Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba, 2009

Người Trung Quốc: Những ông chủ của đám người nô lệ mới

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Ba 31, 2009

Người lao động chờ việc ở Trung Quốc
Hình ảnh những người Trung Quốc ở Bắc Kinh 2009.
Nằm chơi ở ngoài đường cho mát? Quá nghèo không có có nhà ở? Khiếu kiện đất đai?

Trong một cuộc phỏng vấn những doanh gia TQ đang làm ăn ở Phi Châu, những người nầy cho biết:

Chính phủ TQ khuyến khích những doanh gia TQ mượn tiền, mua đất đai và mỏ ở Phi Châu để khai thác. Đổi lại, họ phải bán sản phẩm ròng, nguyên vật liệu (cobalt, đồng, than…) bán lại cho các doanh nghiệp quốc doanh TQ hoặc chở về TQ bán cho các doanh nghiệp TQ. Một số khác mươn tiền mua đất đai trồng trọt và thuê người Phi Châu làm việc trong các trang trại của họ. Một doanh gia TQ cho biết, ông mượn được 1 triệu đô để mua 1000 mẫu đất ở Phi Châu và đang khai thác. (nguồn ở báo Daily Mail, sẽ được dịch và post ở blog nầy)

Daily Mail

Làm Thế Nào mà Trung Quốc

đã và đang Tạo Ra một Đế Chế

Nô Lệ Mới ở Châu Phi

By PETER HITCHENS

Last updated at 12:00 PM on 28th September 2008

Tôi nghĩ rằng chắc có lẻ tôi sẽ chết trong ít phút nữa thôi. Một đám đông vào khoảng 50 người đàn ông bị lừa dối và bị khích động mạnh đang vây quanh chiếc xe của tôi, một số người đang cố lật ngược chiếc xe, những người khác đang đập vào xe bằng những viên đá lớn, tất cả đang la hét gào lên những lời lăng mạ và nguyền rủa chúng tôi.

Họ đã bắt đầu đánh bể những cửa xe. Tôi đang nghĩ bước kế đó là họ sẽ kéo chúng tôi ra và, nhưng thôi…, chúng ta hãy đừng nghĩ về chuyện ấy nữa…

Tôi cố gắng không nhìn vào mắt của họ, nhưng họ đang trợn trừng mắt vào tôi và các bạn đồng hành của tôi với sự cuồng nộ và ghét bỏ mà trước đó tôi chưa từng nhìn thấy ở bất cứ gương mặt của người nào như thế. Những người bạn đồng hành của tôi, cô Barbara Jones và anh chàng Richard van Ryneveld đang ngồi ở các băng ghế phía sau xe thì cũng giống như tôi chẳng giúp được gì hết.

Nếu chúng tôi bước ra, chắc chắn chúng tôi sẽ bị đánh tới chết. Nếu chúng tôi ngồi yên trong xe, chắc chắn chúng tôi cũng bị đánh tới chết.

Hai người bạn đồng hành người Phi Châu của chúng tôi – một cách rất điên khùng theo quan điểm của chúng tôi – đã bước ra khỏi xe để cố giải thích với đám đông. Đối với chúng tôi, rõ ràng rằng hai anh bạn người Phi Châu đang giảng đạo về sự không dùng sự bạo động trước (mặt một đám người đang lên cơn tức giận như) một cơn gió lốc hung bạo đang tàn phá mọi vật trên đường mà nó di chuyển.[1]

Cuối cùng, sau khi những chuyện đập phá xe kéo dài vào khoảng chừng 40 giây, nhưng tôi có cảm tưởng như là 30 phút, một trong hai anh bạn Phi Châu của tôi nghĩ ra một chuyện hợp lý, anh ta chuồi ngược vào trong xe và liều mạng lùi xe lại rất nhanh xuống con đường đá đầy bụi – để lại người bạn của anh ta đàng sau với đám đông.

Nhờ ơn chúa, chúng tôi đã không bị trượt vào một con kênh dẫn nước, mà cũng không bị lật xe, hay không nổ lốp xe. Xuyên qua đám bụi mà chúng tôi đã làm ra vì quá vội vã khi chúng tôi tẩu thoát, chúng tôi đã có thể nhìn thấy những kẻ muốn sát hại chúng tôi đang chạy đuổi theo với tốc độ nhanh kinh hoàng để theo kịp chiếc xe. Nhưng chúng tôi đã vừa vặn có đủ thời gian để làm một cú quẹo rất nhanh trở về hướng xuất phát, cú quẹo nầy cho phép chúng tôi đi về phía trước và vượt đám đông một khoảng rất xa.

Thế là chúng tôi đã gần như bỏ lại một người hướng dẫn đường cho chúng tôi mà không biết vận mạng của anh ta ra sao (Điều đó là dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên để tự bào chữa cho tôi vào lúc ấy) khi ấy, đột nhiên chúng tôi nhìn thấy anh bạn người Phi Châu kia tách rời khỏi đám đông và đang chạy với sự nhanh nhẹn như ở Olympic, chạy trước những người đuổi theo bị che khuất bởi đám bụi mù.

Chúng tôi vội vã đẩy cho cánh cửa sau xe mở ra để cho anh chàng nầy có thể nhảy vào cho nhanh, động cơ nghiến ken két, và chúng tôi đã đột ngột chuyển hướng, xe nhồi lên rồi thụt xuống đau ê ẩm người trên con đường mòn đầy đá.

Chúng tôi đã lo sợ rằng sẽ có một nút chặn đường khác để ngăn chặn cuộc trốn thoát của chúng tôi, và tất cả mọi chuyện sẽ bắt đầu lại lần nữa. Nhưng đã không có (ai chận đường nữa), và sau cùng chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi đã thoát, ngay cả anh chàng người Phi Châu mà sự ngu ngốc của anh ta gần như làm cho chúng tôi bị giết (cũng đã thoát).

Anh chàng nầy nói với chúng tôi rằng cái đám đông người Phi Châu chận đường ấy muốn giêt chúng tôi chứ không muốn giết anh ta, vì nếu không thì anh ta sẽ chẳng bao giờ trốn thoát được. Chúng tôi cần phải bị giết chết. Chúng tôi không chết. Đó là một cảm giác thú vị, không phải là không vui sướng một cách hoàn toàn.

Tại sao những người Phi Châu ấy đã muốn giết chúng tôi? Lý do gì đã làm nên sự tức giận của họ? Họ đã nghĩ rằng nếu tôi tường thuật cách sống và làm việc của họ, họ có thể mất công ăn việc làm để sinh sống.

Vậy mà gọi là sinh sống ư? Đang chết dần chết mòn thì đúng hơn.

Những người nghèo, người mất hết niềm hy vọng, những người giận dữ (với chúng tôi như đã viết ở trên) sống bằng cách đào những mãnh quặng cobalt và quặng đồng trong đất bẩn bị ô nhiễm và bụi của các mỏ đồng bị bỏ hoang ở Congo.

Họ rữa những thứ mà họ tìm thấy trong các giòng nước nhiễm bệnh dịch tả chứa đầy cứt người, sau đó đẩy lên đồi những túi đồ to lớn nặng chừng 100 kg trên những chiếc xe đạp cũ kỷ để tới một thị trấn Lakasi gần đó, nơi mà những người trung gian mua lại các món ấy để bán cho những nhà doanh nghiệp mà chủ yếu là bán cho những doanh nghiệp người Trung Quốc đang cần những thứ kim loại quan trọng nầy.

Thấy họ đi chậm chạp một cách đáng thương làm tôi nhớ lại các hình ảnh của các người thợ mỏ thất nghiệp ở Anh trong những năm 1930s, đang đi chệnh choạng về nhà dưới trời mưa lất phất với những túi xách chứa những mảnh than vụn gom lại từ những đống chiến lợi phẩm đánh cắp.

Ngoại trừ rằng ở đây cái nóng quá mức làm cho việc lao động 5 lần khó khăn hơn, và điều kiện làm việc và cuộc sống ở đây thì cực kỳ gian khổ hơn bất cứ thời gian nào từng được biết ở Anh kể từ thế kỷ thứ 18 (1601-1799).

Nhiều người chết vì những mỏ có từ lâu đời sụp đổ xuống trên bọn họ, hay bị thương một cách đáng sợ mà không có hy vọng được điều trị thuốc men. Nhiều người nhỏ bé còn hơn những trẻ em. Vào một ngày gặp hên, họ có thể kiếm được 3 đô, chỉ đủ hổ trợ cho sự hiện hữu mong manh trong những khu vực nghèo nàn sốt rét và bệnh tật.

Chúng tôi đã từng có mặt trước đây ở vùng mỏ bị đào xuống sâu trông rất xấu xí nầy, vùng nầy giống như là nơi ở của một đám tội nhân bị bắt từ một nước khác đem về đây và sống trong một đế chế nô lệ thời cổ.

Những con người bị bại trận, gục đầu xuống làm việc không bao giờ dứt trong mấy chục hố đất đào sâu xuống bằng tay. Gương mặt của họ, khi nhìn thấy, thì trống không và chẳng còn niềm hy vọng.

Trước đó chúng tôi đã từng bị đuổi đi khỏi đây bởi một cảnh sát viên mập mạp ăn hối lộ, ông ta giả vờ nói rằng giấy tờ của chúng tôi là không hợp pháp, nhưng ông ta thật sự nhận những lời chỉ thị từ một tên anh chị có cặp mắt của người chết và hắn chỉ còn có một tai, tên này ngồi sát bên viên cảnh sát.

Khi chúng tôi quay trở lại với nhiều giấy phép của chính quyền, tay anh chị nầy đã chuẩn bị xong cuộc phục kich (bằng cách cho nhiều người Phi Châu chận đường chúng tôi như đã viết ở trên).

Những người đào mỏ khoáng sản đã lo sợ – và những ông chủ xấu xa gây tội ác của họ nắm ngay được nổi sợ ấy – rằng nếu những người giống như tôi (nhà báo) nói ra công khai cuộc sống bị ô nhiễm của họ thì rồi sau đó cái mỏ khoáng sản nầy có thể bị đóng cửa và công việc với đồng lương một ngày 3 đô la có thể bị tước mất hết. (giống VN quá, ta hãy nhìn xem những người ngoài miền Bắc họ có thái độ bảo vệ y hệt vậy…)

Tôi không thể nào đưa ra cho bạn một lời cắt nghĩa nào rõ ràng hơn về mức độ thu nhỏ lại của những gì độc ác, đồi bại và tội lỗi nhất mà tôi tin là hiện đang xẩy ra ở Phi Châu.

Quá tuyệt vọng, vì thế hầu hết các nước ở Châu Phi đang tự bán mình vào trong một kỷ nguyên mới của tham nhũng và tình cảnh nô lệ thực sự khi Trung Quốc tìm kiếm để mua hết tất cả các kim loại, các mỏ khoáng sản và mỏ dầu mà Trung Quốc có thể chạm tay vào: mua đồng dành để chế dây điện và dây điện thoại, kim loại cobalt dành cho việc chế tạo điện thoại di động và các động cơ phản lực – đấy là những vật liệu ròng của đời sống thời hiện đại.

(còn tiếp)

Người dịch: Trần Hoàng

Tại một mỏ do người TQ làm chủ, người thợ mỏ ở Zambia, với cặp mắt lạc thần và trống rỗng…

http://www.rfi.fr/actuen/images/110/160209congomining432.jpg

Những người Zambia đang nhặt những mãnh quặng đồng và cobalt

http://content.edgar-online.com/edgar_conv_img/2008/03/14/0001204459-08-000516_DSTECH12.JPG

Hình các mỏ đồng và cobalt trong hang sâu thẳm, nơi đây những người dân Phi Châu làm việc kiếm 3 đô mỗi ngày.

Đăng trong Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Phi Châu | Leave a Comment »

Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng- Entry for March 27, 2009

Posted by hoangtran204 on Thứ Sáu, Tháng Ba 27, 2009

TIME

Tấm bưu thiếp gửi từ Hà Nội

Người Việt Nam phản công

chống lại công an tham nhũng

A police officer directs rush-hour traffic in Saigon, Vietnam
A police officer directs rush-hour traffic in Saigon, Vietnam (Zoriah / Zuma)

Martha Ann Overland / Hà Nội

Thứ, ngày 25-3-2009


Khi anh Trần Công Tiến kể lại chuyện đó (anh nói rằng) anh đã tức giận điên lên và đã không còn nhịn nhục được nữa. Cách đây vài tuần, anh bị ra lệnh tấp vào lề đường bởi một công an giao thông vì anh lái xe chạy ngược chiều trên con đường một chiều, anh kể là anh đã cố gắng tỏ ra biết điều. Tiến cho rằng khoản tiền đút lót 6 đô la [100 nghìn đồng] đã được anh đưa ra là cao hơn mức bình thường; thế nhưng viên công an muốn có nhiều hơn để bỏ qua lỗi vi phạm luật lệ giao thông này. Lời qua tiếng lại giữa hai bên đã gia tăng. Những lời xỉ nhục đã tuôn ra. Và thế rồi Tiến đã hành động rất nhanh. “Tôi đã chộp cổ hắn ta và đẩy thật mạnh,” anh kể. “Trước đây tôi đã chưa bao giờ dám thách thức công an. Tôi đã chán ngấy với trò tham nhũng rồi và vào thời điểm đó tôi đã quá thất vọng!” Cuối cùng, Tiến đã được cho đi khi một viên công an khác tới và xoa dịu tình thế đó.

Nhưng Tiến không phải là người duy nhất sống trong sự cuồng nộ. Ở tỉnh Kiên Giang thuộc miền nam, vào tháng 12 -2008, những nông dân giận dữ đã ném những hộp xăng đang cháy vào công an đang trưng thu nhà đất của họ và đã cầm giữ trong một thời gian ngắn ba trong số những công an đó làm con tin, bắt một công an phải lột hết cả áo quần.

Năm ngoái 2008, những nông dân ở tỉnh Hưng Yên đã đánh nhau với các giới chức chính quyền khi những người này đang cố tịch thu ruộng đất của nông dân rồi bán lại cho những nhà kinh doanh. “Đàn ông, đàn bà và trẻ con đã đánh trả bằng tay không, ném bùn đất, và đánh bằng bất cứ thứ gì họ túm được,” theo lời ông Nguyễn Đình Liên, ông ta đang làm việc ngoài ruộng khi công an đến. “Trước nay tôi chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng kiểu như thế.”

Nạn tham nhũng ở Việt Nam là không có gì mới mẻ. Năm ngoái, tổ chức Minh bạch Quốc tế đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 121 trong tổng số 180 quốc gia trong Chỉ số Đánh giá Tham nhũng. Thế nhưng có lẽ thật là dễ dàng để bỏ qua những hành động tống tiền thường ngày vẫn xảy ra của các cán bộ nhà nước khi mà nền kinh tế của Việt Nam lúc trước đang phát triển thuận lợi và mức thu nhập đã từng tăng lên gấp hai lần mỗi vài ba năm.

Trường hợp đó hiện nay không còn nữa. Người dân đang bị bóp chặt bởi sự suy thoái kinh tế, họ đang ngày càng thất vọng bởi tệ nạn tham nhũng dai dẳng tại quốc gia này, theo lời ông Trịnh Hòa Bình, viện trưởng về môi trường và sức khỏe ở Viện Nghiên cứu Xã hội thuộc nhà nước tại Hà Nội.

Các cán bộ nhà nước đang nắm giữ các đặc quyền đặc lợi dành riêng cho họ trong khi tình trạng kinh tế của những người Việt Nam bình thường đang trở nên không ổn định hơn. Dân chúng tức giận, ông nói, các cán bộ tham nhũng đó hiếm khi bị trừng phạt vì nhận tiền hối lộ.

Phản ứng bạo lực mạnh mẽ chống lại công an đang diễn ra khắp đất nước là bất bình thường, khi xét rằng Việt Nam là một quốc gia áp dụng chế độc tài tương đối có hiệu quả, nơi những người bất đồng chính kiến hiếm khi được khoan dung. Trong hai vụ xô xát xảy ra gần đây, những người đi xe gắn máy bị cảnh sát kéo vào lề đường đã đốt cháy xe máy của họ hơn là để xe bị công an giam giữ.

Tháng 2-2009, một chiếc xe hơi đã kéo một viên công an ở Hà Nội đi xa 15 foot trước khi bỏ chạy luôn.

Tại tỉnh Đồng Nai ở miền nam, một đám đông giận dữ chứng kiến việc một viên công an đánh một người lái xe, họ đã dùng gạch đá đập vỡ chiếc xe mô tô của viên công an này.

Những vụ xô xát đó chỉ gom góp được chút ít mối quan tâm của báo chí do nhà nước quản lý, hệ thống truyền thông bỏ qua hầu hết mọi chuyện khi đề cập tới tội phạm hay lưu manh côn đồ. Thế nhưng nhân chứng, những người đưa lên mạng trực tuyến các đoạn phim từ máy quay video hay điện thoại di động có camera quay cảnh những chiếc xe máy bị đốt cháy và nông dân đánh nhau với công an , đ
ã nói lên rằng sự bùng phát bạo lực là một dấu hiệu cho thấy công chúng cuối cùng đã sử dụng chính thứ bạo lực này để chống lại tham nhũng.

Chính quyền đã không xác nhận rằng liệu những vụ tấn công cảnh sát có phải đang gia tăng hay không, nhưng mối quan ngại đã đủ để Bộ Công An phải tổ chức một hội nghị vào cuối năm trước để bàn về vấn đề này. Đại tá Huỳnh Thế Kỷ, giám đốc công an tỉnh Ninh Thuận ở phía nam, người tham gia trong hội nghị này, đã quy cho tình trạng gia tăng bạo lực là do “số thanh thiếu niên thiếu sự giáo dục thích hợp và bị hư hỏng.”

Ông Kỷ nói là ông muốn thấy công an được trang bị hơn nữa những công cụ tinh vi hiện đại hơn để tự bảo vệ họ, song ông nói thêm rằng “thái độ của một số công an đôi khi chưa thích hợp. Công an phải làm việc với tinh thần phục vụ nhân dân. Họ phải có hành vi đúng đắn hơn.”

Những tầng lớp lao động chân tay ở Việt Nam đã nổi lên chống lại các nhà chức trách từ trước đây — với những thắng lợi. Cuộc nổi dậy nổi tiếng nhất của nông dân đã nổ ra tại tỉnh Thái Bình ở miền bắc vào năm 1997. Bị đè nặng quá sức bởi thuế má và các lệ phí bất hợp pháp, hàng ngàn nông dân đã thách thức các viên chức địa phương qua một diễn biến kéo dài vài tháng. Khi những yêu cầu của họ cần được lắng nghe nhưng lại bị phớt lờ, họ đã ném đá vào các cán bộ cốt cán của Đảng Cộng sản, tấn công các trụ sở làm việc và nhà ở của những cán bộ này, và cầm giữ một số cán bộ làm con tin trong nhiều ngày. Sau cùng, chính phủ trung ương đã nắm lấy quyền điều hành, kỷ luật xử phạt các viên quan chức địa phương và tống một số viên chức nầy vào tù cùng một số nông dân nữa.

Vào năm sau 1998, một bản quy định trên toàn quốc được biết đến như là Nghị định 29 đã được thông qua, cho phép sự tham dự nhiều hơn vào việc đưa ra quyết định ở địa phương và ban cho các công dân nhiều cơ hội hơn nhằm để xả cơn giận của họ trước những viên chức cấp xã.

Thập niên tăng trưởng kinh tế đáng ngạc nhiên vừa qua ở Việt Nam đã giúp làm dịu những tâm trạng thất vọng này. Thế nhưng 10 năm trôi qua, với những cải thiện chỉ ở bên lề về tính minh bạch và với tình trạng tham nhũng vẫn tiếp tục lan tràn, lòng nhẫn nại đang mòn dần để trở nên mong manh nguy hiểm – một thực tế mà ban lãnh đạo của Việt Nam đang nhận ra. “có tình trạng tham nhũng và lạm dụng chức quyền tại các địa phương,” theo thừa nhận của ông Nguyễn Minh Thuyết, một đại biểu lâu năm trong Quốc hội Việt Nam.

Mặc dầu vậy, ông Thuyết đã không tha thứ những vụ tấn công gần đây vào tài sản (xe, cơ quan) của chính quyền, ông Thuyết nói là ông hiểu về nỗi tức giận và đồng ý rằng chính phủ phải làm nhiều hơn nữa để cải thiện tính minh bạch.

Trong lúc công ăn việc làm tiếp tục biến đi mất và nạn lạm phát ngốn vào đồng lương, sẽ không dễ dàng gì để xoa dịu những con người đang bị giáng những cú đòn mạnh mẽ nhất này khi mà công an vẫn đang toan tính chỉa tiền của người dân để lấy những khoản rất nhỏ nhoi. “Công an hiện nay thậm chí còn tham nhũng hơn trước đây,” một tài xế taxi ở Hà Nội tên là Nguyễn Văn Cường đã nói một cách cay đắng.

“Ngày nào tôi cũng bị công an chặn lại vài lần.” Và khi mà ít năm trước chỉ chi có 100.000 đồng, tức là khoảng 6 đô la là đủ, thì bây giờ không thể ít hơn 200.000. “Điều ấy có nghĩa là có một số ngày tôi làm việc mà chẳng có tiền công, vì công an lấy đi hết tất cả những gì tôi làm ra,” anh Cường bảo. “Làm sao mà quí vị có thể không tức giận được cơ chứ?”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————

TIME

Postcard from Hanoi

Vietnamese Fight Back Against Cop Corruption

By Martha Ann Overland / Hanoi

Wednesday, Mar. 25, 2009

As Tran Cong Tien tells it, he was mad as hell and he wasn’t going to take it anymore. Pulled over by a Hanoi traffic cop a few weeks ago for driving in the wrong direction down a one-way street, he says he tried to be reasonable. Tien claims the $6 bribe offered was more than fair, but the officer wanted more to ignore the traffic violation. Words between the two escalated. Insults flew. And then Tien snapped. “I grabbed his neck and pushed hard,” he says. “I have never dared challenge the police. I’m fed up with corruption and at that moment I was just so frustrated!” Tien was eventually let go when another officer came along and defused the situation. But he is not alone in his rage. In southern Kien Giang province in December, angry villagers threw flaming gasoline canisters at police commandeering their property and briefly held three of them hostage, forcin
g one to disrobe. Last year, farmers in Hung Yen province battled authorities trying to seize their land and resell it to developers. “Men, women and children fought back with their bare hands, with mud, with anything they could grab,” said Nguyen Dinh Liem, who was working in his rice paddy when police arrived. “I had never seen that kind of thing before.” (See pictures of the Vietnam-China border war.)

Corruption in Vietnam is nothing new. Last year, Transparency International ranked Vietnam 121st out of 180 on its Corruption Perception Index. But it was perhaps easier to overlook occasional shakedowns from officials when Vietnam’s economy was doing well and incomes were doubling every few years. That’s no longer the case. People being squeezed by the economic downturn are increasingly frustrated by the nation’s enduring corruption, says Trinh Hoa Binh, head of environment and health at the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Officials are maintaining their special privileges while the economic position of ordinary Vietnamese is becoming more precarious. They are incensed, he says, that corrupt officials are rarely punished for taking bribes.

The anti-police backlash playing out around the country is unusual considering that Vietnam is a relatively efficient authoritarian state where dissent is rarely tolerated. In two recent incidents, motorcycle riders pulled over by police set their own bikes alight rather than let them be impounded. Last month, a car dragged a Hanoi policeman 15 feet before racing off. An angry crowd seeing a cop roughing up a driver in the southern province of Dong Nai used bricks to smash the officer�s motorcycle.

The incidents have garnered only limited attention in state-run media, which dismiss most as the work of criminal minds or hooligans. But witnesses, who have posted videos and camera-phone shots online of burning motorcycles and farmers battling police, say the spurt of violence is a sign that the public has finally had it with corruption.

The government won’t confirm whether attacks on police are on the rise, but it is concerned enough that the Ministry of Public Security held a conference late last year to address the issue. Colonel Huynh The Ky, the director of security in southern Ninh Thuan province who attended the conference, attributed the increase to “teenagers who lack proper education and are corrupted.” Ky said he would like to see police provided with more sophisticated equipment in order to protect themselves, but he added that the “attitude of some police officials sometimes is not appropriate. Police have to work in the spirit of serving the people. They must have proper behavior.”

Vietnam’s working classes have risen up against authorities before — with results. The most famous farmers’ revolt took place in the northern province of Thai Binh in 1997. Burdened by excessive taxation and illegal fees, thousands of villagers challenged local officials over the course of several months. When their demands to be heard were ignored, they stoned Communist Party cadres, attacked their offices and homes, and held officials hostage for days. The national government eventually took charge, disciplining local officials and sending some to jail, along with some of the farmers. The following year, a national law known as Decree 29 was passed, allowing for more participation in local decision-making and giving citizens more opportunities to vent their grievances to commune-level officials.

The past decade of stunning economic growth in Vietnam helped to ease these frustrations. But 10 years on, with only marginal improvements in transparency and with corruption still rampant, patience is wearing dangerously thin again — a fact that Vietnam’s leadership recognizes. “There is corruption and abuse of power in local areas,” concedes Nguyen Minh Thuyet, a senior member of Vietnam’s National Assembly. Though he does not condone the recent attacks on government property, Thuyet says he understands the anger and agrees that the government must do more to improve transparency.

As jobs continue to vanish and inflation eats away at wages, it is not going to be as easy to placate those who are being hit the hardest when police attempt to extort them for petty cash. “The police are even more corrupt than they were before,” Hanoi taxi driver Nguyen Van Cuong says bitterly. “In one day, I can be stopped several times.” And where 100,000 dong, or about $6, might have been enough a few years ago, now nothing less than 200,000 will do. “It means some days I work for nothing, as they take everything I make,” Cuong says. “How can you not get angry?”

Đăng trong Tham Nhung và Ăn Cắp | Leave a Comment »

Hệ Thống Âm thanh Tần số thấp dùng để phát hiện Tàu Ngầm (Entry for March 26, 2009)

Posted by hoangtran204 on Thứ Năm, Tháng Ba 26, 2009

Các thủy thủ dân sự trên tàu Impeccable của Mỹ bình tỉnh thu hình 5 tàu võ trang của Trung Quốc đến quấy nhiễu. Lính thủy Trung Quốc dùng các cần dài cố móc vào dây cáp một dụng cụ phát âm thanh có tần số thấp nhằm khảo sát phương pháp dò tàu ngầm đang đậu trong đảo hay hoạt động dưới nước.

Ở đoạn hình gần cuối, các bạn sẽ nghe người thu hình này nói với anh bạn thủy thủ cùng tàu rằng “Tớ muốn thu hình gương mặt thằng [tiếng nói tục] cà chớn này đang khều dây cáp tàu mình, nếu tớ gặp nó ở Hồng Kông, tớ sẽ đấm vào mặt nó.”

Có 8 phim thu hình biến cố nầy, các phim dài 2-3 phút cho thấy các tàu võ trang của TQ có thái độ gây hấn và khiêu khích không khác gì tụi cướp biển hoặc lục lâm thảo khấu. Trong khi đó các thủy thủ dân sự Mỹ rất bình tỉnh, họ nhìn các tàu TQ. Nhưng khi tàu TQ đến gần sát 8 mét, thì một thủy thủ Mỹ dùng vòi nước xịt vào lính TQ để ngăn chận nầy dùng sáo khèo dây cáp kéo theo sau tàu Impeccable.

*“Độc giả có thề vào thẳng mạng http://www.YouTube.com và gõ nhóm chữ “Chinese ships approach USNS Impeccable.”

Sau khi bạn đã xem xong các băng hình, bạn có thể góp lời bình luận ở phía dưới. Hiện thời ở một số băng hình đang diễn ra các cuộc tranh luận sôi nổi bằng Anh ngữ, cho thấy Hồng Vệ Binh CSTQ đang ráo riết tranh giành chính nghĩa và chủ quyền Biển Đông, ít nhất là qua cuộc chiến bàn phim maý điện toán.

Bản tin trên báo Computerworld ghi rằng vụ chạm trán xảy ra nơi phía nam một căn cứ hải quân TQ, nơi trú đóng một số tàù ngầm tối tân nhất của TQ, kể cả các tàu được thiết kế để sẽ chở các phi đạn nguyên tử.

Vị trí này cũng không xa nơi một phi cơ do thám kiểu EP-3 của Hải Quân Mỹ đã đụng với một chiến đấu cơ Trung Quốc năm 2001, làm chết người phi công Trung Quốc và buộc phi cơ Mỹ này phải hạ cánh khẩn tại một căn cứ không quân Trung Quốc, nơi phi hành đoàn Mỹ sau đó bị TQ giam giữ.

Một lý do cho thấy vì sao Hải Quân Mỹ đưa các băng video này lên mạng YouTube: để củng cố lời biện minh của Hải Quân Mỹ rằng tàu Mỹ thực ra là tử tế lắm, lúc đó đang thực hiện công tác quan sát bản đồ đáy biển thì bị 5 tàu Trung Quốc tới gây sự. Bản văn Hải Quân Mỹ phổ biến ngày 8-3-2009 đã nói rằng công tác thám sát lúc đó là ở lãnh hải quốc tế, 75 dặm phía nam Đảo Hải Nam, thì 5 tàu TQ tới gần gây sự. Chứ không phải là tàu Mỹ tiến vào sát biển của Trung Quốc bao giờ.

Trong băng hình, có lúc cho thấy tàu Trung Quốc tới sát đuồi tàu Mỹ, khều móc dây cáp tàu Mỹ thả dòng dây.

Có lúc, bạn sẽ nghe người thu băng hình này nói với anh bạn thủy thủ cùng tàu, “Tớ muốn ghi băng hình thằng [tiếng nói tục] cà chớn này đang khều dây cáp tàu mình, để khi tới gặp nó ở Hồng Kông, tớ có thể đấm vào mặt nó.”

Hệ thống LFA dủng dò tìm tần số thấp (lòng biển)
Nguồn: gcaptain.com


Độc giả Việt Nam không cần phảỉ hẹn đấu võ với thủy thủ Tàu ở Hồng Kông. Hãy lên mở trận chiến bàn phím điện toán, vào mạng YouTube và dùng những ngôn ngữ lịch sự để cho toàn thế giới thấy được rằng Biển Đông là của Việt Nam. Nơi đó đã từng xảy ra trận hải chiến 1974 ở Hoàng Sa, và trận hải chiến 1988 ở Trường Sa. Hãy nói cho cả thế giới biết rằng, trên Biển Đông đã có dòng máú Việt đổ ra để gìn giữ lãnh hải. Hãy nói như thế, nói thật lớn, cho cả thế giới biết. Trong khi rất nhiều người trên toàn cầu đang vào xem các băng hình này…” theo Trần Khải http://www.dcvonline.net/php/index.php

 

————————————————-

Hệ Thống Âm thanh Tần số thấp dùng để phát hiện Tàu Ngầm

người dịch: Trần Hoàng 
 

Hải quân Hoa Kỳ đang có kế hoạch để đưa vào sử dụng một hệ thống phát hiện tàu ngầm mới, được biết với tên là hệ thống dùng Âm Thanh Tần Số Thấp LFA (Low Frequency Active Sonar), hệ thống nầy sẽ được triển khai đem ra sử dụng khắp 80% của các đại dương trên toàn cầu.

 

LFA được căn cứ trên sự kiện rằng âm thanh ở tần số rất thấp (100-1000 Hertz) có thể truyền đi với một khoảng cách rất xa và phát hiện được những tàu ngầm có động cơ chạy rất êm.

(Lỗ tai của con người có thể nghe được (phát hiện đươc) sóng âm thanh ở trong tầm 20 – 20.000 Hertz. Mỗi 1 Hertz = 1 sự rung động / 1 giây. Chó có thể phát hiện được sóng âm thanh trong khoảng 50-45.000 Hertz. Mèo nghe được âm thành trong khoảng 45-85.000 Hertz. )

 

Hệ thống LFA sử dụng âm thanh cường độ mạnh (nhưng có tần số thấp), ở mức độ gây ra tiếng ồn 235 decibels hay lớn hơn (Hải quân đưa ra con số tiếng ồn ở mức độ 160 decibels vào khoảng 2 km cách nguồn phát ra tiếng ồn hay hệ thống LFA) [ tiếng ồn của động cơ phản lực bay thấp ngay trên đầu là khoảng 120-135 db; tiếng tồn của xe cô chạy trên đường cao tốc là 80-90 db] âm thanh tiếng ồn có tần số thấp nầy được phát ra từ những nguồn phát âm thanh kéo theo đàng sau các tàu như Impeccable (tagos class).

 

Hệ thống âm thanh có tên là SURTASS kéo đàng sau tàu đang dùng hiện nay thì
bị giới hạn khả năng phát hiện các tàu- ngầm- có- động- cơ- chạy- rất- êm, ít phát ra tiếng động.

Vì vậy, cuộc nghiên cứu LFA nầy sẽ diễn ra trong thời gian sắp tới và kéo dài trong một khoảng thời gian khá lâu ở những khu vực nơi hệ thống âm thanh có tần số thấp kéo theo sau tàu đi qua.

LFA đang đề nghị dùng các tàu lớn có tiêu chuẩn TAGOS để thực hiện công tác dò tìm tầu ngầm ở tầm xa hơn nữa (hơn 2 km)

http://www.fas.org/irp/program/collect/lfa.htm

———————————–

 

Low-Frequency Active (LFA)

The U.S. Navy plans to deploy a new submarine detection system, known as Low Frequency Active Sonar (LFA), throughout 80% of the world’s oceans. LFA is based on the fact that very low frequency sound [100-1000 Hz] can travel great distances and detect quiet submarines. The LFA system uses intense sound, reportedly at levels in the range of 235 decibels or greater [the Navy has given a figure of 160 dB at about 2 km from the LFA] generated by massive sound transmitters towed behind TAGOS-class ships.

Current passive SURTASS towed array sonars are limited in their capability to detect quiet submarines. Thus research has been going on for some time in the area of low frequency active (LFA) towed array sonar. LFA offers the potential for TAGOS ships to make longer range detections of quiet submarines.

The shallow-water acoustics problem has risen in importance due to the increased salience of regional conflicts where the US Navy may to encounter slow, diesel submarines close to shore. The shallow-water, slow submarine is significantly more difficult to detect and classify acoustically than the cold war threat, due to the complex propagation, high clutter, and low target Doppler. Effective sonar performance requires new processing algorithms which cannot be implemented on current Naval platforms due the high processing requirements. A Hybrid Digital/Optical Processor (HyDOP) is to demonstrate the feasibility of using embedded scalable high performance digital and optical processing to solve this problem. This requires application of computationally intensive algorithms which cannot be implemented in real time using conventional processors. A high-speed optical correlator being developed by the Naval Research Laboratory (NRL) will act as a coprocessor to an Intel Paragon XP/S-25 computer.

LFA has been under development for more than a decade, and has been tested perhaps 25 times in several oceans since 1988. The Navy has already tested LFA for over 7,500 hours. IOT&E of LFA was completed in October 1992, in the Gulf of Alaska, testing an engineering development model (EDM) of the LFA system installed in a converted, monohull research vessel. COMOPTEVFOR found the SURTASS LFA system potentially operationally effective and potentially operationally suitable.

BBN has developed the ARTS array vehicle concept specifically to address the formidable problems of low-frequency active sonar sources. The array creates a dish shaped pattern of very loud, low frequency, variable broadband sound (235 dB re 1 µPa @ 100-1000 Hz) that reaches out roughly 100 miles. The towed array is deployed about 100 meters deep at three knots, pulsing on a 10% duty cycle. In recent experiments, Low-Frequency Active (LFA) system has detected submarines at long ranges. The first LFA ship, TAGOS 23, is under construction. Four dedicated vessels are planned, divided between the Atlantic and Pacific Fleets In the interim, a leased ship, Cory Chouest, is being used as a fleet asset to test and validate LFA technologies. In addition, compact acoustic source technologies are under development that will provide a 50% reduction in weight and power requirements. Successful maturing of these technologies will allow LFA-type arrays to be deployed from existing TAGOS 19-class vessels.

Critics of LFA, such as the Natural Resources Defense Council [NRDC], charge that it will expose marine mammals to noise pollution at a level 200 billion times greater than that which is known to disturb them. Several years ago the $40 million acoustic thermometry of ocean climate (ATOC) program of the Scripps Institution of Oceanography in La Jolla, CA proposed to operate a low frequency underwater sound source in the heart of the Monterey Bay National Marine Sanctuary. Although ATOC proposed to generate noise at a level of only 195 decibels, NRDC successfully intervened to stop this research program pending further study of the effects of low-frequency sound on marine mammals. The Navy has agreed to NRDC’s request that an EIS be prepared for the LFA program. The LFA Draft Environmental Impact Statement is due in August 1997, and is being written by the contractor for the system. The American Oceans Campaign has been working in coalition with a number of other environmental groups to keep tabs on government and industry underwater sound generation.

Sources and Resources

  • Cetaceans Do Not Have Standing To Sue the Government to Challenge Navy Use of SURTASS / LFA, appeals court ruling in The Cetacean Community v. George W. Bush, October 20, 2004
  • SURVEILLANCE TOWED ARRAY SENSOR SYSTEM (SURTASS) DOT&E FY 95 Annual Report
  • Hybrid Digital/Optical Processor R. A. Dukelow, R. M. Hidinger Naval Command, Control and Ocean Surveillance Center, San Diego, CA
  • Currents: The Unquiet Oceans Todd Preston E-Magazine (March-April 1997)
  • Navy Noises Continue William Rossiter Cetacean Society International Whales Alive! Vol. VI No. 1 January 1997
  • Sound Sound Policies and the LFA William Rossiter, CSI President Whales Alive! Vol. V No. 4 October 1996
  • Navy’s secret weapon no longer running silent Jean-Michel Cousteau Planet ENN 19 August 1996

Đăng trong Khoa Học | Leave a Comment »

Khai mỏ Bô Xít và viễn kiến của ông Hoàng Văn Hoan

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Ba 24, 2009

Một kế hoạch khai mỏ

thử thách những người

hoạch định chính sách

của Việt Nam

Image

Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Anh Le Tran

Thứ Hai, ngày 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà xã hội học người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công ty Trung Quốc đang đói khát tài nguyên khoáng sản được phát triển những dự án khai thác bauxite khổng lồ trên vùng Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông. Nước VN đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm 1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite. Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

(Nhưng đối với chính phủ VN,) Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, mà các chất nầy cần phải được lưu giữ một cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty Trung Quốc đã giành được cả hai gói thầu để xây dựng hai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô xít (của người Trung Quốc) không phải là những công nghệ có sẵn tốt nhất. ông Nguyễn Thanh Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản đối mạnh mẻ nhất về kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật (làm các nước có kỹ thuật cao không thể trúng thầu được) với mục đích để cho các công ty Trung Quốc (trúng thầu và ) có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn .

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bô xít mới (cho quốc gia của họ).

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và ch
ứa bùn thải độc hại
. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát triển nữa nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không có nhiều tại vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu hoạch mùa màng sẽ tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng phát triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào tháng 11-2007 [1], Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường nào có tính chiến lược được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế hoạch khai thác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giá những tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra lệnh cho Bộ Công Thương xin phép bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4- 2009, ông Hải đã loan báo vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì liệu những thay đổi ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.


Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất.

Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả những người liên quan trong vấn đề bô xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi điều ấy quá muộn hay không.

Ông Anh Le Tran giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell College ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


[1] đúng ra tháng 11-2008

——————————————-

Comment:

* Trần Hoàng: Với mục đích làm cho VN suy yếu, Trung Quốc đã dụ được VN khai thác bô xít bằng một kế hoạch khai mỏ lạc hậu thời 1930. Đây là một chiến lược tinh vi có được sự tiếp tay của các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở VN. Kế hoạch khai mỏ bô xít chỉ nhằm kéo VN đầu tư vào một dự án 15 năm, ít có lợi hơn trồng cây cà phê và trà (trị giá xuất khẩu hơn 3 tỉ đô la hàng năm), và làm cho VN tốn kém tối thiểu là 25 tỉ đô la (VN phải đầu tư và tốn khoảng 1,5 tỉ đô la hàng năm trong 15 năm).

Không cần khai thác bô xít, chỉ cần làm café và trà, thì trong vòng từ 2010 đến 2025, VN cũng đã mang về nguồn lợi xuất khẩu nông sản trà, cà phê, hạt tiêu là 3 tỉ/ 1 năm x 15 năm = 45 tỉ đô la. Đó là chưa tính đến  việc thu hút khách quốc tế đến du lịch vùng Tây Nguyên.

Dự án khai mỏ bô xít sẽ làm suy kiệt tài chánh của VN trong 15 năm sắp đến, sẽ làm bất ổn về mặt xã hội vì muốn khai thác mỏ là phải chiếm đất đai của các sắc tộc; sẽ làm ô nhiễm đất đai của nông dân và các người sắc tộc, và làm giảm sự thu hoạch các vụ mùa cà phê, trà do thiếu nước tưới cây. Ngoài ra chất thải của bô xít sẽ làm nhiễm độc nguồn nước uống ở sông Đồng Nai, là nơi cung cấp nước uống cho vùng Sài gòn, Biên Hòa, Bình Dương…

Sự suy yếu tài chánh sẽ làm VN không có đủ tiền bạc mua vũ khí để hiện đại hóa quốc phòng, sẽ làm Việt Nam trở nên suy yếu, và cuối cùng TQ sẽ chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và làm chủ Biển Đông mà không gặp được một sự chống đối. Chừng ấy, nếu VN có kêu cứu, thì các nước ngoài cũng không can thiệp vì họ đã nhìn thấy rõ VN và TQ đang hợp tác chặc chẻ để khai thác bô xít.

Suốt 23 năm kể từ khi đổi mới từ 1986-2009, VN tuyên bố vào tháng 3/2008 là có dự trữ ngoại tệ là 22 tỉ đô la. Nhưng thực tế nhiều tháng qua, các tỉnh không có tiền trả lương và họ phải mắc nợ các thầy giáo và cô giáo. Chúng ta tự hỏi: một kế hoạch đầy tốn kém như vậy, không có lợi lộc so với nông sản cafe, cao su, trà, và VN phải đầu tư nhà máy điện, phải bỏ tiền túi ra để xây dựng tuyến đường bộ và đường sắt chở bô xít từ Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung, phải xây dựng thêm 1 hải cảng mà hiện nay VN chưa có cảng nào ở Bình Thuận và Phan Rang. Thêm vào đó, trong khi từ đầu năm đến nay, VN đã phải gởi 82 ngàn công nhân đi lao động nước ngoài, thì VN lại để cho nhập khẩu hàng chục ngàn công nhân người TQ, giải quyết nạn thất nghiệp cho TQ. (Lương của người công nhân TQ là 10 triệu/ 1 tháng, trong khi lương của người kỹ sư VN làm tại công trình bô xít là 6 triệu/ 1 tháng). Tóm lại, khai thác bô xít buộc VN phải đầu tư quá nhiều tiền cho nhà máy điện mới, đường xe lửa chở ra cảng đem nhôm về TQ, xây dựng bến cảng, và trong lúc ấy VN lại thiếu tiền ngoại tệ đầu tư. Bối cảnh ấy buộc VN phải mượn tiền của TQ, như vậy liệu có phải là giải pháp kinh tế tốt hay không?

Trung Quốc có thừa tiền để vứt bỏ vài tỉ đô la để dụ VN vào kế hoạch khai mỏ bô xít (làm VN tốn kém ít nhất là 25 tỉ đô la). Số tiền vài tỉ là quá nhỏ đối với TQ vì suốt 30 năm chuyển qua kinh tế tư bản, TQ có một số dự trữ ngoại tệ lên đến 2000 tỉ đô la. TQ có ngân sách quốc phòng bằng là 70 tỉ đô la năm 2009, 7% ngân sách quốc gia. Việc bỏ ra 1 tỉ đô la 1 năm trong 15 năm sắp đến của Trung quốc để làm suy yếu VN chiếm Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa mà
không tốn một viên đạn là điều chắc chắn một nhà chiến lược nào cũng sẽ làm.

Sau cùng, VN phải lệ thuộc kinh tế vào TQ trong ít nhất 50 năm sắp tới.

———————————–

Có nước nào trong khu vực đông nam á phát triển và làm giàu nhờ bán khoáng sản không?

Không nước nào trong khu vực Đông Nam Á phát triển và làm giàu bằng cách khai thác và bán tài nguyên khoáng sản như dầu hỏa, bô xít, than đá, … Thái Lan diện tích 514 ngàn Km vuông, Phi Luật Tân diện tích 300 ngàn km vuông, cả hai có dân số 86 triệu dân bằng với dân số của VN. Suốt 22 năm qua, cả hai nước đều phát triển kinh tế rất mạnh hơn VN. Hai nước nầy không cần các mỏ khoáng sản mà chính phủ của họ vẫn đề ra các chính sách kinh tế và kế hoạch để tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Kết quả hiện nay là người dân trong 2 nước ấy có đời sống và mức thu nhập của mỗi người cao hơn VN 5-7 lần. Họ cũng không lệ thuộc vào TQ, Mỹ hay các nước lớn khác.

Các nước nhỏ hơn trong vùng như Nam Triều Tiên, có 50 triệu dân, diện tích đất đai 100.000 km vuông, chưa bằng 1/3 diện tích của VN, cũng không cần khai thác mỏ để kiếm sống mà dân chúng của họ có đời sống và mức thu nhập cao hơn VN 25 lần. Mã Lai Á dân số 30 triệu người, diện tích bằng VN, cũng không sống bằng khai thác mỏ, nhưng đời sống dân chúng của họ và mức thu nhập của mỗi người dân Mã Lai vẫn hơn dân chúng VN 12 lần.

Không có một nước nào trong vùng đông nam á làm giàu nhờ bán dầu mỏ và các tài nguyên khoáng sản. Tất cả các nước ấy làm giàu nhờ chính sách kinh tế của họ hay hơn VN. Dân chúng trong 7-8 nước ấy có mức thu nhập cao vì họ những chính phủ của họ do dân chúng bầu lên và họ làm chính sách giỏi. Họ không có những công ty, tập đoàn quốc doanh của chính phủ chuyên làm ăn thua lỗ.

—————————————————-

Nga và Trung Quốc 2008-2009

Hồi tháng 12-2008, vì giá dầu xuống quá thấp và Nga cần tiền, Putin đã ký một hiệp ước thương mại với Trung Quốc. Trong hiệp ước ấy, Nga đồng ý bán tất cả dầu hỏa và khí đốt cho Trung Quốc kể từ 2010 đến 2025. Kết quả của việc ấy là Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung để thắt chặt tình hữu nghị.

(Nga thiếu hụt tiền bạc để làm ngân sách vì đã mắc sai lầm khi gây ra chiến tranh với Georgia vào tháng 8-2008. Kết quả là các doanh nghiệp Âu Châu đã rút hết các đầu tư ra khỏi Nga, và qua đầu tư ở Tunisia và các nước Phi Châu gần Tunisia. Điều nầy, làm cho Russia mất mỗi tháng hàng 7 tỉ đô la đầu tư. Giá dầu từ 147 đô xuống 40 đô 1 thùng đã làm cho Nga hụt ngân sách (Nga tính ngân sách dựa trên giá dầu là 75-85 đô/ 1 thùng. Hiện nay, giá chứng khoáng của Nga sụt giảm 70% và thất nghiệp nổi lên khắp nơi làm Nga thâm hụt thêm ngoại tệ.)

Tuy vậy, Nga khẳng định không bao giờ có ý bán các sản phẩm có kỹ thuật cao cho Trung Quốc kể từ sau khi TQ mua các chiến đấu cơ SuKhôi 27 của Nga vào năm 2001, đem về tháo ra từng mảnh, và TQ làm ra chiến đấu cơ J-11. Kiểu mẫu chiếc phản lực J-11 nầy giống hệt như Sukhoi 27, chỉ khác tên gọi. Hiện nay, Nga đang kiện TQ ra tòa về tội vi phạm tác-quyền.

Khi phía Bắc và phía Nam biên giới của Trung Quốc không bị đe dọa bởi Nga và Việt Nam, Trung Quốc sẽ rãnh tay làm các kế hoạch khác và mục đích sau cùng của các kế hoạch ấy thì chắc chắn sẽ không có lợi cho VN. (tóm gọn Biển Đông để đánh cá và khai thác mỏ dầu và khí đốt; chặn con dường tiếp tế nhiên liệu, và vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật, Nam Hàn, và Đài Loan khi cần thiết…)

****************************************************


Đọc mấy bài Bô Xít xong lại chợt nhớ đến Ủy Viên Bộ Chính Trị Hoàng Văn Hoan…

là người đi tiền đạo trong việc thiết lập mối quan hệ với Trung Quốc từ năm 1978. Ông Hoan bỏ VN, chạy qua TQ sống, ca ngợi Trung Quốc và coi TQ người bạn lớn; còn ngày nay thì các nhân vật trong bộ chính trị rước Trung Quốc vào treo cờ ở Tây Nguyên. Quả là những người có chí lớn gặp nhau.

Nói tóm lại, ông Hoan đúng là một người có tầm nhìn xa và đi trước đảng và nhà nước ta 30 năm. Vậy là nhà nước ta sẽ chuẩn bị làm lễ tôn vinh ông ấy là vừa, và đừng quên rút lại những lời

tuyên bố lên án tử hình ông Hoan tội phản quốc vào năm 1979 nhé :)

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Quân Trung Quốc tiến vào Việt Nam năm 1979Tình hữu nghị giữa hai nước cộng sản Việt Nam – Trung Quốc đổ vỡ năm 1979

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo
Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’. Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó , nhắc đến các đợt thuyền nhân Việt Nam bỏ nước ra đi (1975-1979).

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).Theo đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn’:

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc.”

Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc

Bùi Tín nói về Hoàng Văn Hoan

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.
Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla.

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.”

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc

Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Mặc dù ông Hoan đã đào thoát sang Trung Quốc và được coi là phản bội, ông Tín vẫn đánh giá: “Ông ấy là một người rất yêu nước, nhưng mỗi người yêu nước theo hiểu biết, theo kiểu của người ta. Tôi vẫn tôn trọng ông ấy, nhưng không thể đồng tình với quan điểm của ông được.”

Ở Việt Nam, ông Hoàng Văn Hoan bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm ‘Số phận ông Hoàng Văn Hoan’ ở mục Các bài liên quan) cũng la
̀ câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

*******************************888888888888*****************************



Asia Sentinel

A Mining Plan Tests Vietnam’s Policymakers

Written by Anh Le Tran Monday, 23 March 2009

Chinese seek to develop bauxite mines in environmentally and socially sensitive area

Vietnamese environmentalists and social scientists are growing increasingly concerned over the environmental, social, economic and political implications of a government plan to allow minerals-starved Chinese companies develop massive Central Highlands bauxite mining projects.

Vietnam is estimated to have up to 8 billion tonnes of bauxite ores, used to produce alumina, a white powder that is smelted to produce aluminum. Two big projects to mine bauxite and produce alumina have been kicked off in Lam Dong and Dac Nong Provinces. The country has estimated that it will need up to US$20 billion in investment by 2025 to make use of the resource. Enter the Chinese.

The idea of exploiting rich bauxite reserves is not new. As long ago as the 1980s, when the country was a member of the Council of Mutual Economic Assistance (CMEA), an economic bloc founded by the Soviet Union and other Eastern European communist states, Vietnam brought a program to mine bauxite before the CMEA. But after Soviet analysts studied the feasibility of the program, the CMEA recommended against the idea, mainly due to serious environmental concerns.

Those concerns haven’t gone away. The only thing that has changed is the intensity of the opposition and the multiplying of other concerns as well as environmentalists and social scientists have rung alarm bells over the potential destruction.

Bauxite mining involves the discharge of toxic which must be stored safely and permanently. However, the Central Highlands terrain makes it more difficult to safely store the slurry to prevent contamination to the surrounding and downstream areas. In addition, critics see high risk regarding the situation in which the Chinese companies have won both bids to construct two big alumina plants (costing nearly US$500 million each) and possibly will venture into other projects as well.

The concern is that the technologies won’t be the best available. Nguyen Thanh Son, a Vietnamese expert in the area and one of the most prominent opponents of the plan, says the Chinese side won the bids is due to the lowering of technology standards by the Vietnamese side so that Chinese companies could offer attractive bidding prices.

China itself has faced serious environmental problems associated with bauxite mining, prompting it to close several mines in Guangxi even with demand for bauxite on the rise. Some critics thus view China’s high level of involvement in Vietnam’s bauxite projects as a form of exporting environmental degradation while trying to secure a new source of supply.

In terms of economic efficiency, the projects don’t seem to fare well even with a simple cost-and-benefit analysis. The Central Highlands is home to important cash crops, coffee, tea, and rubber, that have earned increasing amounts of hard currency through exports. However, the survival of these crops will be in great danger due to two key factors.

First, as more projects are implemented, more land will be cleared for mining and storing the toxic mud. After the bauxite ores are mined, the soil is no longer suitable for growing crops without extensive remediation. Second, bauxite mining and alumina production require extensive water, which is already limited in the region. As a result, water availability for growing will be severely reduced, leading to poorer crops. Together, these two factors raise the spectre of the potential loss of the region’s comparative advantage in growing the cash crops and strangle its ability to develop a new comparative advantage in ecotourism, which is increasingly popular worldwide.

The economic costs will even be much greater when other negative externalities, including environmental degradation, are factored in. On the other hand, the benefits are doubtful. It has been pointed out that with the same level of investment, the rate of return of a bauxite project is far less than coffee-growing. Moreover, to be competitive, the production of alumina requires a cheap and readily available source of electricity that Vietnam currently does not have and will not have for any time soon.

With its chronic shortage of electricity, the shifting of this type of energy toward alumina production will further exacerbate the problem, putting other types of production at risk.

With respect to the social and political impacts, the full-scale implementation of the bauxite projects will further marginalize ethnic groups in the region as their cultural green living space is drastically reduced, with the potential to create social tension in an already delicate area. In addition, the presence of Chinese bauxite-related workers in this military strategic region has created an uneased feeling in certain Vietnamese.

Government responses and actions have been inadequate at best. In November 2007, Prime Minister Nguyen Tan Dung signed a directive approving the plan for mining, processing and use of bauxite. However, up to this point, there has not any approved strategic environmental evaluation to assess the environmental impacts of the bauxite plan in accordance with Vietnamese environmental laws.

Vinacomin, the state-owned enterprise in charge of carrying out the plan, held two conferences in 2007 and 2008 to assess the impacts of the bauxite projects. During these occasions, many Vietnamese experts expressed their deepest concerns regarding the serious negative impacts of the plan. However, nothing of significance has materialized to address these concerns since the projects are still underway.

In the face of continued opposition, Prime Minister Dung held a meeting to discuss issues relating to bauxite mining in early January this year. He concluded by ordering the Ministry of Industry and Trade to seek permission from the politburo
of Vietnam’s communist party to continue the projects and asking Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai to hold a scientific conference to address the issues.

Although the conference has been scheduled for some time during the first half of April, Hai already announced last week that the projects in Lam Dong and Dac Nong will continue as planned. That has prompted observers to raise the question whether the conference will produce any meaningful changes that would be accepted by the government.

Given the government’s responses, one thing is clear: it has a very determined political will to go ahead with the bauxite plan in the face of opposition. The question that arises is why there is such a strong political will for a seemingly unsound plan. Critics have speculated a few possible answers. The most often mentioned is the influence of China through the political channel at the top level.

What is really at stake now is whether the Vietnamese government has the political courage to meaningfully involve all of the stakeholders and correct the shortcomings before it is too late.

Anh Le Tran teaches economics and management at Lasell College in Massachusetts in the United States.

Đăng trong Bauxite, Làm ăn chung với Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

Bị ăn hiếp, quyền lợi của quốc gia bị mất,

Posted by hoangtran204 on Chủ Nhật, Tháng Ba 22, 2009

nhưng vẫn cúi đầu, miễn sao quyền lợi cá nhân không mất là được

*********************

Hãng dầu BP rút ra khỏi hai lô ở Việt Nam

DCVOnlineTin ngắn (CNN, SST, RFA)

Hãng dầu BP rút ra khỏi hai lô ở Việt Nam

HÀ NỘI – Hãng dầu Anh BP PLC sẽ rút ra khỏi hai lô khoan tìm dầu 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam, một viên chức hãng dầu cho hay hôm thứ Sáu ngày 21 tháng Ba.

Quyết định này dựa vào sự suy xét làm ăn của công ty,” viên chức này cho hay, nhưng từ chối cung cấp tên.

“Hãng BP Vietnam đang thảo luận với hãng PetroVietnam và những đối tác khác để tiến hành sự rút ra trong năm 2009,” bà nói, nhưng không cho biết chính xác khoảng thời gian nào cho việc rút ra khỏi hai lô này.

Hãng BP, PetroVietnam và CoconoPhillips đã hợp tác khoan tìm dầu và khí từ năm 2000, một viên chức của hãng PetroVietnam ở Hà Nội cho hay.

Khu sản xuất khí đốt của BP tại Việt Nam
Nguồn: vietnam.vnagency.com.vn

Ở lô 5.2, hãng BP giữ 55.9% cổ phần, hãng PetroVietnam giữ 24.1% cổ phần và hãng ConocoPhillips giữ 20 phần trăm cổ phần, trong lúc ở lô 5.3, hãng BP có 60% cổ phần, và hai hãng PetroVietnam cũng như ConocoPhillips đều có 20 phần trăm cổ phần, theo hãng PetroVietnam.

“Những hãng liên quan đến hai lô này đang bàn thảo chuyện rút lui,” viên chức này cho hay, nhưng không cung cấp thêm chi tiết.

Hãng BP là hãng dầu ngoại quốc sản xuất khí đốt lớn nhất ở Việt Nam, những hoạt động của hãng này sản xuất 3 tỉ mét khối khí đốt hàng năm ở lô 06.1 nằm trong vùng trũng Nam Côn Sơn.

Khí đốt của hãng BP được cung cấp cho nhà máy điện chạy bằng khí đốt ở Bà Rịa Vũng Tàu, cung cấp hơn 30 phần trăm nguồn điện năng ở Việt Nam, theo con số của hãng BP cho hay.

Theo chuyên gia nghiên cứu tài chánh có trụ ở nằm ở Hà Nội, ông Bùi Kiến Thánh nói quyết định rút lui của BP ra khỏi hai lô này sẽ tác động xấu cho nỗ lực từ phía Việt Nam trong việc gia tăng nguồn khí đốt để phát triển nguồn sản xuất điện lực.

“Hai lô này nằm ở khu vực có những điều kiện khó khăn cho sản xuất mà chắc chắn là sẽ cần sự tham gia của những công ty ngoại quốc, không có hãng BP, Việt Nam sẽ phải trì hoãn kế hoạch mang khí đốt vào bờ,” ông Thành nói.

Ông nói thêm là không rõ ràng là BP có muốn rút hết đầu tư của họ ra khỏi vùng này một cách hoàn toàn.

Được biết, hôm tháng Sáu năm 2007, phát ngôn viên hãng BP ông David Nicholas đã cho hay hãng dầu khí BP đã ngưng tìm kiếm dầu khí ở bờ biển phía Nam Việt Nam vì những tranh chấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

“Trong tình trạng hiện nay, chúng tôi đã ngưng mọi hoạt động thăm dò địa chấn đã lên kế hoạch trong vùng Block 5.2 để các chính phủ liên hệ có cơ hội giải quyết vấn đề.” Khu vực lô 5.2 cách bờ biển 370 km giữa Việt Nam và Trường Sa.

Bắc Kinh hiện đang áp lực hãng BP nặng nề, cũng như đã áp lực hãng ExxonMobil trước đây, nhằm hạn chế những hoạt động của những công ty này ở Việt Nam.

© DCVOnline


Nguồn:

(1) BP To Withdraw From 2 Exploration Blocks Off Vietnam. CNN, Dow Jones Newswires, by Nguyen Van Muoi, 21 March 2009
(2) BP ngưng tìm dầu tại Việt Nam vì China quậy. DCVOnline.net, 14 June 2007
(3) BP rút khỏi dự án thăm dò dầu khí tại Việt Nam. RFA. Thanh Trúc, phóng viên đài RFA thực hiện, 21 March 2009
(4) Trung Quốc lại “ăn hiếp” Việt Nam. DCVOnline.net, 22 tháng Bảy 2008

————————————-

Bị lấn lướt trên biển Đông, Hà Nội vẫn thắt chặt thêm quan hệ với Bắc Kinh

Thanh Phương

Bài đăng ngày 21/03/2009 Cập nhật lần cuối ngày 21/03/2009 15:32 TU

Trong bối cảnh Việt Nam đang muốn đưa quan hệ với Trung Quốc ”vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững”, liệu Hà Nội có dám đụng đến phần lãnh thổ mà Bắc Kinh tự quy định ở biển Đông hay không ?

Bản đồ biển Đông

Tuy ông Đới Bỉnh Quốc chỉ là một Uỷ viên trung ương Đảng, Uỷ viên Quốc vụ viện của Trung Quốc, thế nhưng trong hai ngày 19 và 20.03.2009, ông đã lần lượt được được cả ba lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam là tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp đón như một vị nguyên thủ quốc gia.

Chỉ một chi tiết này đủ cho thấy là Hà Nội đang ngày càng thắt chặt quan hệ với ”đồng chí” Bắc Kinh mặc dù Việt Nam ngày càng bị Trung Quốc lấn lướt trên vấn đề chủ quyền biển Đông.

Việc tăng cường quan hệ song phương Việt Nam còn được thể hiện qua việc bưu điện của hai nước hôm thứ năm vừa qua đã ký kết một nghị định thư về việc thiết lập đường dây nóng, tức là đường dây điện thoại bảo mật giữa các lãnh đạo cấp cao.

Cuối năm ngoái, Việt Nam và Trung Quốc cũng vừa hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên đất liền. Hôm thứ năm (19.03.09), hai bên đã bày tỏ quyết tâm giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên vùng biển Đông.

Thế nhưng, vụ đụng độ giữa tàu Trung Quốc với tàu của Hoa Kỳ ngày 8 tháng 3 vừa qua cho thấy là hơn bao giờ hết, Trung Quốc hành xử như là sở hữu chủ của toàn bộ vùng biển Đông.

Hôm thứ năm, đúng vào ngày mà ông Đới Bỉnh Quốc đến thăm Việt Nam, báo chí Trung Quốc loan tin là nước này sẽ tăng cường tuần tra chung quanh hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.

Cụ thể, Trung Quốc sẽ chuyển những chiến hạm đã hết hạn sử dụng của hải quân thành các tàu tuần tra, trước điều mà Bắc Kinh gọi là tình trạng ”đánh cá lậu gia tăng” và những đòi hỏi chủ quyền ” vô căn cứ ”. Trước đó, Bắc Kinh đã phái một tàu tuần dương lớn nhất và hiện đại nhất, mang tên Ngư Chính 311 đến khu vực Hoàng Sa – Trường Sa.

Phản ứng về sự kiện này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Dũng chỉ tuyên bố là ” Việt Nam quan tâm và sẽ theo dõi sát” hoạt động của tàu này. Hà Nội cũng đã phản ứng không lấy gì là mạnh mẽ, khi Bắc Kinh trước đó mấy ngày cho phép một công ty du lịch của nước này tổ chức các tuyến du lịch đến quần đảo Hoàng Sa.

Trước những hành động lấn lướt của Trung Quốc, ngày càng có nhiều người kêu gọi đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông ra quốc tế, để tranh thủ sự ủng hộ của các nước khác.

Nhưng muốn như thế thì phải làm sao phổ biến cho thế giới biết sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Thế mà, ngay cả ở Việt Nam, không phải ai cũng biết về những sự thật lịch sử đó. Cho đến gần đây, chỉ có một vài học giả ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu đến biển Đông, một chủ đề mà trong một thời gian dài vẫn bị coi là nhạy cảm. Mãi đến ngày 17.03.09 mới có một hội thảo đầu tiên tầm cỡ quốc gia về tranh chấp biển Đông được tổ chức tại Hà Nội.

Về mặt công pháp quốc tế, Việt Nam cũng đang có nguy cơ bị yếu thế, bởi vì từ đây đến ngày 13.05.09 tới đây, các nước đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, trong đó có Việt Nam, phải đăng ký thềm lục điạ mở rộng.

Nếu quá hạn này mà không đăng ký thì Việt Nam có thể sẽ bị mất tất cả nguồn tài nguyên trong thềm lục điạ bên ngoài 200 hải lý. Nhưng nếu Việt Nam đăng ký, thềm lục địa mở rộng này sẽ lấn sang đường ranh giới, gọi là ranh giới lưỡi bò, mà Trung Quốc đã tự quy định trên biển Đông.

Câu hỏi đặt ra bây giờ là trong bối cảnh mà Việt Nam đang muốn đưa quan hệ với Trung Quốc ” vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững ”, liệu Hà Nội có dám đụng đến phần lãnh thổ đó hay không ?

Đăng trong Uncategorized | 2 phản hồi »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.