). Cách dinh Tổng Thận hơn trăm mét là một kiến trúc cổ khác – dinh tỉnh thời Pháp. Công trình này đã được trùng tu bằng cách xây đắp thêm cho thật giống với kiến trúc hiện đại, dùng làm trụ sở UBND tỉnh.

Cách đây 15 năm, cũng nhà văn Mặc Tuyền đã cộng tác với đạo diễn Lê Văn Duy làm bộ phim nhiều tập Nàng Hương, các anh đã chọn “xóm nhà giàu” (ấp Thanh Phú, xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành) làm cảnh quay chính, vì ở đó có những ngôi nhà cổ bề thế đúng “gu” các anh. Mới đây, khi trở lại thăm “chiến trường xưa”, anh Mặc Tuyền đã sững sờ khi chứng kiến cảnh đổ nát của các ngôi nhà cổ, thậm chí có ngôi không còn ai dám vào vì có thể sập bất cứ lúc nào.

Dinh Tổng Thận trước khi bị đập bỏ.
Dinh Tổng Thận trước khi bị đập bỏ.

Để hạn chế sự tàn phá của nắng mưa, ngành chức năng tỉnh Long An đã cho che mái tôn trùm lên ngôi nhà. Có thể chẳng bao lâu nữa các ngôi nhà này cũng chịu chung số phận với dinh Tổng Thận. Cũng tại Long An, người ta đã “nhẹ nhàng” tháo dỡ bán sắt vụn 2 cây cầu sắt do Hãng Eiffel xây dựng năm 1886 cho xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho chạy qua sông, mặc dù trước đó không lâu xe các loại vẫn có thể qua cầu. Một di tích khác có số tuổi trăm cũng đang “hấp hối” là đồn Rạch Cát, công trình phòng thủ bên sông Soài Rạp từng hiện đại nhất Đông Dương vào đầu thế kỷ trước.

Thôi rồi phố cổ Gò Công!

Tiền Giang là tỉnh còn nhiều kiến trúc cổ nhất đồng bằng. Vào năm 2002, Tổ chức JICA (Bảo tồn văn hóa và y tế) Nhật Bản đã khảo sát và ghi nhận còn 350 ngôi nhà cổ ở Tiền Giang, trong đó gần 2/3 ở thị xã Gò Công. Do là “gò” (vùng đất cao), cách không xa biển, nên Gò Công được các lưu dân miền Trung vào Nam khẩn hoang dừng chân khá sớm. Thị xã Gò Công ngày nay từng có tên “làng Thành Phố” cách đây khoảng 2 thế kỷ. Từ năm 1862, làng Thành Phố trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Gò Công. Nhờ đó mà các công trình kiến trúc cổ được xây dựng dày đặc nơi đây. Thế nhưng, hầu hết nhà cổ ở Gò Công đều xuống cấp nặng và đang biến mất với tốc độ chóng mặt.

Tôi đã đứng thẫn thờ rất lâu trước “dinh tỉnh Gò Công”, một kiến trúc cổ thuộc loại đồ sộ nhất đồng bằng, đang “thoi thóp”. Nhìn tòa nhà hơn 110 năm tuổi đầy thương tích, tôi liên tưởng tới “dinh Tổng Thận” ở TP.Tân An, nó cũng từng mang hình hài như vậy trước khi bị phá bỏ.

Dẫu biết phải tốn cả đống tiền để trùng tu công trình đồ sộ này, nhưng chẳng lẽ đành bó tay đứng nhìn tòa nhà rệu rã. Cách “dinh tỉnh” vài trăm mét, tại giao lộ Hai Bà Trưng – Nguyễn Trãi là 2 ngôi nhà cổ thuộc loại lớn ở Gò Công, một sắp sụp đổ, còn một xuống cấp nặng. Cổ nhất ở Gò Công là ngôi nhà số 113 đường Nguyễn Huệ, được xây dựng năm 1852 và nó cũng đang “kêu cứu”. Cách đó không xa, nhà của ông Bùi Doãn Cung xây dựng năm 1895 có diện tích 300m2 cũng đang dột nát! Theo một cán bộ bảo tàng ở Gò Công, chỉ cách đây 10 năm trên nhiều tuyến đường trung tâm thị xã như Phan Bội Châu, Lý Tự Trọng còn rất nhiều nhà cổ. Bây giờ chỉ còn vài căn đã bị cắt xén 2 bên. Ý tưởng về một khu phố cổ ở trung tâm thị xã Gò Công coi như đã mất!

Cũng tại xứ Gò Công xưa (xã Đồng Thạnh – huyện Gò Công Tây), ba ngôi nhà lầu được xây dựng cách đây gần 100 năm cũng đang kêu cứu. Chủ nhân của những tòa nhà này đều là phụ nữ: Lầu bà Chín Đào, lầu bà Tám Huê và lầu bà Năm. Nơi đây từng là vùng đất giàu có, là quê hương của Nam Phương Hoàng hậu, những ngôi lầu cổ còn sót lại là chứng tích của một thời hoàng kim… Thế nhưng, những “cổ lâu” này đang bị sử dụng làm cơ quan, không được đối xử như di tích, để mặc nó xuống cấp.

Và phiên bản dinh Tổng Thận mới xây.
Và phiên bản dinh Tổng Thận mới xây.

Đệ nhất cổ lâu

Cũng nhà văn Mặc Tuyền đã khuyên tôi nên thu xếp đi về xã Đại Điền – huyện Thạnh Phú (Bến Tre) để thăm ngôi nhà cổ từng được mệnh danh “đệ nhất cổ lâu” ở đồng bằng, kẻo sau này phải tiếc vì không được 1 lần ngắm nhìn nó. Ngôi nhà được cất cách đây trên 110 năm, hình chữ nhật chu vi trên 100 mét. Hiện phần còn nguyên vẹn nhất là nền nhà cao 1 mét được viền bọc bởi những thớt đá xanh dài 3 mét gắn kết với nhau.

Sau bao năm chống chọi nắng mưa, ngôi nhà “đệ nhất cổ lâu” đang rệu rã! Muốn có tiền tỉ trùng tu ngôi nhà, trước hết nó phải được công nhận là di tích LSVH cấp quốc gia. Thế nhưng, từ năm 2002 tới nay mà hồ sơ đề nghị công nhận di tích vẫn chưa làm xong. Nguyên nhân: Chưa có sự đồng thuận trong dòng tộc chủ ngôi nhà; cần nhiều thời gian để vẽ chi tiết, nội thất ngôi nhà, làm hồ sơ… Trong 8 năm ấy, để bảo vệ ngôi nhà, Bảo tàng Bến Tre cho người đến xịt thuốc chống mối mọt. Số phận của ngôi “đệ nhất cổ lâu” này chưa biết sẽ ra sao.

Du khách trước dấu tích bộ phim “Người tình”.
Du khách trước dấu tích bộ phim “Người tình”.

Cũng liên quan tới chuyện không có sự đồng thuận của gia đình, có một chuyện buồn khác ở Tiền Giang. Ngôi nhà cổ ở xã Vĩnh Kim – huyện Châu Thành (của ông Trần Đình Túy – ông ngoại vợ Bác Tôn) được công nhận di tích LSVH cấp tỉnh do ghi dấu những sự kiện: Nơi Bác Tôn gái (cô giáo Đoàn Thị Giàu) trú ngụ thời trẻ; nơi tổ chức đám cưới Bác Tôn; nơi Bác Tôn hoạt động cách mạng giai đoạn 1921 – 1928;… Đặc biệt, ngôi nhà này còn là nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc dừng chân cùng ông Trần Đình Túy bàn quốc sự. Vào năm 1986, ngôi nhà 5 gian này còn khá nguyên vẹn. Thế nhưng, sau đó nó dần bị hư mục, chủ nhà phải dỡ bỏ bớt 2 gian và hiện đang trong tình trạng xuống cấp nặng. Mái ngói âm dương đã bị bể nhiều, mưa dột nhiều nơi; một số cột gỗ dầu bị mục… Ngôi nhà hiện do người cháu đời thứ tư của ông Trần Đình Túy làm chủ.

Theo Sở VHTTDL Tiền Giang, cơ quan này đã gợi ý hỗ trợ tiền sửa chữa nhà 50 triệu đồng nếu gia đình tiếp tục ở trong ngôi nhà hoặc hỗ trợ toàn bộ kinh phí trùng tu nếu gia đình giao hoặc bán ngôi nhà cho Nhà nước. Nhưng chủ nhà không đồng ý. Vậy là ngôi nhà cổ cũng là di tích LSVH ấy cứ tiếp tục điêu tàn trước những toan tính.    

Kỳ Quan

nguồn báo Lao động

——————————-

Kiến trúc cổ vùng đất phù sa mới:

Theo dấu “Người tình”

Thứ Ba, 26.10.2010 | 07:21 (GMT + 7)

Để viết bài phóng sự này, tôi không thể không đến một nơi, đó là ngôi nhà cổ Bình Thủy (quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ) của tộc họ Dương. Ngôi nhà được xây năm 1870, hiện là kiến trúc cổ bề thế còn nguyên vẹn nhất đồng bằng.

  Đánh mất dần những báu vật

Ngôi nhà này càng “nổi như cồn” khi được chọn làm cảnh quay chính cho bộ phim nổi tiếng “Người tình” (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nữ văn sĩ Marguerite Duras). Tại đây, tôi đã lờ mờ nhìn thấy lời giải cho câu hỏi: Làm sao cứu các kiến trúc cổ đồng bằng?

Báu vật chưa được khai thác

Ngôi nhà cổ đồ sộ Bình Thủy có lối kiến trúc pha trộn Đông – Tây vẫn còn khá nguyên vẹn và giữ nguyên hầu hết vật liệu, đồ đạc nguyên thủy, như: Gạch bông hoa hồng đỏ đen từ Pháp chuyển sang; bàn ghế từ Vân Nam – Trung Quốc… Ngôi nhà từng là bối cảnh cho hàng chục bộ phim nổi tiếng như “Những nẻo đường phù sa”, ”Người đẹp Tây Đô”, “Công tử Bạc Liêu”… Năm 1991, đạo diễn người Pháp JJ.Annaud từng ở trong ngôi nhà suốt một tuần để quay phim “Người tình”. Năm 2009, ngôi nhà được công nhận là di tích lịch sử văn hóa (LSVH) quốc gia.

Trong khoảng 2 giờ lưu lại nơi đây, tôi đếm được hơn 20 khách đến tham quan, chủ yếu là khách Châu Âu. Họ ngắm nghía thật kỹ các cổ vật và dừng lại lâu bên các dấu tích của bộ phim “Người tình”. Chị Julia Sanders cùng chồng đến từ nước Pháp cho biết, những người Pháp có quan tâm tới điện ảnh và không chỉ người Pháp, ai cũng muốn đến đây để có cảm giác sống với phim “Người tình”. Thế nhưng, theo chị, TP.Cần Thơ (và cả thị xã Sa Đéc – tỉnh Đồng Tháp) đang quá phí phạm “báu vật” mà lịch sử trao tặng. Chị nói: “Ở bên chúng tôi, chỉ cần một danh nhân lịch sử từng đến đâu đó ở một thời gian, là nơi đó trở nên khá giả nhờ khai thác du lịch”.

Khách du lịch nước ngoài tại nhà cổ Ba Đức.
Khách du lịch nước ngoài tại nhà cổ Ba Đức.

Tại nhà cổ Bình Thủy, không có bất cứ hoạt động gì gọi là “dịch vụ du lịch”. Chị J.Sanders cho biết, trước khi đến đây, vợ chồng chị đã đến tham quan nhà cổ tộc họ Huỳnh ở thị xã Sa Đéc. Chủ nhân của ngôi nhà 120 năm tuổi này (ông Huỳnh Thủy Lê) là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “Người tình”. Ngôi nhà đồ sộ còn khá nguyên vẹn này (di tích LSVH cấp tỉnh) là điểm đón khách nước ngoài hàng đầu ở đồng bằng, có ngày lên đến cả ngàn người. Thế nhưng, khách đến đây thường cũng về tay không, túi tiền vẫn còn nguyên.

Chủ ngôi nhà cổ Bình Thủy đang xin cùng Cty du lịch Cần Thơ mở dịch vụ ẩm thực trong khu di tích để phục vụ du khách những món ăn cổ thế kỷ 17 – 18, nhưng chưa được chấp nhận. Không có nguồn thu, chủ nhà chỉ có thể sửa chữa những hư hỏng nhỏ, còn sửa chữa lớn thì nhờ tiền nhà nước. Cả những di tích, những giá trị VHLS đã được “gắn sao” vẫn không thể tự “sống”, mà phải tiếp tục bám vào bầu sữa nhà nước, thì chúng chỉ còn nước cứ xuống cấp và biến mất dần!

Di sản UNESCO

Vài năm trở lại đây, những người quan tâm tới kiến trúc cổ và kinh doanh du lịch ở đồng bằng bỗng dồn sự quan tâm về xã Đông Hòa Hiệp – huyện Cái Bè – Tiền Giang. Một ngôi nhà “siêu cổ” ở đây khi sắp đổ sập, bỗng được phục hồi nguyên trạng, để rồi chủ ngôi nhà đang giàu lên nhờ kinh doanh du lịch trong ngôi nhà. Tôi tìm đến ngôi nhà này gặp lúc trời mưa, khá vất vả mới chạy xe gắn máy vào đến nơi. Vậy mà, khi tôi đến đã thấy hàng chục khách nước ngoài ngồi thưởng thức các món ăn dân dã ở “nhà dưới”. Cảnh ấy gợi trong tôi cái triết lý “hữu xạ tự nhiên hương”, khi mà tận “hang cùng ngõ hẽm” này khách du lịch nước ngoài vẫn đến nườm nượp (bằng đò), trong khi nhiều điểm du lịch cặp quốc lộ, gần thành phố thì vắng tanh.

Chủ nhà – ông Trần Tuấn Kiệt – cho biết, ngôi nhà được ông tổ xây dựng năm 1838, đến năm 2000 thì rệu rã, chuẩn bị đổ sập. Bất ngờ, năm 2002 Tổ chức JICA của Nhật Bản đến thăm, họ xin được nghiên cứu, khảo sát ngôi nhà. Năm 2003, JICA nhận tài trợ trùng tu ngôi nhà với chi phí hơn 1,8 tỉ đồng. Năm 2004 họ bàn giao lại cho chủ. Anh Kiệt nói: “Họ trùng tu theo quy trình rất nghiêm ngặt, giữ lại hầu hết hiện trạng, chỉ thay thế những bộ phận hư hỏng trên 90%. Đích thân kiến trúc sư Kaneda (Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản) đã ở đây suốt 7 tháng để giám sát thi công”. JICA còn cất công làm hồ sơ để ngôi nhà được UNESCO công nhận là “di sản Châu Á – Thái Bình Dương”.

Nhà cổ “Đốc phủ Hải” (Gò Công) dùng làm nhà truyền thống.
Nhà cổ “Đốc phủ Hải” (Gò Công) dùng làm nhà truyền thống.

Bàn giao ngôi nhà đã được trùng tu, JICA cũng gợi ý chủ nhà cách thức làm du lịch để tạo ra giá trị, từ đó có điều kiện tu bổ ngôi nhà bền vững theo thời gian. Bây giờ vợ chồng anh Kiệt đã có “số má” trong làng du lịch tỉnh Tiền Giang. Anh luôn tìm tòi đầu tư những cái mới cho ngôi nhà, nhưng luôn bảo đảm nguyên tắc “như xưa”.

Cách ngôi nhà cổ “Tuấn Kiệt” chưa tới cây số là “nhà cổ Ba Đức”. Nhà được cụ Phan Văn Cương xây dựng năm 1850 hoàn toàn bằng gỗ, đến năm 1938 các vách gỗ quanh nhà được thay thế bằng tường. Ông Ba Đức – cháu đời thứ 6 của cụ Phan Văn Cương – cho biết: Căn nhà còn được nguyên vẹn như ngày nay là do gia đình ông quyết giữ lại di sản của cha ông. Ông đã sớm kinh doanh du lịch miệt vườn và đã thành công. Một người con của ông Đức học tiến sĩ ở nước ngoài đã giúp ông nhiều ý tưởng trong kinh doanh du lịch gắn với kiến trúc cổ. Hiện mỗi ngày ông đón 100 – 150 khách nước ngoài, nhiều người ngủ lại qua đêm, họ được phục vụ ăn uống như “thượng đế”. Ông Đức vừa được Tổ chức JICA đưa đi tham quan làng cổ Đường Lâm (Hà Nội) để chuẩn bị cho dự án làng cổ Đông Hòa Hiệp.

Mọi con đường đều dẫn tới du lịch

Thực ra, chuyện sử dụng kiến trúc cổ phục vụ du lịch đã được chính quyền tỉnh Bạc Liêu làm trước đó. Ngôi nhà của “công tử Bạc Liêu” từ lâu đã được làm nơi kinh doanh du lịch, nhờ đó mà tạo nên giá trị giúp tu bổ di tích này không bị xuống cấp. Nằm qua đêm trong phòng ngủ của công tử Bạc Liêu ngày nào chỉ với giá 350 ngàn đồng, tận hưởng cái cảm giác sống lùi gần 1 thế kỷ, tôi không biết phải cảm ơn ai: Công tử Bạc Liêu hay những người có ý thức gìn giữ ngôi nhà cổ này. Nhiều ngôi nhà cổ không hề “thua chị kém em” nhưng không được cư xử như vậy bởi nó đang thành công sở, nhà truyền thống… Với các nhà cổ mà người dân đang sở hữu, vấn đề nan giải hơn nhiều.

Đa số chủ nhà đều nghèo, dù tổ tiên họ từng là “ông hội, ông cả” giàu có (phải chăng vì “ai giàu ba họ”). Họ không có ý thức giữ gìn giá trị cổ và không có khả năng duy tu ngôi nhà. Đã có 1 lời giải: Kêu gọi sự trợ giúp quốc tế đầu tư trùng tu một lần, rồi giao lại cho chủ nhà, tạo điều kiện cho họ kinh doanh du lịch giúp họ có điều kiện bảo dưỡng ngôi nhà bền vững theo thời gian. Còn có kênh trợ giúp nào khác “bắt sóng” được tiếng kêu cứu của hàng trăm kiến trúc cổ đồng bằng? Thời gian không chờ đợi ai cả, thời gian càng nghiệt ngã với các công trình kiến trúc cổ trên đất phù sa mới. Đó đây đã bắt đầu xuất hiện những công trình mới xây dựng “giả cổ”, không khéo con cháu người đồng bằng sau này sẽ có “cái thú” chiêm ngưỡng đồ giả!

Kỳ Quan

Nguồn: báo Lao Động

About these ads

Một phản hồi to “►Nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc”

  1. Trân said

    Anh vui lòng gỡ bỏ bài “Theo dấu người tình” cùng ảnh kèm vì chưa được phép của tác giả là tôi.
    Cảm ơn anh.

    Reply: Dear ngngoctran, bài “Theo dấu người tình” cùng ảnh kèm của anh đã được gỡ bỏ theo lời yêu cầu.

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: