Trần Hoàng Blog

►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3)

Posted by hoangtran204 on 16/02/2009

Tiết lộ mới về cuộc chiến 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.

Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.

Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.

Những tư liệu mới

Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.

Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.

Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.

Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.

Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.

Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.

Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.

Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.

Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.

Quyết định cụ thể

Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.

Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.

Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.

Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.

Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.

Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.

Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.

Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.

Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.

Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.

Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.

Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060217_borderwar_1979.shtml

—————–

Số thương vong trong cuộc chiến 1979

Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.

Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.

Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.

Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.

Diễn biến cuộc chiến

Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.

Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.

Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.

Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”

Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.

Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.

Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.

Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.

Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.

Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.

Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.

Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.

Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.

Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.

Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.

Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.

Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.

Số thương vong

Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.

Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.

Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.

Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.

Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.

Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.

—————————–

Phần Ba: Trung Quốc rút ra bài học sau 1979

Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.

Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.

Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.

Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.

Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.

Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.

Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.

Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.

Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.

Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo.
Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.

Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.

Nâng cao khả năng

Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.

Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.

Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.

Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.

Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.

Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.

Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.

Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.

Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.

Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.

Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.

Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.

Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.

Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.

Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.

Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/02/060220_1979_lessons.shtml

Nhìn lại nhân vật Hoàng Văn Hoan

Ông Hoàng Văn Hoan-ảnh tư liệu Quốc hội khoá I Việt Nam dân chủ Cộng hoà (www.na.gov.vn)
Ông Hoàng Văn Hoan (ngoài bìa phải) với Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Việt Nam
Một sự kiện quan trọng trong giai đoạn xung đột Trung – Việt hồi năm 1979 là vụ bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan mà đến nay vẫn ít được nói đến.

Không chỉ với chính quyền Việt Nam và cả với dư luận quốc tế, việc một nhân vật cao cấp, công thần của chế độ bỏ đi theo kẻ thù của Hà Nội hồi đó là chuyện ‘động trời’.

Báo Time 20/08/1979 có bài đặc biệt về cuộc bỏ trốn của ông Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc.

Bài ‘Hanoi’s Push’ cho rằng vụ ông Hoàng Văn Hoan (1905-1991), nguyên phó chủ tịch Quốc hội, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh bỏ đi vào tháng 7/1979 và tố cáo chế độ là ‘cú giáng thứ nhì vào hình ảnh của họ’.

Cú giáng thứ nhất, như tờ báo Mỹ, là ‘cuộc tháo chạy của 900 nghìn người’ trong vòng bốn năm trước đó, nhắc đến các đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi.

Về với Trung Quốc

Time đưa tin rằng tuần trước đó, ông Hoàng Văn Hoan, 74 tuổi, phát biểu tại Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội đối xử với người Hoa ‘tệ hơn Hitler đối xử người Do Thái’.

Ông Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị cho đến 1976, cũng cho rằng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Lê Duẩn, đã ‘trở thành tay sai ngoại bang’, ám chỉ Liên Xô.

Bỏ trốn sang Trung Quốc, ông Hoan như trở về với những đồng chí chia sẻ quan điểm cộng sản kiểu Trung Quốc của ông.

Các tài liệu của Phương Tây từ 1966 đã xác định ông, cùng những ủy viên BCT khác như Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh là ‘phái thân Trung Quốc’ (pro-Chinese).

Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, người cũng bỏ Việt Nam nhưng sang Phương Tây để vận động cho dân chủ, thì quan điểm ‘đặc sệt thân Tàu’ của ông Hoan đã được biết đến từ trước năm 1979.

Ông Bùi Tín nói ông Hoan xuất thân từ một gia đình Hán học, hoạt động nhiều
̀ năm ở Hoa Nam và ‘tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung Quốc trực tiếp từ nguồn':

“Ông không đồng tình với quan điểm đứng giữa Liên Xô và Trung Quốc, ông theo phái nghiêng hẳn về Trung Quốc”.

“Ông không thấy Trung Quốc có hai mặt: cách mạng và bành trướng”.

Từng sang Trung Quốc hoạt động với bí danh Lý Quang Hoa cùng các ông Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan trở thành nhân vật cao cấp phụ trách ngoại giao của Việt Minh.

Lê Duẩn đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại tình hữu nghị với Trung Quốc
Quan điểm của Hoàng Văn Hoan

Sau đó ông được Hồ Chí Minh, người đồng hương Nghệ An, cử làm đại sứ đầu tiên của VNDCCH tại Bắc Kinh.

Các tài liệu nước ngoài mô tả ông Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Ban lãnh đạo Hà Nội.

Số phận của ông sau khi sang Trung Quốc qua ngả Pakistan vào tháng 7/1979 cùng gia đình cũng phản ánh thái độ của Trung Quốc với Việt Nam và quan hệ hai bên.

Xuất bản cuốn ‘Giọt nước trong biển cả’, ông đưa ra quan điểm ‘tố cáo tập đoàn Lê Duẩn’ đã phản bội đường lối Hồ Chí Minh và làm hại đến ‘tình hữu nghị với Trung Quốc’.

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh ‘A Drop in the Ocean: Hoang Van Hoan’s Revolutionary Reminiscences’ do Bắc Kinh xuất bản năm 1988, xác định tư cách của ông như một nhân vật Mao-ít đến cùng.

Ông cũng đưa ra cáo buộc rằng Trung ương Đảng ở Việt Nam từ 1982 đã chỉ đạo việc trồng nha phiến để bán ra quốc tế lấy đôla. [Chuyện trồng và bán thuốc phiện để lấy đô la của đảng CSVN khởi đầu từ năm 1954 và chấm dứt năm 1986. Người đứng đầu hệ thống kinh tài thuốc phiện để đảng có ngoại tệ là tướng Chu Huy Mân. Ông tướng này sau ngày về hưu thì bị đảng cô lập giam lỏng tại gia ở Hà Nội (để ông ta khỏi tiết lộ bí mật) cho đến khi qua đời --đây là chuyện khá phổ biến theo các blogger ở ngòai miền Bắc thuật lại].

‘Không giống Hồ Chí Minh’

Ông Bùi Tín, hiện sống tại Paris cho hay ông Hoan khá đơn độc trong đường lối thân Trung Quốc và bác bỏ cách tuyên truyền của Trung Quốc rằng ông Hoan là người duy nhất ‘trung thành với đường lối Hồ Chí Minh’.

Ông nói:

“Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc”

Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh-ảnh tư liệu

Ông Hồ khéo léo với Trung Quốc hơn nhiều và luôn cố gắng cân bằng giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Đại tá QĐNDVN Bùi Tín

“Một lần ra đón ông Hồ tại sân bay chúng tôi thấy ông mặc áo khoác có huy hiệu Mao sau chuyến đi thăm Trung Quốc về. Ông hiểu ý và cười rằng ‘chỉ đeo ở áo ngoài thôi đấy nhé”.

Trái lại, theo ông Tín, Hoàng Văn Hoan hoàn toàn theo đường lối Maoist, ủng hộ Trung Quốc trong cuộc chiến 1979, chế độ Pol Pot và phái bảo thủ tại Trung Quốc.

Ở Việt Nam, ông bị tuyên án tử hình vắng mặt và trở thành biểu tượng của sự phản bội.

Đài báo so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống và dùng hình ảnh ông để nói về các kẻ thù bên trong.

Đảng cộng sản đã thực hiện một cuộc thanh lọc nội bộ để loại bỏ tất cả những ai bị nghi là có dính líu đến ông Hoàng Văn Hoan.

Trong khi đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ ông Hoan và coi việc đối xử với ông như một điều kiện để bình thường hóa quan hệ.

Năm 1991, Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước dành cho ông Hoàng Văn Hoan tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi an nghỉ của nhiều cố lãnh tụ cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, và quân đội Trung Quốc.

Việc chấp nhận vị trí của ông Hoan trong lịch sử đầy biến động của Việt Nam xem ra vẫn còn là điều khó khăn ở trong nước dù gần đây, nhà chức trách đã có động tác để hình ông trên trang web của Quốc hội.

Nhưng cho đến nay, số phận của gia đình ông (xem bài đi kèm) cũng là câu chuyện đáng nói và phản ánh cách giải quyết chuyện nội bộ với những người bị coi là ‘phản bội’ trong lòng một hệ thống đóng kín.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/02/090216_hoangvanhoan_profile.shtml

———————

Quốc PhươngBBC Việt ngữ

ông Hoàng Văn Hoan đeo kính, đứng bên tay phải bức hình

Sau 30 năm kể từ Chiến Tranh Biên Giới, Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá… sau một cuộc xung đột vũ trang được cho là lần đầu tiên xảy ra giữa hai quốc gia cùng ý thức hệ cộng sản.

Nhưng câu chuyện về ông Hoàng Văn Hoan, cựu ủy viên Bộ Chính trị, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Qu�
�c, người bỏ trốn theo Trung Quốc vào tháng 7/1979 vẫn chưa được bàn đến công khai.

Trong cuộc trao đổi dành riêng cho BBC hôm 13/2/2009, một trong những người cháu của ông Hoàng Văn Hoan xin không nêu tên, đã kể nhiều chi tiết ‘đầy sóng gió’ về số phận của họ.

‘Bình phản án tử hình’

Người cháu ông Hoan cho biết:

“Ông Hoan có một người con trai duy nhất là ông Hoàng Nhật Tân, năm nay đã ngoài 80 tuổi, sức khoẻ đã rất kém, mà do mới đột quỵ hồi Tết, hiện không nghe, nói được. Trước đây, năm nào ông Tân cũng đề nghị Nhà nước bình phản lại án tử hình với cha ông nhưng đều không được.”

“Hồi cụ Đồng (Phạm Văn Đồng) còn sống, ông đến kêu cụ Đồng, hồi cụ Trường Chinh còn sống, thì kêu với cụ Trường Chinh. Bây giờ các ông khác già hết rồi, chẳng biết kêu ai.”

“Trước đây, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng có hứa với gia đình rằng ‘Để rồi bác sẽ bàn, đề nghị với Bộ Chính trị’, nhưng cũng nói rằng khó lắm vì đó là tương quan với ông Lê Duẩn”.

Cuộc chạy trốn bí mật

Cuốn sách ‘Giọt nước trong biển cả’ của ông Hoan, có đoạn, nói rằng ông đã không theo quyết định của Bộ Chính trị vốn quyết rằng ông bị ung thư phổi và phải bay đi Đức để chữa bệnh.

Người cháu nay thuật lại ông Hoan tin rằng “nếu bay đi Đức thì chắc rằng chỉ một liều thuốc là xong”.

Vì thế ông quyết định khi tới Karachi, tìm cách trốn sang sứ quán Trung Quốc và được đưa tới Trung Quốc. Trung Quốc đã mổ thành công và ông đã sống thêm 12 năm nữa. Trong 12 năm này, ông đã viết nhiều công trình mà một trong đó là cuốn ‘Giọt nước trong biển cả.’

Trong cuốn sách, ông Hoan cũng nói rằng việc làm của ông là ‘thiên thu định luận’, tức một nghìn năm sau thì sẽ rõ. Sau đó, ông Hoàng Nhật Tân có viết một cuốn là ‘Thiên thu định luận’, 500-600 trang, thuyết minh rằng cha ông là một nhà yêu nước vĩ đại, nhưng cuối cùng cũng không được phát hành.

Ông Lê Duẩn, đầu tiên từ phải
Ông Lê Duẩn là nhân vật quyền lực thứ hai sau Hồ Chí Minh

Vẫn theo lời chứng̉, vào năm 1991, khi gia đình được phép sang thăm ông trong vòng bốn tháng liền tại khu Ngọc Trường Sơn, trong Di Hoà Viên, nơi trước đây ông Lâm Bưu từng sống, khi ông già yếu và sắp mất, thì ông vẫn còn rất tỉnh táo, tỉnh táo cho đến phút chót.

“Người nhà cứ hai, ba ngày thay phiên nhau vào chăm sóc ông. Ông hỏi về tình hình Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam vào thời điểm đó. Ông rất tỉnh táo, câu hỏi sắc sảo. Ông không bình luận gì nhưng chịu khó nghe. Ông hỏi về so sánh Liên Xô đang cải tổ, Trung Quốc đang cải cách và Việt Nam đang đổi mới lúc đó, có gì giống nhau, khác nhau,”

“Sự chăm sóc của Trung Quốc đối với ông không có gì để bàn. Lúc đó, ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ông Lý Bằng là Thủ tướng Quốc vụ Viện, các ông coi ông Hoan là người bạn lớn của nhân dân Trung Quốc.”

Nghĩa tử, nghĩa tận

Lễ tang của ông Hoan được coi như một lễ tang cấp cao của Đảng và của Nhà nước Trung Quốc vì ông được coi như một lãnh tụ của Đảng Cộng sản TQ. Không có chuyện Đại sứ quán Việt Nam tham dự.

Theo lời kể, khi đó do quan hệ hai bên còn căng thẳng, khi gia đình đi thăm ông Hoan, đều có an ninh của Việt Nam đi cùng.

“Lý do Việt Nam lúc đó đồng ý cho gia đình sang thăm là dàn xếp quan hệ cấp cao và nghĩa tử là nghĩa tận theo truyền thống, cho nên họ phải đồng ý. Khi đi, gia đình hứa là sẽ quay về.”

“Gia đình cũng cam kết đảm bảo là không làm điều gì liên quan tới chính trị khi sang Trung Quốc mà đây chỉ là chuyện gia đình. Do đó không có vấn đề gì,”

Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.
Lời Hoàng Văn Hoan được thuật lại

“Ông Hoan không bao giờ dặn dò gì gia đình về chuyện chính trị hay sự nghiệp. Cùng thời gian đó, có việc Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh Hồ Chí Minh. Một nhà nghiên cứu có tiếng của Việt Nam đã sang Trung Quốc và đề nghị gặp trực tiếp ông Hoàng Văn Hoan để tìm hiểu về Hồ Chí Minh, đặc biệt tìm hiểu các chi tiết đời tư chứ không phải với tư cách một chính khách.”

Người cháu của ông kể tiếp:

“Khi ấy, ông Hoan đã cho thư ký là một cựu sinh viên người Hoa gốc Việt từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, giỏi cả tiếng Việt và tiếng Trung, tiếp. Thư ký sau đó thuật lại việc nhà nghiên cứu này định hỏi ông Hoan về chuyện ‘cụ Hồ có con riêng’ có đúng hay không,”

Yêu đảng, yêu nước

Ông Hoan bảo: “Bảo ông ta về nước đi, không hỏi những chuyện linh tinh đó làm gì!.” Ông Hoan là người rất kín kẽ, ông không bao giờ tuỳ tiện cho ai biết những chuyện quan trọng. Ông thường chỉ làm việc ở cấp cao, còn gia đình thì cứ đi thăm, nói chuyện vui vẻ thôi, không nói chuyện gì về chính trị cả.

Vẫn theo lời thân nhân của ông, “Tuyệt đối không có chuyện họp gia đình, bàn chuy�
�n này, chuyện kia, như là người ta đồn ông Hoan có cả quân đội, đài phát thanh. Đó là xuyên tạc! Ông Hoan ông không làm thế. Ông là nhà yêu nước đứng đắn, ông không làm chuyện gì khuất tất.”

Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em
Lời kể của thân nhân

Ông Hoan muốn giải thích trong sách rằng ông vẫn yêu Đảng, yêu nước và ông muốn sống thêm để chứng minh rằng đã có người phản bội, nhưng ở Việt Nam vẫn không nhận ra, hoặc nhận thức lầm. Có vẻ ông đã cố chứng minh bằng những dữ liệu, số liệu, bằng chứng, quan điểm.

Người cháu kể ông có sự hỗ trợ của Trung Quốc, họ cung cấp mấy người thư ký, văn phòng làm việc, ô tô đi lại, điều kiện rất tốt.

“Phản biện lại những dư luận từ nhà nước Việt Nam, trong đó nhiều ý nói rằng ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v…, ông đã chứng minh trong công trình của mình rằng ông không phản bội lợi ích của nhân dân mà chính người khác đã phản bội. Nhưng ông nói chuyện của ông 1.000 năm sau mới định được, còn định ngay lúc đó thì khó,” người cháu ông Hoan kể.

‘Chính trị phải thế’

“Ông nói rằng bản thân rơi vào tình trạng rắc rối và phải đi, mà bây giờ người ta gọi là bất đồng quan điểm. Ông không thể đi một nước thứ ba, như là Liên Xô, vì quan điểm của ông với Liên Xô không gần nhau,”

“Đúng là Trung Quốc tiếp đãi ông Hoan như thế vì ông thân Trung Quốc và có lợi cho Trung Quốc vào thời điểm bấy giờ. Chính trị phải thế! Trung Quốc coi ông có lợi cho họ. Nhưng đồng thời họ cũng nuôi dưỡng nhiều lực lượng cách mạng thực sự cho Việt Nam,” người cháu nhận xét.

Nixon thăm Trung Quốc năm 1972
Chuyến thăm của tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972 ấn định số phận cuộc chiến Việt Nam

Về câu hỏi rằng liệu Việt Nam có thể tránh được cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, nếu quan điểm, đường lối của ông Hoan trong quan hệ với Trung Quốc được Việt Nam lắng nghe hoặc điều hoà như thế nào đó, người nhà ông Hoan cho rằng cục diện trước đó quá rõ ràng. Hoàn toàn có thể tránh cả hai cuộc chiến Tây Nam và cuộc chiến 79.

“Đường lối của ông Hồ là sau hoà bình, sau cuộc chiến quá dài với Mỹ, mọi người kiệt quệ, là phải an dân, phải tránh chiến tranh, phải khoan sức dân, phải giảm thuế v.v… Ông Hoan rất phản đối và phê bình việc dẫn đến sự thể phải phát động cả hai cuộc chiến.”

Người cháu ông Hoan cho BBC biết quan hệ giữa ông Đặng Tiểu Bình và ông Hoàng Văn Hoan rất tốt. “Cả hai ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng đều là người của ông Đặng. Trong đám tang ông Hoàng Văn Hoan ông Giang Trạch Dân và ông Lý Bằng đều đến viếng. Ông Đặng Tiểu Bình có gửi vòng hoa, viết rất nhiệt tình, đề cao ông Hoan.”

“Ông Đặng và ông Hoan gặp nhau rất đơn giản vì ông Hoan có khả năng nói tiếng Trung trực tiếp không qua phiên dịch. Quan hệ rất tốt, vừa là đồng chí, vừa là anh em.”

Bi kịch cha con

Về quan hệ giữa hai cha con mà có dư luận rằng có sự mâu thuẫn, theo đó, ông bố thì được cho là thân Trung Quốc, ông con, Hoàng Nhật Tân, thân Nga Xô, trường hợp ông Tân được cho là một bi kịch.

Thân nhân ông Hoan kể rằng ông Tân học giỏi, ông được cử đi Nga học tập. Sang Nga, ông thấy đường lối của Khrushchev hay, ông có những phát biểu. Vì thế ông Hoan gọi về Việt Nam, thi hành kỷ luật, cho ‘đi đầy’ một năm, hai năm gì đó, xong rồi cho phục hồi.

“Vừa được phục hồi, nghe đâu đang làm thủ tục làm Phó Viện trưởng Viện Sử học, thì ông Hoan lại bỏ đi Trung Quốc (1979), cho nên người ta ép ông con ra khỏi Đảng, rồi ép đủ thứ. Nghe nói ông Tân đến tận bây giờ vẫn còn có người theo dõi,”

“Trong nhà hiện nay, chỉ có ông Tân là người bị theo hàng ngày, về lý do thì có thể là do họ sợ rò rỉ thông tin hoặc thế nào đó,”

“Thời các năm 1991, 1992 cho tới 1996, 1997, nhiều lúc con cháu của ông Hoan trong gia đình ở Hà Nội đi đâu, cũng có ít nhất một nhân viên công an đi theo sau. Bây giờ thì cũng thoáng rồi vì họ sống cũng đứng đắn, sống đúng theo tư cách công dân.”

‘Chăm sóc đặc biệt’

Cuộc sống gia đình rất phức tạp và là một câu chuyện dài với việc mỗi thành viên phải tự lo công việc của mình. Một người con gái của ông Hoàng Nhật Tân, cháu nội ruột của ông Hoan, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ra không có việc làm. Bà phải xin mãi mới về được Viện Triết học làm thư viện.

Theo người nhà ông Hoan thì ông Phạm Như Cương, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung và Viện trưởng, phải đứng ra bảo lãnh thì bà mới về làm việc được, chứ không phải tự nhiên mà vào làm nhà nước được, đó là ngay sau khi cụ Hoan ra đi (1979).

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội thì chắc có thể là để cho an toàn gì đó
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

Người con trai cả của ông Hoàng Nhật Tân, là đảng viên, phải ra khỏi quân đội. Trong nhà có mấy người là đảng viên đó là bà Tân và ông con cả. Có một người con dâu của ông Tân mới kết nạp mấy năm nay. Còn lại đều không là đảng viên.

Về lý do người ta đưa ông con trai cả của ông Tân ra khỏi quân đội, người nhà ông Hoan tin rằng đó có thể do lý do ‘an toàn’ nào đó. “Có một sự chăm sóc đặc biệt. Như ông Tân bị ép ra khỏi đảng. Ông phải chủ động viết đơn để ra khỏi đảng.”

“Về kinh tế, tài chính thì những năm đó rất khó khăn, mọi người phải tự lo lấy mà sống. Nhưng có một việc không biết ở các gia đình khác ra sao, còn tại gia đình mình, ông Hoan có một đạo đức rất rõ ràng, tức là không ai được sống dựa vào ông ấy.”

“Cho nên mọi người phải tự lực từ lâu. Khi ông đi, thì mọi người chẳng làm sao cả.”

Ông bà Tân đều là cán bộ nhà nước. Các con cháu về sau cũng dần có được việc làm, với mức lương tối thiểu sống được. Bà Tân, con dâu cụ Hoan, từng làm ở Đảng uỷ Quận Hoàn Kiếm và làm cho đến lúc về hưu.

Khi ông Hoan đi, ông không hề cho ai trong gia đình biết, sau đó ông Tân gần như bị bắt.

Một cảnh ở Trung Quốc
Ông Hoan sống ở một căn nhà trong khu Di Hoà Viên nhiều năm

“Nhưng người ta cứ nghĩ là ông Tân biết. Thực ra ông không hề biết và cũng chẳng ai biết. Nếu biết là rắc rối ngay. Khi tới Karachi (thủ đô Pakistan), ngay cả ba người tháp tùng ông Hoan là bảo vệ, thư ký và y tá đều không biết,” người cháu ông Hoan kể tiếp.

Ở khách sạn tại Karachi, ông Hoan đi ra ngoài đi dạo, ông gọi xe taxi và đi về sứ quán của Trung Quốc. Ba người này về sau bị bắt, và vẫn theo lời kể, nhóm thư ký của ông Hoan đã bị tù mấy năm.

‘Không có bản án?’

Đến tận hôm nay, có một điều gia đình vẫn không rõ. Đó là vì sao khi hai nước Trung Quốc, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ, thậm chí hai Đảng và hai Nhà nước đã hữu hảo hơn, mà bản án tử hình của nhà nước Việt Nam dành cho ông Hoan chưa được huỷ bỏ.

“Hình như năm ngoái, khi còn khoẻ, ông Hoàng Nhật Tân có tới Toà án để xin một bản sao bản án ‘xử tử vắng mặt’ đối với cha mình. Mục đích là để làm bằng chứng khi đi trình bày với các nơi và xin được hết án này với ông Hoan, thì được họ trả lời rằng không có văn bản nào cả.”

Năm nào ông Tân cũng viết thư, viết đơn, đề nghị phản bình lại bản án
Cháu ông Hoàng Văn Hoan

“Nhưng đây không phải là Toà án Tối cao hoặc Toà án nhà nước nào khác, mà dường như đây liên quan tới Toà Án Nhân dân TP Hà Nội. Nhưng họ nói là chẳng có văn bản gì cả. Sau đó, ông Tân cũng thôi không làm nữa. “

“Hồi đó người ta cũng không thông báo gì về bản án tử hình vắng mặt đó. Chỉ là thông báo, công bố trên đài báo, không có thông báo gì cho gia đình cả. Còn về kế hoạch có làm tiếp việc xin huỷ bỏ bản án trong tương lai, thì trong gia đình chỉ có một mình cụ Tân làm. Ngoài ra, không có ai nghĩ làm việc đó cả.”

Trong lòng quê hương

Theo di chúc, hài cốt hoả táng của ông Hoan được chia thành ba phần. Một phần để ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn, tương tự nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Đó là một nghĩa trang dành cho các quan chức cao cấp của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Ở đó, họ xây một cái mộ, hàng năm họ vẫn cho tiền gia đình, ít nhất hai người, sang đó để viếng thăm. Ông Hoan được để ở một chỗ rất long trọng. Một phần tro cốt được đưa đi Côn Minh để rắc trên đầu nguồn sông Hồng. Vì ông Hoan muốn về nước bằng con đường sông Hồng.

Vẫn theo lời kể của người cháu, một hộp tro nữa sau khi mang về nhà thờ mấy năm, nay được đưa về quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trung Quốc cho một ít tiền để xây một cái mộ tương đối lịch sự. Tất nhiên là mộ đó không bằng mộ của ông Hồ Tùng Mậu, mà nhà nước xây rất lớn. Ở đó có hai dòng họ là họ Hồ, lớn nhất, rồi đến họ Hoàng.

Chăm sóc ruộng rau ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An
T
rên quê hương Quỳnh Đôi của ông Hoan ngày nay

Hàng năm con cháu về đây viếng thăm. Trong nhà thờ họ Hoàng, đã có thờ ông Hoan. Họ không thờ ông là uỷ viên bộ chính trị, phó chủ tịch quốc hội mà tấm bia thờ chỉ đề ông Hoàng Ngọc Ân (tên tục của ông Hoan) là nhà yêu nước lớn.

Kết luận, người cháu của ông Hoan nói:

“Gần đây có một diễn biến và biểu hiện mới, mà chính sứ quán Trung Quốc nói với gia đình, là một vài hình ảnh của ông Hoan hồi làm Phó Chủ tịch ở Quốc hội, trước đây bị xoá hoặc bỏ đi, nay đã được phục hồi. Còn các hình ảnh ông Hoan bên cạnh ông Hồ thì họ xoá sạch.”

Bài viết dựa trên lời kể của thân nhân ông Hoàng Văn Hoan. Quý vị có ý kiến về bài viết này, xin gửi thư cho BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên phải.


Linh, Yokohama

Phong trào phe cánh trong Đảng đã có từ hơn nửa thế kỷ trước. Ngày nay cũng vậy, một số rất ít theo Nga, còn lại thì chia đôi theo Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tears, Sài Gòn

Ông Hoàng Văn Hoan được TQ đối đãi tử tế chẳng qua họ muốn moi được nhiều tin tức quý báu về Việt Nam từ ông. Đồng thời ông Hoan trở thành cái ‘loa tuyên truyền’ quá tốt cho họ. Nếu ông thực sự yêu nước và bất mãn với chế độ hay đảng Cộng sản, ông có thể làm như bậc anh hùng Nguyễn Trãi về quê ở ẩn.

Như vậy vẫn giữ được tấm lòng yêu nước với dân tộc chứ đâu cần phải chạy qua TQ, lại còn ủng hộ TQ nuôi dưỡng Khomer đỏ, lấn chiếm biên giới Viêt Nam, thật là sai lầm. Nói 1000 năm sau nhân dân mới hiểu ra, tôi ngờ đó có thể là sự ngụy biện.

Nam

Không phải ông Đặng Tiểu Bình đã từng nói: ‘người TQ làm gì cũng có tính toán’ sao? Tôi năm nay 24 tuổi nhưng có đến nhắm mắt cũng không tin là Trung Quốc thật lòng cư xử với ông Hoan vô vị lợi. Ông Hoan nói rằng chiến tranh phần lớn do ông Lê Duẩn. Nhưng liệu không có chiến tranh 1979, chắc gì TQ đã từ bỏ dã tâm của mình không?

Họ cũng có thể kiếm cớ khác thôi. Lịch sử tới nay, dù có thể thay đổi, nhưng cũng không thấy có sự thay đổi nào đáng kể trong dã tâm của ‘người anh cả’ này. Đừng tin những gì TQ nói mà hãy coi những gì họ làm với đất nước ta, nhân dân ta.

Không tên, Cần Thơ

Tôi là người Việt Nam, có gia đình theo Việt Nam cộng hòa, tôi không thích Đảng Cộng Sản, nhưng tôi ủng hộ phán quyết và phê phán của Việt Nam đối với ông Hoan, hành động đó phải được nghiêm trị.

Cu Ti, Việt Nam

Trung Quốc từ xưa đến nay có tốt với Việt Nam bao giờ? Cái gì có lợi lớn cho họ thì họ làm, còn không thì thôi. Đó là tâm địa của mấy anh hay đi bắt chẹt mọi người. Họ nuôi cụ Hoan có lẽ vì cụ cung cấp nhiều thông tin mà họ có thể dùng được. Nói chung cụ theo Trung Quốc thời đó, thì tội “phản quốc” là nặng hơn sang Mỹ nhiều.

Trần Tiến

Trung Quốc cố vấn cho Việt Nam giết hại dân lành trong cải cách ruộng đất, năm 1974 xâm lược Hoàng sa của VN. Trung Quốc đâu phải là bạn của nhân dân Việt Nam. TQ cũng cố vấn tiếp tay cho Khme đỏ gây thảm họa diệt chủng cho Nhân dân Camphuchia, giết hàng chục ngàn dân VN ở biên giới tây nam. Ngày 17/2/1979 TQ xâm lược VN, ngày 11/6/1979, ông Hoàng Văn Hoan chạy sang TQ quy hàng giặc, tránh sao khỏi bị cho là có hành động như Lê Chiêu Thống ngày xưa?

Conan Sài Gòn

Hồ Chí Minh thì cân bằng giữa Stalin & Mao. Lê Duẩn thì theo hẳn Stalin. Còn Hoàng Văn Hoan thì theo hẳn Mao. Xem ra cả ba ông này đều mang lại cùng một kết quả cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Có lẽ số phận của dân tộc VN là phải chịu nhiều đau khổ.

http://blog.360.yahoo.com/blog/compose.html?msgid=MeJ70ZJmI_A-

About these ads

4 phản hồi to “►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3)”

  1. bất bình said

    với tôi Hoàng Văn Hoan luôn là kẻ phản bội Tổ Quốc. Tôi không tin ông là người yêu nước, sống trên đất trung quốc mà không làm việc cho TQ để phản dân hại nước thì thật khó tin sẽ được đối xử tử tế???!

    ——————————-

    @bất bình:
    “sống trên đất trung quốc mà không làm việc cho TQ để phản dân hại nước thì thật khó tin sẽ được đối xử tử tế???!”

    Theo ý tôi, ông Hoàng Văn Hoan có lập trường khác với Lê Duẫn nên sợ LD và đảng CSVN thanh toán, vì thế ông đã lập kế hoạch trốn qua Trung Quốc. Như thế, ông ta chỉ là thành phần bất mãn với đảng chứ không phải với tổ quốc.

    Điều bạn viết ở trên chưa chắc đúng. Ngay từ 1930 cho đến bây giờ và về sau, Trung Quốc đã biết rất rõ các nhân vật cao cấp của đảng csvn và tình hình tài chánh, kinh tế, xã hội VN như thế nào, họ không cần thiết phải hỏi ông Hoàng văn Hoan để biết thêm điều gì đâu (đọc thêm phía dưới). Bên cạnh đó, các cố vấn Trung Quốc qua giúp đỡ Miền Bắc suốt cuộc chiến VN đã nắm rất rõ nhân sự của đảng CSVN. Vì vậy, họ không cần phải hỏi ông Hoàng Văn Hoan điều gì nữa.

    Bạn để ý thì biết: Trong thời gian kể từ 1991, cứ mỗi lần sắp có đại hội đảng CSVN, thì thời gian trước đó chừng 3 tháng, thế nào các nhân vật cao cấp của VN cũng viếng thăm TQ, rồi sau đó cách chừng ngày đại hội đảng 1-3 tuần, thế nào cũng có một nhân vật cao cấp của TQ ghé qua VN. Chuyện đó được hiểu là TQ sắp xếp nhân sự cho đảng CSVN, ai sẽ làm gì, ai sẽ nắm chức vụ gì trong thời gian sắp tới…

    Nếu bạn có nhiều tiền, bạn muốn cho ai, chẳng lẻ bạn chỉ việc đưa tiền cho người đó mà không cần có ý kiến gì về việc làm hay lối sống quan điểm của người ấy? Cũng vậy, Trung Quốc viện trợ quân sự, kinh tế, xăng dầu cho Miền Bắc từ 1951 đến 1976, chỉ riêng từ 1964-1975, tổng số tiền viện trợ là 14 tỷ đô la. Với số tiền khổng lồ như thế, chẳng lẻ TQ không có quyền xen vào nội bộ đảng CSVN? (Liên Xô viện trợ cho Miền Bắc còn nhiều hơn Trung Quốc; ngoài ra, 16 nước XHCN anh em cũng viện trợ cho Miền Bắc trong chiến tranh VN).

    Thêm vào đó, kể từ năm 2008 trở về trước, nếu bạn vào website của bộ ngoại giao ở Hà Nội, bạn sẽ thấy hàng tháng có chừng 40-60 tin tức nói về các nhân vật cao cấp trong chính quyền VN, từ trung ương đến địa phương cấp tỉnh, đã viếng thăm Trung Quốc. Sau năm 2009, các tin tức kiểu này không còn được post lên trang mạng của Bộ Ngoại Giao nữa, vì các blogger VN chỉ trích sự lệ thuộc và kết thân với TQ quá lộ liễu này. Các đảng viên của đảng CSVN sẵn sàng làm tay sai cho TQ để được nâng đỡ đưa lên các chức vụ cao hơn.

    Bạn đã từng đọc: Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Hồi Ký của Lý Chí Thỏa (vào google, gõ tên các tác phẩm này để đọc.). Cả hai người này đều sống lưu vong như Hoàng Văn Hoan, viết các tác phẩm kể rõ cuộc sống của họ dưới triều đại cộng sản, cả hai người này được Pháp và Mỹ phụ cấp tiền bạc và cấp nhà ở (hưởng các sự đối xử tử tế giống như các Việt kiều tị nạn cộng sản 1975-1996, và chính phủ các nước ấy cũng coi họ như công dân), được đối xử tử tế như vậy, liệu bạn có coi họ là người phản dân hại nước? phản bội tổ quốc?

  2. […] ►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3) […]

  3. […] ►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3) […]

  4. […] ►Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 17/2/1979 (bài 3) […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: